[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 2 trong 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 11 tới 20 trên 27
  1. #11
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

    Căng thẳng đang leo thang xung quanh những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ASEAN, được cho là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Bài viết này phân tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh chấp.

    Tóm tắt

    Căng thẳng đang leo thang xung quanh những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ASEAN, được cho là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Các nỗ lực của ASEAN đã mang đến một hội nghị ARF sôi động ở Hà Nội tháng 7 năm 2010 và một bộ Hướng dẫn Thực hiện Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông với câu chữ còn chung chung và mơ hồ ở Bali vào tháng 7 năm 2011. Vì ASEAN đang trên con đường hiện thực hóa ước mơ xây dựng Cộng đồng, những kết quả đó thấp hơn rất nhiều so với kỳ vọng của các nước thành viên khi đương đầu với một mối lo ngại lớn về an ninh khu vực. Không kể tới sự khác biệt về lợi ích của các thành viên ASEAN và những ràng buộc theo Phương cách ASEAN, vai trò hạn chế của ASEAN trong những tranh chấp này một phần do những nỗ lực của Trung Quốc nhằm duy trì các đàm phán trong khuôn khổ song phương. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã phản đối các hành động tập thể nhằm quản lý tranh chấp này một cách đa phương, tuyên bố rằng Trung Quốc không có tranh chấp lãnh thổ với ASEAN và rằng bất cứ ý định nào nhằm “quốc tế hóa” vấn đề sẽ chỉ làm vấn đề phức tạp hơn. Bài viết này phân tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh chấp.

    Lời mở đầu

    Việc ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 đáng tiếc là chỉ giữ cho các tranh chấp trong khu vực tương đối bình yên trong khoảng 5 năm. Từ năm 2007, căng thẳng giữa các nước có yêu sách ở Biển Đông bắt đầu nổi lên và ngày càng gay gắt trong mọi lĩnh vực, với Trung Quốc là trung tâm của hầu hết các sự vụ. Kể từ năm 2007, yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông được thực thi một cách cứng rắn. Một số lượng lớn và ngày càng tăng các tàu tuần tra hiện đại của Trung Quốc đã được phái đến Biển Đông. Ngày càng nhiều ngư dân các nước Đông Nam Á bị bắt trong khu vực đánh cá truyền thống của họ bởi các nhà chức trách Trung Quốc. Năm 2009, lần đầu tiên, Bắc Kinh chính thức tuyên bố chủ quyền đối với 80% Biển Đông bằng việc gửi một bức thư lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đính kèm một bản đồ đường đứt khúc chín đoạn. Một loạt các hành động thậm chí còn gây căng thẳng hơn đã xảy ra sau động thái này. Trong số đó đáng kể nhất là việc Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của mình vào năm 2010 và quấy rối, phá hoại các tàu khảo sát thăm dò dầu khí của các nước trong khu vực trong vùng đặc quyền kinh tế của họ vào năm 2011. Các động thái cứng rắn mang tính hệ thống của Trung Quốc ở Biển Đông đã bị các nước khác phản đối quyết liệt, đặc biệt là Philippines và Việt Nam.
    Trong khi căng thẳng và lo ngại ngày càng gia tăng, ASEAN đã chủ động tích cực tham gia quản lý xung đột. Trong khoảng 5 năm, từ Tuyên bố của Chủ tịch tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, tháng 1 năm 2007, cho đến Thông cáo chung giữa ASEAN và Trung Quốc tháng 7 năm 2011, Hiệp hội đã cho ra hơn 20 văn kiện ở nhiều cấp độ khác nhau biểu thị sự cần thiết phải quản lý các tranh chấp ở Biển Đông.[1] Những văn kiện này bao gồm các Tuyên bố Chủ tịch của hai Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc năm 2007 và của tất cả các Hội nghị của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) từ năm 2007 đến 2011. Các nhà lãnh đạo ASEAN đang nỗ lực hết sức để có thể đưa ra một Bộ Quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc ở Biển Đông (COC).
    Trong khi các quốc gia Đông Nam Á có yêu sách ở Biển Đông muốn ASEAN và các bên khác có lợi ích ở Biển Đông đóng vai trò tích cực trong việc đảm bảo an ninh trong khu vực thì Trung Quốc lại luôn cố gắng hạn chế vai trò của các bên không có yêu sách và theo đuổi lập trường đối thoại song phương với các nước yêu sách khác. So với các nước đó, Trung Quốc mạnh hơn rất nhiều. Điều này được thể hiện trong diễn văn của Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, Xue Hanqin, năm 2009 ở Singapore rằng “toàn bộ vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa ASEAN, với vai trò một tổ chức, với Trung Quốc, mà là giữa các nước liên quan”.[2] Lập trường của Bắc Kinh được Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì nhắc lại lần nữa tại ARF lần thứ 17 tại Hà Nội tháng 7 năm 2010 khi ông khẳng định rằng tranh chấp ở Biển Đông không phải giữa Trung Quốc và ASEAN, và bất cứ nỗ lực nào nhằm “quốc tế hóa” vấn đề sẽ “chỉ làm vấn đề tồi tệ hơn và càng khó để đi đến giải pháp.”[3]
    Nghiên cứu này sẽ tập trung vào vai trò của ASEAN như một bên có lợi ích chủ chốt trong hòa bình và an ninh ở Biển Đông. Bài viết trước tiên sẽ nhìn lại lịch sử lập trường và những tham gia trên thực tế của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông, tiếp đó sẽ xem xét lợi ích, trách nhiệm của ASEAN và các cơ chế mà hiệp hội có, nhằm thúc đẩy ổn định và an ninh ở Biển Đông. Bài viết kết thúc bằng một kiến nghị cho ASEAN để có thể đóng một vai trò lớn hơn trong tranh chấp Biển Đông.

    Tham gia của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

    ASEAN không tham gia nhiều vào Biển Đông trước khi kết thúc Chiến tranh lạnh, chủ yếu vì Biển Đông lúc đó không phải là một mối lo ngại về an ninh trực tiếp của các thành viên tổ chức này (vào thời điểm đó ASEAN có sáu thành viên, với Brunei là thành viên thứ sáu, gia nhập năm 1984). Không có lợi ích trong việc làm Bắc Kinh phật ý, ASEAN giữ im lặng trong hai sự kiện năm 1974 và 1988 khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để lần lượt chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ Việt Nam. Cho dù ASEAN không lên án Trung Quốc vì những sự kiện này, việc Bắc Kinh sử dụng vũ lực để khẳng định sự có mặt lần đầu tiên của mình ở quần đảo Trường Sa năm 1988 có thể đã gửi một thông điệp đến các thành viên của tổ chức này về một mối dọa an ninh tiềm tàng ở Biển Đông. Thêm vào đó, việc Mỹ rút khỏi các căn cứ hải quân ở Subic và căn cứ không quân Clark ở Philippines đầu thập kỷ 1990 đã khiến cho nước này dễ bị tổn thương nghiêm trọng. Do đó, Manila đã thúc đẩy Hiệp hội phải có những bước cụ thể để tránh những sự kiện tương tự như những gì Việt Nam đã phải chịu năm 1988.
    Tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 25 tại Manila tháng 7 năm 1992, khi Philippines giữ chức chủ tịch, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã thông qua “Tuyên bố ASEAN về Biển Đông”. Văn kiện đầu tiên của ASEAN về Biển Đông khẳng định rằng “mọi diễn biến bất lợi ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định trong khu vực” và nhấn mạnh “sự cần thiết phải giải quyết tất cả các vấn đề tài phán và chủ quyền gắn liền với Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực”.[4] Cả Tuyên bố năm 1992 và Thông cáo chung năm 1993 của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26 đều đề nghị “tất cả các bên liên quan trực tiếp tuân theo các nguyên tắc” của Tuyên bố.[5]

    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    Hà Anh Tuấn, Nghiên cứu sinh Tiến sĩ, Đại học New South Wales, Sydney, Australia.

    Bản gốc tiếng Anh: “ASEAN and the Disputes in the South China Sea”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

    [1] Các văn kiện được đề cập đến bao gồm Thông cáo chung, Tuyên bố của chủ tịch, Thông cáo báo chí, và các loại văn kiện chính thức khác của ASEAN.

    [2] Xue Hanqin, ‘China-ASEAN Cooperation: A model of Good Neighbourliness and Friendly Cooperation’, Singapore, 19/11/2009. Phiên bản điện tử có tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore (Singaporean Institute for Southeast Asian Studies): http://www.iseas.edu.sg/aseanstudies...in-19-9-09.pdf (truy cập 10/8/2011) tr.25.

    [3] Chinese Ministry of Foreign Affairs: ‘Foreign Minister Yang Jiechi Refutes Fallacies On the South China Sea Issue’. Phiên bản điện tử có tại: http://www.mfa.gov.cn/eng/zxxx/t719460.htm (truy cập ngày 16/8/2011).

    [4] 1992 ASEAN Declaration on the South China Sea [Tuyên bố ASEAN về Biển Đông năm 1992]

    [5] 1993 Joint Communiqué of 26th ASEAN Ministerial Meeting [Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26, năm 1993]

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  2. #12
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    TS. Nguyễn Thị Lan Anh, UNCLOS 1982 của LHQ và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

    Biển Đông là nơi hội tụ của nhiều mối quan tâm về an ninh trên biển. Dưới góc độ an ninh truyền thống, những xung đột về yêu sách lãnh thổ và vùng biển ngày càng gay gắt khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tại khu vực biển Đông. Tất cả những triển vọng này đặt an ninh của khu vực biển Đông ở mức báo động cao. Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc là một khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằm giúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng và bền vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, giúp các bên xác định và thu hẹp đối tượng của tranh chấp chủ quyền, thiết lập cơ chế hợp tác về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đặc biệt là nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển nửa kín. Nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của Công ước vào bối cảnh đặc thù của biển Đông, các quốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luật ứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực.



    Tóm tắt

    Biển Đông là nơi hội tụ của nhiều mối quan tâm về an ninh trên biển. Dưới góc độ an ninh truyền thống, những xung đột về yêu sách lãnh thổ và vùng biển ngày càng gay gắt khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tại khu vực biển Đông. Dưới góc độ an ninh phi truyền thống, sự suy giảm đa dạng sinh học của môi trường sinh vật biển nửa kín, sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển, sự đe dọa đến quyền tự do và an toàn hàng hải và hàng không và sự mất an toàn về sinh kế của người dân ven biển là những nguy cơ đang hiện hữu. Tất cả những triển vọng này đặt an ninh của khu vực biển Đông ở mức báo động cao. Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc là một khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằm giúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng và bền vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau. Với mục tiêu này, các quy định của Công ước 1982 đã cung cấp cơ sở để các quốc gia trong khu vực biển Đông kiềm chế và quản lý các nguy cơ đối với an ninh trên biển. Mặc dù không tạo cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền, Công ước có thể giúp các bên xác định và thu hẹp đối tượng của tranh chấp chủ quyền. Công ước là cơ sở để các bên đưa ra các yêu sách vùng biển hợp pháp, từ đó xác định được các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác. Công ước cũng thiết lập cơ chế hợp tác về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đặc biệt là nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển nửa kín. Cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước có thể được vận dụng để thu hẹp và tiến tới giải quyết tranh chấp, trong đó các quốc gia có nghĩa vụ đạt được giải pháp tạm thời trong khi tranh chấp chưa được giải quyết triệt để. Nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của Công ước vào bối cảnh đặc thù của biển Đông, các quốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luật ứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực.
    An ninh hàng hải là khái niệm khá mới và có nhiều cách tiếp cận về nội hàm trong tổng thể an ninh chung của quan hệ quốc tế. An ninh hàng hải được giới thiệu nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển vì mục tiêu phát triển của con người. Ở những khu vực nóng như Biển Đông, nơi các tranh chấp về chủ quyền và vùng biển còn đan xen và leo thang thì việc duy trì an ninh hàng hải càng là một vấn đề quan trọng, bao trùm cả khía cạnh an ninh truyền thống và phi truyền thống. Ở khía cạnh an ninh truyền thống, hiện trạng căng thẳng và tình hình trang bị vũ khí, hiện đại hóa quân đội và đặc biệt là hải quân cho thấy các bên đã chuẩn bị cho việc sử dụng vũ lực và xung đột vũ trang ở tầm khu vực có thể xảy ra. Ở khía cạnh phi truyền thống, an toàn hàng hải, hàng không, bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học hay đảm bảo sinh kế cho con người là những lĩnh vực có thể đang đe dọa nghiêm trọng. Không những thế, các nước trong khu vực đều có nền kinh phụ thuộc vào biển. Việc đảm bảo an ninh hàng hải sẽ có yếu tố quyết định đến sự phát triển và thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Bài toán về an ninh hàng hải chỉ có thể được giải đáp nếu các mối đe dọa đến an ninh hải được kiềm chế và quản lý. Trong nỗ lực tìm kiếm các công cụ quản lý các mối đe dọa về an ninh hàng hải, bài viết sẽ tập trung nghiên cứu về vai trò của Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc 1982 (UNCLOS). UNCLOS được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu do bối cảnh các quốc gia ven biển Đông đều đã là thành viên nghiên của Công ước này, đồng thời, công cụ pháp lý sẽ là lựa chọn phù hợp nhất cho các quốc gia vừa và nhỏ tại Đông Nam Á. Với mục tiêu này, bài viết trước hết sẽ tìm hiểu các mối đe dọa đến an ninh hàng hải của khu vực biển Đông, từ đó, phân tích mối liên hệ giữa UNCLOS đối với những mối đe dọa này và tìm lời giải đáp về vai trò của Công ước đối với việc kiềm chế và quản lý các mối đe dọa đối với an ninh hàng hải.

    Mối đe dọa đến an ninh hàng hải tại khu vực biển Đông

    Thuật ngữ hàng hải có thể được dùng như một tính từ chỉ không gian biển, cũng có thể được hiểu như một khía cạnh của quan hệ quốc tế tương tự như chính trị, kinh tế, môi trường… Với cách hiểu thứ hai, an ninh hàng hải là một thuật ngữ tương đối hẹp, thường nhấn mạnh đến khía cạnh an ninh của việc sử dụng biển vào mục đích giao thông và thương mại. Theo đó, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển hay tai nạn, sự cố giữa các tàu thuyền là các mối đe dọa đối với an ninh hàng hải.[1] Với cách hiểu thứ nhất, không gian biển là một không gian tương tự như đất liền, vì vậy an ninh biển là một khái niệm rộng bao trùm một số lĩnh vực từ an ninh truyền thống đến phi truyền thống. Do đặc trưng của không gian biển, an ninh hàng hải theo nghĩa này nhấn mạnh đến trật tự trên biển. Theo đó, biển là một nguồn tài nguyên, nhưng cũng là môi trường cho giao thông, thông tin liên lạc và thương mại.[2] Trật tự trên biển cần được duy trì nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người và trật tự này có thể bị đe dọa từ các nguyên nhân như chiến tranh, cướp biển, khủng bố, phổ biến vũ khí, buôn lậu ma túy, và các hành vi bất hợp pháp khác. Việc kiểm soát các mối đe dọa với an toàn hàng hải sẽ giúp đảm bảo an ninh trên đất liền, đảm bảo sự ổn định toàn cầu và việc duy trì tự do hàng hải sẽ mang lại lợi ích chung cho tất cả các quốc gia.[3]
    Biển Đông là biển nửa kín nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên phong phú và điểm kết nối của nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng.[4] An ninh ở biển Đông có tầm quan trọng không chỉ với các quốc gia ven biển mà còn có ý nghĩa với các quốc gia khác.[5] Hiện nay, cho dù theo cách hiểu rộng hay hẹp, an ninh hàng hải tại biển Đông đang bị đe dọa.
    Thứ nhất là khả năng sử dụng vũ lực và xảy ra xung đột vũ trang tại khu vực biển Đông. Trong hai năm trở đây, các quốc gia trong khu vực biển Đông đã không ngừng nâng cao và hiện đại hóa hải quân và lực lượng quân sự của mình. Trung Quốc dẫn đầu với ngân sách quân sự khổng lồ và tăng đều đặn hàng năm. Đến năm 2010, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã lên đến 78 tỉ đô la Mỹ.[6] Đặc biệt, Trung Quốc đã tập trung phát triển lực lượng hải quân, xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân tại Sanya (đảo Hải Nam), trang bị tàu sân bay cùng các vũ khí hiện đại khác. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực. Việt Nam có kế hoạch trang bị thêm 6 chiếc tàu ngầm hạng kilo từ Nga. Singapore, Indonesia và Malaysia cũng trang bị thêm 2 chiếc tàu ngầm cho mỗi nước. Philippines gần đây cũng tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ và nhập khẩu thêm các trang thiết bị quân sự mới.[7] Tất cả những diễn biến này cho thấy các quốc gia dường như đang chuẩn bị sẵn sàng cho diễn biến xấu nhất của việc sử dụng vũ lực và xung đột vũ trang tại biển Đông. Giả thiết này càng được khẳng định khi Trung Quốc thực hiện các hành động quấy rối hoạt động nghiên cứu khoa học, thăm dò tài nguyên của các quốc gia ven biển[8] và phát đi những thông điệp về khả năng các quốc gia ven biển Đông sẽ phải “chuẩn bị nghe tiếng súng thần công nếu còn tiếp tục theo đuổi chiến lược chống lại Trung Quốc”[9].
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

    TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông;
    Phó Trưởng khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao

    Bản gốc tiếng Anh: “UNCLOS and maritime security of the South China Sea”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: "Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực" do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.


    [1] Michael McNicolars, Maritime Security: An introduction, Butterworth- Heinemann, 2007

    [2] Geoffrey Till, Seapower: A Guide for the Twenty-first Century, Taylor &Francis, 2009 p.311

    [3] US National Strategy for Maritime Security: A Cooperative Strategy for the 21st century seapower, p.8

    [4] Biển Đông là biển nửa kín và là một trong những biển nhiệt đới có sự đa dạng sinh học cao nhất. Trữ lượng và các loài cá của biển Đông vô cùng phong phú, cùng với đó là tiềm năng về dầu lửa, khí đốt và băng cháy. Ngoài ra, hơn 41000 tàu thuyền, chiếm tới một nửa lượng tàu thuyền vận tải hàng hoá hàng năm qua lại tại các tuyến đường hàng hải trên biển Đông.

    [5] Ví dụ như Nhật Bản hay Hàn Quốc không phải là quốc gia ven biển Đông nhưng hàng năm 80% lượng dầu thô nhập khẩu của hai quốc gia này được vận chuyển qua biển Đông.

    [6] Số liệu thống kê chính thức về ngân sách quốc phòng do Chính phủ Trung Quốc công bô vào ngày 4 tháng 3 năm 2010. Tuy nhiên, theo một số nguồn tin phương tây, con số này cho thấy ngân sách này không tính đến kinh phí dành cho nhập khẩu vũ khí. Riêng năm 2009, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thống kê rằng tổng cộng ngân sách quốc phòng kể cả kinh phí nhập khẩu của Trung Quốc lên đến 150 tỉ đô la Mỹ. Trung Quốc không công bố số liệu này. Thống kê từ Nga cũng cho thấy Trung Quốc đã sử dụng 17 tỷ đô la Mỹ để nhập khẩu vũ khí từ Nga từ năm 2001 đến 2010.

    [7] Vinod Saighal, “Is Time Running Out: The Urgency for Full, Final and Equitable Resolution of the South China Sea Imbroglio”, Bài trình bày tại Hội thảo biển Đông: Hướng tới một khu vực Hoà bình, An ninh và Hợp tác, Hồ Chí Minh, 2010

    [8] Như sự kiện đe doạ tàu thăm dò của Philippines tại Reed Bank vào tháng 3 năm 2011 và cắt cáp khảo sát biển của tàu Bình Minh 02 và Viking của Việt Nam vào tháng 5 và 6 năm 2011.

    [9] Thời báo Hoàn cầu, ngày 25 tháng 11 năm 2011. Mặc dù người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã khẳng định đây không phải là chính sách chính thống của chính quyền Bắc Kinh, việc một tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra quan điểm này ít nhất cho thấy đây là quan điểm thắng thế trong bộ phận lớn lãnh đạo Trung Quốc hoặc ít nhất đây là chiến lược răn đe của Trung Quốc trước các quốc gia trong khu vực. Trước đó, vào tháng 6, thời báo này cũng đã đưa ra một bài xã luận nêu rõ khả năng Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự nhằm vào Việt Nam nếu Việt Nam tiếp tục khiêu khích Trung Quốc ở biển Đông. Global Times,

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  3. #13
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Tiến sỹ S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

    Những yêu sách đối kháng, tầm quan trọng cả về chiến lược và kinh tế, đặc biệt là những động thái và quan điểm của Trung Quốc gần đây trong tranh chấp biên giới cả trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng đã khiến cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng, thậm chí theo các chuyên gia ẩn chứa rủi ro xung đột vũ trang. Tuy nhiên, theo tác giả một số các tiến triển có tính tích cực cũng đã diễn ra, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số giải pháp thực tiễn giải quyết vấn đề

    Tiến sỹ S.D. Pradhan (phải)


    Sự leo thang căng thẳng gần đây tại Biển Đông đã làm nổi bật nhu cầu cần phải đánh giá khách quan các nguyên nhân của cuộc tranh chấp và các diễn biến gần đây, kể cả tích cực lẫn tiêu cực, với mục tiêu nhằm đề ra các biện pháp để làm dịu đi tình hình, mà theo nhiều chuyên gia an ninh có nhiều tiềm năng sẽ leo thang thành một cuộc xung đột vũ trang và để nhằm giúp các bên liên quan có thể tìm ra một biện pháp lâu dài.

    Các nguyên nhân

    Cuộc tranh chấp bắt nguồn từ thực tế rằng một vài nước trong khu vực có các yêu sách chủ quyền chồng lấn nhau đối với các hòn đảo ở Biển Đông. Vấn đề an ninh năng lượng ở khu vực và những quan ngại của các quốc gia đã làm tình hình thêm căng thẳng. Trong khi Trung Quốc yêu sách nguyên cả một vùng biển, các bên khác như Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei yêu sách từng phần của khu vực. Trong khi đó, Indonesia mặc dù không phải là một bên yêu sách đối với quần đảo Trường Sa, đường lưỡi bò của Trung Quốc cắt ngang qua vùng nước mà Indonesia yêu sách ở phía bắc vùng Natuna đồng thời đường phân định giữa Việt Nam và Indonesia cũng chưa được thống nhất.
    Biển Đông có tầm quan trọng về chiến lược. Đây là một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất trên thế giới. Các nước ven biển cung cấp thị trường tiềm năng cho sản phẩm của các nước phát triển. Bởi vì vậy, các nước bên ngoài khu vực luôn mong muốn bảo đảm nguyên tắc tự do hàng hải đối với việc các hoạt động thương mại. Thêm vào đó, khu vực này cũng có trữ lượng dầu khí khá lớn. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) dự đoán rằng khu vực này có thể chứa trữ lượng lớn gần gấp hai lần trữ lượng dầu hiện Trung Quốc đã phát hiện và trữ lượng khí khá lớn. Vì thế, các nước ven biển đều muốn có phần trong khu vực này. Mặc dù các bên liên quan cho tới nay đã có nhiều nỗ lực nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp và đã thống nhất tuân thủ bản Tuyên bố Ứng xử của Các bên ở Biển Đông (DOC 2002), dựa trên các hành vi chuẩn mực của luật quốc tế cũng như các nỗ lực thúc đẩy việc hình thành Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC), căng thẳng gần đây đã có xu hướng gia tăng đáng kể.
    Dưới đây là các sự kiện đã góp phần làm gia tăng căng thẳng đáng chú ý:
    - Tháng 2/2011, vụ đụng chạm giữa 2 tàu Trung Quốc và một tàu thăm dò dầu khí Philippines, thuộc sở hữu của Công ty Forum Energy, đã xảy ra. Thượng nghị sỹ Đảng Dân chủ, đồng thời là Chủ tịch Tiểu ban Đông Á của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, Jim Webb đã lên tiếng rằng, mặc dù phía Trung Quốc phủ nhận, các tàu của Trung Quốc đúng là đã cố ý đâm vào tàu Philippines.
    - Tháng 5/2011, các máy bay của Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động trên bầu trời phía trên các đảo, các đảo san hô và các đảo đá mà ngoài Trung Quốc ra thì phía Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei cũng đang yêu sách. Những nỗ lực này từ phía Trung Quốc trong việc khẳng định yêu sách của mình đã bị các bên liên quan trong cuộc tranh chấp xem như một hành vi khiến cho căng thẳng gia tăng.
    - Vào các ngày 26/5 và 9/6/2011, các tàu tuần tiễu của Trung Quốc đã có hành động cắt dây cáp của các tàu thăm dò Việt Nam đang tiến hành các cuộc khảo sát địa chấn tại khu vực cách bờ biển miền Trung Việt Nam khoảng 120 hải lý. Các hành vi này rõ ràng là đã vi phạm vào Tuyên bố Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (năm 2002) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.
    - Vào tuần thứ 3 của tháng 7/2011, tàu INS Airavat của Hải quân Ấn Độ đang trên hành trình thăm hữu nghị Cảng Nha Trang của Việt Nam đã bị một tàu Trung Quốc yêu cầu rời khỏi “Các Vùng nước của Trung Quốc” khi tàu này đang di chuyển lên phía trên về hướng Hải Phòng. Hành động này được xem như một nỗ lực của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền của họ tại khu vực biển thuộc Việt Nam.
    - Tháng 9/2011, Trung Quốc phản đối việc thăm dò dầu khí của công ty ONGC Videsh Ltd (OVL) (Ấn Độ) tại hai lô của Việt Nam. Trung Quốc đã lên tiếng phản đối với phía Ấn Độ, tuyên bố rằng cách hoạt động của OVL là phi pháp, trừ phi họ nhận được sự cho phép của phía Trung Quốc để vào khai thác tại hai lô 127 và 128. Ấn Độ phản bác rằng sự phản đối của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý bởi vì các lô này thuộc về Việt Nam, sự kiện này cũng được xem như việc Trung Quốc cố gắng thách thức chủ quyền của Việt Nam tại khu vực và gửi đi một thông điệp cho tất các các nước khác rằng Trung Quốc sẽ không cho phép bất cứ bên nào có quyền ra quyết định đối với việc khai thác tại các khu vực này mà không có sự đồng ý của Trung Quốc.
    Trong bối cảnh như trên, các nguyên nhân sâu xa hơn cho việc gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng cần phải được phân tích. Với mục tiêu này, chúng ta cũng cần thiết phải phân tích tình hình tranh chấp tại hai khu vực khác mà Trung Quốc và các láng giềng của họ có liên quan. Một trong hai khu vực này là Biển Hoa Đông, nơi đang diễn ra căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Khu vực còn lại chính là vùng biên giới Trung Quốc-Ấn Độ, hiện cũng đang chứng kiến sự gia tăng căng thẳng. Các sự kiện gây ra căng thẳng gần đây ở hai khu vực này sẽ được mô tả trong các phần tiếp theo.

    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

    Tiến sỹ S.D. Pradhan, Cựu Phó Cố vấn An ninh Quốc gia, Ấn Độ

    Bản gốc tiếng Anh: GROWING TENSION IN SOUTH CHINA SEA-CAUSES AND CURES


    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  4. #14
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông:

    Tác động tới an ninh khu vực

    Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử b) áp dụng cách tiếp cận song phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ta một sự chia rẽ giữa ASEAN và Mỹ; và d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo cách của mình. Với cách tiếp cận chính trị thực tiễn mà Trung Quốc sử dụng trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.

    TS. Renato Cruz De Castro (trái) và GS. Robert Beckman


    Bài viết này nghiên cứu hệ luỵ của cách tiếp cận chính trị thực tiễn (realpolitik) của Trung Quốc trong yêu sách lãnh thổ của nước này ở Biển Đông đối với an ninh khu vực. Bài viết cho thấy Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử b) áp dụng cách tiếp cận song phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ta một sự chia rẽ giữa ASEAN và Mỹ; và d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo cách của mình. Kết luận, bài viết tranh luận rằng việc Trung Quốc sử dụng cách tiếp cận chính trị thực tiễn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.
    Nằm ở trung tâm của Đông Nam Á, Biển Đông là một biển nửa kín bao quanh là Trung Quốc và một vài nước nhỏ và yếu hơn như Philippines, Vietnam, Malaysia, và Brunei. Từ giữa những năm 1970, các quốc gia ven biển này đã rơi vào cuộc tranh chấp kéo dài khi mỗi một quốc gia đều muốn mở rộng các yêu sách chủ quyền và quyền tài phán đối với hơn một trăm các đảo nhỏ, bãi đá ngầm và đá cũng như các vùng biển xung quanh. Quốc gia yêu sách lớn nhất là Trung Quốc đã thể hiện thiên hướng sử dụng ngoại giao cưỡng ép và ngay cả vũ lực thực sự để theo đuổi yêu sách lãnh thổ của mình. Năm 1974, quân đội Trung Quốc đã đánh đuổi Nam Việt Nam ra khỏi quần đảo Hoàng Sa, nằm ở phía Bắc quần đảo Trường Sa. Sau đó năm 1988, quân đội Trung Quốc đánh đuổi quân Việt Nam ra khỏi Đá Gạc Ma, sau khi đánh chìm ba tàu cá Việt Nam gần Bãi Chữ Thập. Việc Trung Quốc ban hành luật lãnh hải yêu sách phần lớn Biển Đông vào năm 1992 và việc Manila phát hiện các công trình quân sự của Trung Quốc trên đảo Vành Khăn năm 1995 đã dấy lên cuộc chiến ngoại giao nghiêm trọng giữa Philippines và Trung Quốc vào giữa thập kỷ 90.
    Tuy nhiên, tranh chấp ở Biển Đông tạm lắng xuống vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 sau khi Trung Quốc và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ký Tuyên bố về Ứng xử của các Bên trên Biển Đông năm 2002 (DOC). Sau đó Trung Quốc tiến hành chiến dịch quyến rũ của mình ở Đông Nam Á bằng cách khéo léo sử dụng sức mạnh kinh tế để ràng buộc hơn nữa các quốc gia thành viên ASEAN. Điều thú vị là một bài viết của Mỹ đã nhận xét một cách thận trọng rằng “lịch sử của ngoại giao Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là một hình thức tuyên bố hợp tác, tiếp sau đó là các hành vi đơn phương thay đổi nguyên trạng tranh chấp và tiếp sau nữa sẽ là các tuyên bố hợp tác mới.” Nhận xét này đã chứng tỏ là đúng khi tranh chấp lại bùng phát năm 2009 khi Trung Quốc có lập trường kiên quyết hơn và bắt đầu thực hiện các yêu sách tài phán ở Biển Đông bằng việc mở rộng tầm hoạt động của quân đội và theo đuổi ngoại giao cưỡng ép đối với các quốc gia yêu sách khác.
    Từ năm 2008, Trung Quốc đã tăng cường tuần tra hải quân (sử dụng tàu ngầm, tàu khảo sát và tàu chiến trên mặt nước) trong vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và lãnh hải của Nhật Bản, đe doạ các công ty dầu khí nước ngoài cố gắng hoạt động ở Biển Đông. Vào ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc đã đe doạ và yêu cầu một tàu khảo sát của Philippine rời khỏi bãi Cỏ Rong (còn được gọi là bãi Recto), nằm cách đảo Palawan ở Tây Philippines 80 km. Bộ Ngoại giao Philippine đã gửi công hàm ngoại giao phản đối cho Đại sứ quán Trung Quốc ở Manila vào ngày 5/3, và cho biết tính đến thời điểm đó Trung Quốc đã tiến hành 5 đến 7 lần gây hấn ở Biển Đông. Việt Nam cũng phản đối các hoạt động của Trung Quốc trong vùng EEZ của mình và buộc tội các tàu tuần tra của Trung Quốc đe doạ một tàu thăm dò dầu khí đang tiến hành khảo sát địa chấn cách bờ biển Việt Nam 120km (80 hải lý). Vào ngày 28/5 và ngày 9/6/2011, các tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt cáp các tàu thăm dò của Việt Nam. Cho rằng hai sự cố xảy ra trong vùng EEZ của mình, Việt Nam đã gửi công hàm ngoại giao phản đối Trung Quốc. Trước các phản đối ngoại giao của hai quốc gia ASEAN này, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc đã ngạo mạn tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển xung quanh.” Các hành động đơn phương này của Trung Quốc được xem như là phép thử đối với quyết tâm của các quốc gia yêu sách khác trong tranh chấp Biển Đông. Hậu quả là các hành động này đã gây thêm căng thẳng ở khu vực và đặt Trung Quốc vào mối quan hệ xung đột với hai quốc gia thành viên ASEAN này.
    Bài viết này nghiên cứu hệ lụy do cách tiếp cận “chính trị thực tiễn” của Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông mang lại cho an ninh và ổn định của khu vực. Cụ thể bài viết đặt ra câu hỏi – hệ luỵ của cách tiếp cận “chính trị thực tiễn” của Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với một tổ hợp khu vực Đông Á đang phát triển là gì? Bài viết cũng trả lời các câu hỏi hệ quả sau: Cơ sở pháp lý của yêu sách chủ quyền ở Biển Đông của Trung Quốc là gì? Chiến thuật chính trị thực tiễn mà Trung Quốc đang áp dụng trong việc theo đuối các yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông ra sao? Các quốc gia yêu sách khác phản ứng thế nào đối với cách tiếp cận chính trị thực tiễn của Trung Quốc? Và đâu sẽ là hệ luỵ lâu dài của cách tiếp cận chính trị thực tiễn của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp Biển Đông?

    Tranh chấp lãnh thổ, Chính trị thực tiễn và Xung đột

    Các tranh chấp lãnh thổ đã trở thành hiện tượng thường xuyên trong quan hệ quốc tế, và mang lại một hệ quả tất yếu là xung đột giữa các quốc gia. Tranh chấp lãnh thổ thường diễn ra trong hai trường hợp: a) hai quốc gia bất đồng trong việc phân định lãnh thổ hoặc đường biên giới; và b) một quốc gia phản đối quyền của các quốc gia khác trong việc thực hiện các quyền chủ quyền đối với một số hay tất cả lãnh thổ của mình hoặc lãnh thổ thuộc địa hay trên biển. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, hai hoặc nhiều hơn các quốc gia mong muốn kiểm soát và có chủ quyền đối với cùng một lãnh thổ. Tuy nhiên, các tranh chấp lãnh thổ không tự động dẫn đến chiến tranh. Thay vào đó, các tranh chấp này tạo điều kiện cần, chứ không phải đủ, để dẫn đến xung đột vũ trang giữa các quốc gia. Các tranh chấp này tạo ra điều kiện cần vì hai lý do: a) Thay vì trở thành ngòi nổ thực sự của xung đột vũ trang, các tranh chấp lãnh thổ tạo ra một loạt các sự kiện có thể hoặc không thể dẫn đến chiến tranh. Các tranh chấp này sẽ dẫn đến chiến tranh nếu các quốc gia yêu sách áp dụng chiến thuật chính trị thực tiễn làm gia tăng nguy cơ bùng phát các xung đột vũ trang. Chính trị cường quyền hay chính trị thực tiễn không phải là cách duy nhất giải quyết tranh chấp lãnh thổ, và nếu tránh cách tiếp cận này, chiến tranh không phải là không thể tránh được. Và b) nếu các yêu sách đối với vùng lãnh thổ tranh chấp được giải quyết một cách hoà bình vào một thời điểm nào đó trong lịch sử của các quốc gia yêu sách, sẽ không có khả năng nổ ra xung đột vũ trang giữa hai quốc gia tiếp giáp nhau bất chấp các vấn đề khác có thể phát sinh trong tương lai. Điều này có nghĩa là các tranh chấp lãnh thổ có tầm quan trọng nhân quả, tức là sự tồn tại của các tranh chấp này biến xung đột vũ trang thành một khả năng chứ không phải là một tình huống có thể xảy ra. Như một nghiên cứu lưu ý rằng: “(các tranh chấp) lãnh thổ và đường biên giới không gây ra chiến tranh, mà ít nhất tạo ra một cấu trúc rủi ro và cơ hội mà trong đó các hành vi xung đột rõ ràng có khả năng xảy ra.”
    Một điều kiện đủ có thể gây ra các xung đột quân sự là nếu các quốc gia tranh chấp áp dụng chiến thuật chính trị thực tiễn hay chính trị cường quyền trong giải quyết tranh chấp của mình. Chính sách chính trị thực tiễn hay chính trị cường quyền được định nghĩa là các hành vi chính sách đối ngoại dựa trên bối cảnh một thế giới không an toàn và vô chính phủ, dẫn đến sự mất tin cậy, đấu tranh giành quyền lực, đặt lợi ích quốc gia lên trên các quy chuẩn, quy tắc và lợi ích tập thể, sử dụng chiến thuật xảo quyệt, cưỡng ép, nỗ lực cân bằng quyền lực, dựa vào phương thức tự cứu lấy mình, và sử dụng vũ lực và chiến tranh như là lựa chọn cuối cùng (ultimo ratio) trong quan hệ quốc tế. Theo đó, việc bất kỳ quốc gia yêu sách nào áp dụng chính trị thực tiễn có thể dẫn đến việc các tranh chấp lãnh thổ trở thành các xung đột vũ trang bởi vì chính sách này tạo ra điều kiện mà các quốc gia tranh chấp có thể mong đợi để tham gia vào một tranh chấp, xét cấu trúc của hiện thực thì cách hành xử đó không nhất thiết phải là tự nhiên hay cố hữu. Chính trị cường quyền trở thành kim chỉ nam định hướng cho các nhà hoạch định chính sách (và cộng đồng của họ) đến cách hành xử hợp lý xét đến hiện trạng – một tranh chấp lãnh thổ - và xét thực tế của quan hệ quốc tế. Cách tiếp cận chính trị thực tiễn đối với tranh chấp lãnh thổ bao gồm việc dựa vào thử nghiệm quyền lực – thông qua hình thức xâm chiếm, cưỡng ép phục tùng hay cản trở các bên yêu sách khác. Đây cũng được xem là một hình thức chính sách của chủ nghĩa phân lập dựa trên các hành vi đơn phương gây ra sự đối đầu giữa các quốc gia tranh chấp và hậu quả là xung đột vũ trang.

    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    Tiến sỹ Renato Cruz De Castro, Giáo sư về Quan hệ Quốc tế, Đại học De La Salle, Manila, Philippines

    Bản gốc tiếng Anh: “The Risk of Applying Realpolitik in Resolving the South China Sea Dispute: Possible Implications on Regional Security”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  5. #15
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

    Là biển nửa kín, theo , Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc quy định rằng các quốc gia ven bờ “nên hợp tác với nhau để thực thi các quyền và nghĩa vụ của họ theo Công ước”. Cụ thể hơn, Công ước hướng dẫn các nước phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn lợi sinh vật của biển” và phối hợp các hoạt động của họ liên quan đến việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Mặc dù vậy, theo GS. Jon M. Van Dyke[1] các nước ven bờ Biển Đông đã không xây dựng được một tổ chức khu vực hiệu quả nào và hợp tác trực tiếp về cơ bản cũng không thành công.

    GS. Jon M. Van Dyke (phải)

    Nghĩa vụ phải hợp tác ở các vùng biển nửa kín
    Biển Đông là một vùng biển nửa kín được điều chỉnh bởi Phần 9, Công ước Luật Biển của LHQ[2], trong đó Điều 123 quy định rằng các quốc gia ven bờ “nên hợp tác với nhau để thực thi các quyền và nghĩa vụ của họ theo Công ước”. Cụ thể hơn, Công ước hướng dẫn các nước phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn lợi sinh vật của biển” và phối hợp các hoạt động của họ liên quan đến việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển” “một cách trực tiếp hoặc thông qua một tổ chức khu vực phù hợp”. Các nước ven bờ Biển đông đã không xây dựng được một tổ chức khu vực hiệu quả và hợp tác trực tiếp về cơ bản cũng không thành công. Cơ quan phối hợp Biển Đông Á (COBSEA) hầu như đã bị vô hiệu hóa và Chương trình Đối tác về Quản lý môi trường cho các vùng biển ở Đông Á (PEMSEA) chỉ đạt được những thành công hết sức khiêm tốn. Không có một tổ chức hiệu quả nào để quản lý các vùng đánh cá chung đã được thành lập.
    Các chương trình Biển khu vực của UNEP
    Các Chương trình Biển khu vực của UNEP được khởi xướng năm 1974 và hiện tại có đến 13 chương trình khu vực[3], trong đó 6 được điều hành trực tiếp bởi UNEP[4]. UNEP cũng có mối liên hệ đối tác với năm cơ quan môi trường khu vực.[5] Các chương trình này hình thành từ nhận thức rằng các vùng biển có nhiều khác biệt và các hệ sinh thái chung đòi hỏi sự bảo tồn của các cá nhân từ nhiều cách thức khác nhau, nhưng cũng thừa nhận rằng rất nhiều nguồn gốc gây ô nhiễm có tính toàn cầu và đòi hỏi phải có các chuẩn mực và cách tiếp cận thống nhất trên toàn thế giới.[6] Mặc dù một vài trong số các chương trình này thành công, nhưng cũng có nhiều chương trình khác thất bại bởi thiếu quan tâm, tranh chấp chính trị, không có quy định rõ ràng về nhiệm vụ, và hạn chế về nguồn lực tài chính. Mục tiêu của các chương trình này thường bị nghi vấn, bởi vì chúng được thành lập chỉ với một trọng tâm duy nhất trên một lĩnh vực, đó là ô nhiễm, trong khi ngày nay, cái mọi người quan tâm là các chiến lược quản lý tích hợp, đa lĩnh vực về hải dương và các vùng ven biển.[7]
    Các chương trình biển khu vực thường bị coi là các tổ chức “nâu” bởi vì trọng tâm của họ chỉ tập trung vào ô nhiễm, đối nghịch với xu hướng tiếp cận “xanh” hiện đại, trong đó xem xét tất cả các khía cạnh của các vùng biển thông qua một hệ thống sinh thái thống nhất. Liệu chúng ta có nên thừa nhận cách tiếp cận mới này là cần thiết cho tất cả các chương trình biển, và cần phải phát triển các tổ chức với cách tiếp cận toàn diện và thống nhất, để xử lý các vấn đề nguồn lực và ô nhiễm, để quản lý một cách phù hợp các vùng biển và ven biển?
    COBESEA
    Cơ quan phối hợp về các vùng Biển ở Đông Á (COBSEA) đã được thành lập theo Chương trình hành động được thông qua năm 1981 và sửa đổi năm 1994.[8] Trang web của tổ chức này có quan điểm lạc quan rằng: “dù không có công ước khu vực nào được ký kết, nhưng chương trình đã thúc đẩy sự tuân thủ với các hiệp ước môi trường và hoạt động dựa trên thiện chí của các quốc gia thành viên”.[9] Các quốc gia tham gia tổ chức này là Úc, Căm-pu-chia, Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Ma-lay-xia, Phi-lip-pin, Sing-ga-po, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam.[10]
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    GS. Jon M. Van Dyke, Trường Luật William S. Richardson, Đại học Hawaii, Mỹ
    Bản gốc tiếng Anh: “Regional Cooperation in the South China Sea”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: "Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực" do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

    theo NCBĐ


    [1] Jon M. Van Dyke là Giáo sư Luật với danh hiệu Carlsmith Ball Faculty Scholar tại Trường Luật William S. Richardson, Đại học Hawaii ở Manoa -- jvandyke (a) hawaii.edu. GS Jon M. Van Dyke cám ơn và ghi nhận sự trợ giúp của Lora L. Nordtvedt Reeve, Khóa 2012, Trường Luật William S. Richardson, Đại học Hawaii ở Manoa.

    [2] United Nations Convention on the Law of the Sea, Dec. 10, 1982, Montego Bay, Jamaica, 1833 U.N.T.S. 397, 2 I.L.M. 1261 (1982), entered into force on Nov. 16, 1994.

    [3] Black Sea, Wider Caribbean, East Asian Seas-COBSEA, Eastern Africa, South Asian Seas, Persian/Arab Gulf-ROPME Sea Area, Mediterranean, Northeast Pacific, Northwest Pacific-NOWPAP, Red Sea and Gulf of Aden, Southeast Pacific, Pacific-SPREP, and Western Africa.

    [4] Wider Caribbean, East Asian Seas, Eastern Africa, Mediterranean, Northwest Pacific-NOWPAP, and Western Africa.

    [5] Antarctic, Arctic, Baltic Sea, Caspian Sea, and Northeast Atlantic-OSPAR.

    [6] Xem ví dụ trong, J.G.B Derraik, The Pollution of the Marine Environment by Plastic Debris: A Review, 44:9 Marine Pollution Bulletin 842 (Sept. 2002); M.S. Islam and M. Tanaka, Impacts of Pollution on Coastal and Marine Ecosystems including Coastal and Marine Fisheries and Approach for Management: A Review and Synthesis, 48:7-8 Marine Pollution Bulletin 624 (April 2004); and D.A. Holdway, The Acute and Chronic Effects of Wastes Associated with Offshore Oil and Gas Production on Temperate and Tropical Marine Ecological Processes, 44:3 Marine Pollution Bulletin 185 (March 2002).

    [7] Xem, e.g., Biliana Cicin-Sain & Robert Knecht, Integrated Coastal and Ocean Management: Concepts and Practices (Island Press, 1998).

    [8] UNEP, New Strategic Direction for COBSEA (2008-2012), UNEP EAS/RCU, Coordinating Body for the Seas of E. Asia Secretariat [COBSEA] (23 Jan. 2008), available at http://www.cobsea.org/documents/Meet...02008-2012.pdf.

    [9] UNEP, http://www.unep.org/regionalseas/pro...an/default.asp.

    [10] Đảo Đài loan được đưa vào bản đổ trong bìa của văn bản quản trị gần đây nhất để chỉ các quốc gia thành viên, nhưng Cộng hòa Trung Hoa (tức Đài Loan) không được coi là một thành viên và Đài Loan không được tham gia trực tiếp các chương trình môi trường khu vực.

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  6. #16
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi:

    Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

    Bài nghiên cứu hướng đến tìm hiểu những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Trong bài viết tác giả liệt kê những vấn đề liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề trên biển và đại dương đã được thảo luận, những đề xuất để mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương. Cơ sở dữ liệu của công trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ thống thư viện công cộng ở Hoa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và các tờ báo lớn.

    TS. Yearn Hong Choi (phải)

    Giới thiệu
    Tất cả các quốc gia ven biển đều cố gắng mở rộng lãnh thổ biển của mình bằng cách kéo dài hoặc mở rộng vùng đặc quyền kinh tế đến tối đa có thể. Vùng đặc quyền kinh tế là một khái niệm mới và là một quy chế pháp lý cụ thể trong Công ước Luật biển, được xây dựng dựa trên khái niệm "vùng đánh bắt cá độc quyền" và "vùng bảo tồn đánh bắt cá". Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước chủ yếu nhằm vào tài nguyên sinh vật của các vùng nước phía trên đáy biển. Mặc dù Điều 56 (1) (a) quy định rằng trong vùng đặc quyền kinh tế, "Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển”, nhưng Điều 56 (3) khẳng định rằng các quyền liên quan đến đáy biển và lòng đất nêu trong điều này sẽ được thực hiện theo phần VI của Công ước." Theo đó thì vùng đặc quyền kinh tế phải là một khái niệm mang ý nghĩa bảo vệ môi trường: Tuy nhiên, đây không phải là một khái niệm mới lạ trong thực tế. Nó được coi như hoặc giải thích như là một đặc quyền của các quốc gia ven biển để khẳng định chủ quyền trên biển. Các quyền không kèm theo nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đã được tuyên bố, một cách khá mù quáng. Đây là điều sai trái hoặc rất vô lý. Trong những trường hợp này, tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý là vô lý.
    Việc thăm dò và khai thác vô độ nguồn cá, dầu khí và các kim loại quý hiếm khác đã trở nên khả thi với công nghệ tiên tiến và lòng tham vô tận của con người vì sự thịnh vượng của quốc gia. Nỗ lực bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên chưa được cân bằng hoặc tương xứng với việc khai thác và thăm dò các nguồn tài nguyên ở biển khơi. Ngoài vùng đặc quyền kinh tế, một quốc gia ven biển còn có thể tuyên bố Thềm lục địa là "phần kéo dài tự nhiên” lãnh thổ đất liền của quốc gia đó lên đến 350 hải lý. Ai mà biết được? Độ dài 350 hải lý này chắc chắn sẽ bị tranh cãi trong tương lai không xa.
    Bài nghiên cứu này hướng đến tìm hiểu những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Những vấn đề nào liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề trên biển và đại dương đã được thảo luận? Điều gì đã được đề xuất để mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương? Cơ sở dữ liệu của công trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ thống thư viện công cộng ở Hoa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và các tờ báo lớn.
    Cơ sở dữ liệu ProQuest là gì?
    Dưới đây là thông tin về ProQuest tại Google:
    ProQuest kết nối mọi người với những thông tin đáng tin cậy và đã được thẩm định. Nó được coi là chìa khóa đối với công tác nghiên cứu. Công ty đã với 70 năm danh tiếng được coi như một cánh cửa đối với tri thức của thế giới bao gồm các bài luận văn, các tài liệu lưu trữ về văn hóa và chính phủ, tin tức về tất cả các lĩnh vực. Nó đóng vai trò cần thiết đối với các thư viện và các tổ chức có sứ mệnh phụ thuộc vào việc cung cấp các thông tin đầy đủ và đáng tin cậy,
    Kho thông tin khổng lồ ProQuest, được xây dựng thông qua quan hệ đối tác với những người sáng tạo nội dung, thường xuyên được đổi mới công nghệ cho phép người dùng nhanh chóng tìm thấy thông tin chính xác. Công ty hiện đang tung ra tất cả các cơ sở dữ liệu ProQuest®mới, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu sử dụng, tạo ra, và chia sẻ nội dung qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiên cứu.
    Là một tổ chức năng động và phát triển nhanh chóng, trong năm 2009 ProQuest đã cho ra mắt dịch vụ tìm kiếm dữ liệu trên web Summon™, mang lại lợi ích cho các thư viện đại học trên toàn thế giới. Trong năm 2010 ProQuest mở rộng vào thị trường doanh nghiệp và chính phủ, phát động dịch vụ Dialog ProQuest ™ và giành được Dịch vụ Thông tin Quốc hội và Các ấn phẩm đại học của Châu Mỹ. Đầu năm 2011, công ty này cho ra đời thư viện điện tử, mở rộng nội dung của ProQuest bao gồm các sách điện tử và tuyển dụng thêm các nhân viên thành thạo công nghệ vào khắp tổng công ty, trong đó bao gồm các đơn vị như Serials Solutions®, RefWorks-COS™, và Bowker®.
    Vùng Đặc Quyền Kinh Tế
    Có rất nhiều bài viết bao gồm từ khóa “vùng đặc quyền kinh tế” trong cơ sở dữ liệu ProQuest. Vì vậy, người viết chỉ giới hạn các bài viết trong năm 2011. Vùng đặc quyền kinh tế đã tạo ra tranh chấp biên giới và các quan hệ quốc tế căng thẳng ở Biển Đông nhiều hơn ở bất kỳ vùng biển nào khác. Đối với nhiều nước ven biển, vùng đặc quyền kinh tế chỉ là một phần mở rộng của lãnh hải: EEZ 200 hải lý được coi là lãnh thổ của quốc gia, bởi vì nó là một vùng đặc quyền về kinh tế. Vùng kinh tế bao gồm tất cả những gì có ý nghĩa trong biển từ đường bờ biển của một quốc gia. Kinh tế có nghĩa là hầu như mọi thứ. Hai hay nhiều quốc gia có chung một phần biển tại Biển Đông và Biển Hoa Đông đã không thể giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp liên quan vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn. Vùng đặc quyền kinh tế có thể là một trong những khái niệm tồi tệ nhất trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Các quốc gia khác nhau sẽ có giải thích khác nhau về vùng đặc quyền kinh tế và việc này bắt nguồn từ Sắc lệnh của Tổng thống Mỹ Harry Truman. Có thể tìm hiểu tình hình hiện tại và các vấn đề của vùng đặc quyền kinh tế bằng việc xem xét các bài viết của các hãng truyền thông lớn có chứa từ khóa “vùng đặc quyền kinh tế” trong năm 2011. Nội dung của bài báo về vùng đặc quyền kinh tế có thể chia thành 10 nhóm chủ đề dưới đây:
    1. Biển Đông và sức mạnh hải quân Trung Quốc.
    2. Môi trường đại dương và vấn đề bảo vệ môi trường
    3. Ấn Độ Dương
    4. Hàn Quốc
    5. Nhật Bản
    6. Hoa Kỳ và vùng biển Caribê
    7. Các đảo Thái Bình Dương
    8. Biển Địa Trung Hải
    9. Các đảo nhỏ của châu Phi ở Đại Tây Dương
    10. Bắc Băng Dương
    1. Biển Đông
    Chủ đề có liên quan đến Vùng đặc quyền kinh tế được bàn đến nhiều nhất là về tình hình xung đột và căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước ASEAN và giữa các quốc gia ASEAN là Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Có 43 bài báo về chủ đề này trong cơ sở dữ liệu ProQuest từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến thời điểm hiện tại. Trung Quốc đã khiêu khích Việt Nam khi những chiếc thuyền đánh cá trá hình của Hải quân Trung Quốc quấy rối cuộc khảo sát dầu khí của Petro Việt Nam. Việt Nam đã quyết tâm đi đến chiến tranh chống lại Trung Quốc. Mặc dù lời tuyên bố về chiến tranh đã không trở thành cuộc chiến thực sự, nhưng Biển Đông đã thu hút sự chú ý rất lớn từ thế giới trong năm 2011. Trung Quốc đã cảnh báo Hoa Kỳ không can dự vào Biển Đông. Hai siêu cường này giải thích vùng đặc quyền kinh tế theo hai cách khác nhau: Mỹ cho rằng vùng đặc quyền kinh tế có nghĩa là sự tự do hàng hải, bao gồm sự tự do đi lại của các tàu Hải quân Hoa Kỳ, nhưng Trung Quốc tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển độc quyền của quốc gia ven biển. Tuy nhiên, có một thực tế đã và đang xảy ra là các tàu hải quân Trung Quốc vẫn tự do đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác.Vẫn tồn tại sự khác biệt về không gian của vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia. Các quốc gia có chung biển như Biển Đông và Biển Hoa Đông vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về vấn đề này.
    Các cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được biết đến trong những năm qua và được các phương tiện truyền thông quan tâm theo dõi. Ngoài các cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam, các xung cuộc giữa Trung Quốc và Philippines trong tháng 6 năm 2011 (ngày 2 và 3 tháng 6) cũng được Asian Pulse đưa tin. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines Alberto del Rosario đã cảnh báo rằng "bất cứ trường hợp xây dựng nào của Trung Quốc tại vùng biển gần khu vực không có người ở Iroquois Bank tại Biển Đông đều vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) được Trung Quốc và các nước ASEAN ký kết năm 2002" và cáo buộc rằng tàu hải giám Trung Quốc đang đi lại trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines. Các tàu quân sự của Trung Quốc được đưa tin đã bắn vào các tàu đánh cá của Philippines tại bãi san hô Jackson, cách đảo Palawan 140 hải lý vào ngày 15 tháng hai năm 2011. Trong tháng 3 năm 2011, tàu tuần tra hải quân Trung Quốc bị cáo buộc quấy rối một tàu khảo sát dầu khí của Philippines tại khu vực Reed Bank (bãi Cỏ Rong), một phần của tỉnh Palawan và không thuộc Trường Sa. Trong tháng 5 năm 2011, các máy bay MIG được cho là của Trung Quốc đã tiến hành hoạt động quấy rối máy bay trinh sát của Không quân Philippines trên vùng trời Bãi Cỏ Rong. Tờ Malaya cho rằng công trình mà Trung Quốc xây dựng trên các rạn san hô của Trường Sa là một căn cứ quân sự chứ không phải là nơi trú ẩn cho ngư dân. Sự thiếu tin tưởng giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng là điều đáng chú ý.
    Tăng ngân sách quốc phòng lên hai chữ số và thực hiện chính sách ngoại giao thô bạo, Trung Quốc đã làm náo động các quốc gia láng giềng trong vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông. Sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở Ấn Độ Dương cũng được một số bài báo đề cập đến. Căng thẳng tại Biển Đông không phải là một vấn đề pháp lý phức tạp, nhưng nó lại là một mối đe dọa cận kề và nguy hiểm đối với nền kinh tế toàn cầu và hệ sinh thái khu vực. Các tuyến đường hàng hải đi qua Biển Đông kết nối Châu Âu với Châu Á, đã giúp Biển Đông trở thành một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Gần một nửa thương thuyền của thế giới đi qua Biển Đông và vận chuyển từ Trung Đông một lượng dầu đáng kể cho Đông Bắc Á.
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi
    Tiến sĩ Koh, nguyên Hiệu trưởng Đại học Quốc gia Cheju, là Chủ tịch của Hiệp Hội Nghiên cứu Ieodo (Society of Ieodo Research) và Tiến sĩ Choi là học giả cao cấp của Hiệp Hội Nghiên cứu Ieodo và Nghiên cứu viên của Hiệp hội Nghiên cứu của các chuyên gia tư vấn Năm đại dương (Research Associate of Five Oceans Consultants), Hoa Kỳ.
    Bản gốc tiếng Anh: “Exclusive Economic Zone in Major Media and academic journals in 2010: South China Sea and other seas”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: "Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực" do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

    theo NCBĐ


    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  7. #17
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình:

    Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài


    Nhiều người cho rằng sự quả quyết của Trung Quốc tại Biển Đông là dựa trên những lý do kinh tế và môi trường. Nhưng trên tất cả là đây chỉ là những lý do bề mặt đang che giấu phía sau những ý định và lợi ích sâu xa của Trung Quốc. Những ý định và lợi ích này trên tất cả đều liên quan đến bố trận quốc phòng của Trung Quốc, đối mặt với những gì mà Trung Quốc coi là chính sách ngăn chặn của Mỹ chống lại mình, nếu không nói là mối đe dọa Mỹ. Trong những tính toán như vậy, Biển Đông không khác gì một quân cờ, một quân cờ quan trọng, nhưng chỉ là một quân cờ trong kế hoạch phòng thủ tổng thể màTrung Quốc đang xây dựng nhằm hạn chế cái được cho là mối đe dọa Mỹ

    Kính thưa chủ tịch, các quý ông và quý bà,
    Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban tổ chức hội thảo quốc tế lần thứ ba về “ Biển Đông: Hợp tác vì phát triển và an ninh khu vực” đã mời tôi trình bày về chủ đề: “Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình”
    Bài trình bày này là một quan điểm về tương lai và độc lập hoàn toàn. Tôi xin nhấn mạnh điều đó. Bài trình bày dựa trên việc phân tích những thông tin khác nhau mà tôi thu thập được không chỉ về tình hình ở Biển Đông mà còn ở biển Hoa Đông, và thậm chí cả ở khu vực Thái Bình Dương. Bài tham luận này cũng gần như lặp lại những gì tôi đã giới thiệu trước đó ở Đài Bắc vào ngày 7 tháng 10, trong một hội thảo quốc tế được tổ chức bởi Sở Nghiên cứu Âu - Mỹ của Viện Nghiên cứu Trung ương về "Các vấn đề Luật và Chính sách chủ yếu ở Biển Đông: Quan điểm của châu Âu và Mỹ"
    Do sự hung hãn của Trung Quốc thể hiện gần đây trong việc bảo vệ những gì họ coi là quyền lợi chính đáng ở Biển Đông theo nguyên tắc đường chín đoạn đứt khúc, ví dụ như việc cắt cáp kháo sát địa chấn của tàu Việt Nam vào ngày 26 tháng 5 và ngày 9 tháng 6, hoặc việc gây sức ép với công ty dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh không được cùng với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam khai thác hai lô ngoài khơi Việt Nam nhưng vắt ngang đường chín đoạn đứt khúc, tất cả những sự kiện như thế này đều được báo chí quốc tế đưa tin, mọi người trên Thế giới đều tin rằng sự quả quyết này của Trung Quốc chỉ dựa trên những lý do về kinh tế.
    Do hàng năm Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trong khu vực tranh chấp tại Biển Đông, một quyết định được báo chí quốc tế truyền tin, nên mọi người trên thế giới đều tin rằng sự quả quyết này của Trung Quốc là dựa trên những lý do kinh tế và môi trường.
    Tất cả những lý do hiển nhiên này tất nhiên là không phải không có căn cứ. Những lý do này là những lý do thật sự. Nhưng trên tất cả là đây chỉ là những lý do bề mặt đang che giấu phía sau những ý định và lợi ích sâu xa của Trung Quốc. Những ý định và lợi ích này trên tất cả đều liên quan đến bố trận quốc phòng của Trung Quốc, đối mặt với những gì mà Trung Quốc coi là chính sách ngăn chặn của Mỹ chống lại mình, nếu không nói là mối đe dọa Mỹ. Trong những tính toán như vậy, Biển Đông không khác gì một quân cờ, một quân cờ quan trọng, nhưng chỉ là một quân cờ trong kế hoạch phòng thủ tổng thể màTrung Quốc đang xây dựng nhằm hạn chế cái được cho là mối đe dọa Mỹ. Kế hoạch phòng thủ tổng thể này của Trung Quốc dựa trên ba giai đoạn:
    1- Đảm bảo cho hải quân Trung Quốc tự do hàng hải hoàn toàn trên toàn Biển Đông, đặc biệt là cho các tàu ngầm chiến lược của Trung Quốc(SSBNs)[1], mà không bị bất cứ lực lượng hải quân nước ngoài nào xen vào bằng việc đi lại ở khu vực này. Đây là lý do chính giải thích tại sao, để thực hiện mục đích chiến lược của mình, Trung Quốc nhất quyết muốn biến Biển Đông thành một khu thánh đường. Điều này giải thích tại sao Trung Quốc đangrất muốn Hải quân Mỹ không tiếp tục qua lại trên vùng biển này nữa.
    2- Lấy lại Đài Loan để có được vùng biển có chủ quyền thực sự và tự do hoàn toàn cho tàu bè của Trung Quốc tự do tiến ra biển khơi, ít nhất là trong thời gian hòa bình, hoặc thậm chí là trong các cuộc khủng hoảng cấp thấp, hoặc hơn nữa là trong một chiến tranh lạnh thứ hai mà dường như bắt đầu xuất hiện. Chiến tranh là một vấn đề khác bởi vì trong tình trạng chiến tranh, tất cả các nguyên tắc của Công ước LHQ về Luật Biển liên quan đến việc quản lý của các quốc gia đối với các vùng biển tiếp giáp bờ biển của mình đều bị phá vỡ, do những tính toán và nhu cầu tác chiến có lẽ chiếm ưu tiên mà không dành chỗ cho bất kỳ cân nhắc nào khác.
    3 – Bố trí tàu ngầm chiến lược của Trung Quốc nhắm vào các bờ biển Mỹ trong tầm tên lửa, bao gồm trước hết là Hawai.
    Để minh hoạ cho những giả thuyết này, tôi bắt đầu từ ba sự việc sau:
    1 – Điều đầu tiên là quan hệ Trung Quốc- Mỹ không có chút tin tưởng nào. Ngờ vực giữa hai nước có thể là từ chủ đạo, ngay cả khi cả hai đang cố gắng hết sức để duy trì một dạng giữ đối thoại, bao gồm cả trong lĩnh vực quốc phòng để tránh những sự cố có thể biến thành xung đột.
    Đọc toạn bộ bản dịch tại đây
    Tướng Daniel Schaeffer, Viện chính sách Pháp Asie 21, Cựu tuỳ viên quân sự Pháp tại Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc

    Bản gốc tiếng Anh: “Why China absolutely needs the South China sea for itself alone: A PROSPECTIVE AND INDEPENDENT VIEW FROM OUTSIDE "
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.


    [1] Tàu ngầm tên lửa đạn đạo sử dụng năng lượng hạt nhân

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  8. Thanks NGUOI VIET YEU NUOC thanked for this post
  9. #18
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

    Bài viết phân tích những diến biến tranh chấp chủ quyền, vấn đề khai thác dầu khí tại Biển Đông – một nhân tố quan trọng khi mà nhu cầu về năng lượng toàn cầu ngày càng tăng, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Biển Đông đang được gắn với các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc khi nước này tăng cường phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ tuyến đường biển kéo dài đến Trung Đông. Nó cũng trở thành vấn đề đối với sự hiện diện của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ đồng minh của nước này trong khu vực. Tác giả cho rằng điều cần thiết trong giai đoạn này là một thỏa thuận đa phương về các biện pháp để ngăn chặn việc các vấn đề nhỏ leo thang thành xung đột trong khi chưa có cách giải quyết đối với tranh chấp trong các yêu sách. Thỏa thuận này cần phải có hai nhân vật chính là Mỹ và Trung Quốc, cũng như các quốc gia yêu sách thuộc khối ASEAN.


    Giới thiệu
    Vấn đề về Biển Đông ban đầu là một cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và lãnh thổ trên biển giữa Trung Quốc và năm nước ASEAN bao gồm Việt Nam, Philippin, Malaysia, Brunei và Indonesia. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều yêu sách toàn bộ khu vực và các đảo trong đó, còn Philippin, Malaysia, và Brunei yêu sách đối với các vùng tiếp giáp trên cơ sở các vùng EEZ và thềm lục địa và phát hiện đầu tiên. Nếu như tranh chấp chỉ dừng lại ở vấn đề lãnh thổ thì có lẽ nó đã có thể được giải quyết như các nỗ lực của Trung Quốc gây ảnh hưởng tới ASEAN và tăng cường mối liên kết với khu vực. Vấn đề tranh chấp sau đó còn liên quan đến việc tiếp cận với trữ lượng dầu khí trên biển. Đây là vấn đề hệ trọng do vào thời điểm đó lượng cầu về năng lượng đang ngày càng cao, còn các quốc gia yêu sách thì đang lên kế hoạch để khai thác các trữ lượng hidrocacbon trong khu vực. Tranh chấp đã phát sinh giữa các yêu sách, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam, thậm chí có lúc tranh chấp này còn ẩn chứa nguy cơ leo thang. Tuy nhiên, các yêu sách đối với tài nguyên năng lượng không dễ dẫn đến xung đột, và nó có thể được quản lý trên cơ sở phát triển khai thác chung hoặc đa phương. Các hình thức hợp tác này đã có rất nhiều tiền lệ và mô hình, tuy không phức tạp như những gì mà tình hình ở Biển Đông đòi hỏi. Một yếu tố khác khiến tình hình trở nên căng thẳng hơn từ năm 2010 và khiến cho việc giải quyết hay quản lý theo các cách tiếp cận được đề cập đến trước đây trở nên khó khăn hơn. Vấn đề tranh chấp không còn đơn thuần là yêu sách lãnh thổ và các giải pháp cũng đã bao trùm lên mối quan ngại về việc tiếp cận tài nguyên năng lượng. Biển Đông đang dần trở thành vấn đề của sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ làm Mỹ nhanh chóng có thái độ và điều chỉnh chính sách tại khu vực. Biển Đông đang được gắn với các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc khi nước này tăng cường phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ tuyến đường biển kéo dài đến Trung Đông. Nó cũng trở thành vấn đề đối với sự hiện diện của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ đồng minh của nước này trong khu vực. Điều cần thiết trong giai đoạn này là một thỏa thuận đa phương về các biện pháp để ngăn chặn việc các vấn đề nhỏ leo thang thành xung đột trong khi chưa có cách giải quyết đối với tranh chấp trong các yêu sách. Thỏa thuận này cần phải có hai nhân vật chính là Mỹ và Trung Quốc, cũng như các quốc gia yêu sách thuộc khối ASEAN.
    Quá trình hình thành tranh chấp Biển Đông
    Vấn đề Biển Đông ban đầu là một tranh chấp giữa các yêu sách khác nhau về chủ quyền vùng biển. Việt Nam, Malaysia, và Philippin đã đưa ra yêu sách đối với khu vực và đã chiếm đóng một số đảo, trong khi Trung Quốc không thể làm được do bị hạn chế bởi hải quân Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Hai nguyên tắc chính điều chỉnh các yêu sách này và đồng thời cũng là hai nguyên tắc bất lợi cho yêu sách của Trung Quốc đối với toàn bộ khu vực. Nguyên tắc đầu tiên là “chiếm cứ hữu hiệu” các đảo, một tiền lệ được đặt ra bởi Tòa Trọng tài Thường trực trong vụ Đảo Palmas vào tháng 4/1928.[1] Chiếm cứ hữu hiệu đòi hỏi phải có khả năng và ý định thực thi quyền tài phán một cách liên tục và không bị gián đoạn và được phân biệt rõ ràng với hành vi xâm chiếm. Học thuyết về chiếm cứ hữu hiệu đi ngược lại với lợi ích của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa, do Trung Quốc không thể chứng minh được việc thực thi quyền tài phán một cách liên tục và không bị gián đoạn của mình, tuy nước này có thể chứng minh điều đó đối với chín hòn đảo đã chiếm đóng trong giai đoạn 1988 – 1992. Nguyên tắc thứ hai là Công ước UNCLOS, tại đó đặt ra các quy tắc để quyết định yêu sách đối với các tài nguyên dựa trên các vùng EEZ và thềm lục địa. Công ước UNCLOS không có lợi cho yêu sách của Trung Quốc do nó đã vượt quá phạm vi vùng EEZ và thềm lục địa, do đó Trung Quốc cho rằng các quyền lịch sử của mình phải được chấp nhận. Vấn đề là ở chỗ các yêu sách dựa trên lịch sử không có mấy giá trị trong luật pháp quốc tế, và đối với Trung Quốc thì luật pháp quốc tế đã hạ thấp di sản từ ngàn đời của mình và khiến cho nước này oán giận. Quan điểm của Trung Quốc là yêu sách của mình đã có từ trước khi UNCLOS ra đời và vì thế trong trường hợp này Trung Quốc “không bị ràng buộc bởi nó”. Một số quan chức Trung Quốc lập luận rằng trong bất kỳ tình huống nào thì những điểm mâu thuẫn trong Công ước UNCLOS cũng sẽ cho phép Trung Quốc khẳng định các yêu sách lịch sử của mình.[2] Để có thể khẳng định yêu sách trong trường hợp sự phức tạp của luật pháp quốc tế có thể sẽ không có lợi cho mình, Trung Quốc đã tìm cách liên tục gây áp lực qua con đường ngoại giao nhằm thay đổi luật quốc tế, hoặc là tạo ra một ngoại lệ đặc biệt, như vậy các yêu sách lịch sử của Trung Quốc có thể được tất cả các nước thừa nhận.
    Dầu khí và năng lượng
    Nếu như Biển Đông chỉ là một tranh chấp về lãnh thổ thì có thể có rất nhiều cách giải quyết vấn đề trên cơ sở điều chỉnh các yêu sách trong một thể chế trên biển. Nó cũng có thể được tiếp diễn như một trạng thái bế tắc nếu như không có áp lực về giải pháp cho vấn đề tranh chấp. Tuy nhiên, đòi hỏi về năng lượng lại có nghĩa rằng Trung Quốc không thể chấp nhận tình trạng nguyên trạng ở Biển Đông và tạo thêm áp lực cho các quốc gia yêu sách trong ASEAN. Lượng cầu quốc tế đối với năng lượng ngày càng tăng và các quốc gia tiêu thụ lớn như Trung Quốc đang phải tìm kiếm các nguồn mới để thỏa mãn được nền kinh tế đang ngày càng mở rộng của mình. Lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đã đạt đến 54% lượng tiêu thụ trong năm 2010 và ước tính sẽ lên đến 65% vào năm 2015. Trung Quốc đã có nỗ lực nhằm đa dạng hóa các nguồn cung cấp năng lượng để giảm sự lệ thuộc vào khu vực Trung Đông, vốn cung cấp cho nước này 58% dầu nhập khẩu, bằng việc tìm cách khai thác tài nguyên năng lượng trong khu vực. Việt Nam là một quốc gia sản xuất dầu khí lớn trong khu vực, với công ty quốc doanh PetroVietnam sản xuất được 24,4 triệu tấn trong năm 2010 từ ba mỏ; mỏ Bạch Hổ, được bắt đầu khai thác từ năm 1986, mỏ Thanh Long và mỏ Gấu Trắng; tổng cộng ba mỏ này chiếm 26% lượng dầu Việt Nam sản xuất trong năm 2010.[3] PetroVietnam cũng đã ký kết 60 hợp đồng thăm dò và sản xuất dầu khí với các công ty nước ngoài nhằm khai thác các mỏ mới. Tuy nhiên, việc sản xuất ở các mỏ hiện có đang ngày càng đi xuống, trong khi các mỏ mới không được kỳ vọng có thể bù lại các khoản mất mát.[4] Khi mà Việt Nam đang cố tìm kiếm các mỏ khai thác mới thì rất có khả năng sẽ lại có những vụ đụng độ với Trung Quốc, do nước này vốn vẫn phản đối các nỗ lực của Việt Nam trong việc ký kết các hiệp định khai thác với các công ty dầu khí nước ngoài. Trung Quốc phản đối các hoạt động khai thác của một loạt các công ty bao gồm PetroVietnam, Petronas Carigali của Malaysia, Petroleum của Singapore và CTCP American Technology khi phát hiện ra một mỏ xa bờ nằm về phía tây đảo Hải Nam vào tháng 10/2004.[5] Trung Quốc đã cảnh cáo các công ty dầu khí quốc tế rằng cần phải tránh xa khỏi khu vực mà họ gọi là “biển của Trung Quốc”; năm hợp đồng ủy quyền liên quan đến các công ty dầu khí BP, ConocoPhillips, Chevron-Petronas-Cargill, Idemitsu-Nippon- và Teikoku đã bị đình chỉ do áp lực của Trung Quốc.
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    GS. Leszek Buszynski, Nghiên cứu sinh, Trung tâm Chiến lược và Quốc phòng, Đại học Quốc gia Úc, Canberra ACT 0200, Úc
    Leszekbuszynski (a) yahoo.co.uk
    Bản gốc tiếng Anh: “The Internationalization of the South China Sea: Conflict prevention and management”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.
    Ghi chú


    [1] Về tính pháp lý của các yêu sách, xem Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea, trang 39-59; R. Haller-Trost, The Spratly Islands: A Study on the Limitations of International Law, Centre of Southeast Asian Studies, University of Kent at Canterbury, Occasional Paper Số 14, tháng 10 1990

    [2] Xem cable của Cố vấn Bộ trưởng Chính trị Aubrey Carlson “MFA Maintains Claims to South China Sea; Urges US Companies not “to get Entangled,” 13 tháng 3 2008, Wikileaks on line.

    [3] “Vietsovpetro finds more oil at Bach Ho field offshore Vietnam,” Energypedia.news, 29/6/2011 2http://www.energy-pedia.com/article.aspx?articleid=1460879 6/2011

    [4] “Vietnam Market for Oil and Gas Machinery and Services,” US Commercial Serice-Vietnam. 3/2011, http://export.gov/vietnam/static/BP-..._vn_030123.pdf

    [5] Trần Đình Thanh Lam, “Vietnam oil find fuels China's worries”, Energy Bulletin, 26/10/2004. http://www.energybulletin.net/node/2838



    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  10. #19
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở BĐ thông qua hợp tác và quản lý khu vực

    Trước sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông, tác giả cho rằng hợp tác là một trong các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp. Nhằm thúc đẩy hợp tác tại khu vực Biển Đông, tác giả đề xuất có thể bắt đầu bằng việc bảo tồn và quản lý tài nguyên cá và cần phải được thực hiện theo một cơ chế thống nhất ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả. Bài viết này đưa ra kết luận về sự cần thiết của tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMO) trong việc bảo tồn và quản lý các tài nguyên nghề cá trên Biển Đông. Hơn nữa, mô hình này có thể góp phần giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.


    TÓM TẮT
    Tranh chấp Biển Đông có tính chất rất phức tạp, nơi mà các vấn đề chủ quyền đối với các điểm đảo, việc phân giới, sử dụng tài nguyên, và các vấn đề khác liên quan tới an ninh truyền thống hoặc phi truyền thống đều đan xen lẫn nhau. Hợp tác là một trong các giải pháp chính được nêu ra để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên giải pháp này vẫn chưa được hiện thực hóa.
    Sự phát triển của toàn cầu hóa đã trở thành một hiện tượng quan trọng trong xã hội quốc tế hiện đại. Hiện tượng này được thể hiện qua việc các yếu tố sản xuất của nền kinh tế phát triển với tốc độ và quy mô chưa từng có trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hóa phản ánh thực tế các thành viên của cộng đồng quốc tế trở nên phụ thuộc lẫn nhau, đặc biệt trong một số lĩnh vực vấn đề cụ thể như phát triển các tổ chức quốc tế, thương mại quốc tế đối với sản phẩm nghề cá cũng như các vấn đề môi trường.
    Để giái quyết tranh chấp và thúc đẩy hợp tác trong khu vực Biển Đông, tác giả đề xuất có thể bắt đầu bằng việc bảo tồn và quản lý tài nguyên cá. Có nhiều phương tiện, cơ chế và công cụ quốc tế quản lý như công ước, hiệp định và thỏa thuận đã được xây dựng để bảo vệ nguồn tài nguyên cá. Tuy nhiên các phương tiện chính sách này cần được thực hiện theo một cơ chế thống nhất ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế để có thể đạt được các mục tiêu chính sách.

    Trong một cơ chế được tổ chức chặt chẽ, các yếu tố sau là cần thiết cho việc thực hiện quản lý biển: thống nhất quy định pháp luật về nghề cá và bảo vệ môi trường giữa các bên liên quan; minh bạch trong chính sách biển quốc gia là một thành tố quan trọng trong quá trình ra quyết định của các chính phủ có liên quan; hợp tác giữa các quốc gia khu vực trong các lĩnh vực liên quan, và đóng góp của các tổ chức quản lý nghề cá trong vùng. Bài viết này đưa ra kết luận về sự cần thiết của tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMO) trong việc bảo tồn và quản lý các tài nguyên nghề cá trên Biển Đông. Hơn nữa, mô hình này có thể góp phần giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.
    Giới thiệu

    Các tranh chấp trên Biển Đông có thể được phân thành hai loại: một là các tranh chấp về chủ quyền của các điểm đảo, và hai là tranh chấp các vùng biển. Có thể dễ dàng thấy rằng cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp là tiến hành phân giới để xác định khu vực có chủ quyền và quyền tài phán.

    Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể làm được như vậy. Nguyên nhân chủ yếu là quá trình đàm phán và chấp nhận phân giới biển giữa các quốc gia thường tập trung vào các tính toán chính trị và không có quy định pháp luật vững chắc nào cho việc phân giới. Mặc dù một “giải pháp công bằng” được công nhận là một trong các nguyên tắc quan trọng nhất trong phân giới, nhưng không có chi tiết cụ thể nào được đưa ra bất chấp việc các yếu tố địa lý và địa chất, chiều dài đường bờ biển, các hoạt động đánh cá truyền thống và tác động tương đối tới và sự phụ thuộc kinh tế được coi là các nhân tố được xem xét trong các trường hợp khác nhau.
    Trong các trường hợp này, phát triển chung sẽ được coi là một cách giải quyết tranh chấp. Theo Điều 74(3) và Điều 83(3) của Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS),[1] đều nêu thuật ngữ “các dàn xếp tạm thời” trong bối cảnh trước khi các đường biên giới được phân định chính xác. Thuật ngữ “dàn xếp tạm thời” có thể được hiểu là “hợp tác chung” và đây là thuật ngữ thông dụng đã được các nhà lãnh đạo của các bên tranh chấp ở Biển Đông trích dẫn nhiều. Tuy nhiên, không có hành động thực tế nào được hiện thực hóa. Nguyên nhân có thể là do thiếu ý chí chính trị.
    Sẽ không khó để xác định các cơ hội hợp tác chung trong khu vực Biển Đông. Tập trận chung, phát triển chung các tài nguyên hydrocarbon, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển và hợp tác nghề cá là các phương thức hợp tác có thể thực hiện. Cho tới nay, các tranh luận về tài nguyên hydrocarbon có thể khai thác và các hành động bảo tồn và quản lý tài nguyên cá đã bị trì hoãn. Tuy nhiên việc bảo vệ và quản lý tài nguyên cá có thể là bước khởi đầu cho hợp tác trong khu vực và có thể có “tác động lan truyền” tới các lĩnh vực hợp tác khác.
    Ở phương diện này, hợp tác nhằm quản lý và bảo tồn tài nguyên cá có vai trò đặc biệt quan trọng bởi cá là loài di cư, và một số loài trong số đó thậm chí còn là loài di cư thường xuyên. Tuy nhiên, việc đánh bắt cá quá mức là một vấn đề nghiêm trọng và cấp thiết trong khu vực. Về vấn đề này, đường biên giới biển không thể bảo vệ hoàn toàn nguồn tài nguyên cá của một quốc gia khỏi xâm phạm, bởi tài nguyên cá có thể di cư ra ngoài khu vực có quyền tài phán của quốc gia, và đánh bắt cá quá mức ngoài biên giới cũng có thể có tác động lớn tới nguồn lợi cá trong biên giới lãnh thổ.
    Chính vì vậy, một cơ chế quản lý phù hợp, tuân theo các điều kiện tự nhiên, là cần thiết cho các quốc gia ven biển để duy trì nguồn cá ở mức bền vững. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia ven biển xung quanh Biển Đông. Do đây là một khu vực nửa kín,[2] bất cứ thay đổi nào trong việc hoạch định chính sách nghề cá có thể có tác động tới tài nguyên cá trong khu vực này.
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    GS. Kuan-Hsiung Wang, Giám đốc Viện Khoa học Chính trị Sau đại học,
    Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan

    Bản gốc tiếng Anh:Resolution to Fishery Disputes in the South China Sea through Regional Cooperation and Management
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

    [1] Điều 74(3) của UNCLOS quy định “Trong khi chưa có các thỏa thuận nêu ở khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, sẽ nỗ lực hết sức để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc phân định cuối cùng.” [nhấn mạnh phần in nghiêng]
    [2] Điều 122 của UNCLOS quy định “biển kín hay nửa kín” là một vịnh, một vũng hay một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc bao gồm hoàn toàn hay phần lớn các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của hai hay nhiều quốc gia.

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  11. Thanks NTChi thanked for this post
  12. #20
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

    Sự tác động qua lại giữa sức mạnh và luật pháp ở biển Đông chưa được hiểu một cách đúng đắn. Để phân tích các tranh chấp đối với các vấn đề về quyền hàng hải, chủ quyền đối với các hòn đảo và sự phân định ranh giới của các khu vực biển, chúng ta cần hiểu cách các nước định nghĩa và bảo vệ lợi ích địa chính trị của mình cũng như những cách thức mà luật pháp quốc tế ảnh hưởng đến các yêu sách và hành vi xung đột của họ. Bài viết này bắt đầu bằng những phân tích về sự khác biệt to lớn trong các cách giải thích giữa các nhà khoa học chính trị thiên về địa chính trị và các học giả có thiên hướng nghiêng về tính quy chuẩn hay pháp lý hơn . Sau đó, bài viết sẽ tìm hiểu về mặt lịch sử, sự phát triển của luật pháp quốc tế đã có ảnh hưởng đến các xung đột ở Biển Đông như thế nào. Bài viết đồng thời xác minh tính đan xen trong lịch sử giữa các quá trình xung đột và hoà dịu, và sự phát triển pháp lý dựa trên cả tập quán quốc tế và điều ước quốc tế. Ở đây chúng ta sẽ tập trung vào luật biển. Bài viết sẽ kết luận bằng cách thiết lập mối liên kết giữa hai dòng lịch sử, trong khi tìm cách xác định những cách thức mà luật pháp đã có ảnh hưởng nhất định đến hành vi xung đột. Liệu nó có làm trầm trọng thêm các tranh chấp bằng cách khuyến khích các yêu sách mâu thuẫn nhau? Hay liệu nó có thiết lập được các nguyên tắc và đưa ra được những định chế để giúp giải quyết các xung đột? Bài viết được viết với giả thuyết trong đó các câu trả lời cho các câu hỏi này của chúng ta có thể ảnh hưởng đến cách mà chúng ta nhìn nhận viễn cảnh hoà bình của Biển Đông trong tương lai.


    Lời giới thiệu
    Trong tác phẩm có ảnh hưởng từ năm 1997, “Chia sẻ tài nguyên của Biển Đông” (Sharing the Resources of the South China Sea), Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke và Noel A Ludwig trên cơ sở hiểu biết đúng đắn về luật pháp quốc tế đã đề xuất hàng loạt các khuyến nghị cho một “cơ chế hàng hải lý tưởng” ở Biển Đông. Họ hi vọng những khuyến nghị đó sẽ "kích thích thảo luận mang tính xây dựng về một giải pháp toàn diện đa phương tạm thời" cho những "tranh chấp khó khăn và nguy hiểm” này.[1]
    Tất cả các quốc gia có yêu sách trong khu vực trung tâm Biển Đông đều đã ký và phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea - UNCLOS), vốn đã sẵn sàng cho việc ký kết vào tháng 12 năm 1982 và bắt đầu có hiệu lực vào năm 1996 khi được quốc gia thứ 60 phê chuẩn. Bằng nhiều cách họ cũng đã đóng góp cho sự phát triển của tập quán quốc tế thông qua các thoả thuận song phương và giải pháp có sự tham gia của bên thứ ba, và họ cũng chú ý cách thức mà các thoả thuận và giải pháp ở các khu vực khác trên thế giới tạo thành tiền lệ. Tựu chung, tất cả những điều này tạo thành một cơ chế pháp lý quan trọng. Tuyên bố của ASEAN – Trung Quốc năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (the 2002 Sino – ASEAN Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea - DOC) đề cập nhiều lần đến “các nguyên tắc được thừa nhận trên toàn cầu của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước về luật biển năm 1982”[2]. Lời khẳng định tương tự được đưa ra trong phát biểu của các cuộc họp song phương. Do đó, trong chuyến thăm Bắc Kinh từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, hai thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn và Trương Chí Quân đã ký kết thoả thuận sáu điểm, tuyên bố rằng hai nước cần phải giải quyết tranh chấp lãnh hải “trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc được ghi nhận trong luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982”. Cả hai bên cam kết “hoàn toàn tôn trọng các nguyên tắc pháp luật.”
    Thoả thuận Việt – Trung ngày 11 tháng 10 năm 2011 chỉ ra ba cách thức để tiến tới một cách tiếp cận quan hệ song phương lâu dài để giải quyết xung đột. Trước tiên hai bên cần giải quyết vấn đề về biên giới lãnh hải ở cửa Vịnh Bắc Bộ theo như thoả thuận phân định được hai nước ký kết vào năm 2000 về Vịnh Bắc Bộ. Thứ hai, họ cần thiết lập hợp tác trong các khu vực “ít nhạy cảm hơn”. Và thứ ba, lãnh đạo các đoàn đàm phán của 2 nước về vấn đề biên giới sẽ có những cuộc họp định kỳ hai lần một năm để đàm phán về những khác biệt song phương của họ, đồng thời tham thảo thêm ý kiến của các bên thứ ba.[3] Đây có vẻ là một kế hoạch thực tế và có tính xây dựng cho các cuộc đàm phán theo hướng thực chất, dựa trên luật pháp quốc tế. Thoả thuận này tiếp nối các nỗ lực hàn gắn quan hệ hai bên sau một vài sự cố nghiêm trọng giữa tàu của Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông hồi đầu năm, dẫn đến một loạt các cáo buộc lẫn nhau giữa hai Chính phủ, các cuộc biểu tình giận dữ trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, và các nỗ lực chủ động của Việt Nam nhằm quốc tế hoá các tranh chấp ở Biển Đông bằng cách thu hút Mỹ và các cường quốc bên ngoài khác. Vụ việc chính xảy ra khi tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí trong các khu vực biển mà theo bất kì điều khoản nào của luật pháp quốc tế cũng đều thuộc thềm lục địa của Việt Nam. Phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam đã gây sửng sốt ở Trung Quốc, nơi đã có nhiều cuộc thảo luận trên các blog, và thậm chí trên phương tiện truyền thông chính thống, về việc dạy cho Việt nam “một bài học” nữa – một ngụ ý rõ ràng về cuộc xâm lược năm 1979. Cho đến ngày 29 tháng 9 năm 2011, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cho phép tuần san Thời Báo Hoàn Cầu (Global Times) đăng tải nội dung xuyên tạc và kêu gọi Trung Quốc “đánh đòn phủ đầu” đối với Việt Nam.[4]
    Khi thuật lại Thoả thuận sáu điểm thân thiện ngày 11 tháng 10 năm 2011, BBC đã bình luận rằng đó là những “mỹ từ” mà khó có thể đưa vào trong thực tế.”[5] Một vài học giả có thiên hướng địa chính trị cũng nghi ngờ về khả năng đạt được những giải pháp trên cơ sở về mặt pháp lý giữa các nước có xung đột gay gắt về tranh chấp chủ quyền. Trong cuốn sách xuất bản năm 2010 mang tên Địa chính trị và Tranh chấp lãnh hải ở Đông Á (Geopolitics and Maritime Territorial Disputes in East Asia), Ralph Emmers nói về nỗi lo sợ của Đông Nam Á về việc một ngày nào đó Trung Quốc có thể dùng sức mạnh hải quân đang lớn mạnh của mình để “giải quyết vấn đề chủ quyền bằng biện pháp quân sự”. Emmers dường như cũng tự khẳng định điều này có thể xảy ra. Ông cho rằng các nước liên quan đến tranh chấp vùng biển đã “sử dụng sai” Công ước về Luật Biển để “đơn phương mở rộng thẩm quyền về chủ quyền của họ” để “đảm bảo việc họ tiếp cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên” và “biện minh cho các yêu sách của mình…”[6] Có lẽ là hơi lạ khi gọi đây là “sử dụng sai” khi mà Công ước không chỉ cho phép mà thậm chí còn trông chờ các nước ven biển mở rộng thẩm quyền của họ về các tài nguyên biển và vùng đáy biển ra 200 hải lý tính từ đường cơ sở hợp pháp ven biển. Thềm lục địa thậm chí có thể mở rộng đến 350 hải lý nếu như địa mạo của đáy biển đáp ứng điều kiện nhất định, được xác định bởi Ủy ban Liên Hợp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa (United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf - CLCS). Việc một chính phủ xác định các phần mở rộng chính xác của tuyên bố chủ quyền về khu vực lãnh hải của họ là thực hiện đúng bổn phận dưới góc độ pháp lý, không phải là sử dụng sai. Dẫu vậy, Emmers vẫn có lý của mình. Gần như có rất ít nghi ngờ rằng quyết định tại Hội nghị lần thứ 3 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (the 3rd United Nations Conference on the Law of the Sea - UNCLOS III) 1973-1982 nhằm hợp pháp hoá những khu vực biển rộng lớn như thế đã góp phần làm gia tăng những tranh chấp biển trên phạm vi toàn cầu. Và đáng chú ý hơn ở đây là trường hợp mà vùng biển kín hay nửa kín như khu vực Biển Đông, nơi mà có nhiều quốc gia có bờ biển liền kề hoặc nằm đối diện nhau sẽ dẫn đến những yêu sách chồng lấn: Trung Quốc (cả Trung Quốc lẫn Trung Hoa Dân Quốc-Đài Loan), Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.
    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
    Stein Tønnesson, Giáo sư, Viện Nghiên cứu Hoà Bình Quốc tế, Oslo (PRIO), Na-uy;
    Khoa Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột, Đại học Uppsala,Thụy Điển

    Bản gốc tiếng Anh: “International Law in the South China Sea: Does it Drive or Help Resolve Conflicts?”
    Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.



    [1] Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke and Noel A Ludwig (1997) Sharing the Resources of the South China Sea (Chia sẻ nguồn tài nguyên ở Biển Đông). The Hague: Martinus Nijhoff: 222.

    [2] Do vậy, điểm đầu tiên ghi rằng. “Các bên tái khẳng định các cam kết của họ đối với mục địch và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, nguyên tắc 5 điểm chung sống hoà bình và các nguyên tắc được thừa nhận khác của pháp luật quốc tế được dùng như các tiêu chí cơ bản để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia.” Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea. Appendix 5 (Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông. Phụ lục 5) trong Zou Keyuan (2009) China-ASEAN Relations and International Law (Quan hệ Trung Quốc - ASEAN và Luật pháp Quốc tế). Oxford: Chandos: 241

    [3] “China, Vietnam sign accord on resolving maritime issues” (Trung Quốc, Việt Nam ký hiệp định về việc giải quyết vấn đề trên biển). Xinhua ngày 12 tháng Mười năm 2011.
    http://news.xinhuanet.com/english201...606.htm(đăng ngày 24 tháng Mười 2011).

    [4] Long Tao (nhà phân tích chiến lược của Uỷ ban Năng lượng Trung Quốc – China Energy Fund Committee), “Time to teach those around the South China Sea a lesson,” (Thời điểm để dạy cho những nước ở quanh Biển Đông một bài học). Thời Báo Hoàn Cầu ngày 29 tháng Chín năm 2011: “…Thật không may, mặc dù bị Trung Quốc đánh bại trong trận chiến ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và sau đó là chiến tranh Trung – Việt vào năm 1979, những lời lăng mạ của Việt Nam ở biển Đông hiện vẫn không bị trừng phạt. … có lẽ đã đến lúc chúng ta tranh luận, suy nghĩ trước và đánh đòn phủ đầu trước khi mọi chuyện dần vuột khỏi tầm tay. …Đối với những kẻ xâm phạm chủ quyền của chúng ta để ăn cắp dầu, chúng ta cần cảnh cáo họ một cách lịch sự và sau đó cần có hành động, nếu họ không đáp ứng. … ngoài đó có thể là một nơi lý tưởng để trừng phạt họ. Sự trừng phạt này chỉ nên hạn chế đối với hai nước là Philippines và Việt Nam, những nước đã và đang có những hành động quá khích trong những ngày qua. … Chúng ta nên chuẩn bị tốt một cuộc chiến quy mô nhỏ, trong khi cho phía bên kia cơ hội lựa chọn chiến tranh hay hòa bình.”
    http://www.globaltimes.cn/NEWS/tabid...-a-lesson.aspx (đăng ngày 25 tháng Mười năm 2011).

    [5] Michael Bristow, “China and Vietnam sign deal on South China Sea dispute.” (Trung Quốc và Việt Nam ký thoả thuận về tranh chấp Biển Đông) BBC News ngày 12 tháng Mười năm 2011. http:// www.bbc.co.uk/news/world-asia-pacific-15273007 (đăng ngày 24 tháng Mười năm 2011)

    [6] Ralph Emmers (2010) Geopolitics and Maritime Territorial Disputes in East Asia (Địa chính trị và Tranh chấp lãnh hải ở Đông Á). London: Routledge: 4, 19, 122.

    theo NCBĐ

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 5
    Bài mới gửi: 23-09-2011, 11:11 AM
  2. [Tin tức] [rfi]Bắc Triều Tiên thành lập lực lượng an ninh chống nổi dậy
    By mabu1102 in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2011
    Trả lời: 141
    Bài mới gửi: 28-06-2011, 10:43 PM
  3. [Tin tức] [NCBĐ] (Sách mới xuất bản) Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực
    By longtt88 in forum Thảo luận về Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 18-10-2010, 06:37 AM
  4. Những dấu hiệu mới về an ninh bán đảo Triều Tiên
    By longtt88 in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 16
    Bài mới gửi: 07-09-2010, 07:46 PM
  5. Ấn Độ cấm dùng 25 triệu điện thoại TQ vì an ninh
    By A22 in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2009 trở về trước
    Trả lời: 1
    Bài mới gửi: 02-12-2009, 09:01 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •