[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 1 trong 8 123 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 74
  1. #1
    babykiller Guest

    Những trận không chiến dữ dội nhất 1 thời của KQNDVN---Hoa và lửa

    Lời nói đầu : đọc cái này lâu rồi định căn đúng ngày post cho nó ý nghĩa nhưng không nghĩ đc nghỉ tết sớm nên hum nay mới post đc,đây là tổng hợp từ rất nhiều tài liệu từ cả 2 phía xuyên suốt cuộc chiến tranh đường không vào miền bắc việt nam từ năm 1964 đến năm 1973,1 thời kì hào hùng đầy bi tráng của quân dân ta,với cách đánh mưu trí,sáng tạo,lòng quả cảm nhiệt thành của tuổi trẻ,các chiến sĩ ta đã làm cho người mỹ phải ngã mũ kính phục,tuy nhiên,để đánh đổi cho ngày chiến thắng đó,rất nhiều chiến sĩ đã đã anh dũng hi sinh,chiến tranh thật khốc liệt và các phi công mỹ cũng không phải là những kẻ bất tài....
    Xin bắt đầu từ ngày đầu năm mới 1967.....


    02/01/67: Chiến dịch Bolo

    Chiến dịch Bolo
    (tổng hợp các tài liệu Mỹ)

    Hoạt động của MiG nhằm vào các phi đội không kích cuối năm 1966 trở nên cao 1 cách bất thường và đòi hỏi phải có biện pháp đối phó. Hoạt động từ 5 sân bay chính: Phúc Yên (Nội Bài), Kép, Gia Lâm, Kiến An và Cát Bi, MiG không bị đe dọa chừng nào vẫn đỗ trên mặt đất. Nhà Trắng vẫn ngăn cấm việc ném bom các sân bay cho đến 23/4/1967. Nhờ có sự miễn trừ này, MiG có thể tiến hành các cuộc tấn công nghi binh vào các phi đội không kích, buộc họ phải thả bom sớm. Nhưng thay vì đối đầu trong không chiến, sau đó MiG sẽ rút lui và trở về nơi yên ổn của mình. Phức tạp hơn, những chiếc MiG-21 đời mới mang theo tên lửa dẫn bằng radar hoặc tầm nhiệt, tạo thành mối đe dọa trực tiếp tới máy bay Mỹ.

    Do việc tiêu diệt MiG trên mặt đất vẫn bị cấm vì lý do chính trị, chỉ huy TĐKQ 7 Mỹ chọn 1 phương án khác. Ngay từ đầu cuộc chiến - tháng 4/1965 - bộ chỉ huy Mỹ đã quan tâm tới việc tiến hành 1 chiến dịch không kích nhử mồi nhằm dụ MiG lên không và bắn hạ họ. Nhiệm vụ tiến hành chiến dịch này được giao cho đại tá Robin Olds, tư lệnh không đoàn 8 KQ Mỹ.

    Bước đầu tiên của chiến dịch là nhử MiG cất cánh và tiêu diệt họ trong không chiến. Đồng thời trong lúc đó cũng phải khống chế toàn bộ các sân bay và các hành lang mà MiG có thể lợi dụng để ẩn nấp hay bay thoát sang TQ.

    Lực lượng tham gia chiến dịch được tập hợp từ các không đoàn 355, 388, 8 và 366. Không đoàn 355 và 388 trang bị F-105 sẽ thực hiện các phi vụ Iron Hand như thường lệ. Không đoàn 8 trang bị F-4C trở thành Lực lượng phía Tây, có nhiệm vụ nhử MiG và khống chế vùng trời các khu vực nghi ngờ cũng như sân bay Phúc Yên và Gia Lâm. Không đoàn 366 trang bị F-4C trở thành lực lượng phía Đông, có nhiệm vụ khống chế sân bay Kép và Cát Bi cũng như các hành lang bay về phía bắc.

    Lực lượng phía Tây sử dụng 1 thủ đoạn phức tạp nhằm ngụy trang F-4C thành các phi đội không kích F-105 với hy vọng MiG sẽ bị lừa, bay lên tấn công vào những gì họ tưởng là những chiếc F-105 mang bom nhưng thực ra sẽ là F-4 mang tên lửa đối không. Để thực hiện điều này, F-4 sẽ bay với cùng các thông số như F-105: cùng thời gian, cùng độ cao, cùng tốc độ, cùng hành lang bay, cùng khu tiếp liệu, cùng mật danh và phương thức thông tin liên lạc. Ngoài ra lần đầu tiên F-4C mang theo máy gây nhiễu QRC-160 để tín hiệu của họ sẽ xuất hiện trên màn radar giống như F-105.

    Lực lượng Bolo gồm 14 biên đội F-4C (7 biên đội thuộc không đoàn 8 xuất phát từ căn cứ Ubon, 7 biên đội thuộc không đoàn 366 xuất phát từ căn cứ Đà Nẵng), 6 biên đội F-105 Iron Hand, cùng các biên đội KC-135, EC-121 và EB-66 hỗ trợ do 4 biên đội F-104 thuộc phi đoàn 435 ở Ubon hộ tống. Tổng cộng 56 F-4C, 24 F-105 và 16 F-104 tham gia chiến dịch. Với tính toán rằng MiG có thể bay trong khoảng 50 phút và không chiến trong 5 phút, thời gian tới mục tiêu của các biên đội được giãn cách 5 phút để đảm bảo F-4C sẽ duy trì khống chế được khu vực mục tiêu trong ít nhất 55 phút.

    Dựa trên kế hoạch và dự báo khí tượng, ngày mở màn chiến dịch được chọn là 2/1/1967. Trước khi bắt đầu 3 ngày, toàn bộ các tổ bay được phổ biến về nhiệm vụ. Các phi công F-4 được phổ biến là không nên cố thử quần vòng với MiG. Các biên đội bay sau phải cảnh giới cho đồng đội, nhưng các biên đội bay trên vùng trời mục tiêu được phép sử dụng tên lửa không hạn chế, bất cứ máy bay lạ nào xuất hiện sẽ được coi là địch.



    Sân bay Kiến An ( nhà em đấy các bác ạ ))

    Tất cả đều là không ảnh từ máy bay trinh sát EF-4C (chế lại từ F4-C)
    Diễn biến chiến đấu




    Ngày 2/1/1967, điều kiện khí tượng trên khu vực mục tiêu không tốt, dự báo có mây và sương mù nên thời điểm bắt đầu chiến dịch được hoãn lại 1 giờ để chờ thời tiết khá hơn. Lúc 12h25, các biên đội Olds (do Robin Olds chỉ huy), Ford và Rambler lần lượt cất cánh. Đến 12h55, tới lượt các biên đội Vespa, Plymouth, Lincoln và Tempest. Ngoài lực lượng Bolo, tất cả các phi vụ khác đều hủy bỏ để dụ MiG tập trung vào trận đánh này.

    Khi tới khu vực tiếp nhiên liệu, Tempest 1 phát hiện có vấn đề trong tiếp dầu và do đó cùng với Tempest 2 quay về. Sau đó toàn bộ biên đội Tempest cũng rút lui do các phi công phát hiện máy gây nhiễu ECM của họ bị trục trặc.

    Lúc 15h00 biên đội Olds tới mục tiêu, tiếp theo là Ford lúc 15h05 và Rambler lúc 15h10. Để nghi binh, các phi công F-4 bắt chước cách liên lạc của F-105 như yêu cầu kiểm tra Doppler (trong khi F-4 trang bị INS) hay Olds yêu cầu biên đội "green up" (thuật ngữ về kích hoạt bom của phi công F-105).

    Biên đội Olds dự kiến sẽ đụng MiG ở khu vực sông Hồng hay sân bay Nội Bài. Tuy nhiên do điều kiện thời tiết không thuận lợi, KQ BVN không tính đến 1 cuộc không kích nên phản ứng của họ đối với lực lượng Bolo chậm hơn nhiều so với dự kiến. Biên đội Olds bay tuần trên các hành lang phía trên và tây nam Phúc Yên không thấy có MiG và chuyển hướng lên phía tây bắc. Biên đội thứ 2 tiến vào khu vực vài phút sau đó. Do MiG chưa xuất hiện, Olds phải hủy bỏ lựa chọn khai hỏa không hạn chế để khỏi bắn lầm vào nhau.

    Màn mây khiến Lực lượng phía Tây không thể khống chế được các sân bay mà MiG có thể lợi dụng để phục hồi. Nó cũng giúp MiG dễ dàng rút khỏi trận đánh bằng cách bổ nhào vào trong mây. Thời tiết cũng ảnh hưởng tới Lực lượng phía Đông có nhiệm vụ khống chế sân bay khi họ không thể tiến vào khu vực tác chiến và không phát hiện được MiG.

    Khi bay về hướng tây bắc Phúc Yên, biên đội Olds phát hiện trên màn radar tín hiệu bay thấp và nhanh ở cự ly 17 dặm trên hướng 12h. Olds 3 được cử bám theo nhưng sau khi leo tới đỉnh màn mây, Olds 3 mất dấu khi chiếc máy bay kia lướt qua phía dưới biên đội. Olds 1 trở lại vị trí dẫn đầu và leo cao tới 12000ft hướng về phía dãy Tam Đảo. Biên đội Ford tiến vào khu vực và phát hiện MiG đang tiếp cận biên đội Olds ở hướng 6h. Trận không chiến tốc độ cao bắt đầu và diễn ra trong 15 phút, toàn bộ trong khu vực bán kính 15 dặm với tâm là sân bay Nội Bài. Các phi công MiG tỏ ra quyết liệt.

    Olds 3 thấy 1 MiG ở góc 6h, Olds 1 thấy 1 MiG ở góc 8h và Olds 2 thấy 1 MiG ở góc 10h. Cả 3 ngoặt sang trái và lách vào giữa chiếc MiG thứ 2 và thứ 3. Olds 1 bắn 2 quả AIM-7E không dẫn thành công, trong khi MiG số 3 tiến vào góc 6h của 3 chiếc F-4. Olds 1 bắn tiếp 2 AIM-9 ngay lập tức bị lái vào mây. Lúc này Olds 2 khóa được mục tiêu bằng quang học (boresight), chuyển sang radar và bắn liền 2 AIM-7E. Quả thứ 1 rời bệ nhưng không quan sát được, quả thứ 2 lái theo MiG (khoảng cách 1,5-2 hải lý) và nổ ngay phía trước cánh đuôi. 1 quả cầu lửa bùng lên, MiG lao qua nó vài giây và rồi bung những mảnh lớn trên thân ra. Chiếc MiG xoáy tròn và xoay một cách chậm chạp cho đến khi biến mất trong mây.

    Khoảng 60s sau Olds 4 hạ chiếc MiG thứ 2. Họ truy theo chiếc MiG có vẻ là đang định bám đuôi Olds 3. Nhận được tín hiệu AIM-9 yếu, Olds 4 tăng thêm nguồn, leo cao thêm 1 chút và tín hiệu trở nên hoàn hảo. Olds 4 khai hỏa sau khi công tắc radar-nhiệt được chuyển sang vị trí nhiệt, tên lửa được dẫn thẳng vào chiếc MiG. Tên lửa đâm vào phía trước đuôi, MiG trở nên mất điều khiển và rơi nhanh xuống, tỏa theo 1 vệt khói.

    Lúc này chiến thuật của MiG trở nên rõ ràng. Được dẫn đường từ mặt đất, 2 chiếc MiG tấn công từ hướng 10h và 12h, trong khi những chiếc khác đồng loạt xuất hiện từ hướng 5h đến 7h. Mục đích của chiến thuật này là buộc F-4 phải vòng lại để đối phó với MiG ở phía sau, tạo điều kiện cho những chiếc MiG ở hướng 10h và 12h vào thế tấn công vào sau lưng F-4.

    Olds 1 thấy 1 MiG xuất hiện ở hướng 6h, có vẻ do tình cờ hơn là chủ định. Olds 1 ngoặt gấp về bên trái để thu hút sự chú ý của phi công MiG, chờ Olds 3 và 4 tấn công chiếc này. Cùng lúc đó Olds 1 thấy 1 MiG khác lao ra từ trong mây với vòng ngoặt rộng ở hướng 11h, cự ly 1,5 dặm. Olds 1 bỏ qua chiếc MiG đầu tiên và khai hỏa vào chiếc thứ 2 nhưng MiG biến mất vào trong mây. Olds 1 thấy 1 MiG khác ở hướng 10h đang di chuyển từ phải sang trái so với chiếc F-4. Olds 1 bật tăng lực toàn phần, ngóc mũi lên 45 độ, lượn sang phải và tiến vào vòng lượn của chiếc MiG. Olds 1 leo cao phía trên, chờ cho chiếc MiG hoàn thành thêm vòng lượn của mình rồi đảo xuống phía sau. Ở góc khoảng 20 độ và cự ly 4500-5000ft phía sau, Olds 1 bắn 2 AIM-9, 1 trong đó trúng vào cánh. MiG chìm trong lửa, rơi xuống và biến mất trong mây. Không ai quan sát thấy phi công nhảy dù. Sau khi kiểm tra nhiên liệu, Olds ra lệnh cho biên đội quay về.

    Lúc 15h04, biên đội Ford bị 3 MiG tấn công - 2 từ hướng 10h và đồng thời 1 từ hướng 6h. Ban đầu Ford 1 định phản công 2 chiếc MiG ở phía trước, nhưng sau khi phi công phụ phát hiện MiG ở phía sau và đã vào đến tầm tên lửa đối với Ford 3 và 4, Ford 1 vội vã ngừng tấn công. Ford 1 vòng gấp sang phải và thấy chiếc MiG bay thấp phía dưới. Khi Ford 3 và 4 ngoặt phải gấp theo cảnh báo của Ford 1, MiG cũng ngoặt trái không rõ nguyên nhân. Ford 1 thực hiện vòng ngoặt barrel roll để tách ra và bắn 1 AIM-9. Tên lửa trượt khi MiG tăng tốc và ngoặt gấp sang trái. Ford 1 yêu cầu Ford 2 bám theo trong khi chuyển sang 2 chiếc MiG ban đầu giờ đang ở trong tầm bắn ở vị trí đối đầu. Ford 1 nhận được tín hiệu tốt và lần lượt bắn 2 AIM-9 sau đó chuyển về vị trí hộ vệ cho Ford 2. Kết quả tên lửa bắn không rõ.

    Ford 2 cơ động vào vị trí 6h ở cự ly 3500ft so với MiG. Ford 2 bắn 1 AIM-9B trúng vào đuôi chiếc MiG. MiG chậm chạp xoáy tròn rơi xuống và sau đó bùng cháy, biến mất trong mây. Sau đó biên đội Ford cũng rời khu vực.

    Rambler, biên đội thứ 3 của Lực lượng phía Tây giao chiến 2 trận độc lập. Rambler 1 đã theo dõi Olds và Ford trên radio và hỏi xem có cần hỗ trợ không nhưng đều không nhận được phản hồi. Gần Phúc Yên, Rambler 2 thấy MiG ở hướng 3h, cự ly 6 hải lý xuất hiện từ trong mây đang bay hướng 20 độ với 1 vòng ngoặt trái đơn giản. Tuy nhiên do trục trặc radio nên Rambler 2 không thông báo được cho biên đội và tự mình đi trước - 1 phương án đã được phổ biến trước cho các thành viên trong 1 biên đội khi gặp MiG. Rambler 4 cũng thấy biên đội 4 MiG-21 và thêm 2 chiếc nữa ở phía sau, cự ly 2-3 dặm. Rambler 1 thấy 2 MiG trong số đó bay qua ở vị trí 3h, khoảng 4000ft phía dưới và cự ly 2 hải lý. Khi biên đội Rambler đến gần, MiG đi đầu ngoặt trái và Rambler 1 bám theo. Điều này đặt Rambler 4 ra ngoài đội hình, và họ phải leo cao để tránh các thành viên khác của biên đội đang hướng vào họ.

    Bay với tốc độ 540 knot ở độ cao 16000ft, Rambler 4 thấy 4 MiG-21 bay theo đội hình lỏng lẻo ở hướng 2h phía dưới, cự ly 608 dặm. Khoảng 2 dặm phía sau có thêm 2 chiếc nữa. Trượt sang phải, Rambler 4 bật tăng lực và khóa được mục tiêu bằng quang học. Rambler chọn chế độ radar, bám theo chiếc MiG và bắn 2 AIM-7. Ở 12000ft, Rambler 4 quan sát thấy quả thứ 2 nổ ở đuôi chiếc MiG, kéo theo 1 quả cầu lửa và 1 chiếc dù.

    Trong khi đó, Rambler 1 và 2 đang tấn công MiG số 1 và 2 thuộc biên đội 4 chiếc thì 2 chiếc MiG khác cơ động nhằm giành ưu thế, ban đầu là thu hút sự chú ý của F-4. 1 chiếc bay qua phía dưới giữa 2 chiếc F-4, trong khi chiếc kia khai hỏa cannon nhưng không có kết quả. Rambler 1 ngoặt phải và sau đó vòng lại trái để tiếp tục tấn công 2 MiG ban đầu, trong khi đó mất dấu Rambler 2, lúc này đã nhập với Rambler 4 mà anh ta tưởng lầm là Rambler 1. Rambler 1 bám sát 2 chiếc MiG và bắn 3 AIM-7, quả thứ 2 nổ ở đầu cánh, MiG bốc cháy và phi công nhảy dù.

    Rambler 3 đang tấn công 1 MiG, có thể là số 4 trong biên đội. Rambler 3 khóa mục tiêu ở cự ly 2,5 dặm và bắn 2 AIM-7 từ cự ly 1,5 dặm. Quả thứ 1 không dẫn và quả thứ 2 theo chiếc MiG biến vào trong mây, không quan sát được kết quả.

    Vài phút sau, biên đội Rambler có trận đánh thứ 2. Rambler 1 phát hiện 3 tín hiệu radar ở bên phải 30 độ và cự ly 12 dặm. Rambler 1 ngoặt phải để xác định và sau đó quan sát thấy thêm 2 MiG ở hướng 10h hoặc 11h, cự ly 3 dặm đang ngoặt trái. Rambler 1 định bám theo và bắn AIM-9 nhưng không thành vì ngay lúc đó Rambler 3 cảnh báo đang có MiG bám đuôi 1 chiếc F-4. Rambler 1 thấy 1 MiG ở hướng 7h, cự ly 700ft đang khai hỏa. Rambler 1 ngoặt gấp vào chiếc MiG, sau khi cải bằng anh ta mất dấu cả chiếc MiG lẫn trợ thủ của mình.

    Rambler 2 và 4 bám đuôi 2 chiếc MiG, MiG tách ra, 1 sang trái và xuống, 1 sang phải và lên. Rambler 2 bắn 2 AIM-7 vào chiếc MiG, quả thứ 2 bắn trúng và chiếc MiG phát nổ. Rambler 2 bay qua đám mảnh vụn gây ra 1 số hư hại cho phần dưới của máy bay và nhìn thấy phi công MiG nhảy dù. Rambler 2 tiếp tục bắn 1 AIM-7 vào 1 MiG khác nhưng tên lửa bay qua cách 2000ft phía trước chiếc MiG.

    Rambler 4 bắn 2 AIM-7 vào chiếc MiG mà họ truy đuổi nhưng không quả nào trúng. Rambler 4 sau đó bắn tiếp 4 AIM-9, 2 quả nổ gần MiG, và khi bắn nốt 2 quả kia, Rambler 4 được cảnh báo có MiG phía sau. Rambler 4 ngoặt gấp về bên phải và không quan sát được kết quả tên lửa.

    Rambler 2 thấy thêm 2 MiG nhưng không thể tấn công vì radio trục trặc và anh ta không muốn phá vỡ đội hình với Rambler 4. Rambler 3 tấn công chiếc MiG đang truy đuổi Rambler 1 và bắn 1 AIM-7 khi chiếc MiG bổ nhào vặn xoắn về bên trái nhưng tên lửa có vẻ đã không nổ vì không quan sát được gì. Trước khi biên đội rời khu vực, 1 MiG tấn công Rambler 2 bằng cannon và 8-10 loạt rocket, nhưng Rambler 2 ngoặt trái gấp và thoát.

    Trận đánh đến đây là kết thúc, các biên đội còn lại của Bolo đều không gặp MiG.
    LS dẫn đường KQ của ta viết về trận này như sau:

    Bước sang năm 1967, ta tiếp tục trực chiến từng biên đội và đều mang tên lửa. Trưa 2 tháng 1 năm 1967, địch tăng cường hoạt động ở phía Sầm Nưa và nhiều tốp đã hướng về Phú Thọ. Có thể chúng sẽ vào đánh Hà Nội theo các đường bay như mấy ngày đầu tháng 12 năm ngoái. Địch qua Phù Yên, Trung đoàn 921 xin đánh. 13 giờ 56 phút, biên đội thứ nhất: Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Đăng Kính và Bùi Đức Nhu rời đất và xuyên lên trên mây. Các trực ban dẫn đường: Nguyễn Văn Chuyên, Đào Ngọc Ngư tại Sở chỉ huy Quân chủng và Tạ Quốc Hưng tại sở chỉ huy Trung đoàn 921 thực hiện dẫn phối hợp. Biên đội thứ nhất đến Phù Ninh thì gặp 4 F- 4 từ Phú Thọ vào. Ta đuổi địch về đến phía tây của sân bay Nội Bài lại gặp 4 F-4 nữa. Trong tình thế rất khó khăn, cả 4 chiếc của ta đều bị địch bắn và phải nhảy dù. Đúng lúc đó biên đội thứ hai: Nguyễn Ngọc Độ-số 1, Đặng Ngọc Ngự-số 2, Đồng Văn Đe-số 3 và Nguyễn Văn Cốc-số 4 cất cánh. Vừa lên khỏi mây, biên đội thứ hai được dẫn vào tiếp địch với góc 120 độ. Số 1 phát hiện cả F-4 và F- 105, cự ly 8km. Sau đó hai bên quần nhau, số 1 bị địch bắn, nhưng nhảy dù an toàn, các số còn lại tách tốp thoát ly về hạ cánh.

    Như vậy, tổng kết trận đánh, KQ Mỹ chính thức claim bắn hạ 7 MiG-21 do các tổ bay sau:

    1. F-4C 63-7589/FY mật danh Olds 2 thuộc phi đoàn 555 do trung úy Ralph F. Wetterhahn và trung úy Jerry K. Sharp, dùng AIM-7E.
    2. F-4C 63-7683/FY mật danh Olds 4 thuộc phi đoàn 555 do đại úy Walter S. Radeker III và trung úy James E. Murray III, dùng AIM-9B.
    3. F-4C 63-7680/FP mật danh Olds 1 thuộc phi đoàn 555 do đại tá Robin Olds và trung úy Charles C. Clifton, dùng AIM-9B.
    4. F-4C 63-7710/FY mật danh Ford 2 thuộc phi đoàn 555 do đại úy Everett T. Raspberry, Jr.và trung úy Robert W. Western, dùng AIM-9B.
    5. F-4C 64-0838/FG mật danh Rambler 4 thuộc phi đoàn 433 do thiếu tá Philip P. Combies và trung úy Lee R. Dutton, dùng AIM-7E.
    6. F-4C 64-0720/FG mật danh Rambler 1 thuộc phi đoàn 433 do đại úy John B. Stone và trung úy Clifton P. Dunnegan, Jr, dùng AIM-7E.
    7. F-4C 63-7652/FG mật danh Rambler 2 thuộc phi đoàn 433 do trung úy Lt. Lawrence J. Glynn, Jr. và trung úy Lawrence E. Cary, dùng AIM-7E.

    Phía ta công nhận 5 MiG-21 của e921 bị bắn rơi, phi công nhảy dù an toàn, gồm:
    1. Vũ Ngọc Đỉnh.
    2. Nguyễn Đức Thuận.
    3. Nguyễn Đăng Kính.
    4. Bùi Đức Nhu.
    5. Nguyễn Ngọc Độ.

    Trang này cho biết tài liệu VN thừa nhận ngoài 5 MiG bị bắn rơi còn 1 chiếc nữa phi công phải nhảy dù do hết dầu. Hiện em chưa tìm được tài liệu nào xác nhận điều này.

    Về mặt chiến thuật, theo Clashes thì trong Bolo KQ Mỹ đã đạt được những ưu thế sau:
    - Phi công có kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt.
    - Các trận không chiến diễn ra ở cao độ tương đối lớn (trên 10.000ft), nhờ đó tên lửa và radar hoạt động tốt.
    - MiG dễ bị quan sát do trời trong với những đám mây đặc phía dưới và dễ bị nhận diện do màu sơn bạc trong khi F-4 sơn ngụy trang.
    - Các trận đánh diễn ra với tốc độ cao và ít diễn ra cơ động gần.
    - F-4 bắn nhiều AIM-7 dưới điều kiện lý tưởng: khóa mục tiêu hoàn toàn, không bị nhiễu địa vật.
    - Ngay từ đầu trận đánh F-4 đã ở phía trên cao so với MiG.

    Trong chiến dịch hiệu suất của tên lửa khá cao - tương đương với mức được kỳ vọng với 4/20 AIM-7 và 3/12 AIM-9 trúng mục tiêu và tỷ lệ này cho thấy phi công đã sử dụng tên lửa đúng cách. Tỷ lệ của AIM-9B đặc biệt ấn tượng, vì có 3 quả được chủ định bắn ở ngoài vùng hiệu quả để thu hút 1 chiếc MiG đang tấn công 1 F-4 nên tỷ lệ thành công của AIM-9B có thể được tính là 33%.


    Robin Olds, tư lệnh không đoàn 8 KQ Mỹ, tác giả của chiến dịch Bolo. Cựu phi công ace của WW2 với 12 chiến công (trong CTVN Olds claim bắn hạ thêm 4 MiG).


    Tổ bay Olds 2.

    Tổ bay Ford 2.

    Tổ bay Rambler 2.

    F-4C 64-0838.

    F-4C 63-7589.

    F-4C 63-7680.

    F-4C 63-7683.

    F-4C 63-7720.

    F-4C 64-0720.
    Theo ClashesAces&Aerial Victories:

    Mặc dù bị tổn thất, trong ngày 3/1 và 4/1 MiG-21 BVN tiếp tục truy đuổi 1 máy bay trinh sát khí tượng RF-4C, buộc nó phải hủy bỏ nhiệm vụ. Ngày 5/1, không đoàn 8 quyết định lập thêm 1 cái bẫy nữa và cử 1 biên đội 2 F-4C bay sát nhau với tuyến đường tương tự được máy bay trinh sát sử dụng. Mục đích của việc này là để radar BVN lầm tưởng đây là 1 máy bay trinh sát duy nhất. Biên đội hoạt động trên khu vực được phép khai hỏa không hạn chế, bay ở độ cao 7000-7500ft nhưng hôm đó MiG không xuất hiện.

    Ngày 6/1, biên đội Crab gồm 2 F-4C làm nhiệm vụ hộ tống 1 phi vụ không kích của F-105. Khi phi vụ này hủy bỏ do thời tiết, Crab được giao tiếp tục nhiệm vụ nhử mồi như hôm trước. Chiến thuật được lên kế hoạch trước là phát hiện MiG trên radar, cơ động F vào phạm vi bắn của AIM-7.

    Crab phát hiện 4 MiG ở phía đông bắc Hà Nội 25 dặm và ngay lập tức tấn công. Crab 1 bắn 2 AIM-7 vào chiếc MiG dẫn đầu, quả thứ 2 trúng vào giữa thân và nổ. MiG bốc cháy và rơi xuống 1 cách không kiểm soát. Crab 2 cũng bắn 1 AIM-7D vào chiếc MiG đi đầu nhưng tên lửa không dẫn. Crab 1 tiếp tục tấn công MiG số 2, MiG bổ nhào vào trong mây. Quan sát thấy MiG số 3 và 4 ở vị trí 6h so với Crab 2, Crab 1 thực hiện barrel roll vào phía sau nhưng 2 chiếc MiG này cũng biến mất vào trong mây. Crab 1 tiếp tục ngoặt phải gấp, tin rằng MiG sẽ tiếp tục vòng lượn của mình.

    Khi MiG số 3 và 4 xuất hiện từ trong mây, Crab 1 cơ động vào phía sau nhưng MiG quan sát thấy và vòng trở lại đối phó. Crab 1 nhằm vào MiG số 4 và lần lượt bắn 2 AIM-9B. Quả thứ 1 đi trượt 300-400ft phía sau chiếc MiG, quả thứ 2 sượt qua sát đuôi nhưng không nổ. 2 chiếc MiG vòng lại và trận đánh lúc này biến thành 1 loạt vòng lượt cắt kéo tốc độ thấp, Crab 1 tiếp tục bắn 1 AIM-9B nhưng trượt. MiG số 3 có vẻ đã nhận thấy bị rơi vào thế bất lợi và rời khu vực, MiG số 4 vẫn tiếp tục cơ động cắt kéo.

    Crab 2 tiếp cận và khóa được mục tiêu vào chiếc MiG đang ngoặt leo cao về bên phải. Crab 2 di chuyển vào vị trí 5h, bắn 1 AIM-7D khóa mục tiêu hoàn toàn. MiG tiếp tục leo cao đến mức gần như thẳng đứng và có vẻ bị thất tốc. Khi quan sát tiếp, Crab 2 thấy MiG chúc mũi xuống 80 độ và xoay chậm chạp, tiếp đó cả 2 thấy phi công nhảy dù. Tên lửa do Cảb 2 bắn có vẻ không nổ nên MiG hoặc bị tắt động cơ, hoặc phi công mất điều khiển.


    Theo USAF F-4 MiG Killers, F-4C 64-0389/FY mật danh Crab 1 do đại úy Richard Pascoe và trung úy Norman Wells, F-4C 64-0849/FY mật danh Crab 2 do thiếu tá Thomas Hirsch và trung úy Roger Strasshimmer. Cả 2 đều thuộc phi đoàn 555, không đoàn 8 KQ Mỹ ở căn cứ Ubon.


    F-4C 64-0839/FY


    F-4C 64-0849/FY
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Ngày 6 tháng 1 năm 1967, kíp trực ban dẫn đường Quân chủng: Nguyễn Văn Chuyên dẫn tại sở chỉ huy, Phạm Từ Tịnh trên hiện sóng và Trung đoàn 921: Phạm Minh Cậy, Trần Đức Tụ dẫn tại sở chỉ huy. Biên đội Trần Hanh-số 1, Mai Cương (Mai Văn Cương)-số 2, Đồng Văn Đe-số 3 và Nguyễn Văn Cốc-số 4 được dẫn tiếp địch với góc vào 20 độ tại khu vực Việt Trì-phú Thọ. Số 1 phát hiện 2 F-4, 9km, nhưng bị nhiều tốp địch khác bám theo. Số 2 và số 3 đều bị địch bắn, nhưng số 2 nhảy dù an toàn, còn số 3 hy sinh.

    Như vậy, chỉ trong hai ngày, MiG-21 bị tổn thất quá lớn, Quân chủng quyết định Trung đoàn 921 tạm ngừng xuất kích để rút kinh nghiệm. Những nguyên nhân chủ yếu là: Đã không phát hiện được thủ đoạn của địch là cho tiêm kích giả làm cường kích để nhử không quân ta lên đánh và dùng lực lượng tiêm kích đánh chính của chúng phục kích tại khu vực để bám theo máy bay ta khi xuyên lên trên mây. Ta chưa lường hết ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và khả năng đánh địch bằng đội hình 4 chiếc của MiG-21. Dẫn đường cho biên đội Đỉnh-Thuận-Kính-Nhu cất cánh muộn, chỉ huy có tư tưởng nóng vội. Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân (được thành lập ngày 24 tháng 3 năm 1967) chỉ đạo cho các cơ quan và Trung đoàn 921 tập trung nghiên cứu, xây dựng cách đánh và cách dẫn đôi bay MiG-21 để tiếp tục đánh địch.


    Theo LS e921:

    Để đối phó với không quân tiêm kích của ta, không quân Mỹ đã áp dụng nhiều thủ đoạn chiến thuật mới. Do ta không nắm được ý đồ và thủ đoạn của chúng, lại nóng vội nên chỉ trong tháng 1 năm 1967, trung đoàn cho 3 biên đội xuất kích, không những ta không bắn rơi địch trái lại ta bị tổn thất 7 máy bay và 1 phi công hi sinh.

    Trong nhiều ngày liền, địch vẫn áp dụng chiến thuật ấy, phục sẵn ở phía trên mây, các máy bay ta vừa cất cánh chưa kịp tập hợp đội hình chưa tới độ cao đã bị tấn công từ mọi phía, máy bay rơi, phi công phải nhảy dù.

    Đứng trước tình hình đó, Quân chủng tạm thời cho Trung đoàn 92 1 dừng bay để rút kinh nghiệm tìm ra điểm yếu và sơ hở của mình. Trung đoàn tổ chức họp rút kinh nghiệm hai ngày liền để tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học, tìm biện pháp khắc phục lấy lại khí thế và uy tín của đơn vị, nhất là cho MiG-21.

    Sau khi bàn bạc, phân tích nghiên cứu về âm mưu, thủ đoạn, chiến thuật mới của địch, đồng thời tổng hợp tài liệu tin tức từ trên xuống dưới kể cả tin tức của mảng tình báo quốc gia, Quân chủng, trung đoàn mới thực sự nắm bắt được tình hình. Đó là do những hoạt động ráo riết và có hiệu quả ngày càng lớn của không quân ta trong thời gian vừa qua, đế quốc Mỹ lo ngại đã quyết định mở một chiến dịch đánh thẳng vào không quân ta lấy tên là "Quét sạch bầu trời".

    Không quân Mỹ huy động một lực lượng lớn F-4 được trang bị hiện đại chuyên làm nhiệm vụ tiêm kích, tổ chức huấn luyện một tuần liền ở Thái Lan. Khi vào miền Bắc Chúng bay theo đội hình cường kích tốc độ chậm, ít di chuyển. Chúng ta không phát hiện ra chúng vì chúng bay nhiều tốp, máy bay ta ở tầng nào cũng gặp địch, chúng đã chiếm độ cao ưu thế. Đây là bài học lớn về nắm địch không những cho cán bộ chỉ huy các cấp mà cho cả đội ngũ phi công dẫn đường và sĩ quan tham mưu của ta. Khi máy bay ta vừa cất cánh mới xuyên mây lên, chưa kịp tập hợp đội hình tốc độ còn chậm, khó cơ động lại bị bất ngờ không tránh được tên lửa địch vì vậy tổn thất là khó tránh. Ta phải dừng lại chưa xuất kích để tìm ra cách đánh mới.


    Như vậy trong trận này KQ Mỹ claim 2 MiG-21, phía ta công nhận (1 phi công hy sinh).
    Từ đầu năm 1967, mặt trận đối không trên bầu trời miền Bắc bắt đầu có sự tham gia của KQ CHDCND Triều Tiên.

    http://www.quansuvn.net/index.php/to....html#msg79361

    Tại Hội nghị Thường trực Quân ủy Trung ương ngày 21 tháng 9 năm 1966, đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân báo cáo: Bạn đề nghị cử một đơn vị không quân tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, sẽ tổ chức thành từng đại đội nằm trong đội hình trung đoàn không quân của ta, mặc quân phục Việt Nam, cùng sử dụng một sân bay. Bạn có thể đưa sang nhiều nhân viên kỹ thuật, nhưng vấn đề bảo đảm kỹ thuật mặt đất, bảo đảm vật chất hoàn toàn do ta phụ trách.

    Sau khi Thường trực Quân ủy Trung ương thảo luận, đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì hội nghị kết luận: Bộ đội không quân Triều Tiên mang danh nghĩa là chuyên gia, nhưng thực chất là quân tình nguyện. Vì vậy, ta phải đoàn kết tôn trọng bạn, nhưng phải giữ vững chủ quyền. Trong quá trình huấn luyện và chiến đấu, ta cần chỉ rõ phạm vi hoạt động của bạn, chỉ định sân bay chính, sân bay dự bị. Trong chỉ huy, ta là cấp trên của bạn, nhưng tại trung đoàn bạn sẽ trực tiếp chỉ huy, có đại diện của ta để giao nhiệm vụ. Đại tướng yêu cầu hiệp đồng giữa hai bên phải rõ ràng, rành mạch để tránh những phức tạp không đáng có về sau.

    http://www.quansuvn.net/index.php/to....html#msg79372

    Theo thỏa thuận về nguyên tắc giữa hai Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Lao động Triều Tiên, thực hiện ý kiến chỉ đạo ngày 21 tháng 9 năm 1966 của Thường trực Quân ủy Trung ương, từ ngày 24 đến 30 tháng 9 năm 1966 tại Hà Nội, Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam do đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn và Đoàn đại biểu quân sự Triều Tiên do đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Xuê Quang làm trưởng đoàn, tiến hành hội đàm trong bầu không khí chân thành và đã ký Nghị định thư gồm 6 vấn đề cụ thể sau:

    1- Cuối tháng 10 hoặc trong tháng 11 năm 1966 phía Triều Tiên sẽ cử sang Việt Nam số chuyên gia đủ để phụ trách 1 đại đội máy bay MiG17 của Việt Nam (đại đội gồm 10 chiếc máy bay). Cuối năm 1966 hoặc đầu năm 1967, khi phía Việt Nam chuẩn bị đủ máy bay, phía Triều Tiên sẽ đưa sang Việt Nam số chuyên gia đủ để phụ trách đại đội MiG17 thứ hai của Việt Nam. Trong năm 1967, khi nào phía Triều Tiên đã chuẩn bị xong chuyên gia và phía Việt Nam chuẩn bị được máy bay, phía Triều Tiên sẽ cử thêm sang Việt Nam một số chuyên gia đủ để pụ trách 1 đại đội máy bay MiG21 của Việt Nam.

    2- Để thuận tiện cho việc quản lý nội bộ và chỉ huy chiến đấu, các chuyên gia Triều Tiên sẽ tổ chức thành các đại đội và tiến tới một trung đoàn. Khi chưa tổ chức thành trung đoàn, các đại đội chuyên gia Triều Tiên sẽ biên chế vào một trung đoàn của không quân Việt Nam và ẽ bố trí ở cùng sân bay với trung đoàn đó. Khi phía Triều Tiên đã có đủ 3 đại đội sẽ tổ chức thành 1 trung đoàn và sẽ bố trí ở sân bay riêng.

    3- Các đại đội chuyên gia nằm trong trung đoàn không quân Việt Nam sẽ do Ban chỉ huy trung đoàn đó chỉ huy và dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam.

    4- Việc tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị không quân, giữa không quân và cao xạ, tên lửa sẽ tiến hành theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam.

    5- Mọi vấn đề bảo đảm chỉ huy, bảo đảm kỹ thuật như: Bảo đảm thông tin, bảo đảm kỹ thuật cho máy bay, v.v... đều do phía Việt Nam phụ trách.

    6- Phía Triều Tiên sẽ chuẩn bị về mặt huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cơ bản cho các chuyên gia tại Triều Tiên, khi sang Việt Nam chỉ tiến hành huấn luyện ứng dụng cho thích hợp với điều kiện chiến trường, thời tiết và đối tượng tác chiến.

    Ngoài ra, Nghị định còn thống nhất các vấn đề về bảo đảm cho các chuyên gia Triều Tiên về nhà ở, sinh hoạt vật chất, phương tiện đi lại, phục vụ y tế, chế độ chính sách và khen thưởng.

    Ngày 9/2/1967, thượng tá Hoàng Ngọc Diêu, quyền TMT QC PKKQ ký quyết định 14/TM-QL điều trung đoàn 923 rời khỏi sân bay Kép, bàn giao lại căn cứ cho trung đoàn KQ Triều Tiên (mang mật danh đoàn Z). Trung đoàn 923 trở về đóng tại sân bay Gia Lâm, đồng thời có 1 bộ phận cơ động chiến đấu từ sân bay Kiến An và Hòa Lạc. Ngày 27/3/1967, QC PKKQ ra quyết định 60/TM-QL điều 6 MiG-17F K56 và 2 MiG-17PF của trung đoàn 923 cho KQ TT.

    Để đảm bảo hoạt động của KQ TT, trung đoàn 927 (đoàn Z) được thành lập do thiếu tá Đỗ Hữu Nghĩa làm trung đoàn trưởng, thiếu tá Mai Đức Toại làm chính ủy. Đoàn Z đảm nhiệm chiến đấu trên vùng trời đông bắc và tuyến giao thông Hà Nội-Lạng Sơn.
    (
    Không rõ việc dẫn đường cho đoàn Z thực hiện thế nào nhỉ? Phi công họ phải học nói tiếng Việt? Hay có sỹ quan dẫn đường/phiên dịch TT ở SCH QC? Nghe thì đơn giản nhưng trong lúc quần nhau một mất một còn, không dễ nhanh chóng hiểu được mệnh lệnh bằng tiếng nước ngoài qua radio. Không rõ phi công TT có đủ thời gian học tiếng Việt tới mức thành thạo như thế không?


    Khối Vác-sa-va thời trước trên lý thuyết là phi công tất cả các nước phải dùng thạo tiếng Nga để khi hữu dụng thì sẽ chuyển sang dẫn đường thống nhất. Tuy nhiên lần tập trận chung nào cũng tóe ra vấn đề phi công nhiều khi không hiểu mệnh lệnh mặt đất bằng tiếng Nga ngoài những tình huống đơn giản.)
    Ngày 24/3/1967, theo quyết định số 014/QĐ-QP của BQP, BTL KQ thuộc BTL PKKQ được thành lập do thượng tá Nguyễn Văn Tiên, PTL QC PKKQ làm TL, thượng tá Phan Khắc Hy, phó chủ nhiệm chính trị QC PKKQ làm chính ủy, thượng tá Hoàng Ngọc Diêu làm PTL kiêm TMT và thượng tá Đào Đình Luyện làm PTL về huấn luyện.

    Theo quyết định 492/TM-QL ngày 1/5/1967 do đại tá Phùng Thế Tài, TL QC PKKQ ký, BTL KQ mang phiên hiệu công khai là sư đoàn 371 (đoàn Thăng Long), biên chế gồm các trung đoàn 919, 921, 923, Z; quản lý 7 sân bay Nội Bài, Gia Lâm, Kép, Hoà Lạc, Kiến An, Thọ Xuân, Vinh. Trong đó tiêm kích có trung đoàn 921, 923 (VN) và Z (TT), phi công MiG có 64 người và 1600 thợ máy.


    Lực lượng không quân tiêm kích của KQ và HQ Mỹ tham gia chiến tranh phá hoại miền Bắc ở thời điểm này (3/1967) như sau:

    KQ Mỹ:
    - Căn cứ Đà Nẵng (VN) có không đoàn 35 với 3 phi đoàn F-4.
    - Căn cứ Ubon (TL) có không đoàn 8 với 1 phi đoàn F-104 và 3 phi đoàn F-4.
    - Căn cứ Takhli (TL) có không đoàn 355 với 3 phi đoàn F-105.
    - Căn cứ Korat (TL) có không đoàn 388 với 1 phi đoàn F-4 và 3 phi đoàn F-105.

    HQ Mỹ:
    - TSBTiconderoga có không đoàn 19 với 2 phi đoàn F-8.
    - TSB Kitty Hawk có không đoàn 11 với 2 phi đoàn F-4.
    - TSB Enterprise có không đoàn 9 với 2 phi đoàn F-4.
    - TSB Hancock có không đoàn 5 với 2 phi đoàn F-8.
    - TSB Bon Homme Richard có không đoàn 21 với 2 phi đoàn F-8.

    Ngoài ra mỗi TSB thường có 2 phi đoàn A-4, có thể có 1 phi đoàn A-1 hoặc A-6.
    Theo các tài liệu ta thì trong quý I/1967 MiG-21 của e921 không xuất kích, MiG-17 của e923 tổ chức đánh được 3 trận:

    - Ngày 25/1/1967, bắn rơi 1 F-4. Mỹ không ghi nhận mất máy bay nào ở miền Bắc trong ngày này.

    - Ngày 5/2/1967, bắn rơi 1 F-4. Mỹ cũng không ghi nhận.

    Theo Clashes thì trong trận này bắt đầu xuất hiện chiến thuật mới của MiG-17:

    Trong phần lớn tháng 2/1967 thời tiết xấu, không có tổn thất nào trong không chiến đối với cả 2 bên. MiG-21 không xuất hiện, có lẽ vì phần lớn số MiG-21 trong dự trữ của BVN đã bị bắn rơi trong mấy tháng gần đây, và từng biên đội 4 F-4 bắt đầu lượn qua các căn cứ MiG trong mỗi phi vụ không kích với hy vọng tóm được MiG cất cánh. Số EC-121D BiG Eye giờ chuyển sang Ubon, căn cứ của không đoàn 8 bay phần lớn số phi vụ MiGCAP trên bầu trời BVN (ngay sau khi tới Ubon, Big Eye đổi tên thành College Eye). Trong khi chỉ huy căn cứ phàn nàn về những chiếc EC-121 to lớn và những đòi hỏi phục vụ của nó, các phi công F-4 của không đoàn 8 - luôn tìm kiếm lợi thế - bắt đầu nghiên cứu các khả năng của EC-121D và tỏ ra quan tâm tới việc tận dụng nó trong điều hành MiGCAP thay vì chỉ đơn thuần là cảnh báo MiG.
    ...
    Ngày 5/2/1967, 4 F-4C bay MiGCAP bảo vệ F-105 cường kích vào đánh Hà Nội. Trời có sương mù ở mức trung bình và F-4 đang bay ở độ cao thấp, khoảng 3000ft. Khi đang trong 1 vòng lượn họ thấy 2 MiG-17 trước mặt; khi họ ngoặt để tấn công, F-4 bị tấn công từ phía sau bởi 2 chiếc MiG-17. Trận đánh chuyển thành quần vòng gấp ở độ cao thấp mà không bên nào chiếm được ưu thế. Mỗi lần F-4 kéo vào đuôi MiG, 1 chiếc MiG phía sau lại buộc nó phải từ bỏ. Khi MiG tiếp cận phía sau, F-4 sử dụng chiến thuật căn bản là kéo cao gấp mà MiG không thể theo được. Trong quá khứ MiG thường cố kéo cao theo, sau đó tụt xuống, cho phép F-4 bổ nhào vào sau đuôi và bắn tên lửa. Nhưng trong trận này, khi F-4 leo cao, MiG vẫn tiếp tục giữ độ cao. Các phi công MiG-17 đã hiểu hơn về cơ động; bằng việc không cố leo cao, họ đã phá vỡ chiến thuật hiệu quả nhất của F-4. Kết quả là hòa. Những chiếc F-4 thất vọng đã bắn 8 tên lửa (3 AIM-7 và 5 AIM-9) nhưng không quả nào tới gần mục tiêu.

    BVN nhận ra rằng không chiến ở độ cao thấp làm giảm hiệu quả của cả 2 loại tên lửa, và phân tích xu hướng không chiến của MiG cho thấy độ cao không chiến ngày càng giảm, đặc biệt là với MiG-17. Từ thời điểm này, MiG-17 tìm cách thu hút F-4 vào những trận quần vòng tốc độ thấp, và tiếp tục trong năm 1967, tiêm kích Mỹ bắt đầu thấy MiG-17 chờ đợi trong đội hình vòng tròn, nhanh chóng được gọi là "bánh xe" ở độ cao thấp trên những hành lang thường dùng nhất của F-105 cường kích; từ đội hình này MiG-17 sẽ tấn công khi F-105 tiến vào hay rời khỏi khu vực. Bánh xe có tác dụng phòng ngự rất hiệu quả trước F-4 hộ tống; MiG-17 triển khai trên chu vi vòng tròn và nếu F-4 cố bay chậm lại để xâm nhập bánh xe, tiếp cận phía đuôi MiG để bắn tên lửa thì chiếc MiG phía sau sẽ tấn công. Nhiễu địa vật cản trở radar F-4 lock để bắn AIM-7, và độ cao thấp giảm phạm vi của AIM-9 ghê gớm (ở 10.000ft, AIM-9B có tầm bắn 6000ft và có thể bắn trong nón 40 độ sau mục tiêu, nhưng ở mực nước biển tầm bắn tối đa giảm xuống 4000ft và trong nón 30 độ). Hạn chế trong phạm vi bắn kết hợp với vòng ngoặt gấp của MiG và bức xạ nhiệt từ mặt đất khiến AIM-9B gần như vô dụng. Trong khi F-4 có thể liên tục tránh khi MiG-17 tấn công và phản kích bằng cách bổ nhào và kéo cao vào hay ra khỏi bánh xe thì hiếm khi họ có đủ thời gian cơ động để bắn tên lửa, và F-4 không có cannon để cận chiến. Một lần nữa, phi công F-4 than phiền vì thiếu pháo. Mặt khác MiG-17 có rất ít cơ hội bắn hạ F-4 trừ khi có 1 phát đạn may mắn hay thực hiện được 1 cuộc tấn công không bị quan sát, hoặc khi F-4 bay chậm lại và cố ngoặt bằng.

    Nhưng trong khi MiG-17 không đe dọa được F-4, họ được an toàn tương đối trước F-4 trong bánh xe ở độ cao thấp và có thể đợi các phi đội không kích. Khi cường kích tới cự ly, MiG sẽ phá vỡ bánh xe và leo tới độ cao để uy hiếp những chiếc cường kích mang bom, cố gắng buộc họ phải thả bom sớm và không chiến. Máy bay Mỹ thường xuyên thấy 1 MiG-17 duy nhất trong khu vực bánh xe, và người ta đặt giả thuyết rằng đây là chiếc "chỉ huy". Họ tin rằng "chỉ huy" có nhiệm vụ thông báo cho các MiG khi bị tấn công hay thời điểm phá vỡ bánh xe và tấn công các phi đội không kích, và các phi công Mỹ bình luận rằng đội hình này cho phép BVN sử dụng và bảo vệ có hiệu quả số lớn phi công MiG-17 thiếu kinh nghiệm và 1 số ít dày dạn.


    - Ngày 26/3/1967, bắn rơi 1 F-4, ta hy sinh 1 phi công.
    (Đây là trận đánh không nằm trong thống kê của ta)

    Theo Aces&Aerial Victories:

    Ngày 10/3/1967, đại úy Max C. Brestel bay số 3 trong biên đội F-105 thuộc không đoàn 355 có nhiệm vụ chế áp phòng không ở khu công nghiệp Thái Nguyên. Khi tiếp cận mục tiêu, có nhiều tín hiệu cảnh báo SAM và MiG được truyền đi. Không đoàn 388 đi trước đã có đụng độ MiG.

    Khi biên đội kéo cao tới độ cao ném bom, Brestel thấy 2 MiG-21 đang tiếp cận số 1 do trung tá Phillip C. Cast lái từ hướng 4h. Lúc này số 3 ở vị trí 8h30 so với chiếc MiG đi đầu. Brestel lao tới MiG và lướt ngang qua đuôi. MiG ngừng tấn công, biên đội tiếp tục ném bom như kế hoạch.

    Khi biên đội lên tới độ cao 3000-4000ft, Cast cho biết MiG ở hướng 2h. Brestel thấy 4 MiG-17 bay hàng dọc so le về phía bắc ở độ cao khoảng 1500ft. Phía sau có 1 biên đội 4 chiếc nữa.

    Tất cả MiG bật tăng lực. Cast bắt đầu khai hỏa vào 2 MiG đầu tiên, 2 chiếc sau khai hỏa vào Cast. Brestel cảnh báo Cast và tiếp cận MiG số 4 ở cự ly 300-500ft, bắn 1 loạt khoảng 2,5s khi chiếc MiG vòng phải. Đạn trúng vào thân và cánh. MiG chuyển sang ngoặt trái. Brestel tiếp tục bắn thêm 1 loạt 2,5s, đạn trúng vào cánh trái, thân và buồng lái. MiG xoay tròn và đâm xuống đất.

    Brestel tiếp tục tiếp cận MiG số 3 ở cự ly 300ft đang bắn vào Cast. Brestel bắn 1 loạt 2,5s vào MiG đang vòng phải, trúng vào thân và cánh. 1 lần nữa MiG ngoặt trái và Brestel tiếp tục bắn thêm 1 loạt 2,5s. MiG bay vọt qua phía trên buồng lái và biến mật.


    Theo F-4&F-105 MiG Killers, F-105D 62-4284 mật danh Kangaroo 3 thuộc phi đoàn 354, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli. Brestel được KQ Mỹ chính thức công nhận bắn rơi 2 MiG-17, "double kill" đầu tiên của KQ Mỹ ở VN.

    Phía ta không ghi nhận trận đánh nào của e921 và e923 trong ngày 10/3/1967. Tuy nhiên theo thông tin từ báo Tuổi Trẻ thì ngày 10/3/1967, phi công Kim-Quang-Uc (KQ TT) hy sinh. Như vậy ít nhất 1 trong 2 MiG-17 mà KQ Mỹ claim có thể được công nhận.
    Theo Aces&Aerial Victories:

    Ngày 26/3/1967, đại tá Frederick Austin Crow, không đoàn trưởng không đoàn 355 dẫn đầu 1 biên đội F-105 không kích gần khu vực sân bay Hòa Lạc. Sau khi bổ nhào ném bom và lấy lại độ cao ở 4000ft, Crow thấy 1 MiG-17 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc. Crow ngoặt trái khoảng 150 độ bám theo chiếc MiG và quan sát thấy thêm 3 MiG-17 đang vòng lượn phía trên sân bay ở độ cao khoảng 3000ft, mỗi chiếc cách nhau 3000-5000ft. MiG được sơn bạc với ngôi sao màu đỏ (?). Crow tiếp cận chiếc MiG gần nhất, ngoặt vào trong và khai hỏa trúng cánh trái. MiG ngoặt gấp xuống dưới về bên trái, Crow kéo cao về bên phải và lần cuối cùng thấy MiG đang ở độ cao 500ft với mũi hướng xuống dưới.

    Theo F4&F105 MiG Killers, F-105D 59-1772 thuộc phi đoàn 333, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli.

    Phía ta công nhận 1 MiG-17 của e923 bị bắn rơi, thiếu úy Vũ Huy Lượng (c2) hy sinh.

    Cũng theo các tài liệu ta, trong trận này MiG-17 của e923 bắn rơi 1 F-4. Theo VN Air Losses ghi nhận thì F-4C 64-0849 thuộc phi đoàn 433, không đoàn 8 KQ Mỹ bị SA-2 bắn rơi trên vùng trời Sơn Tây. Tổ lái gồm trung tá Frederick Austin Crow và trung úy Henry Pope Fowler nhảy dù và đều bị bắt làm tù binh. Đây chính là chiếc F-4C đã được sử dụng để bắn rơi phi công Mai Văn Cương trong trận 6/1/1967.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Chiều ngày 19 tháng 4 năm 1967, theo tình báo xa, trên hướng tây nam Hà Nội có nhiều tốp địch vào qua biên giới. 15 giờ 52 phút, thủ trưởng trực chỉ huy Quân chủng Phùng Thế Tài quyết định cho biên đội MIG-17: Võ Văn Măn-số 1, Hà Đình Bôn-số 2, Phan Văn Túc-số 3 và Nguyễn Bá Địch-số 4, đang cấp 1 tại Gia Lâm, cất cánh. Từ 15 giờ 56 phút đến 15 giờ 58 phút, dẫn đường hiện sóng Nguyễn Quang Sáng báo cáo sở chỉ huy Binh chủng đã bám sát được 2 tốp địch ở tây Mai Châu 15km, vào Suối Rút-Hòa Bình. Trực ban dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên tại sở chỉ huy Binh chủng dẫn MIG-17 vòng xuống phía nam Hà Nội, qua Văn Điển. Thanh Oai, rồi nam núi Đồi Bù (833, đông nam Lương Sơn 11km). 16 giờ 07 phút, xuất hiện thêm các tốp địch ở phía tây-tây bắc Hòa Bình 35km, sở chỉ huy Binh chủng cho ngay đôi bay MiGi7: Lê Quang Trung-số 1 và Nguyễn Văn Thọ-số 2 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc lên khu vực Sơn Tây-Thanh Sơn để thu hút địch. Biên đội đánh chính được dẫn vào khu chiến ở đông bắc Hòa Bình 10km. Với góc vào 90 độ, số 1 phát hiện 6 F-105, 10km và chỉ huy biên đội vào đánh. Chúng quẳng bom, đối phó với ta. Hai bên quần nhau 10 phút ở độ cao thấp. Số 2 và 3 đều có cơ hội nổ súng. Phi công Nguyễn Bá Địch bắn rơi 1 F-105. Đây là trận có thời gian không chiến dài nhất từ trước tới nay. Khi thoát ly, biên dội đánh chính phân thành 3 tốp và tự bay về ở độ cao rất thấp.

    Gần 17 giờ, trên mạng B1 lại xuất hiện địch vào, ta cho các phân đội MIG-17 trực chiến tại Gia Lâm và Hòa Lạc lần lượt vào cấp 1. 17 giờ 01 phút, biên đội đánh chính: Lưu Huy Chao-số 1, Lê Hải (Lê Văn Hải)-số 2, Nguyễn Văn Bảy-số 3 và Hoàng Văn Kỷ-số 4 xuất kích từ sân bay Gia Lâm. 17 giờ 03 phút, ra-đa dẫn đường phát hiện ở tây-tây bắc Quan Hóa 40km có 1 tốp độ cao 3.500m. Chúng bay đến Tân Lạc thì đổi hướng đông-đông nam và giảm độ cao xuống 2.500m. Có khả năng địch đánh Phủ Lý, biên đội đánh chính giữ hướng bay 200 độ, tốc độ 750km/h, độ cao từ 500 lên 1.500m, bay vào khu chiến ở đông bắc Vụ Bản 15km . 17 giờ 09 phút, sau khi dẫn đường cho vòng phải gấp, cắt vào bên trái đội hình địch với góc 90 độ, biên đội phát hiện ngay 4 chiếc F-105. Địch bị bất ngờ phải vứt bom quay ra. Ta bám theo công kích, nhưng lại để mất mục tiêu. Thủ trưởng trực chỉ huy Quân chủng Phùng Thế Tài lệnh cho vòng tại chỗ, lên độ cao để nhử địch. 17 giờ 10 phút, ra-đa dẫn đường đột nhiên phát hiện 1 tốp địch ở đông nam Hòa Bình 20km, nhưng bay ra phía tây Vụ Bản. 17 giờ 11 phút, sở chỉ huy Binh chủng cho biên đội: Lê Quang Trung-số 1, Nguyễn Văn Thọ-số 2, Nguyễn Xuân Dung-số 3 và Dương Trung Tân-số 4 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc, vào khu vực Hòa Bình để sẵn sàng yểm hộ cho biên đội Chao-Hải-Bảy-Kỷ.

    Với phán đoán địch sẽ còn vào khu vực tây Vụ Bản ở độ cao thấp, nên thủ trưởng Phùng Thế Tài quyết định cho cả 2 biên đội MIG-17 vào đánh. 17 giờ 18 phút, dẫn đường cho biên đội Chao-Hải-Bảy-Kỷ, đang vòng ở chỗ nhử địch, ra hướng 250 độ, đồng thời cho biên đội Trung- Thọ-Dung-Tân ở Hòa Bình, từ yểm hộ chuyển sang đánh chính, vòng trái gấp, hướng bay 210 độ. 17 giờ 20 phút, xuất hiện 1 tốp địch ở đông Cẩm Thủy 15km độ cao 1.500m, 17 giờ 21 phút, thêm 1 tốp ở tây Suối Rút 27km độ cao 2.000m, chúng đều hướng vào phía tây Vụ Bản. Ta lập tức cho biên đội Chao-Hải-Bảy-Kỷ quay lại đánh tốp ở đông Cẩm Thủy, nhưng địch lên đến Đường 12, lại vòng phải xuống Nho Quan, nên ta buộc phải cho thoát ly về Gia Lâm.

    17 giờ 21 phút, biên đội Trung-Thọ-Dung-Tân, đến tây Tân Lạc 10km, vòng trái, hướng bay 140 độ và 2 phút sau, vào khu vực tây Vụ Bản 15km, nhưng không thấy địch. Với ý định quay lại đánh tốp ở tây Suối Rút, dẫn đường cho biên đội vòng phải 180 độ. Sau khi ta cải bằng, bay được 1 phút, sở chỉ huy Binh chủng phát hiện 1 tốp mới, tốc độ nhỏ ở bắc Vụ Bản 5km, bay sang tây Vụ Bản và tốp ở trong Cẩm Thủy từ Nho Quan cũng vòng lên tây Vụ Bản; dẫn đường lập tức cho biên đội Trung-Thọ-Dung-Tân vòng phải gấp, hướng bay 250 độ, vào tiếp địch với góc 140 độ và thông báo vị trí cả 2 tốp mục tiêu. Số 1 phát hiện F-105 và AD-6, cự ly 7km, lập tức lệnh cho số 3 phân thành 2 đôi. Số 1 yểm hộ cho số 2 và số 3 yểm hộ cho số 4. Biên đội hoàn toàn kiểm soát được tình hình, không chiến chủ động trong 3 phút 30 giây, phi công Nguyễn Văn Thọ bắn rơi 1 AD-6, phi công Dương Trung Tân bắn rơi 1 F-105 và 1 AD-6. Anh đã ghi tên mình vào danh sách phi công Không quân nhân dân Việt Nam trong 1 trận bắn rơi 2 máy bay địch.

    Đây là các trận đã thể hiện rất đậm nét cách đánh phong phú và cách vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh địch của MiG-17. Biên đội Lê Quang Trung-Nguyễn Văn Thọ-Nguyễn Xuân Dung-DSương Trung Tân trở thành một trong những biên đội MIG-17 đánh đạt hiệu quả cao nhất của không quân ta. Các kíp trực Ban Dẫn đường Binh chủng: Nguyễn Văn Chuyên tại sở chỉ huy, Nguyễn Quang Sáng trên hiện sóng và Trung đoàn 923: Đỗ Cát Lâm, Hà Đăng Khoa tại sở chỉ huy, Trần Xuân Dung trên hiện sóng đã nỗ lực hết mình, dẫn đánh đúng ý định của người chỉ huy và còn kịp thời xử lý dẫn số 3 bị lạc đường về Gia Lâm hạ cánh an toàn.


    Theo LS e923:

    Ngày 19 tháng 4 năm 1967, Trung đoàn 923 tổ chức đánh hai trận. Vào lúc 16 giờ 15 phút, biên đội Mẫn – Bôn – Túc - Địch cất cánh từ sân bay Gia Lâm đã bắn rơi 1 chiếc F-105 trên vùng trời Hoà Bình và về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn. Hơn một giờ sau, vào hồi 1 7 giờ 30 phút, bọn địch lại kẻo vào, biên đội Trung - Túc - Dung - Tân đang trực ở sân bay Hoà Lạc được lệnh cất cánh. Sau 3 phút 30 giây, quần nhau với địch, biên đội đã bắn rơi một chiếc F-105 và 2 chiếc AD-6 của địch trên vùng trời khu vực Mai Châu (tỉnh Hoà Bình). Trong trận này, số 4 Dương Trung Tân đã bắn rơi 2 chiếc và số 2 Phan Văn Túc bắn rơi một chiếc máy bay của địch.


    Như vậy ta claim 2 F-105, 2 A-1. VN Air Losses ghi nhận trong ngày 19/4/1967 Mỹ chỉ mất 2 máy bay và đều do MiG:
    - F-105F 63-8341 do thiếu tá Thomas M. Madison và thiếu tá Thomas J. Sterling lái thuộc phi đoàn 357, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli. Cả 2 phi công đều bị bắt làm tù binh.
    - A-1E 52-133905 do thiếu tá John S. Hamilton lái thuộc phi đoàn 602, không đoàn 56 KQ Mỹ ở căn cứ Udorn. Phi công chết.
    (to be continues...)



  2. #2
    Ngày gia nhập
    Dec 2010
    Bài gửi
    120
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Rất Nóng hổi đấy !

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Dec 2009
    Bài gửi
    210
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Dài quá....em đánh giấu tí ăn cơm về rồi đọc! Tks chủ thớt trước!!!
    "...Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu,
    Dấn thân vô là phải chịu tù đày.
    Là gươm kề cận cổ, súng kề tai,
    Là thân sống chỉ coi còn một nửa..."
    (Tố Hữu)

  4. Likes thuan626, handsome8x liked this post
  5. #4
    Ngày gia nhập
    May 2011
    Bài gửi
    342
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    hình như trong không chiến quân ta cũng áp dụng chiến thuật du kích thì phải, em hỏi thế phải ko các bác?

  6. #5
    babykiller Guest
    Trích dẫn Nguyên văn bởi longthienhai Xem Bài gửi
    hình như trong không chiến quân ta cũng áp dụng chiến thuật du kích thì phải, em hỏi thế phải ko các bác?
    mới đầu thì là vậy,nhưng lúc mới nhận mig 21,so sánh các tính năng chung cũng như khả năng chiến thuật,quân ta định đánh ngang tay với mỹ,rút cục thất bại,lại phải đánh du kích thôi
    update tiếp cho cả nhà nè
    Theo Clashes:

    Ngày 18/4 trời bắt đầu trở nên trong, và trận chiến trong phần còn lại của tháng trở thành 1 trong những giai đoạn quyết liệt nhất của Rolling Thunder. Báo cáo của Mỹ cho biết các phi công MiG "quyết liệt và thành thạo hơn", rằng "chiến thuật MiG đã có sự phát triển đáng kể trong những tháng gần đây", và trong tháng 4 và 5/1967 MiG không ngừng tấn công các phi đội Mỹ tiến vào và rời khỏi mục tiêu. Những "ngày của SAM" và "ngày của MiG" đã chấm dứt; BVN bắt đầu triển khai SAM và MiG gần như đồng thời. BVN có vẻ cũng tìm cách bảo vệ những chiếc MiG-17 bay thấp bằng cách đặt ngòi cho đạn cao xạ nổ ở 12000ft và cao hơn, trong khi MiG-17 ở dưới độ cao đó. Sự kết hợp của SAM và cao xạ ở trên 12000ft lấy đi chiến thuật tấn công bánh xe MiG-17 hiệu quả nhất của F-4; giờ, khi họ tấn công bánh xe từ phía trên hoặc leo cao sau khi tấn công, họ bị đe dọa bởi cao xạ và SAM.

    Chiến thuật của phía Mỹ cũng thay đổi. Vào đầu tháng 4, để tăng lượng bom ném xuống BVN, thêm nhiều F-4 được sử dụng làm cường kích. Sự kết hợp giữa F-4 càn quét (có lẽ ý nói nhằm vào hệ thống PK?) và sử dụng F-4 làm cường kích đồng nghĩa với việc thường xuyên không có đủ F-4 cho MiGCAP, do vậy để bảo vệ khỏi MiG những biên đội F-105 đầu tiên rời mục tiêu trở thành biên đội MiGCAP để yểm trợ phần còn lại. Với bom đã ném và mang them AIM-9, những chiếc F-105 này hữu ích khi chống lại MiG-17, chiến thuật này có hiệu quả trong suốt tháng 5.

    Ngày 19/4, 1 loạt trận không chiến ác liệt diễn ra cho đến cuối tháng. 6 F-105 và 1 A-1 bị bắn rơi, trong khi tiêm kích Mỹ hạ 9 MiG-17 và 1 MiG-21.

    Trong 4 ngày trời đẹp đầu tiên, MiG-17 cố gắng hoạt động, trong khi MiG-21 hiếm khi thấy mặt. Ngày 19/4, 1 lực lượng lớn tấn công doanh trại Xuân Mai và trường cán bộ CM cách HN khoảng 12 dặm về phía tây-tây nam. Như thường lệ, F-105F Iron Hand có mặt đầu tiên để cố gắng hạ những dàn SAM trong khu vực. Kingfish là biên đội Iron Hand đầu tiên có mặt và bị MiG-17 tấn công ngay sau khi tiến vào khu vực mục tiêu. MiG bắn hạ 1 F-105F - Kingfish 2 và mất 1 MiG-17 về tay Kingfish 1. Khi cường kích tiến vào đánh mục tiêu, 1 trận đánh giằng có diễn ra giữa F-105 MiGCAP và 1 lượng lớn MiG-17 trên không phận mục tiêu. Khi trận đánh diễn ra, Kingfish 1 thấy tổ lái 2 người của Kingfish 2 dưới đất và bắt đầu lượn vòng phía trên họ; có vẻ việc giải cứu là khả thi, vì vậy chiến dịch giải cứu bắt đầu.

    Tomahawk, 1 biên đội F-105 không kích xong và đang hướng tới tiếp dầu khi được tin Kingfish 2 bị hạ. Khi tới chỗ máy bay tiếp dầu Tomahawk 1 tình nguyện quay trở lại để yểm trợ cuộc giải cứu, viên chỉ huy giải cứu do dự vì Tomahawk không còn thùng dầu phụ (đã được thả bỏ khi đụng MiG) nên chỉ có thể ở lại 1 thời gian ngắn. Tuy nhiên do không còn máy bay nào có thể quay lại nên biên đội Tomahawk nạp đầy nhiên liệu và trở lại. Tomahawk 1 cho bay về ở độ cao lớn nhằm tiết kiệm dầu vì "rõ ràng đây là ngày của MiG".

    Khi lực lượng giải cứu tiến vào để cứu tổ bay Kingfish 2, MiG-17 xuất hiện ngăn chặn và 1 trận đánh nổ ra. Nhóm giải cứu được dẫn đầu bởi Sandy, máy bay cánh quạt A-1. Thông thường Sandy giữ hành trình bay gần với thời gian không kích để có thể hỗ trợ bất cứ nỗ lực giải cứu nào. Ngay khi có tổ lái bị hạ, nhiệm vụ của A-1 là bay tới đó, xác định tính khả thi của nhiệm vụ dựa trên vị trí tổ bay và hệ thống phòng thủ củ đối phương, sau đó đảm nhiệm chỉ huy giải cứu. Trong quá trình Sandy sẽ hướng dẫn trực thăng giải cứu, Jolly Green Giant hay Jollie tới chỗ phi công và hướng dẫn bất cứ biên đội tiêm kích nào trong khu vực tấn công đối phương, Sandy cũng tấn công bằng vũ khí của bản thân. Không cần phải nói rằng bay những chiếc phi cơ chậm, thấp như A-1 hay trực thăng vào Vùng V hay VI là nguy hiểm và khó khăn thế nào. Nó còn tăng lên do người BVN nghe liên lạc vô tuyến của Mỹ, họ biết khi có máy bay bị hạ và nỗ lực giải cứu được tiến hành. Quân Mỹ chỉ tổ chức giải cứu ngoài phạm vi những khu vực phòng thủ mạnh, do vậy cách duy nhất BVN có thể can thiệp là dùng MiG, nhưng họ làm như vậy thường xuyên và hiệu quả trong suốt chiến tranh.

    Vào ngày 19/4, 2 chiếc A-1 - Sandy 1 và 2 thuộc nhóm giải cứu được thông báo Kingfish 2 bị hạ. Họ hướng tới 1 điểm cách HN 32 dặm về phía tây nam, gặp Kingfish 1 và bắt đầu tìm kiếm tổ bay Kingfish 2. Sandy 2 thấy chiếc F-105 đang cháy và phát hiện vị trí tổ bay. A-1 bắt đầu vòng lượn ở 1000ft thì Sandy 2 thấy 4 MiG-17 phía sau và trên cao 1 chút. MiG bay thành 2 cặp, mỗi cặp tấn công 1 A-1. MiG bắt đầu khai hỏa ngay sau khi Sandy 2 thấy họ. Sandy 2 cảnh báo Sandy 1 và ngoặt phải. MiG bắn trượt Sandy 2 nhưng khi cơ động Sandy 2 thấy Sandy 1 trúng đạn cannon và xoay gấp về bên trái với mảnh vỡ văng ra từ cánh trái, sau đó đâm vào núi mà không thấy có dù hay tín hiệu gì.

    Kingfish 1 cũng bị MiG tấn công và cảnh báo cho biên đội Tomahawk. Khi biên đội Tomahawk còn cách khu vực 20 dặm về phía tây, Kingfish 1 gọi cho biết anh ta hết dầu và đang tới chỗ máy bay tiếp dầu. Sandy 2 liên lạc với Tomahawk, cho biết MiG đã bắn hạ Sandy 1 và ít nhất 4 MiG đang tấn công anh ta. F-105 khuyên Sandy 2 giữ độ cao thấp trong khi họ tiếp cận theo tín hiệu điện đài, hạ độ cao xuống 5000ft và tăng tốc lên 700 knots.

    MiG-17 đã bao vây Sandy 2 và đã tiến hành ít nhất 5 lần công kích trước khi F-105 tới nơi. Sandy 2 thấy 4 chiếc F-105 với 1 MiG-17 phía sau. Sandy 2 cảnh báo, biên đội Tomahawk ngoặt phải và đụng 1 tốp MiG phía trước. Để thu hút MiG khỏi chiếc A-1, Tomahawk 1 dẫn cả biên đội lao thẳng vào trung tâm biên đội MiG, MiG liền tản ra. 1 chiếc hồi phục và vòng trở lại phía sau Sandy 2, nhưng Tomahawk 3 và 4 bám theo chiếc MiG này và lập tức sa vào dây chuyền ở độ cao thấp: MiG-17, Tomahawk 3, MiG-17, Tomahawk 4 và thêm 2 MiG-17. Trận đánh diễn ra ở tốc độ dưới 300 knots, lý tưởng cho MiG và rất nguy hiểm cho F-105.

    Tomahawk 3 bắn trúng chiếc MiG phía trước bằng cannon vào cánh trái và thân ngay sau buồng lái, nhưng ngay lúc đó Tomahawk 4 cảnh báo MiG đang khai hỏa vào anh ta. Tomahawk 3 ngoặt phải và bổ nhào vào trong mây. Chiếc MiG phía sau tiếp tục bắn. Khi Tomahawk 3 bay ra MiG đã biến mất.

    Trong khi đó Tomahawk 1 quay trở lại trận đánh chính và lập tức thấy dây chuyền giữa Tomahawk 3 và 4 với 4 MiG-17. Khi tiếp cận Tomahawk 1 thấy Tomahawk 4 khai hỏa vào chiếc MiG đã tấn công Tomahawk 3 từ cự ly khoảng 200ft nhưng không trúng. 1 chiếc MiG kéo vào phía sau Tomahawk 4 và bắn. Tomahawk 1 tiếp cận và dễ dàng lách vào phía sau chiếc MiG này. Tomahawk 1 áp sát khoảng 1000ft và bắt đầu khai hỏa, ngay lập tức bắn trúng phần thân phía sau buồng lái. Khi Tomahawk 1 vào tới 100ft, chiếc MiG bắt đầu xoay 1 cách chậm chạp. Tomahawk 1 kéo cao gấp và bay sượt qua khi chiếc MiG phát nổ.

    Trận đánh lúc này diễn ra ở độ cao giữa 3000ft và trên ngọn cây, F-105 cố gắng ngăn MiG tấn công Sandy 2 trong khi chiếc A-1 này cơ động giữa những ngọn núi đá trong thung lũng. Lúc này MiG đang giao chiến quyết liệt với F-105 và Sandy 2 tăng tốc tối đa 160 knots vượt qua chỗ thung lũng phẳng. Sandy 2 nấp vào phía dưới 1 đám mây ở độ cao khoảng 300ft và trốn thoát, biên đội F-105 sau đó cũng ngừng chiến đấu và quay về căn cứ.



    Theo Aces&Aerial Victories, trong ngày 19/4/1967, 3 biên đội F-105 thuộc không đoàn 355 KQ Mỹ bắn rơi 4 MiG-17 trong các trận không chiến xung quanh khu vực doanh trại Xuân Mai. Nhiều biên đội khác cũng đụng MiG nhưng không bắn hạ được.

    - Biên đội Kingfish gồm 4 F-105F Wild Weasel làm nhiệm vụ tấn công các trận địa SAM. Khi đang chuẩn bị bắn tên lửa Shrike thì Kingfish bị 8-10 MiG-17 tấn công. Biên đội chia làm 2: số 3 và 4 không chiến với MiG trong khi số 1 và 2 tiếp tục đánh trận địa SAM. Sau khi bắn tên lửa, số 1 và số 2 bay về hướng tây, nhưng tổ bay số 2 phải nhảy dù. Trong khi số 1 đang bay vòng phía trên tổ bay nhảy dù thì quan sát thấy 1 MiG-17 ở hướng 9h, độ cao 2500ft đang bay về hướng đông. Số 1 cơ động vào vị trí 6h với chiếc MiG, khai hỏa khoảng 300 viên cannon 20mm từ cự ly 1500-2000ft nhưng không trúng. Số 1 tiếp tục bắn thêm 1 loạt 300 viên 20mm nữa, sau đó kéo cao để tránh va chạm. MiG xoay tròn và lao xuống, cánh trái bị thủng nhiều chỗ, sau đó đâm xuống 1 ruộng lúa. Số 1 rời khu vực, nhưng sau đó trở lại sau khi được tiếp dầu để hỗ trợ tìm cứu tổ bay số 2. Số 1 tấn công và bắn trúng 1 MiG khác vài phát cho đến khi bị 1 chiếc MiG khác tấn công. Mặc dù có khả năng cao là số 1 đã hạ được chiếc MiG thứ 2, nhưng thành tích này không được công nhận.

    - 1 biên đội F-105 khác vào đánh doanh trại Xuân Mai ngay sau biên đội Kingfish và nhanh chóng bị 11 MiG-17 tấn công. Số 1 phóng 1 quả AIM-9B vào 1 chiếc MiG nhưng trượt, sau đó khai hỏa cannon 20mm vào chiếc MiG thứ 2 nhưng vẫn không thành công. Đến lần thứ 3 số 1 bắn trúng nhiều phát cannon vào phần thân ngay phía sau buồng lái. MiG ngoặt phải gấp và hạ độ cao, kéo theo 1 vệt khói. Trong khi đó số 3 của biên đội không chiến với 1 MiG-17 khác, bắn khoảng 300 viên cannon 20mm và quan sát thấy nhiều phát trúng vào khu vực buồng lái. MiG tìm cách ngoặt vào vị trí 6h của số 3. Số 3 bật tăng lực leo cao. Khi quan sát, số 3 thấy MiG ở cách đó khoảng 2 dặm, đang leo cao 40 độ với 1 vệt khói trắng ở đuôi. Sau đó MiG chậm chạp đảo sang trái và hạ độ cao.

    - Biên đội Panda (Tomahawk theo Clashes - chiangshan) giao chiến 2 trận với MiG trên vùng trời Xuân Mai. Trong trận đánh đầu tiên, số 1 và số 2 đều bắn trúng MiG nhưng có vẻ không gây ra hư hỏng nặng cho chiếc nào. Số 1 dẫn biên đội lao thẳng vào đội hình MiG rồi ngoặt phải, kéo vào phía sau chiếc MiG đi đầu và bắn AIM-9B nhưng không trúng. Sau đó số 1 tiếp cận phía sau chiếc MiG đang tấn công số 3, khai hỏa cannon từ cự ly 800-1000ft cho đến 50ft và quan sát thấy 50-75 phát bắn trúng phần thân trên ngay sau buồng lái. Sau đó số 1 thấy chiếc MiG bốc cháy nằm trên mặt đất.



    Theo USAF F-4 & F-105 MiG Killers:
    - F-105F 63-8301 mật danh Kingfish 1 do thiếu tá Leo K. Thorsness và đại úy Harold E. Johnson lái, thuộc phi đoàn 357.
    - F-105D 62-4364 mật danh Panda 1 do đại úy William E. Eskew lái, thuộc phi đoàn 354.
    - F-105D 58-1168 mật danh Nitro 1 do thiếu tá Jack W. Hunt lái, thuộc phi đoàn 354.
    - F-105D 62-4384 (?) mật danh Nitro 3 do thiếu tá Frederick G. Tolman lái, thuộc phi đoàn 354.

    Kingfish 1

    Panda 1

    Nitro 3
    Tổng kết:
    - Ta claim 2 F-105 và 2 A-1. Mỹ công nhận 1 F-105F, 1 A-1E.
    - Mỹ claim 4 MiG-17, ta không công nhận chiếc nào. Trong danh sách các liệt sĩ KQ cũng không có phi công hy sinh ngày 19/4/1967. Không rõ thông tin về đoàn Z, trong danh sách liệt sĩ người TT có phi công Kim-Ươn-Hoan hy sinh ngày 10/4/1967. Có thể nhầm từ ngày 19/4 vì ngày 10/4 cả 2 bên đều không ghi nhận có không chiến.

  7. Thanks vietthuong, NADAI73 thanked for this post
  8. #6
    babykiller Guest
    Theo Aces&Aerial Victories:

    Ngày 23/4/1967, biên đội Chicago gồm 3 F-4C từ không đoàn 366 làm nhiệm vụ cường kích quan sát thấy 1 biên đội 2 MiG-21 đang hướng tới đội hình không kích. Chicago thả bom và thùng dầu phụ để nghênh chiến. MiG bay theo đội hình so le nối đuôi nhau và đang vòng trái hướng lên cao theo hướng tây. Chicago không thể ngoặt đủ gấp để thu hẹp góc với mục tiêu nên vòng lại để nhập với các biên đội khác.

    Biên đội Chicago ngay lập tức thấy 2 MiG-21 theo đội hình so le bay ngang qua bên cánh phải. MiG đang vòng phải hướng lên cao với lực đẩy tối đa. Chicago 1 ngoặt phải nhằm tấn công chiếc MiG đi đầu. Tên lửa bắn đi từ Chicago 1 lái theo chiếc MiG cho đến khi cả 2 biến mất vào trong mây.

    Chicago 3 tăng tốc để tấn công chiếc MiG thứ 2. Chicago 3 khóa được mục tiêu bằng boresight radar và sau đó là toàn hệ thống. Chicago 3 bắn 1 quả tên lửa đi hơi về bên phải chiếc MiG nhưng sau đó được lái trở về mục tiêu và đâm vào phần đuôi bên phải. 1 vụ nổ lớn xảy ra và lửa cùng dầu bắt đầu tràn ra từ chiếc MiG. Không thấy phi công nhảy dù trước khi chiếc MiG đâm xuống đất. MiG bị bắn trúng ở độ cao 32000ft, khoảng 16 dặm đông bắc Thái Nguyên.


    Theo tài liệu Mỹ, F-4C 64-0776 mật danh Chicago 3 thuộc phi đoàn 389, không đoàn 366 KQ Mỹ do thiếu tá Robert D. Anderson và đại úy Fred D. Kjer lái bắn hạ 1 MiG-21 bằng tên lửa AIM-7E.


    F-4C 64-0776 và tổ bay Chicago 3.
    LS e921 công nhận ngày 23/4/1967 ta không bắn rơi được địch, bị địch bắn rơi 1 MiG-21, phi công nhảy dù được.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Ngày 24 tháng 4 năm 1967, các thủ trưởng trực chỉ huy Quân chủng Nguyễn Văn Tiên và Trung đoàn 923 Lê Oánh và Đào Công Xưởng tổ chức cho MiG-17 đánh 2 trận. Buổi sáng, biên đội: Mai Đức Toại-số 1, Lê Hải-số 2, Lưu Huy Chao-số 3 và Hoàng Văn Kỷ-số 4 cất cánh từ sân bay Gia Lâm, đánh tại Phả Lại ở độ cao thấp. Trực ban dẫn đường tại sở chỉ huy Binh chủng Nguyễn Văn Chuyên cho vào tiếp địch với góc 60 độ. Số 2 phát hiện F-105, 6km và báo cáo số 1. Phi công Mai Đức Toại cắt vào, bắn rơi 1 F-105, rồi cả biên đội chỉnh tề về Gia Lâm hạ cánh. Buổi chiều, biên đội: Võ Văn Mẫn, Nguyễn Bá Địch, Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Thế Hôn xuất kích từ sân bay Kiến An, vào khu chiến tại Sơn Động cũng đánh ở độ cao thấp, đạt hiệu quả cao.

    ...
    Chiều ngày 24 tháng 4 năm 1967, địch từ Cửa Ông, qua phía bắc núi Am Vạp (đỉnh 1094 của dãy Yên Tử), hướng vào Sơn Động. Tại Kiến An, MIG-17 được nguy trang kín đáo và luôn sẵn sàng xuất kích. Biên đội: Võ Văn Mẫn-số 1, Nguyên Bá Địch-số 2, Nguyễn Văn Bảy-số 3 và Nguyễn Thế Hôn-số 4 thực hiện chuyển cấp, mở máy, lăn ra từ vị trí sơ tán bí mật rất nhịp nhàng, khớp với ý định đánh địch của sở chỉ huy Binh chủng. Sau khi cất cánh, trực ban dẫn đường Binh chủng Nguyễn Văn Chuyên cho MiG-17 bay thấp qua Đông Triều và vòng vào chặn địch ở phía tây Sơn Động. Với góc vào tiếp địch 25 độ, số 1 phát hiện F-4, 5km và chỉ huy các số vào công kích. Ta đánh rất bất ngờ, Nguyễn Bá Địch và Nguyễn Văn Bảy, mỗi phi công bắn rơi 1 F-4. Biên đội phân thành hai tốp quay lại Kiến An hạ cánh.


    Theo LS e923:

    Cả ngày 24 tháng 4, máy bay của hải quân địch không vào đánh phá Hải Phòng như ta dự kiến. Vào lúc 16 giờ 30 phút, nhiều tốp F-4, F-105 của địch từ Thái Lan bay sang, đánh phá khu vực Đông Triều, Quảng Ninh. Đồng chí Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh Không quân đang trực ở sở chỉ huy Bộ tư lệnh quyết định cho biên đội trực chiến ở sân bay Kiến An cất cánh đánh địch. Trung đoàn phó Lê Oánh, chỉ huy ở khu vực sân bay Kiến An lệnh cho biên đội Võ Văn Mẫn, Nguyễn Bá Địch, Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Thế Hôn cất cánh. Biên đội được dẫn bay vòng đến khu vực Sơn Động, Hà Bắc thì gặp địch. Sau 4 phút chiến đấu, số 2 Nguyễn Bá Địch và số 3 Nguyễn Văn Bảy đã bắn rơi 2 chiếc F-4 của địch. Biên đội được lệnh trở về và hạ cánh an toàn xuống sân bay Kiến An.

    Theo PCTK:

    Sáng sớm ngày 24 tháng 4 năm 1967, biên đội Toại, Hải, Chao Kỉ trực cấp 1 ở sân bay Gia Lâm. Đến 8 giờ mà trời còn mù rất nặng, đặc biệt tầm nhìn hạn chế ở độ cao 2.000m trở xuống. 9 giờ, biên đội được lệnh chỉ huy sở Trung đoàn cho vào cấp 1. Phi công ngồi sẵn trong buồng lái, vô tuyến điện sẵn sàng đợi lệnh mở máy, cất cánh. 9 giờ 15 phút, có lệnh chỉ huy sở được phép mở máy và biên đội được quầy chủ động lăn ra cất cánh gấp. Sau 3 phút, biên đội 4 chiếc, từng đôi cất cánh, đôi nọ cách đôi kia 1.500m. Gió nhẹ, biên đội vòng về hướng Xuân Mai - Hòa Bình theo sự chỉ dẫn của dẫn đuờng sở chỉ huy. Các máy bay tiêm kích của ta bay đội hình bàn tay xòe, vừa lấy độ cao, chưa ra khỏi lớp mù 2.000m, tốc độ 700km/giờ. Trong biên đội xuất kích, thường chỉ bố trí một lái mới đi ở vị trí số 2. Thực hiện phương châm đánh chắc, 3 lái cũ, kèm 1 lái mới vào trận đầu. Tôi bán sát số 1 ở cự li 200m, góc nhìn 450 như quy định. Biên đội tiếp tục lấy độ cao. Chỉ huy sở định cho đánh vào tốp 3.500m, đang ở phía Hòa Bình.

    Bất ngờ, số 4, anh Kỉ báo cáo gấp với biên đội trưởng: “địch bên trái, phía dưới, rất đông”. Theo quy định, trong tình huống khẩn cấp, biên đội trưởng là người chỉ huy trên không, có quyền thay đổi ý định chiến đấu, khi thấy cần. Anh Toại ra lệnh: “Vứt thùng dầu phụ, tôi và số 2 đánh chặn tốp đầu, số 3, số 4 đánh tốp sau. Chú ý khéo va núi”. Chúng tôi vòng gấp xuống, giảm độ cao, lao thẳng vào tốp dẫn đầu đông nhất. Bọn địch phát hiện Míc-17 ở cự li cũng rất gần vì trời mù. Đội hình địch hơn 20 chiếc F-105, bay rất thấp, độ cao 200-500m, dọc sông Đáy một bên là vách núi đá vôi sừng sũng. Lợi dụng địa hình che khuất, bọn F-105 bay thấp, định tấn công vào Hà Nội., bất ngờ gặp biên đội chúng tôi, như những mãnh hổ lao vào chúng. Bọn cường kích F-105 liền vứt bom, tháo lui. Đội hình chúng ùn lại, ta và địch quần nhau trong một thung lũng. Tôi bám theo số 1, đang bám đuổi một tốp F-105 xuống độ cao khoảng 100m. Có những chiếc F-105 to như cái thuyền, bay chéo qua buồng lái của máy bay tôi. Tôi còn nhìn được thằng F-105 đội mũ bay trắng, chui duới bụng máy bay. Tôi báo với số 1: Có hai thằng F-105 đang bám sau, chú ý cơ động.

    Tôi ngoặt gấp, tránh được bọn chúng bám ở phía sau, cự li cách địch hơn một ngàn mét. Phía trước bên trái, ở cự li độ cao 2000m, có 2 chiếc F-105 đang lách núi, tăng lực, tốc độ máy bay cảu tôi còn khoảng hơn 800km/giờ ở độ cao 200m. Trong thung lũng, nhiều chiếc F-105 bay ngang, bay dọc, thật là một cuộc hỗn chiến. Tôi đã nhìn rõ được màu xám của chiếc F-105 bay phía sau.

    Cự li còn hơi xa, nhưng tôi quyết định nổ súng. Tôi bắn một loạt dài, hết 5 giây. Toàn bộ số đạn trên máy bay của tôi đã tuôn hết vào chiếc số 2 của địch. Máy bay địch bốc khói, lảo đỏa. Tôi vội kéo máy bay vượt qua đỉnh núi. Tí nữa thì va vào núi. Trời mù, đánh ở độ cao thấp, máy bay địch lách núi, có đồng chí đã va vào núi sau khi bắn rơi địch. Sau 2 phút, địch tháo chạy khỏi khu vực chiến đấu, chỉ huy sở hạ lệnh rời khỏi khu vực tác chiến.

    Lần đầu gặp địch, đuổi bắn địch chạy vào khu đồi núi điệp trùng, trời mù, la bàn trên máy bay chỉ không chuẩn vì máy bay trong đánh nhau đã cơ động quá mạnh. Tôi đánh vòng thật thấp, ở độ cao 50m, quanh một hòn núi nhỏ, để định hướng về. Trên đường về, vừa cơ động, vừa kiểm tra lại các số trong biên đội thấy còn thiếu số 2. Anh Chao đang bay phía sau, dầu liệu còn khá hơn được số 1 cử quay lại tìm tôi. Tôi vô cùng mừng rỡ khi thấy máy bay số 3 quay lại đón. Hai anh em bay về Gia Lâm hạ cánh sau đôi số 1 độ 5 đến 7 phút. Trong biên đội, lần này chỉ mình tôi nổ súng được.

    Vừa tắt máy, bước xuống thang máy bay, tôi đã thấy câu khẩu hiệu trên bảng - chào mừng chiến thắng của biên đội. Đồng chí chính trị viên ôm tôi. Anh em thợ máy bắt tay chúc mừng. Biên đội Toại - Hải - Chao - Kỉ đã cản phá được một đợt máy bay Mĩ định ném bom vào Hà Hội. Ý nghĩa lớn nhất của trận đánh là ở điểm ấy. Tao ngộ chiến, toàn biên đội đều chủ động tấn công. Dù tao ngộ, nhưng ta không để rơi vào thế bị động. Biên đội trưởng đã có quyết định đúng khi hạ lệnh đánh vào tốp F-105 bay thấp mà ra đa không bắt được.

    Lần đầu nổ súng trong thế trận đầy bất ngờ, những viên đạn vạch đuờng đã giúp tôi kịp thời sửa chữa lượng đón bắn máy bay địch trong không chiến. Ấn tượng đầu tiên này vô cùng quan trọng đối với tôi, là niềm tin trong không chiến sau này. Trong không chiến, thơi cơ đủ, các điều kiện xạ kích tốt, rất kiếm; vì vậy không nên quá cầu toàn.



    Theo USN F-4 MiG Killers:

    Sự gia tăng hoạt động cũng như sự quyết liệt của MiG khiến chính quyền Johnson phê chuẩn việc tấn công các căn cứ của KQNDVN, bao gồm cả Kép và Hòa Lạc.

    ...
    Ngày 24/4/1967, TSB Kitty Hawk xuất kích nhiều máy bay nhằm vào mục tiêu Kép. Các F-4B thuộc phi đoàn 114 đảm nhiệm nhiệm vụ MiGCAP. 2 trong số đó do đại úy Charles Southwick cùng Ens James W. Liang (BuNo 153000/NH 210) và đại úy Denny Linsley cùng trung úy Gareth L. Anderson (BuNo 153037/NH 200).

    ...
    Khi các máy bay cường kích đang ném bom, có cảnh báo cho biết MiG đang tiến tới thung lũng sông Hồng. NH 210 đang trên đường quay về tàu liền vòng lại và lập tức thấy nhiều MiG-17 đang tiến thẳng tới. MiG gầm rú lao qua và bắt đầu vòng lượn trên mặt phẳng ngang.

    NH 210 quyết định không mắc bẫy đối phương mà thay vào đó kéo cao sau đó bổ nhào vào trong bánh xe MiG với tốc độ lớn. NH 210 thấy 1 MiG bên phải, sau đó là vụt thấy nó bên trái, để lộ phần thân dưới khi ngoặt. NH 210 xâm nhập bánh xe phía sau chiếc MiG. NH 210 bắn 1 quả AIM-9D trúng vào cánh phải, chiếc MiG bốc khói, phụt nhiên liệu và sau đó loạng choạng hướng xuống đất.

    Cũng trong thời gian ấy NH 200 tham gia trận đánh. Khi bám theo mục tiêu, NH 200 thấy 1 MiG phía sau NH 210 có vẻ chuẩn bị bắn. NH 200 cảnh báo và NH 210 phản ứng lại, thực hiện 1 vòng xoắn trái barrel roll. Quả tên lửa của MiG sượt qua không gây nguy hiểm. NH 200 sau đó bắn tên lửa và phá hủy 1 MiG-17.


    Như vậy ta claim bắn rơi 1 F-105, 2 F-4. Ta an toàn.

    Mỹ claim bắn rơi 2 MiG-17. Theo VN Air Losses, trong ngày 24/4/1967 KQ và HQ Mỹ mất 1 F-4B, 1 F-4C, 1 A-6A, 1 F-8C, tất cả đều do bị cao xạ bắn rơi (trong đó có F-4B 153000 được ghi nhận là trúng đạn cao xạ dẫn đến hết dầu, tổ lái phải nhảy dù trên đường trở về TSB).

    Trong danh sách các liệt sỹ TT có phi công Txa-Sun-He hy sinh ngày 24/4/1967, như vậy 1 trong 2 MiG-17 mà Mỹ claim có thể được công nhận.

  9. Thanks Lão Ái, vietthuong, NADAI73 thanked for this post
  10. #7
    babykiller Guest
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Đến trưa ngày 25 tháng 4 năm 1967, địch từ hướng biển đánh vào Hải Phòng. Trực ban dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên, dựa vào tình báo B1 cho cất cánh đúng thời cơ và dẫn MIG-17 vào tiếp địch với góc 90 độ. Dẫn đường hiện sóng Binh chủng Vũ Đức Bình bám sát ta-địch. Số 2 phát hiện cả A-4 và F-8, cự ly 6km. Số 1 chỉ huy biên đội vào không chiến tại khu vực Hải Phòng - Kiến An. Nguyễn Thế Hôn và Nguyễn Bá Địch mỗi phi công bắn rơi 1 A-4, sau đó phi công Hà Bôn bắn rơi 1 F-8 (Lịch sử Trung đoàn không quân 923 (1965-2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.2000, tr.58. Còn "Dẫn đường thông kê các trận đánh của Không quân", quyển L: ta bắn rơi 2 F-4 và 1 F-8). Biên đội tách thành 2 tốp, nhanh chóng thoát ly về sân bay Gia Lâm hạ cánh.

    Theo LS e923:

    Sáng ngày 25 tháng 4 năm 1966, vào lúc 9 giờ 35 phút, có khoảng 12 máy bay F-105 của địch từ phía đông đột nhập đánh Hải Phòng. Vào lúc 9 giờ 55 phút, có 40 - 50 lần chiếc gồm cả F-8, A-4, F-4 từ phía biển Đông bay vào theo ba tầng độ cao khác nhau. Phán đoán đây là thời cơ đánh địch tốt nhất, vào lúc 9 giờ 55 phút, sở chỉ huy lệnh cho biên đội trực chiến ở sân bay Kiến An vào cấp 1.

    Những chiếc MIG- 17 được lực lượng thợ máy chuẩn bị đầy đủ các mặt đã sẵn sàng ngụy trang được tháo ra. 10 giờ 04 phút, được lệnh cất cánh các máy bay lăn ra đường bằng nối đuôi nhau cất cánh. Chỉ huy biên đội, bay số 1 là Nguyễn Văn Bảy, người phi công quê ở tỉnh Sa Đéc, một trong ba phi công được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang của bộ đội không quân đầu tiên. Số 2 là Nguyễn Bôn, số 3 là Nguyễn Thế Hôn, số 4 là Nguyễn Bá Địch, người con của quê hương Hải Phòng.

    Sau khi cất cánh, biên đội được dẫn bay theo sông Văn Úc, độ cao 1500 mét. Vừa tới cửa sông thì gặp địch kéo vào rất đông. Đi đầu là những tốp A-4 mang bom. Số 1 hô biên đội thả thùng dầu phụ lao vào giữa đội hình địch. Phát hiện MIG chặn đánh, bọn A-4 vội quăng bom bừa bãi và tháo chạy. Các số trong biên đội tăng tốc đuổi đánh ngay trên khu vực sân bay. Số 3 vừa bắn rơi 1 chiếc A-4 thì lập tức số 4 bắn rơi chiếc A-4 thứ 2. Lần đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ tại quê hương, Nguyễn Bá Địch reo rất to. Niềm vui đó đã cổ vũ toàn biên đội tiếp tục quần nhau với máy bay địch.

    Lúc này những tốp F-8 đi bảo vệ bay phía sau đã tới, lao đến phóng tên lửa tới tấp vào các máy bay ta. Lợi dụng tình thế, bọn A-4 ngoặt ra biển chuồn hết. Biên đội tiếp tục đánh quần với lũ F-8 tiêm kích.

    Số 2 Nguyễn Bôn bay yểm hộ cho biên đội trưởng phát hiện một chiếc F-8 vừa phóng tên lửa xong, đang vòng, anh cắt bán kính bám sát luôn. Chỉ với hai loạt đạn, Nguyễn Bôn đã hạ tại chỗ chiếc máy bay địch.

    Trong khi đó, Nguyễn Văn Bảy vừa tiếp tục làm các động tác tránh tên lửa địch, vừa cố gắng bám sát một mục tiêu. Đã mấy lần đưa tên địch phía trước vào vòng ngắm chuẩn bị bắn thì tên lửa địch từ máy bay khác phóng tới, lại phải tránh, mục tiêu lại bị mất.

    Đội hình địch bị phá vỡ, tan tác. Lực lượng pháo phòng không Hải Phòng đã bắn rơi thêm 3 chiếc. Bọn F-8 hoảng loạn tháo chạy cả ra biển, biên đội được lệnh về sân bay Gia Lâm hạ cánh.

    Trận đánh diễn ra trong 2 phút. Biên đội Nguyễn Văn Bảy đã chiến thắng giòn giã, bắn rơi 3 máy bay địch, bảo toàn lực lượng.

    Chiều ngày 25 tháng 4, đoàn đại biểu Thành uỷ Hải Phòng vào sân bay thăm và động viên đơn vị sau trận đánh thắng lợi, bắn rơi nhiều máy bay địch cản phá được cuộc tiến công của chúng vào khu vực Hải Phòng. Thành uỷ Hải Phòng đã gửi tặng biên đội Bảy – Bôn – Hôn - Địch chiếc đài thu thanh "Mẫu Đơn". Món quà tuy nhỏ nhưng đã là nguồn cổ vũ động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn.

    Thắng lợi đó còn là sự đóng góp công sức của quân dân Kiến An, Hải Phòng ngày đêm sửa chữa gấp sân bay, ngụy trang bảo vệ máy bay và nuôi dưỡng người lái. Thắng lợi đó có công đóng góp của những cản bộ chiến sĩ làm công tác bảo đảm. Trong lửa đạn địch, các kỹ sư, thợ máy, nhân viên thông tin, dẫn đường, nuôi quân của trung đoàn vẫn bám trụ ở sân bay đảm bảo cho máy bay cất cánh chiến đấu. Khi địch oanh tạc sân bay, thợ máy ta đã nhường cả hầm trú ẩn, có đồng chí thợ máy còn lấy thân mình che cho phi công đang trực chiến. Chiến thắng to lớn thu được là cả một quá trình nghiên cứu, chuẩn bị công phu, tỉ mỉ về mọi mặt. Kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó khi máy bay ta phục kích từ sân bay Kiến An vừa bị đánh phá, bay lên đúng thời cơ đánh chặn chúng. Với tinh thần dũng cảm kiên cường, biên đội đã thọc vào giữa đội hình địch, chia cắt chúng ra mà đánh. Trận đánh có ý nghĩa chính trị to lớn làm nức lòng quân dân đất Cảng và quân dân cả nước.

    Cũng trong ngày 25 tháng 4, vào lúc 11 giờ 30 phút, biên đội Trung – Điệt – Tài - Thọ cất cánh từ sân bay Hoà Lạc và đã bắn rơi 1 chiếc F-105 của địch trên bầu trời Hoà bình. Biên đội an toàn. Chiếc F-105 của địch do số 1 Lê Quang Trung bắn rơi. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 5 anh đã bắn rơi trong các trận chiến đấu.


    Theo VN Air Losses, trong ngày này A-4C 147799 thuộc phi đoàn 76 trên TSB Bon Homme Richard do đại úy Charles D. Stackhouse lái bị MiG bắn hạ. Chiếc A-4C này thuộc biên đội chế áp PK yểm trợ cho cường kích của TSB Bon Homme Richard vào đánh 1 kho đạn Kiến An và bị MiG-17 cất cánh từ sân bay Kiến An tấn công. Stackhouse đang tìm cách bắn hạ 1 chiếc MiG-17 đang truy đuổi trợ thủ của mình thì trúng đạn cannon vào động cơ. Phi công nhảy dù và bị bắt làm tù binh.

    Cũng trong ngày hôm đó KQ Mỹ mất 1 F-105D ở phía nam Hà Nội do cao xạ và 2 A-4E ở Hải Phòng do SAM.

    Như vậy ta claim 2 A-4, 1 F-8, 1 F-105. Mỹ chỉ công nhận mất 1 A-4C do MiG.
    Theo Aces & Aerial VictoriesUSAF F-4 MiG Killers:

    Ngày 26/4/1967, biên đội F-4C MiGCAP mật danh Cartus làm nhiệm vụ yểm hộ F-105 cường kích vào đánh trạm biến thế của Hà Nội và đụng khoảng 10 MiG-21. Cartus 1 tiếp cận vào vị trí 7h của 1 trong những chiếc MiG đang vòng lượn trong thế phòng thủ phía trên sân bay Nội Bài. Cartus 1 khóa được mục tiêu và bắn 1 quả AIM-7E dẫn thẳng vào góc 6h của chiếc MiG. MiG cơ động khỏi vòng lượn và hướng vào mây nhưng không kịp tránh được tên lửa.

    Trận không chiến diễn ra gần sân bay Nội Bài, nơi F-4 vấp phải hỏa lực PK thay vì bị MiG tấn công. Các thành viên biên đội cho rằng MiG có thể hạ cánh bất cứ lúc nào, nhưng thay vào đó họ chọn nhử F-4 vào khu vực, nơi đối phương phối hợp hoạt động giữa MiG, SAM và cao xạ.


    F-4C 64-0797 mật danh Cartus 1 do thiếu tá Rolland W. Moore và trung úy James F. Sears lái thuộc phi đoàn 389, không đoàn 366 KQ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng.

    Tài liệu phía ta xác nhận ngày 26/4/1967 trung úy Trần Thiện Lương, phi công MiG-21 thuộc c2/e921 hy sinh trong chiến đấu trên vùng trời Vĩnh Phúc.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Ngày 28 tháng 4 năm 1967, địch tổ chức đánh Hà Nội. Thủ trưởng trực chỉ huy Quân chủng Phùng Thế Tài quyết định sử dụng MiG-21 đánh các tốp địch từ hướng Tuyên Quang, xuôi theo dãy Tam Đảo xuống Hà Nội; còn MiG-17 đánh các tốp địch từ hướng Suối Rút, Hòa Bình vào Hà Nội. Qua theo dõi địch, lúc 15 giờ 17 phút, thủ trưởng trực chỉ huy Trung đoàn 921 Trần Mạnh nhận lệnh của Binh chủng, cho đôi bay thứ nhất: Lê Trọng Huyên và Đồng Văn Song, trực chiến tại Nội Bài, vào cấp 1, cất cánh ngay, đánh hướng Tuyên Quang. Kíp trực ban dẫn đường Trung đoàn 921 dẫn chính: Phạm Minh Cậy, Tạ Quốc Hưng tại sở chỉ huy, Lê Thiết Hùng trên hiện sóng tại C-43 ở Tân Trại và trực ban dẫn đường Phạm Từ Tịnh tại sở chỉ huy Binh chủng dẫn bổ trợ. Đôi thứ nhất được dẫn theo triền phía đông của dãy Tam Đảo, vòng qua Hàm Yên, xuống Đoan Hùng, lên Tuyên Quang - Chiêm Hóa, không gặp địch. 15 giờ 54 phút, bất ngờ xuất hiện một tốp địch ở nam Sơn Dương 10km, đi ngược lên Tuyên Quang, rồi vòng trái 1 vòng. Dẫn đường cho đôi thứ nhất quay xuống, nhưng phi công chỉ phát hiện được địch mà không có điều kiện vào công kích. Thủ trưởng yêu cầu quay về.

    15 giờ 34 phút, đôi bay thứ hai: Đặng Ngọc Ngự-số 1 và Mai Cương-số 2 cất cánh, bay theo triền phía tây của dãy Tam Đảo, đến bắc Sơn Dương 15km, dẫn đường cho vòng trái xuống Vạn Yên, rồi lên bắc Nghĩa Lộ để chặn đánh địch trên đường bay ra. Địch bị bất ngờ, khi ta chặn trên đoạn từ Yên Bái đến đông bắc Bắc Yên 30km. Với góc vào 30 độ, số 1 phát hiện bên trái, 4km, rồi rút ngắn cự ly, phóng tên lửa, nhưng không trúng. Phi công Mai Cương, không bỏ lỡ thời cơ, bắn rơi ngay 1 F-105. Trong trận này ta sử dụng đài P-35 chuyên bắt địch và đài P-30 chuyên bắt ta, tuy có sai lệch, nhất là khi dẫn đôi thứ nhất, nhưng dẫn đường đã ước lượng bù trừ kịp thời để dẫn đôi thứ hai tốt hơn.


    Clashes mô tả 1 trận đánh ngày 29/4, nhưng dựa vào diễn biến theo các tài liệu khác của 2 bên thì chính là ngày 28/4.

    Ngày 29/4, biên đội Lightning gồm 4 F-105D làm nhiệm vụ chế áp PK dẫn đầu đội hình cường kích vào đánh 1 mục tiêu gần Hà Nội. Thời tiết khá tốt - mây rải rác ở 16000ft đến 20000ft với tầm nhìn khoảng 15 dặm. Sau khi đánh mục tiêu, Lightning 1 và 2 truy đuổi 2 MiG-17 trong khi Lightning 3 và 4 rời khu vực. Lightning 3 và 4 đang ở độ cao 18000ft và tốc độ 500 knot khi thấy 1 máy bay sơn bạc xuất hiện từ trong mây phía sau họ 2 dặm. Chiếc máy bay này bay cùng độ cao và đang tiếp cận rất nhanh. Lightning 3 và 4 thực hiện 1 vòng ngoặt trái bằng hướng về chiếc máy bay và thả thùng dầu phụ. Khi tới gần họ thấy rõ đó là 1 chiếc MiG-21 và tiếp tục ngoặt trái, hạ độ cao tăng tốc khi chiếc MiG vòng ra sau họ.

    MiG vào gần và Lightning 4 cảm thấy chấn động khi đạn cannon của chiếc MiG bắn trúng. MiG vượt qua và 2 chiếc F-105 nhìn 1 cách bất lực khi MiG leo cao và vòng trở lại phía sau họ 1 dặm. Ở 10000ft Lightning 4 thấy MiG tiếp cận và rồi thấy phần thân dưới của chiếc MiG khi nó khai hỏa cannon. Cùng lúc đó Lightning 3 gọi báo trúng đạn và lập tức bắt đầu bay chậm lại. Lightning 4 thấy khói lửa ở phần đuôi Lightning 3. Lightning 3 tiếp tục mất độ cao và nhanh chóng chìm trong lửa. Lightning 4 tiếp tục bám theo và cố gắng giữ cả Lightning 3 và chiếc Mig trong tầm nhìn, anh ta thấy MiG vài lần nhưng nó không tấn công thêm (có thể vì hết đạn). ở độ cao 1000ft phi công Lightning 3 nhảy dù. Lightning 4 ở lại trong khoảng 2 phút, sau đó rơì khu vực.

    Bản tổng kết rất gây phiền muộn. Việc hệ thống GCI của BVN dẫn chiếc MiG-21 vào vị trí lý tưởng và MiG đã có thể hạ 2 chiếc F-105 sau khi ném bom đã là đủ tồi tệ. Điều thực sự gây lo lắng là trái với các phi công MiG-21 trước đây, phi công này đã thể hiện kỹ năng đáng kể trong việc sử dụng tốc độ và khả năng cơ động trước 2 chiếc F-105. Đây là 1 điềm xấu, và may mắn là MiG chỉ bắn hạ có 1 chiếc F-105.


    Theo VN Air Losses, F-105D 58-1151 do đại úy Franklin A. Caras thuộc phi đoàn 44, không đoàn 388 KQ Mỹ ở căn cứ Korat (TL) bị MiG-21 tấn công sau khi vào đánh 1 cơ sở sửa chữa đường sắt ở Hà Nội. Máy bay đâm xuống đất cách Nà Sản 15 dặm về phía đông. Phi công chết.

    Cũng trong ngày hôm đó, theo Aces & Aerial Victories, F-105 của không đoàn 355 bắn hạ 2 MiG-17:

    Sau khi không kích, biên đội do thiếu tá Higgins chỉ huy rời mục tiêu thì bị khoảng 9 MiG-17 tấn công. Higgins quan sát thấy 1 MiG-17 ở góc 2h và lập tức hướng về đó. Sau 1 chuỗi các động tác cơ động, Higgins vào được vị trí 6h so với chiếc MiG và bắn AIM-9 ở cự ly 3000ft. MiG lập tức ngoặt gấp về bên phải và tên lửa đi trượt ra phía sau và bên dưới MiG khoảng 1000ft. Biên đội tiếp tục bay về hướng tây để rời khu vực thì quan sát thấy 2 MiG-17 ở góc 1h. MiG tiếp cận đối đầu và cả 2 bên cùng khai hỏa cannon nhưng không gây thiệt hại. Biên đội Higgins vòng lại để truy đuổi MiG nhưng họ tiếp tục bay về hướng đông nam và đi ra ngoài tầm bắn. Khi biên đội 1 lần nữa tiếp tục rời mục tiêu, Higgins thấy 1 MiG-17 đang vòng trái về hướng nam. Higgins lập tức bật tăng lực tiếp cận. MiG ngoặt gấp hơn nhưng khi làm vậy bị giảm tốc độ. Higgins vào được góc 30 độ so với mục tiêu và khai hỏa cannon từ cự ly 1500ft. MiG bốc khói và lửa bốc lên từ cánh trái. MiG đâm dốc xuống với cánh trái gãy ở độ cao khoảng 1000ft, sau đó đâm xuống đất.

    1 biên đội khác do trung tá Dennis chỉ huy trong khi rời mục tiêu cũng gặp MiG. Mig đang bám đuôi 1 F-105 khác và Dennis tới hỗ trợ. Dennis tiếp cận và bắn 1 AIM-9 khi có tín hiệu nhưng tên lửa không dẫn. Dennis tiếp tục vào gần 3000-4000ft và khai hỏa cannon. MiG đang trong 1 vòng ngoặt phải nông, có vẻ không biết có F-105 phía sau. Dennis tiếp cận tới khoảng 1500ft và bắn cho đến khi tới gần 700ft. MiG bốc cháy, kéo theo 1 vệt khói và xoáy tròn hướng xuống đất.


    Theo USAF F-4 & F-105 MiG Killers thì F-105D 59-1772 mật danh Spitfire 1 do thiếu tá Harry E. Higgins và F-105D 60-0504 mật danh Atlanta 1 do trung tá Arthur F. Dennis lái. Cả 2 đều thuộc phi đoàn 357, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli (TL).

    F-105D 59-1772. Đây là chiếc F-105D đã từng được sử dụng để bắn rơi thiếu úy Vũ Huy Lượng trong trận ngày 26/3/1967 (bố thằng mỹ khốn nạn)

    F-105D 60-0504.
    Tài liệu phía ta không đề cập tới trận đánh này.

    Tổng kết:
    - Ta claim 1 F-105, Mỹ công nhận.
    - Mỹ claim 2 MiG-17, ta không công nhận.
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Trong 2 ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1967 ta chỉ dẫn đánh mỗi ngày 1 trận. Chiều ngày 29, biên đội: Nguyễn Văn Bảy-số 1, Lê Sĩ Diệp-số 2, Võ Văn Mẫn-số 3 và Trương Văn Cung-số 4 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc và được dẫn đến khu chiến Hòa Bình, với góc vào 120 độ, số 1 phát hiện F-4, 8km. Sau 3 phút không chiến phi công Nguyễn Văn Bảy hạ 1 F-4. Biên đội trở về sân bay Hòa Lạc.

    VN Air Losses không ghi nhận tổn thất nào do MiG trong ngày 29/4/67. Theo đó KQ Mỹ mất 1 F-4C ở phía tây Hà Nội 15 dặm do cao xạ bắn và 1 RF-4C đâm xuống đất khi đang cơ động tránh SAM.

  11. Thanks vietthuong, NADAI73 thanked for this post
  12. #8
    babykiller Guest
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Chiều 30 tháng 4 năm 1967, ta tổ chức đánh hai trận cách nhau khoảng một giờ, đều chặn địch trên đường vào. Trận thứ nhất, sau khi nắm các triệu chứng địch qua Sầm Nưa, các thủ trưởng trực chỉ huy Binh chủng Nguyễn Văn Tiên và Trung đoàn 921 Trần Mạnh cho đôi bay MiG-21: Nguyễn Ngọc Độ và Nguyễn Văn Cốc cất cánh. Sở chỉ huy Binh chủng cho MiG-21 ra phía Mộc Châu. Do chưa chọn được tốp địch thích hợp, nên qua Sơn Tây khoảng 40km, đôi bay vòng trái xuống phía tây Suối Rút và Mai Châu.

    Mấy phút sau, dẫn đường hiện sóng Lê Thiết Hùng bám sát được tốp địch qua Cò Nòi-Tạ Khoa, đôi bay được dẫn vòng phải lên Yên Châu, chặn địch trên đoạn Bắc Yên- Phù Yên-Yên Lập. Với góc vào 30 độ rất thuận lợi, phi công Nguyễn Ngọc Độ phát hiện F-105, 5km, nhanh chóng rút ngắn cự ly, bắn rơi ngay 1 F-105 và 2 phút sau phi công Nguyên Văn Cốc bắn rơi tiếp 1 F-105 nữa. Cả đội hình địch hoảng hốt, vứt bom quay ra.

    Trận thứ hai, đôi bay: Lê Trọng Huyên-số 1 và Vũ Ngọc Đỉnh-số 2 đánh ở khu vực Thanh Sơn, được dẫn vào với góc 60 độ. Số 1 phát hiện cả F-105 và F-4 ở cự ly 14km. Mỗi phi công đều bắn rơi 1 F-105. Các kíp trực ban dẫn đường Trung đoàn 921 dẫn chính và Binh chủng dẫn bổ trợ đã góp sức nâng hiệu quả chiến đấu của MiG-21 đánh trong một ngày lên cao chưa từng thấy.


    VN Air Losses xác nhận trong ngày hôm đó không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli mất 3 F-105 do MiG khi tiến hành không kích 1 nhà máy nhiệt điện gần Hà Nội. Nỗ lực giải cứu của KQ Mỹ không thành và 4 phi công nhảy dù đều bị bắt làm tù binh.

    F-105F 52-4447 mật danh Carbine 3 thuộc phi đoàn 357 thuộc biên đội Iron Hand trên đường vào mục tiêu thì bị MiG-21 đánh chặn ở phía tây Hà Nội 50 dặm. Carbine 3 bị trúng tên lửa Atoll, thiếu tá Leo K. Thorness và đại úy Harold E. Johnson (đây là tổ bay từng bắn hạ 1 MiG của ta hôm 19/4/67) nhảy dù ở phía nam Yên Bái 25 dặm.

    F-105D 59-1726 mật danh Carbine 4 thuộc phi đoàn 354 do trung úy Robert A. Abbott lái cũng bị tên lửa Atoll bắn rơi gần như cùng lúc đó.

    F-105D 61-0130 mật danh Tomahawk 3 thuộc phi đoàn 333 do đại úy Joseph S. Abbott lái thuộc biên đội đang bay yểm trợ cho tìm cứu tổ bay Carbine 3 và 4. Khi Tomahawk 3 và 4 chuẩn bị rời khu vực để tới chỗ máy bay tiếp dầu thì bị MiG-21 tấn công từ phía sau. Cả 2 chiếc đều bị trúng tên lửa, Tomahawk 3 bị bắn rơi nhưng Tomahawk 4 do thiếu tá Al Lenski lái chỉ bị thương và thoát được.

    Như vậy ta claim 4 F-105, Mỹ xác nhận 3 F-105 bị bắn rơi và 1 bị thương nặng.

    Cũng trong ngày hôm đó còn diễn ra 1 trận của MiG-17 thuộc e923:

    Chiều ngày 30, biên đội: Hồ Văn Quỳ, Nguyễn Văn Phi, Nguyễn Xuân Dung và Nguyễn Văn Thọ cũng xuất kích từ Hòa Lạc, đánh tại khu vực tây nam Hòa Bình 15km. Do ra-đa dẫn đường bắt địch không tốt, biên đội phải vòng đi, vòng lại nhiều lần. Mọi nỗ lực của kíp trực ban dẫn đường đều không thành.

    Aces&Aerial Victories ghi lại 1 trận khác:

    Sáng 30/4, biên đội Rattler là biên đội thứ 3 và cuối cùng vào đánh ga xe lửa ở đông bắc Bắc Giang. Biên đội bị 3 MiG-17 tấn công khi đang tiếp cận mục tiêu. Rattler 1 bổ nhào ném bom, sau đó leo cao và thấy 2 MiG-17 ở góc 11h, cự ly khoảng 3000ft và độ cao khoảng 3000ft. Rattler 1 thả thùng dầu phụ, bật tăng lực truy đuổi 2 chiếc MiG này. Ở cự ly khoảng 1000ft Rattler bắt đầu khai hỏa cannon, bắn khoảng 100 viên 20mm trúng vào cánh trái và phần thân phía trước. MiG bốc cháy, chậm chạp mất độ cao rồi biến mất.

    Theo USAF F-4 & F-105 MiG Killers, F-105D 60-0498 mật danh Rattler 1 thuộc phi đoàn 44, không đoàn 355 KQ Mỹ do đại úy Thomas C. Lesan lái.


    Tài liệu ta không ghi nhận tổn thất nào. Căn cứ vào khu vực diễn ra trận đánh, biên đội MiG-17 này có thể thuộc đoàn Z. (mẹ sư cái bọn bắc tèo ăn hại)
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Sáng 1 tháng 5 năm 1967, sau khi nghiên cứu các tốp địch trên hướng tây nam Hà Nội, các thủ trưởng trực chỉ huy Nguyễn Văn Tiên và Lê Oánh đã quyết định cho biên đội MiG-17; Nguyễn Văn Bảy-số 1, Lê Sĩ Diệp-số 2, Võ Văn Mẫn-số 3 và Nguyễn Bá Địch-số 4, đang trực chiến tại Hòa Lạc, xuất kích. Kíp trực ban dẫn đường tại sở chỉ huy Binh chủng: Nguyễn Văn Chuyên và Trung đoàn không quân 923: Hà Đăng Khoa thực hiện dẫn phối hợp. Biên đội MIG-17 cất cánh đúng thời cơ, bay vào khu chiến Hòa Bình-suối Rút, gặp một tốp lớn 20 chiếc của địch ở độ cao thấp. Sở chỉ huy dẫn vào tiếp địch với góc nhỏ 35 độ. Biên đội phát hiện địch ở cự ly 4km, rất nhiều F-4 và F-105 đi trong đội hình hỗn hợp. Ta phải không chiến 11 phút, dài chưa từng có. Số 1, 2 và 4 đều nổ súng. Hai phi công Lê Sĩ Diệp và Nguyễn Bá Địch, mỗi người bắn rơi 1 F-4. Nhưng sau đó, số 4 hy sinh, do bị trúng tên lửa địch. Các số còn lại về Gia Lâm hạ cánh.

    Theo các tài liệu Mỹ, trong ngày 1/5/67 chỉ có 1 RF-8 bị rơi do trục trặc, ngoài ra không có tổn thất nào, có 3 MiG bị máy bay của KQ và HQ Mỹ hạ:

    - F-8E 15-0923 do thiếu tá M. O. Wright lái thuộc phi đoàn 211, không đoàn 21 HQ Mỹ trên TSB Bon Homme Richard. Ngày 1/5/67 Wright nằm trong biên đội yểm hộ A-4 Iron Hand vào đánh sân bay Kép. Ở cách Hà Nội 35 dặm về phía bắc Wright tiếp cận phía sau 1 MiG-17 đang truy đuổi A-4 và bắn hạ bằng 1 tên lửa AIM-9.

    - A-4 14-8609 do trung tá T. R. Swartz lái thuộc phi đoàn 76, không đoàn 21 HQ Mỹ trên TSB Bon Homme Richard. Ngày 1/5/67 Swartz là chỉ huy biên đội chế áp PK để yểm hộ cho HQ Mỹ vào đánh sân bay Kép. Tại khu vực sân bay, Swartz đụng MiG-17 và 2 bên cơ động quần vòng. MiG bỏ cuộc và vòng trở về sân bay, Swart tiếp cận từ phía sau và bắn 3 phát rocket Zunis 127mm hạ chiếc MiG này.

    - F-4C 63-7577 do trung tá Robert G. Glider và trung úy Mack Thies mật danh Stinger 1 thuộc phi đoàn 390, không đoàn 366 KQ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng. Ngày 1/5/67, biên đội Stinger làm nhiệm vụ MiGCAP, yểm hộ cho F-105 bay RESCAP thì phát hiện MiG-17 tiếp cận từ hướng 12h. Stinger 1 cơ động được vào vị trí phía sau 1 MiG và lần lượt bắn 4 tên lửa AIM-7 và AIM-9. MiG đều cơ động tránh được nhưng đến lần thứ 4 thì bị đâm xuống đất.

    Các tư liệu của ta xác nhận trong ngày 1/5/67 có 3 phi công hy sinh: thiếu úy Nguyễn Bá Địch thuộc c1/e923 và 2 phi công BTT Ly-Txang-II và Bac-Đông-Dun thuộc đoàn Z.
    Theo các tài liệu Mỹ:

    Ngày 4/5/1967, không đoàn 8 ở căn cứ Ubon (TL) điều 2 biên đội F-4C làm nhiệm vụ MiGCAP, yểm hộ cho 5 biên đội F-105 thuộc không đoàn 355 làm nhiệm vụ không kích. Đại tá Robin Olds, không đoàn trưởng chỉ huy biên đội F-4C bay phía sau, trong khi biên đội F-4C còn lại bay xen kẽ với cường kích.

    Olds nhận được tín hiệu cảnh báo MiG và ngay sau đó trợ thủ của Olds cũng phát hiện 2 chiếc MiG-21 xuất hiện ở hướng 11h, tấn công biên đội F-105 bay sau cùng. Olds cảnh báo cho F-105 và dẫn biên đội tiếp cận MiG. Trong quá trình cơ động, Olds khóa được mục tiêu vào 1 chiếc MiG và bắn 2 quả AIM-7. Quả thứ nhất bay theo quán tính, trong khi quả thứ 2 được dẫn nhưng đi trượt qua mục tiêu và không nổ. Biết rằng cự ly quá gần để bắn AIM-7 tiếp, Olds cơ động để có cự ly bắn AIM-9 và khai hỏa 2 tên lửa nhưng MiG cơ động rất mạnh và cả 2 tên lửa đều không quan sát được. MiG vòng lại và ở vào vị trí thuận lợi cho AIM-9, Olds bắn tiếp 1 quả AIM-9 được lái thẳng vào chiếc MiG và nổ phía dưới phần đuôi khoảng 5-10ft.

    MiG bắt đầu 1 loạt những vòng ngoặt rất gấp. Lửa xuất hiện từ phía đuôi nhưng Olds không chắc đó là do bị tên lửa bắn hay MiG bật tăng lực. Olds bắn tiếp 1 AIM-9 nhưng quả tên lửa này bị đâm hướng xuống đất. Olds tiếp tục bám theo khi MiG ngừng cơ động và bay bằng về hướng sân bay Phúc Yên. Olds giữ cự ly phía sau khoảng 2500ft và quan sát thấy lửa trắng ở phần đuôi bên trái. Số 3 trong biên đội quan sát thấy chiếc MiG đâm xuống đất khoảng 100 yard phía nam đường băng.



    F-4C 63-7668 mật danh Flamingo 1 thuộc phi đoàn 555, không đoàn 8 KQ Mỹ, do đại tá Robin Olds và trung úy William D. Lafever lái.

    Tài liệu của ta không nhắc gì đến trận đánh này..(thằng
    Robin Olds bay tanh quá,đúng là chỉ huy không đoàn 8 có khác)

  13. Thanks vietthuong, NADAI73 thanked for this post
  14. #9
    Ngày gia nhập
    Oct 2010
    Bài gửi
    1.698
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    10
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Giá như tác giả chú thích thêm các từ ngữ chuyên môn, các hình vẽ minh họa kỹ thuật bay chẳng hạn thì bài viết sẽ càng có nhiều ý nghĩa hơn.
    南國山河
    南 國 山 河 南 帝 居
    截 然 定 分 在 天 書
    如 何 逆 虜 來 侵 犯
    汝 等 行 看 取 敗 虛
    Tác giả: Lý Thường Kiệt.
    ( SÔNG NÚI NƯỚC NAM
    Sông núi nước Nam, Vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị oánh (đánh) từa lưa (tơi bời))

  15. #10
    babykiller Guest
    Theo LS dẫn đường KQ:

    Ngày 12 tháng 5 năm 1967, địch vào từ hướng tây nam, phần lớn lực lượng của chúng đánh thẳng vào Hà Nội và số còn lại vòng qua Sơn Dương theo dãy Tam Đảo đánh xuống. Thủ trưởng trực chỉ huy Binh chủng Nguyễn Văn Tiên quyết định cho MIG-17 đánh trước ở vòng trong và MiG-21 đánh sau ở vòng ngoài (Đôi bay MiG-21 Lê Trọng Huyên-Đồng Văn Song cất cánh từ Nội Bài, đánh tại khu vực Mai Châu-vạn Yên lúc 16 giờ 45. Phi công Đồng Văn Song bắn rơi 1 F-105). Các trực ban dẫn đường Đào Ngọc Ngư, Phạm Từ Tịnh tại sở chỉ huy Binh chủng chịu trách nhiệm dẫn chính và Đỗ Cát Lâm tại sở chỉ huy Trung đoàn 923 đảm nhiệm dẫn bổ trợ. Biên đội MIG-17: Cao Thanh Tịnh-số 1, Lê Hải-số 2, Ngô Đức Mai-số 3 và Hoàng Văn Kỷ-số 4, sau khi cất cánh khỏi sân bay Gia Lâm lúc 15 giờ 31 phút (Bản can trận đánh), lập tức được dẫn vòng trái, qua phía bắc Hà Nội, vào khu chiến trên đỉnh Hòa Lạc. Sở chỉ huy Binh chủng dẫn vào đánh tốp bay thấp với góc tiếp địch 120 độ. Đài chỉ huy bổ trợ tại sân trực tiếp thông báo vị trí mục tiêu và dẫn máy bay ta bám địch. Số 1 phát hiện cả F-4 và F-105 ở cự ly 6km. Biên đội không chiến 4 phút. Các phi công Cao Thanh Tịnh bắn rơi 1 F-105, Ngô Đức Mai và Hoàng Văn Kỷ, mỗi phi công bắn rơi 1 F-4. Biên đội Cao Thanh Tịnh- Lê Hải-Ngô Đức Mai-Hoàng Văn Kỷ đã ghi tên mình vào danh sách những biên đội MIG-17 đánh đạt hiệu quả cao nhất của không quân ta. 15 giờ 50 phút (Bản can trận đánh), đôi bay MiG-17: Phạm Thanh Tài và Nguyễn Hữu Điệt cất cánh cũng từ sân bay Gia Lâm, nhưng vòng phải, qua phía nam Hà Nội, vào khu vực Sơn Tây-hòa Lạc để yểm hộ cho biên đội Tịnh-Hải-Mai-Kỷ. Sau đó, tất cả về Gia Lâm hạ cánh. Trong khi không chiến còn đang diễn ra tại Hòa Lạc, sở chỉ huy Binh chủng dẫn tiếp biên đội MiG-17: Dương Trung Tân, Phan Trọng Vân, Trương Văn Cung và Nguyễn Văn Thọ cất cánh từ Nội Bài, vào khu vực Phúc Yên-Vĩnh Yên đánh địch từ phía tây triền Tam Đảo xuống. Với góc vào tiếp địch 100 độ, biên đội phát hiện tốp lớn, toàn F-105, cự ly 5km. Ta vào không chiến chủ động, địch quẳng bom đối phó. Tuy không bắn rơi, nhưng biên đội đã cản phá được tốp cường kích, không cho chúng vào đến Hà Nội. Đây cũng là những trận mà các kíp trực ban dẫn đường đã dẫn thành công MIG-17 đánh liên hoàn, trận nối trận và đánh có yểm hộ khu vực. Ngày 12 tháng 5 năm 1967 là một trong những ngày dẫn đánh địch đạt hiệu quả cao nhất của mặt trận trên không trong năm 1967.

    VN Air Losses xác nhận F-4C 63-7614 thuộc phi đoàn 390, không đoàn 366 KQ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng do đại tá Norman Carl Gaddis và trung úy James Milton Jefferson lái bị bắn rơi. Chiếc F-4C của Gaddis thuộc biên đội bay tuần phòng yểm hộ cho F-105 vào đánh 1 doanh trại ở Hà Đông. Trong khi rời mục tiêu Gaddis bị trúng đạn cao xạ và tụt lại phía sau và bị MiG-17 bắn hạ gần sân bay Hòa Lạc. Tổ bay nhảy dù, Jefferson chết còn Gaddis bị bắt làm tù binh.

    Gaddis là phi công từ năm 1944, từng tham gia chiến tranh Triều Tiên. Đây là đại tá Mỹ đầu tiên bị QĐNDVN bắt làm tù binh.

    MiG-17 2011 của Ngô Đức Mai

    Norman Gaddis rất ha oai với quân hàm chuẩn tướng

    Nhưng ở việt nam thì cũng đến thế này là cùng thôi
    Theo Clashes thì trước trận đánh chiếc F-4C của Gaddis đã bị trục trặc ở động cơ, không bật được tăng lực.

    Trong ngày hôm đó KQ Mỹ còn mất 2 F-105, trong đó 1 F-105F mất tích khi đánh bến phà Ròn ở Quảng Bình, 1 F-105D bị cao xạ bắn rơi khi đánh 1 kho hàng ở Nguyên Khê phối hợp với cuộc không kích Hà Đông. Không có ghi nhận thêm tổn thất do MiG.

    Theo Aces&Aerial Victories, cũng trong ngày 12/5/1967 KQ Mỹ bắn rơi 1 MiG-17:

    Đại úy Jacques A. Suzannes chỉ huy biên đội Crossbow gồm 4 F-105 làm nhiệm vụ chế áp cao xạ. Khi tới mục tiêu, biên đội bị 5 MiG-17 chặn đánh. Số 1 dẫn biên đội nghênh chiến và bám theo 2 chiếc MiG cơ động ngoặt phải. Số 1 tiếp cận tới cự ly 4000ft và bắn 1 loạt cannon khoảng 200 viên. MiG ngoặt trái, số 1 tiếp tục bắn thêm 1 loạt ở cự ly 800-1000ft cho tới cự ly tối thiểu. MiG tiếp tục mất độ cao và biến mất trong mây ở độ cao khoảng 1000ft. Số 2 quan sát thấy MiG lao xuống và 1 quầng sáng trên mặt đất ở vị trí mà chiếc MiG biến mất.

    Theo USAF F-4&F-105 MiG Killers, F-105D 61-159 mật danh Crossbow 1 thuộc phi đoàn 333, không đoàn 355 KQ Mỹ ở căn cứ Takhli (TL).

    F-105D 61-159
    Tổng kết:
    - Ta claim 2 F-105, 2 F-4, Mỹ chỉ công nhận mất 1 F-4.
    - Mỹ claim 1 MiG-17, ta không có xác nhận
    Xin phép nghỉ ngơi dọn nhà đón tết,mai post tiếp

  16. Thanks chienbinhvietnam, vietthuong, lâmxung thanked for this post
    Likes lâmxung liked this post
Trang 1 trong 8 123 ... Cuối cùngCuối cùng

Chủ đề tương tự

  1. Chiến thuật - chiến lược trong chiến tranh hiện đại .
    By hoanglongvn in forum Hỏi đáp, trao đổi kiến thức Quân sự - Quốc phòng
    Trả lời: 61
    Bài mới gửi: 21-05-2012, 08:25 AM
  2. Bàn về các dòng máy bay MIG và khả năng thay thế MIG-21 của KQNDVN
    By Neko gorudo in forum Tìm hiều về các loại vũ khí quân sự
    Trả lời: 144
    Bài mới gửi: 16-10-2011, 02:54 PM
  3. [Thảo luận] Những máy bay có thể sẽ được trang bị cho KQNDVN
    By alfa_tym in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam 2011
    Trả lời: 100
    Bài mới gửi: 21-09-2011, 10:13 PM
  4. Các vụ tai nạn máy bay của KQNDVN.
    By Winner in forum [Lưu trữ]QS-QP Việt Nam từ 2009 trở về trước
    Trả lời: 12
    Bài mới gửi: 28-11-2009, 07:38 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •