Kết quả từ 1 tới 6 trên 6
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Oct 2011
    Bài gửi
    438
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0

    Đối thoại trí trức Việt-Trung: 'Quan hệ 2 nước-Bài học từ lịch sử (Nhiều kỳ)

    Quan hệ Việt-Trung: Bài học từ lịch sử (kỳ 1)

    "Nước lớn phải lấy chữ nhân để đối xử với nước nhỏ, với thái độ nhường nhịn, không hẹp hòi, không áp đặt. Nước nhỏ thì dùng trí để giao hảo với nước lớn, tôn trọng nước lớn, xem nước lớn là đàn anh nhưng vẫn giữ tinh thần độc lập, có bản sắc riêng và có những lãnh đạo tài trí".- GS. Trần Văn Thọ.

    LTS:
    Thưa quí vị độc giả, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng "núi liền núi, sông liền sông". Trong quá khứ và hiện tại, có nhiều lúc mối quan hệ này đồng chí hướng, nhiều lúc không thật hài hòa, đặc biệt hiện nay hai nước đang khúc mắc trong vấn đề chủ quyền biển, đảo.


    Đối thoại trí thức Việt-Trung là sáng kiến của GS. Trần Văn Thọ (Đại học Wesada, Nhật Bản). Giáo sư hy vọng qua các cuộc đối thoại, trí thức hai nước sẽ hiểu biết, tin tưởng nhau hơn và họ sẽ tác động tích cực đến các tầng lớp dân chúng khác để nhân dân hai nước hòa hiếu với nhau, điều kiện để cùng chung sống hòa bình. Nhằm cung cấp thêm tư liệu để độc giả suy ngẫm, Tuần Việt Nam giới thiệu cuộc trò chuyện của nhà báo Thu Hà với GS. Trần Văn Thọ xung quanh các cuộc đối thoại trí thức Việt-Trung vừa được tổ chức tại Tokyo (Nhật Bản).


    Kỳ 1 của loạt bài xoay quanh vấn đề Quan hệ Việt-Trung: Bài học lịch sử về điều kiện để có quan hệ tương kính.

    Nhà báo Thu Hà: Thưa giáo sư Trần Văn Thọ, được biết ông là người nêu sáng kiến về sự cần thiết phải có đối thoại trí thức giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực ra thì giới trí thức trên thế giới luôn có rất nhiều cơ hội để chia sẻ quan điểm, góc nhìn. Không biết vì sao ông nghĩ rằng những cuộc đối thoại giữa trí thức Việt Nam và Trung Quốc cần phải đặt thành vấn đề vào thời điểm hiện nay?

    GS. Trần Văn Thọ:
    Quan hệ giữa Việt Nam (VN) và Trung Quốc (TQ) từ khoảng năm 2007 có nhiều diễn tiến xấu. Một trong những nguyên nhân lớn là tình hình khẩn trương ở Biển Đông. Phản ứng của dân chúng VN, đặc biệt là giới trí thức như ta đã biết nhưng dân chúng TQ hình như nhiều người cũng cho rằng họ đúng. Tháng 3 năm 2010 nhân dịp thăm Quảng Châu tôi có gặp một số giáo sư ở Đại học Trung Sơn. Tuy mục đích cuộc gặp là trao đổi về kinh tế Á châu nhưng cũng có hai người tìm cách nhắc đến Biển Đông và cho rằng VN quá khích, xâm phạm chủ quyền của TQ.


    Ngoài ra, mỗi năm đến tháng 2, cuộc chiến tranh biên giới 1979 lại khơi dậy tình cảm phức tạp không phải chỉ của người VN đối với TQ mà cả phía TQ đối với VN nữa. Rõ ràng đó là cuộc chiến do Đặng Tiểu Bình phát động, nhưng nhiều người TQ vẫn tin đó là cuộc "phản kích tự vệ"(!). Thêm vào đó, quan hệ kinh tế Việt -Trung phát triển một chiều cũng gây lo ngại và tạo tình cảm bất tín của VN đối với hàng nhập ào ạt từ TQ, đối với hành vi của thương nhân, doanh nghiệp TQ tại VN. Nhưng người TQ không hiểu sự tình cho rằng tình cảm bất tín đó là do người VN vốn không ưa TQ và quên ơn TQ đã giúp VN trong quá trình giành độc lập.


    Các trí thức tham gia chương trình đối thoại Việt-Trung.

    Ai cũng có thể nhận thấy tình hình này rất bất lợi cho cả hai nước, nhưng đặc biệt là đối với VN, một nước nhỏ và yếu hơn. Đáng lo hơn nữa là nhiều vấn đề do lịch sử để lại, không dễ giải quyết một sớm một chiều, ảnh hưởng lâu dài đến con đường phát triển của VN. VN vừa phải củng cố nội lực, tranh thủ sức mạnh của thời đại, vừa phải cố gắng xây dựng quan hệ hữu nghị lâu dài với nước láng giềng lớn mạnh này trên cơ sở tương kính, tin tưởng lẫn nhau. Đặc biệt sự tương kính, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau phải bén rễ trong lòng của các tầng lớp dân chúng.


    Từ nhận định đó tôi chợt nghĩ đến sự cần thiết phải có đối thoại giữa trí thức VN và TQ với hy vọng là qua các cuộc đối thoại, trí thức hai nước sẽ hiểu biết, tin tưởng nhau hơn và họ sẽ tác động tích cực đến các tầng lớp dân chúng khác. Tôi nghĩ đã gọi là trí thức thì, ngoài trình độ hiểu biết, phải khách quan, khoa học, trung thực và có tinh thần xây dựng, có trách nhiệm với xã hội. Do đó đối thoại giữa các trí thức hy vọng mang lại kết quả tốt.


    Nhà báo Thu Hà: Vâng, có lẽ ý tưởng này thiết thực trong bối cảnh giữa hai quốc gia láng giềng đang còn nhiều điểm khúc mắc. Xin được hỏi, về phía các học giả Trung Quốc và quốc tế họ hưởng ứng thế nào với sáng kiến của GS?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Tôi cho rằng, các cuộc đối thoại như thế này giúp ta hiểu biết hơn về suy nghĩ của một số trí thức TQ (và VN), đồng thời gợi mở một số vấn đề VN cần quan tâm trong quá trình cải thiện quan hệ với nước láng giềng phương Bắc. Rất may là ở Đại học Wvaseda, nơi tôi đang giảng dạy có giáo sư Lưu Kiệt, chuyên về sử cận đại, người Trung Quốc, phóng khoáng và có tinh thần trách nhiệm với công việc chung. Giáo sư Lưu Kiệt cũng thấy ý nghĩa của chương trình đối thoại Việt-Trung và đồng ý đứng tên chung trong dự án này. Bước tiếp theo, tôi viết thư cho Giám đốc của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản, đề nghị ông ủng hộ chương trình này. Rất mừng là ông đã đánh giá cao ý tưởng và đồng ý đưa dự án vào chương trình tài trợ cho tài khóa 2011, nếu kết quả tốt sẽ tài trợ cho tài khóa 2012.


    Từ mùa hè năm ngoái đến nay hội nghị trù bị và hội nghị chính thức lần thứ nhất đã được tổ chức tại Tokyo. Chúng tôi định các hội nghị chính thức tiếp theo sẽ tổ chức tại Trung Quốc và Việt Nam. Chúng tôi cũng dự định kết quả các cuộc đối thoại sẽ in thành sách bằng tiếng Việt và tiếng Trung và phổ biến rộng rãi tại hai nước. Dự định là như vậy nhưng chưa biết sẽ thực hiện được tới đâu vì còn phụ thuộc vào ngân sách và một số yếu tố khác.


    Quan hệ Việt-Trung thời phong kiến: Nhântrí là quan trọng


    Nhà báo Thu Hà: Nhìn lại các cuộc đối thoại, giáo sư thấy ý kiến hai bên có gì đặc biệt? Trước hết nói về quan hệ hai nước từ thời xưa có điểm gì đáng chú ý?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Chúng tôi cùng nhìn lại mối quan hệ giữa hai nước cả trong quá khứ và hiện tại. Nhìn chung, về quan hệ Việt-Trung thời phong kiến, ý kiến hai bên không khác nhiều, ngoài phần báo cáo về nội dung sách giáo khoa lịch sử của phía VN là có gây tranh luận. Trong các bản báo cáo đặc biệt có một số nội dung đối với tôi khá mới và thú vị...


    Nhà báo Thu Hà: Điểm mới và thú vị ông tìm thấy trong các cuộc đối thoại này là gì ạ?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Giáo sư Bộ Bình (Bu Ping) của Viện Khoa học xã hội TQ trong bản báo cáo tại hội nghị trù bị năm ngoái nhấn mạnh là trong các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, vì nhiều nguyên nhân đã phát sinh chiến tranh giữa hai nước nhưng đó chỉ là những giai đoạn rất ngắn.


    Ông lấy một ví dụ điển hình là trong chiến tranh năm 1789 mà ông gọi là Chiến tranh Thanh Nguyễn, Tôn Sĩ Nghị từ lúc cho quân xuất phát tiến qua VN đến khi bại trận ở Thăng Long chỉ có 70 ngày. Theo ông, hầu hết thời gian từ khi Đinh Bộ Lĩnh lập ra nước Đại Cồ Việt (968) với tư cách là quốc gia độc lập đến nay, dân tộc hai nước sống trong hòa bình, giao lưu hữu hảo là chính, tuy quan hệ có tính cách giữa nước lớn và nước nhỏ, biểu hiện bằng sách phong và triều cống. Và sự gắn bó ấy đã phát triển lên cao vào thời đại hai bên cùng tranh đấu chống thực dân và đế quốc. Ông còn nhấn mạnh là "Tình hữu nghị gắn bó hai dân tộc được nhuộm bằng máu trong đấu tranh, nhân dân hai nước và con cháu sau này phải giữ gìn mãi mãi". Tôi nghĩ những trí thức như giáo sư Bộ Bình rất có tinh thần xây dựng và thực sự mong hai nước ngày càng có quan hệ tốt.


    Về sách phong và triều cống, bản báo cáo của Phó giáo sư Nguyễn Minh Tường (Viện Khoa học xã hội VN) cũng đưa ra mấy chi tiết mới. Theo giáo sư Tường, từ thời Đinh Tiên Hoàng (cụ thể là từ năm 970) cho đến năm 1225, chưa có triều cống mà chỉ là sính (sính lễ). Chế độ triều cống chỉ chính thức bắt đầu từ năm 1225 (thời Trần Thái Tông), nhưng cũng không được thực hiện nghiêm ngặt, lúc có lúc không. Chỉ từ thời nhà Lê, bắt đầu năm 1428, mới thực sự có triều cống theo đúng như khái niệm đó quy định (chế độ triều cống này chấm dứt năm 1884).


    "Sính"
    là quà thăm hỏi, không định kỳ hạn, không bắt buộc, thường được tiến hành khi hai bên muốn giao hảo thân thiết, còn "Cống là thuế, là phải nộp những sản vật quý như vàng, bạc, sừng tê, ngà voi... cho các nước lớn mạnh, có tính chất bắt buộc". Nhưng trong sử TQ thì không phân biệt hai khái niệm sính và cống. Trong giai đoạn VN cho là chỉ có "sính" họ cũng ghi là "cống". Về giai đoạn "cống", giáo sư Tường có nhận định thêm là "Cho dù phải cầu phong và triều cống, cho dù Trung Quốc có quyền sách phong cho Việt Nam, nhưng đó chỉ là hình thức nghi lễ ngoại giao, trong thực tế, ông vua Việt Nam vẫn toàn quyền cai trị đất nước mình".


    Rất tiếc là tôi vẫn chưa rõ tại sao VN chỉ thực sự thực hiện triều cống nghiêm túc từ thời nhà Lê. Trong quan hệ Việt Trung, giai đoạn 970-1428 khác với giai đoạn sau như thế nào. Tôi định có dịp sẽ hỏi thêm giáo sư Nguyễn Minh Tường.


    Nhà báo Thu Hà: Ôn lại lịch sử thời xưa có rút ra được bài học gì cho ngày nay không, thưa giáo sư?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Như tôi đã nói, về quan hệ hai nước thời phong kiến hai bên không khác nhiều. Đặc biệt hai bên có vẻ nhất trí ở tư tưởng của Mạnh Tử về chữ "nhân" và chữ "trí" (hiểu theo ý rộng hơn nguyên nghĩa) và đây là bài học ngày nay nên tham khảo.


    Nước lớn phải lấy chữ nhân để đối xử với nước nhỏ, với thái độ nhường nhịn, không hẹp hòi, không áp đặt. Nước nhỏ thì dùng trí để giao hảo với nước lớn, tôn trọng nước lớn, xem nước lớn là đàn anh nhưng vẫn giữ tinh thần độc lập, có bản sắc riêng và có những lãnh đạo tài trí. Thái độ ấy của nước lớn và nước nhỏ là điều kiện để thiên hạ thái bình và để có quan hệ hữu hảo giữa hai nước. Văn cảnh này liên tưởng đến một câu chuyện thú vị trong bản báo cáo của giáo sư Tường kể về thái độ của Hoàng đế Càn Long nhà Thanh đối với vua Quang Trung. Nhờ tài trí mà Quang Trung được Càn Long rất nể trọng đến nỗi biết Quang Trung không đích thân sang chầu nhà Thanh mà đưa người khác giả mình sang TQ, Càn Long cũng làm ngơ.

    Bản báo cáo của phó giáo sư Đào Tố Uyên (Đại học Sư phạm Hà Nội) về sách giáo khoa lịch sử VN là gây tranh cãi nhiều nhất. Giáo sư Uyên giới thiệu những nội dung chính trong giáo trình ở bậc đại học, cao đẳng và sách giáo khoa phổ thông, liên quan đến quan hệ VN-TQ từ thời cổ trung đại đến cuối thế kỷ 19 và nhấn mạnh là tuy bị phương Bắc xâm lược nhiều lần, VN vẫn giữ được độc lập, trong các thời kỳ bị TQ đô hộ, nhân dân VN vẫn liên tục đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa của phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên, một giáo sư Nhật đã bình luận là bản báo cáo thiếu phần nói về những mặt tích cực trong quan hệ Việt-Trung, trong đó VN đã du nhập văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ từ TQ mà so với những thời kỳ có chiến tranh, quan hệ mang lại hiệu quả tốt cho việc dựng nước của VN dài hơn nhiều.


    Ý kiến của giáo sư Nhật được phía TQ đồng tình. Một học giả TQ còn nói thêm là trong các cuộc chiến tranh không phải lúc nào TQ cũng xâm lược VN, chẳng hạn Lý Thường Kiệt đã đem quân sang Quảng Tây hồi thế kỷ 11. Đúng là do phải cổ võ tinh thần yêu nước, nỗ lực giữ nước trong giai đoạn chống ngoại xâm, sách giáo khoa lịch sử VN có khuynh hướng nhấn mạnh những nội dung như bản báo cáo nói trên.


    Trong phần thảo luận, giáo sư Uyên có bổ túc là VN và TQ là hai nước láng giềng nên sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau là điều đương nhiên. Trong thời kỳ Bắc thuộc, để thực hiện chính sách đồng hóa VN, TQ đã mở trường dạy học chữ Hán và truyền bá tư tưởng Nho giáo. Nhưng với tinh thần tự cường dân tộc, nhân dân Việt Nam đã tiếp thu một cách chủ động và sáng tạo, chẳng hạn dùng chữ Hán để Việt hóa âm đọc cho dễ nhớ, dễ học. Từ chữ Hán VN cũng sáng tạo ra chữ nôm và sử dụng chữ Hán để sáng tác các tác phẩm văn học, viết và xây dựng các công trình văn hóa như các tác phẩm sử học, y học, hệ thống văn bia bằng chữ Hán...


    Cũng trong phần thảo luận này, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc ((Đại học Quốc gia Hà nội) có phát biểu là, vì VN bị ngoại xâm nhiều nên phải nhấn mạnh nỗ lực giữ nước trong sách giáo khoa lịch sử, và không riêng gì TQ, lịch sử VN cũng nói nhiều đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.


    Theo phát biểu của giáo sư Đỗ Tiến Sâm (Viện Khoa học Xã hội VN) ở hội nghị trù bị năm ngoái, trong quá khứ, VN đã phải đương đầu với 16 cuộc chiến, trong đó 12 cuộc là do các triều đại phong kiến TQ gây ra.

    Nói chung trao đổi ý kiến về quan hệ hai nước thời xa xưa cũng rất hữu ích. Đặc biệt chữ "nhân" và chữ "trí" được nhiều người nhắc lại nhiều lần.

    Thu Hà

    Mời theo dõi tiếp kỳ 2: Thăng trầm quan hệ Việt-Trung


    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/85524/quan-he-viet-trung-bai-hoc-tu-lich-su-ky-1.html



  2. Thanks anh2, nmt.jp đã cám ơn bài viết
  3. #2
    Ngày gia nhập
    Jun 2012
    Nơi cư ngụ
    Choshi-shi, Chiba, Japan, Japan
    Bài gửi
    326
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    ôi bác ơi em không đủ kiên nhấn để đọc hết , tóe hết cả mắt rùi.......
    私はベトナムを愛しています....

  4. Thanks TiepHoa đã cám ơn bài viết
  5. #3
    Ngày gia nhập
    Jul 2012
    Bài gửi
    218
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Các bác nhiều chữ nghĩa, thừa hơi mà đi bàn bạc với bọn nó. Thử tính xem trong LS có bao nhiêu lần, bao nhiêu năm chúng nó xâm lược cướp bóc nước mình? Còn mình chỉ có 2 lần (kể cả vụ 1979) chạy quá đà sang qua biên giới nó. Thế hỏi thằng nào tẩn thẳng nào, thằng nào là quân xâm lược?

    TSB chúng nó!

  6. Thanks TiepHoa đã cám ơn bài viết
    Likes mưa chiều đã thích bài viết này
  7. #4
    Ngày gia nhập
    Sep 2010
    Bài gửi
    67
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Trích dẫn Nguyên văn bởi jetmatiz Xem Bài gửi
    Các bác nhiều chữ nghĩa, thừa hơi mà đi bàn bạc với bọn nó. Thử tính xem trong LS có bao nhiêu lần, bao nhiêu năm chúng nó xâm lược cướp bóc nước mình? Còn mình chỉ có 2 lần (kể cả vụ 1979) chạy quá đà sang qua biên giới nó. Thế hỏi thằng nào tẩn thẳng nào, thằng nào là quân xâm lược?

    TSB chúng nó!
    TSB chúng nó! <== Tầu Sân Bay chúng nó làm sao hả bác?
    Yêu em, ta yêu em như yêu tuổi thơ ngây!

  8. Thanks TiepHoa đã cám ơn bài viết
  9. #5
    Ngày gia nhập
    Aug 2008
    Bài gửi
    602
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    10
    Uploads
    0
    Trích dẫn Nguyên văn bởi jetmatiz Xem Bài gửi
    Các bác nhiều chữ nghĩa, thừa hơi mà đi bàn bạc với bọn nó. Thử tính xem trong LS có bao nhiêu lần, bao nhiêu năm chúng nó xâm lược cướp bóc nước mình? Còn mình chỉ có 2 lần (kể cả vụ 1979) chạy quá đà sang qua biên giới nó. Thế hỏi thằng nào tẩn thẳng nào, thằng nào là quân xâm lược?

    TSB chúng nó!
    Năm 1979 mình có chạy quá đà sang biên giới nó á???
    Vậy thì sao mình lại là bên bị mất đất nhỉ???

  10. Thanks TiepHoa đã cám ơn bài viết
  11. #6
    Ngày gia nhập
    Oct 2011
    Bài gửi
    438
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0

    Thăng trầm quan hệ Việt – Trung

    - Giáo sư Đỗ Tiến Sâm cho rằng, người VN đều mong muốn được sống hòa bình với nước láng giềng phương bắc nhưng luôn có tinh thần cảnh giác cao đối với các chính sách và hành động của TQ.

    Phần 1: Quan hệ Việt – Trung từ bài học lịch sử


    Tuần Việt Nam giới thiệu phần 2 cuộc trò chuyện giữa nhà báo Thu Hà và GS Trần Văn Thọ, ĐH Waseda, Nhật Bản về đối thoại trí thức Việt – Trung mới diễn ra tại Nhật.


    Nhà báo Thu Hà: Thưa GS, trong lịch sử quan hệ Việt-Trung, giai đoạn thời cận hiện đại chắc là phức tạp?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Thời cận hiện đại đúng là có nhiều vấn đề phức tạp và có sự khác biệt nhiều giữa ý kiến của trí thức VN và TQ.


    Bản báo cáo của GS Phan Kim Nga (Pan Jine), Viên Khoa học Xã hội TQ, chia quan hệ Việt Trung thành 4 giai đoạn: (1) Từ thế kỷ thứ 10 đến giữa thế kỷ 19: Quan hệ triều cống giữa nước nhỏ và nước lớn, (2) Từ đầu thế kỷ 20 đến đầu thập niên 1970: Hai nước sát cánh nhau trong việc chống thực dân cũ và mới, (3) Từ cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1980: giai đoạn đối đầu, và (4) Từ 1991 đến nay là giai đoạn hợp tác toàn diện, phát triển nhanh, nhưng trong đó từ cuối năm 2007 xảy ra một số sự kiện phức tạp làm cho quan hệ hai nước có nhiều mặt căng thẳng và có khả năng phát triển theo xu hướng xấu.

    Quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo hai nước là nền tảng quan trọng nhất trong việc TQ giúp VN chống Pháp và Mỹ

    Nhà báo Thu Hà: Như vậy tác giả cho rằng giai đoạn 2 là giai đoạn tốt nhất và giai đoạn 3 là xấu nhất?

    GS. Trần Văn Thọ:
    Các trí thức khác phía TQ hầu như có cùng quan điểm này. Đặc biệt nửa sau của giai đoạn 2 được xem là “vừa là đồng chí vừa là anh em”.


    Cùng quan điểm cho rằng giai đoạn (2) là thời đại hai nước Việt Trung có quan hệ tốt nhất, Phó giáo sư Lưu Chí Cường (Liu Zhiqing) thuộc Đại học Dân tộc Quảng Tây đặc biệt phân tích quan hệ cá nhân giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Tác giả cho rằng “quan hệ cá nhân đó đã trở nên nền tảng quan trọng nhất trong việc TQ giúp VN chống Pháp và Mỹ”. Bài viết của vị này rất công phu, tham khảo rất nhiều sách, báo, hồi ký, tư liệu, chủ yếu do học giả và cựu lãnh đạo đảng Cộng sản TQ viết, gồm cả những công trình nghiên cứu dựa trên tư liệu hồ sơ ngoại giao mới được công khai.


    Theo giáo sư Lưu Chí Cường, quan hệ giữa các lãnh tụ hai nước bắt đầu từ năm 1922 tại Paris. Năm đó, Hồ Chí Minh kết bạn với Chu Ân Lai và giới thiệu nhiều thanh niên TQ gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Cũng theo tác giả, sau này (năm 1956) Chu Ân Lai có nói “Hồ Chí Minh là người dẫn đường cho tôi”. Năm 1926 Chu Ân Lai giới thiệu Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông tại Trường đào tạo Phong trào nông dân ở Quảng Châu và từ đó quan hệ giữa Hồ Chí Minh với hai lãnh tụ của TQ ngày càng mật thiết và tin cậy nhau. Tác giả dành nhiều trang viết về sự giúp đỡ mà tác giả đánh giá là chí tình và có hiệu quả của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đối với các hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc và Liên Xô từ giữa thập niên 1920 đến năm 1950, như thành lập VN Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925), thoát khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch (1942), v.v..


    Còn nhiều khác biệt


    GS. Trần Văn Thọ:
    Xin nói thêm về bản báo cáo của giáo sư Lưu Chí Cường. Trong giai đoạn VN chống Pháp 1946-1954, ngoài Nhật ký Trần Canh (cố vấn TQ trong chiến tranh chống Pháp) xuất bản năm 1984, tác giả dùng nhiều tư liệu công bố, xuất bản tại Trung Quốc trong thời gian từ khoảng năm 2000 trở về sau như bài viết “Chúng tôi cũng sùng bái Hồ Chí Minh” của Hồng Tả Quân (Kiến Thức thế giới, số 3 năm 1999), “Tình nghĩa Trung Quốc của Hồ Chí Minh” của Lý Quần Anh (Kiến thức thế giới, số 2 năm 2007), Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông của Viện Khoa học xã hội Quảng Tây (NXB Kiến thức thế giới, 2007), “Những ngày tháng cuối cùng của thủ tướng Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh” của Hồng Tả Quân (Bách niên triều, số 3, 2008), v.v..


    Có lẽ trong khoảng 10 năm gần đây Trung Quốc chú trọng nghiên cứu, công bố nhiều tư liệu liên quan đến Hồ Chí Minh và quan hệ Việt Trung trong giai đoạn 1920-70. Từ các tư liệu này, Lưu Chí Cường cho rằng trong chiến tranh chống Pháp, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam chí tình và yếu tố lớn nhất là sự tin cậy, thân tình giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.


    Về Hội nghị Geneve, tác giả cho rằng “dưới sự thúc đẩy của Chu Ân Lai, hai nước Trung Việt đã đạt được thỏa thuận chung” phản ảnh trong nội dung của bản hiệp định và đánh giá đó là bản hiệp định hợp với tình hình thực tế lúc đó và có lợi cho VN. Từ nhận định đó tác giả không tán thành ý kiến của một học giả Đài Loan cho rằng “Hiệp định Geneve là mâu thuẫn lần thứ nhất giữa hai Đảng”.


    Bài viết giới thiệu nhiều giai thoại về các cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, về các cuộc đối thoại giữa Trần Canh và Hồ Chí Minh, v.v.. Có cả nhiều ảnh tư liệu về các cuộc gặp giữa các lãnh tụ hai nước. Trong phần kết luận, tác giả cho rằng phong cách cá nhân đã làm cho các lãnh đạo hai nước đối xử với nhau chân thành, rất quân tử. Cuối cùng tác giả cho rằng hiện nay quan hệ hai nước trên căn bản là hòa bình, hữu hảo nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức mà thách thức này bắt nguồn từ sự thiếu tin cậy, thiếu sự hiểu biết giữa hai bên.


    Về cá nhân tôi rất mến giáo sư Lưu Chí Cường, một học giả trẻ có năng lực và thành thật trong nghiên cứu. Bản báo cáo về quan hệ cá nhân giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai rất công phu. Tuy nhiên nghĩ tới sự phản bội ở Hội nghị Geneve và nhất là chính họ đã trực tiếp quyết định và chỉ đạo đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, ta có thể đặt nhiều nghi vấn về thái độ của họ trong quan hệ với lãnh tụ của VN. Nhưng ở hội nghị đối thoại trí thức hai nước chúng tôi không có thì giờ đi xa hơn nội dung bản báo cáo của giáo sư Lưu Chí Cường.


    Nhà báo Thu Hà: Giai đoạn mà mối quan hệ giữa hai nước “vừa là đồng chí, vừa là anh em” trở nên xấu đi được giới học giả hai nước phân tích như thế nào? Thưa giáo sư?


    Nói về giai đoạn xấu nhất trong quan hệ Việt Trung, một phó giáo sư của Đại học Thanh Hoa (theo yêu cầu vị này, tôi xin không nêu tên ở đây) trong hội nghị trù bị năm ngoái cho rằng giai đoạn Việt Nam theo đuổi chính sách nhất biên đảo, ngả về Liên Xô là xấu nhất. Theo vị này, VN đã nghi ngờ viện trợ của TQ trong giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ là cách nước này khống chế hơn là thực tâm giúp.


    Vấn đề Campuchia cũng là một trở ngại làm quan hệ hai nước xấu đi.


    Nhà báo Thu Hà: Đó là ý kiến riêng của trí thức Trung Quốc, vậy trí thức Việt Nam đã phản biện như thế nào? Thưa Giáo sư?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Giáo sư Chu Hảo cho rằng, trên bản chất, quan hệ Việt Trung chỉ cần chia ra 3 giai đoạn:


    1) Thời kỳ chế độ quân chủ của VN từ năm 938 đến năm 1884 mà nét đặc trưng là quan hệ triều cống của nước nhỏ đối với nước lớn.


    2) Thời kỳ thuộc địa (là chủ yếu) của cả hai nước từ 1885 đến 1949, giai đoạn này hai quốc gia ít có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.


    3) Thời kỳ quan hệ giữa hai nhà nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1950 đến nay. Đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt: trên danh nghĩa thì "vừa là đồng chí vừa là anh em", nhưng trên thực tế thì có rất nhiều mảng tối được đặc trưng bởi sự không thành thật, nói một đằng làm một nẻo.


    Giáo sư Chu Hảo nhấn mạnh Việt Nam luôn ghi nhớ sự giúp đỡ chí tình, kể cả bằng xương máu của nhân dân Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc cảu Việt Nam. Đồng thời, ông cũng không quên nhắc một thực tế khác, khi có lúc Việt Nam đã phải nếm vị đắng trong quan hệ với nước này, như đàm phán Geneva 1954, hay gặp gỡ Mỹ - Trung 1972.

    Những vấn đề mới trong quan hệ Việt - Trung, trong đó có nhập siêu lớn của VN với TQ làm quan hệ căng thẳng

    Quan hệ “16 chữ” và “4 tốt”, nhưng không phải có những lúc, thực tế trái với tinh thần của những khẩu hiệu ngoại giao tốt đẹp ấy.

    Nhà báo Thu Hà: Cuối cùng, hai bên có tìm được tiếng nói chung khi lý giải lịch sử hay không?


    GS. Trần Văn Thọ:
    Có lẽ nhiều người phía TQ không nhất trí với quan điểm này nhưng cũng không có tích cực phản luận, ngoại trừ ý kiến của phó giáo sư Lưu Chí Cường cho rằng sự phát triển nhanh trong quan hệ ngoại thương và đầu tư trong nhiều năm qua giữa hai nước là kết quả của tinh thần “hợp tác toàn diện”, 4 trong 16 chữ.


    Còn giáo sư Phan Kim Nga thì cho rằng những sự kiện phức tạp gần đây trong quan hệ hai nước là do những nguyên nhân khác, cụ thể như sau: Tranh chấp trên biển (hai nước đều đưa ra những cơ sở lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình, có sự khác nhau trong lý giải về Luật biển công ước năm 1982), kinh tế và thương mại (nhập siêu của VN đối với TQ quá lớn), nhận thức về lịch sử (nhất là lịch sử cận hiện đại), và các thách thức mới.


    Nhà báo Thu Hà: Các thách thức mới ấy là gì, theo quan điểm của vị học giả Trung Quốc, thưa Giáo sư?

    GS. Trần Văn Thọ: Trong những thách thức mới, giáo sư Phan Kim Nga nhấn mạnh bốn điểm. Một là, khi thực lực kinh tế hai nước tăng lên, ý thức dân tộc cũng tăng làm cho tranh chấp chủ quyền nổi lên.

    Hai là, trụ cột quan trọng để giữ gìn quan hệ tốt đẹp của hai nước là ý thức hệ chủ nghĩa cộng sản nhưng bây giờ suy nghĩ của người dân hai nước có khuynh hướng khác trước nên trụ cột đó dần dần mất đi.


    Ba là, cơ cấu dân số Việt Nam thay đổi, tỉ lệ người sinh ra sau năm 1975 chiếm phần lớn và họ dần dần không biết đến “hình ảnh nhân dân hai nước Trung Việt cùng đổ máu, giúp đỡ nhau chống thực dân và xây đắp nên tình hữu nghị vừa là đồng chí vừa là anh em”.


    Bốn là, theo vị học giả này, khi kinh tế phát triển, tài nguyên sẽ cạn kiệt và ý thức bảo vệ môi trường tăng lên nên VN có khuynh hướng thúc đẩy phát triển hướng ra biển, làm cho tranh chấp trên biển tăng lên.


    Từ phân tích này, tác giả cho rằng cần phải tìm kiếm, xây dựng những trụ cột mới để cho quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp.


    Lưu Chí Cường và Phan Kim Nga là những nhà nghiên cứu về Việt Nam, viết và nói tiếng Việt giỏi, theo tôi họ là những trí thức có lương tâm. Ta thấy họ cố gắng lý giải vấn đề theo hướng tích cực, cố gắng tìm những yếu tố khách quan để giải thích tình trạng hiện nay và tránh phân tích các yếu tố liên quan đến chiến lược, chính sách của lãnh đạo Trung Quốc.


    Nhà báo Thu Hà: Như vậy là trí thức Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn rất khác nhau khi nhìn lại giai đoạn kém hữu hảo trong mối quan hệ giữa hai quốc gia.


    GS. Trần Văn Thọ:
    Liên quan đến vấn đề này, trong hội nghị trù bị năm ngoái, giáo sư Đỗ Tiến Sâm (Viện Khoa học Xã hội VN) cho rằng, do yếu tố lịch sử và địa lý, mọi người VN đều mong muốn được sống hòa bình với nước láng giềng phương bắc nhưng luôn có tinh thần cảnh giác cao đối với các chính sách và hành động của TQ.


    Theo giáo sư Sâm, mặc dù khi bình thường hóa quan hệ năm 1991, lãnh đạo hai nước đã chủ trương “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, sau đó lần lượt đề ra “phương châm 16 chữ”, “tinh thần bốn tốt” và gần đây đặt quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”, nhưng sự tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước chưa đủ tốt, nhất là người VN vẫn cảnh giác đối với TQ khi thấy nhiều sự kiện trên thực tế đi ngược lại các phương châm tốt đẹp ấy. Đặc biệt các dự án hợp tác của TQ tại VN và các hành động của TQ ở Biển Đông gây nên bức xúc trong dư luận tại VN.


    Đúng là có sự khác biệt về nhận thức giữa trí thức VN và trí thức TQ về những chủ trương, phương châm có tính cách khẩu hiệu hiện nay.


    Thu Hà

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tu...t---trung.html


  12. Thanks anh2 đã cám ơn bài viết

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •