[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 10 trên 10
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    1.037
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Lịch sử phát triển Tàu chiến

    Hôm nay,trời mưa! làm quả Ảnh cho mọi người Bình Loạn nè:
    TÀU CHIẾN WA CÁC THỜI
    Tàu chiến, tầu chiến, là tàu được đóng để dùng cho chiến đấu. Tàu chiến thường được đóng theo cách hoàn toàn khác với tàu chở hàng. Ngoài việc được trang bị vũ khí, tàu chiến được thiết kế để chịu thiệt hại và thường chạy nhanh hơn và di chuyển linh động hơn tàu chở hàng. Không như tàu chờ hàng, tàu chiến thường chỉ chở vũ khí, đạn dược và quân nhu cho thủ thủy đoàn của chính nó. Tàu chiến thường thuộc về một lực lượng hải quân, tuy có lúc chúng đã từng được các cá nhân hoặc công ty điều khiển.

    Trong chiến tranh, ranh giới để phân biệt tàu chiến và tàu hàng không rõ ràng. Trong chiến tranh các tàu chở hàng thường được vũ trang và được sử dụng như các tàu chiến pha, ví dụ các tàu nhóm Q của Thế chiến thứ nhất và tàu viễn dương vũ trang của Thế chiến thứ hai. Trong thế kỷ 17, có nhóm tàu chở hàng thường phục vụ không thường xuyên, không hiếm khi lên đến một nửa hạm đội. Trước thế kỷ 19 khi thiếu các tàu buồm thường có số lượng lớn các tàu thường vũ trang như các tàu ga-lê-ôn. Tàu chiến cũng có thể làm nhiệm vụ chở quân hay chở hàng tiếp viện như Hải quân Pháp trong thế kỷ 18 hay Hải quân Nhật trong Thế chiến thứ hai.




    Lịch sử phát triển

    1.Thời đại tàu mái chèo
    Các thời đại cổ, như Cổ Ba Tư, Cổ Hy Lạp, Cổ La Mã tàu chiến thường là các loại tàu chèo tay như tàu bireme, trireme và quinquereme. Đây là các tàu dài, nhọn, được đẩy bởi các hàng mái chèo và người chèo. Các tàu chèo tay cổ này được thiết kế để đánh chìm tàu địch bằng cách đâm thẳng vào hoặc tiếp cận tàu địch rồi thủy thủ nhảy sang giáp lá cà. Việc phát triển các máy bắn đá vào thế kỷ 4 TCN và tinh hoa kỹ thuật sau đó của nó cho phép chế tạo hạm đội đầu tiên sùng máy bắn đá, hải pháo, vào đầu thời Cổ Hy Lạp. Với sự hợp nhất chính trị khu vực Địa Trung Hải vào khoảng 2-thế kỷ 1 TCN thì hải pháo đó dần bị loại bỏ, trận Actium là trận đánh lớn cuối cùng hải pháo máy bắn đá dùng đến.

    Từ thời Cổ Muộn và Trung Cổ, cho đến thế kỷ 16, vũ khí hải quân là của những người đi trên tàu chiến mang theo và sử dụng như mũi nhọn tàu, cung thủ trong thủy thủ đoàn, rất nhiều thứ bắn đi khác nhau như cung, tên, nỏ, nỏ chữ thập hạng nặng đặt cố định trên tường thành tàu. Cuộc chiến của hải quân có những hành động hàng đầu là đâm thủng và áp sát nên không cần vũ khí chuyên dụng đặc biệt.

    2.Thời đại tàu buồm
    Pháo hải quân được tái phát triển vào thế kỷ 14, tuy nhiên, việc sử dụng súng chậm trễ. Pháo chỉ được dùng như vũ khí trên biển khi tốc độ nạp đạn cải thiện đủ để tái sử dụng trong một trận đánh. Việc dùng nhiều pháo dẫn đến mất chỗ cho những người chèo thuyền. Thuyền buồm man-of-war (người của chiến tranh) là loại thuyền chạy chủ yếu bằng buồm nổi trội trong thế kỷ 16.

    Giữa thế kỷ 17, tàu chiến phát triển theo hướng tăng cường số lượng pháo mạn, chiến thuật hải quân tàu buồm hướng đến việc đưa hỏa lực mỗi tàu đến chiến tuyến của trận đánh, kiểu tàu man-of-war phát triển thành tàu chiến tuyến (ship of the line). Trong thế kỷ 18, các tàu frai-ghết và xà-lúp vũ trang quá nhỏ để đứng ở chiến tuyến; được dùng để hộ tống tàu buôn, trinh sát tìm tàu địch và phong tỏa bờ biển.



    3.Thép, hơi nước và đạn nổ
    Vào thế kỷ 19, cuộc cách mạng kỹ thuật đem đến những thay đổi to lớn về đẩy, cấu trúc và vũ khí tàu chiến. Động cơ hơi nước dùng vào cuối nửa đầu thế kỷ 19, ban đầu cho các tàu bán vũ trang. Chiến tranh Crưn đem đến kích thích mạnh cho phát triển súng. Việc dưa vào sử dụng đạn trái phá sớm dẫn đến đưa vào sử dụng sắt, rồi thép làm giáp cho mạn, boong của tàu chiến lớn. Các tàu chiến bọc thép đầu tiên, Gloire của Pháp và HMS Warrior của Anh đã làm các tàu gỗ lạc hậu. Kim loại sớm thay thế gỗ làm vật liệu chính đóng tàu.

    Từ thập niên 1850, tàu chiến tuyến được thay bởi tàu chiến đấu chạy hơi nước, tàu frai-ghết được thay bởi các tàu tuần dương chạy hơi nước. Vũ khí có các ổ súng quay và tháp pháo làm súng không lệ thuộc vào hướng của tàu, thay một số lớn súng nhỏ bằng số nhỏ súng lớn mang theo.

    Kết thúc thế kỷ 19 là sự phát triển ngư lôi và tàu phóng lôi. Tàu phóng lôi nhỏ chạy nhanh là một đối trọng với hạm đội thiết giáp hạm đắt đỏ.



    3.Thời kỳ Dreadnought
    Một cuộc cách mạng tàu chiến mới, thời kỳ Dreadnought bắt đầu rất nhanh theo thế kỷ 20, khi mà Anh hạ thủy con tàu Dreadnought năm 1906. Tàu có hỏa lực toàn súng to. Tàu được đẩy bằng turbine hơi nước, tàu nặng hơn, nhanh hơn, to hơn tất cả các tàu đã có, những tàu mà nó đã làm cho lạc hậu. Các tàu tương tự lập tức được đóng theo ở nước khác.

    Anh cũng phát triển các tàu tuần dương chiến đấu. Tàu này mang súng như thiết giáp hạm, cỡ thân như vậy. Tàu tuần dương chiến đấu hy sinh giáp để đổi lấy tốc độ. Tàu tuần dương chiến đấu nhanh ***ng cho các tàu tuần dương khác thành lạc hậu. Những tàu tuần dương chiến đấu dễ tổn thương hơn thiết giáp hạm cùng thời.

    Tàu khu trục phát triển cùng thời với các tàu Dreadnought. Tàu khu trục to hơn và mang súng to hơn tàu phóng lôi, tàu khu trục bảo vệ tàu chính của hạm đội trước các mối đe dọa từ tàu phóng lôi.



    4.Thế chiến thứ hai
    Buổi đầu Thế chiến thư hai, Đức và Anh lại một lần nữa trội lên như hai lực lượng mạnh nhất Đại Tây Dương. Đức bị hạn chế bởi Hòa ước Versailles, chỉ cho phép họ có một ít tàu nổi nhỏ. Nhưng bằng một cách đặt tên thông minh "thiết giáp hạm bỏ túi" đã đánh lừa Anh và Pháp. Họ có những tàu lớn gây ngạc nhiên như Admiral Graf Spee, Scharnhorst, Gneisenau đều đều tập kích đường vận chuyển Đồng Minh.

    Hai chiến hạm đỉnh cao của Đức là Bismarck và Tirpitz, được coi như hai vũ khí đáng sợ nhát của Hải quân Đức. Bismarck chìm nhanh ***ng sau một loạt các trận đánh bắc Đại Tây Dương. Tirpitz bị vây hãm trước khi bị Không quân Hoàng gia Anh đánh quỵ. Hải quân Hoàng gia Anh một lần nữa trở thành mạnh nhất châu Âu sau 1943.

    5.Phát triển tàu ngầm
    Tàu ngầm thực tế được phát triển cuối thế kỷ 19. Nhưng chỉ đến khi hoàn thiện ngư lôi thì tàu ngầm mới trở thành mỗi nguy thật sự (và có tác dụng thực tế). Cuối Thế chiến thứ nhất tàu ngầm thể hiện năng lực tiềm tàng. Trong Thế chiến thứ hai các tàu ngầm của Hải quân Đức làm Anh khổ sở vì thiếu thốn, tấn công đánh chìm một số lượng lớn tàu ven biển Mỹ.

    Việc xuất hiện các tàu ngầm thúc đẩy phát triển các tàu hộ tống chống ngầm cuối Thế chiến thứ nhất, như là các tàu khu trục hộ tống. Rắc rối, nhiều từ ngữ còn thừa kế từ các tàu nhỏ thời tàu buồm như là tàu hộ tống, tàu frai-ghết và xà-lúp.

    6.Tàu sân bay phát triển
    Lực lượng chủ yéu của hải quân chuyển sang tàu sân bay. Trận dánh đầu tiên là trận Taranto, sau đó là trận Trân Châu Cảng, tàu sân bay đã chứng tỏ khả năng tấn công liên tục vào tàu dịch ngoài khoảng quan sát và tầm của các tàu mặt nước khác. Hết Thế chiến thứ hai, tàu sân bay trở thành lực lượng trội của hải quân.

    7.Tàu chiến hiện đại
    Tàu chiến hiện đại được chia thành 6 nhóm: tàu sân bay, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu frai-ghết, tàu ngầm, tàu đổ bộ.

    Thiết giáp hạm lập thành nhóm thứ 7, nhưng ngày nay thiết giáp hạm không còn phục vụ trong hải quân thế giới. Chỉ còn Mỹ giữ một ít thiết giáp hạm lớp Iowa vẫn còn như một lực lượng tác chiến, nhìn chung, thiết giáp hạm không thể quay lại như là lực lượng tàu mạnh nhất. Các tàu khu trục hứa hẹn sẽ nổi trội như các tàu mạnh nhất ở hầu hết lực lượng hải quân trên biển.

    Tuy nhiên, khó phân biệt rõ ràng các đặc điểm và biểu hiện của tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu frai-ghết, gianh giới giữa chúng mờ nhạt và chỉ có ý nghĩa ngôn ngữ. Hầu hết các tàu đều trang bị với 3 nhiệm vụ: chống tàu nổi, tàu ngầm và phòng không. Mã hiệu của lớp tàu không chính xác lâu và đổi chỗ trên cây phân loại. Tất cả các cỡ tàu đều phát triển sau khi định nghĩa đầu thế kỷ 20.

    Hầu hết các hải quân đều có tàu vũ trang nhẹ, như tàu rà mìn, tàu tuần tra, tàu tuần tra xa bờ.



    Một số loại tàu chiến

    Tàu đổ bộ (Amphibious assault ship), tàu có thể đi được ở vùng nước nông hay cạn, dùng chở quan đổ bộ. Loại tàu được ưa chuộng nhất là tàu dùng đệm không khí.
    Tàu sân bay, tàu chiến có sân bay và máy bay cánh cố định.
    Tàu tuần dương (Cruiser), loại chiến hạm nhỏ nhất trong số các chiến hạm độc lập trên đại dương, đi được dài ngày trên đại dương, kiểm soát vùng biển, bắn pháo lên bờ. Sức diệt tàu địch không cao như tàu sân bay hay thiết giáp hạm.
    Tàu tuần dương hạng nặng (Heavy cruiser), loại chiến hạm nặng đóng ở Anh sau năm 1915 đến Thế chiến thứ hai, từ này hay được người Anh chỉ một số tàu các nước khác. Tàu tăng cường giáp và pháo, giá rẻ so với thiết giáp hạm.
    Tàu tuần dương diệt tàu (Battle cruiser), một loại tàu chiến trước Thế chiến thứ hai, mang súng lớn nòng dài và giáp dầy, nằm giữa tàu tuần dương và tàu chiến đấu.
    Thiết giáp hạm bỏ túi (Pocket battleships), một loại tàu chiến trước Thế chiến thứ hai, mang súng lớn nòng dài và giáp dầy, nằm giữa tàu tuần dương và tàu chiến đấu. Tàu này mạnh hơn tàu tuần dương diệt tàu, thỉnh thoảng người Anh gọi là tàu tuần dương hạng nặng.
    Thiết giáp hạm, tàu chiến đấu, một loại tàu chiến rất lớn, có các ổ pháo quay lớn mang đài bác nòng dài bắn đạn xuyên rất lớn, giáp dầy. Chức năng diệt tàu chiến mạnh của đối phương. Các loại tàu trên xếp theo tứ tự từ tàu tuần dương đến thiết giáp hạm: tăng khả năng diệt tàu.
    Tàu ga-lê (Bireme, Galley), loại tàu cổ từ thế kỷ 18 về trước, có hai hàng mái chèo và mũi cứng, tàu có tốc độ cao, đi được trong vùng nước nông, ngược gió... rất cơ động. Tàu chứng tỏ sức mạnh trong Đại chiến Bắc Âu.
    Tàu ga-lê-ôn, loại tàu chiến chủ lực từ thế kỷ 16 về trước ở châu Âu và Địa Trung Hải. Vừa có buồn vừa có chèo, chiến đấu giáp lá cà. Sau được thay bằng ship of the line dùng súng.
    Tàu ga-liz, loại tàu chiến cổ, có ba cột buồn và hai hàng mái chèo. Có thể đi xa bằng buồm và đối kháng mạnh bằng chèo.
    Tàu chỉ huy hay kỳ hạm (Capital ship, flag ship). Kỳ hạm trước dây chỉ loại tàu có đoạn trên của cột buồn rất cao, trên có nhiều cờ mầu sắc khác nhau, dùng để ra lệnh cho hạm đội. Sau này dùng với nghĩa chỉ huy hạm đội. en:Capital ship nhỏ hơn, chỉ huy nhóm tàu. Thường là một thiết giáp hạm với các tàu tuần dương, tàu khu trục...
    Tàu Frai-ghết (Frigate) loại tàu chiến nhỏ, cơ động, giữa pháo hạm và tàu khu trục. Từ này dùng cho nhièu loại tàu thay đổi theo thời gian. Ngày nay chức năng của nó như tàu tuần dương, nhưng chạy nhanh hơn và mang vũ khí nhỏ hơn, có thể coi là tàu tuần dương chạy nhanh.
    Pháo hạm hay tàu pháo (Gun ship), tàu chở nhiều pháo bắn lên bờ.
    Tàu khu trục (Destroyer, ban đầu là torpedo boat destroyer (tàu diệt tàu phóng lôi), sau đọc ngắn gọn là destroyer. Tàu chạy nhanh, cơ động, ăn lái, trước đây dùng pháo bắn nhanh. Ngày nay tàu diệt rất nhiều mục tiêu khác nhau trên mặt, dưới nước và trên không, đảm bảo an toàn cho các tàu khác. Ngày nay tàu này to như hoặc hơn tàu tuần dương, chức năng là cảnh giới cho hạm đội.
    Thời kỳ Dreadnought (1906), thời tất cả đều to (all big), chỉ thời kỳ thiết giáp hạm dùng pháo nòng dài rất lớn và giáp dầy.
    Quinquereme, loại tàu chiến thượng cổ châu Âu, hồi La Mã mỗi mạn có 3 hàng mái chèo. Hàng trreen cùng 3 người 1 chèo, hàng giữa 2, hàng dưới 1. Nô nệ chèo bị xích.
    Trireme, hậu duệ của Quinquereme, tốc độ cao, có mũi cứng đâm vào tàu địch, thủy binh nhảy sang giáp lá cà.
    Tàu chiến tuyến (Ship of the line), thế kỷ 17-19, hồi đó tầm súng rất thấp, các tàu dàn hàng bắn nhau, đây là các tàu diệt tàu đứng trên hàng đầu.
    Tàu quét mìn
    Tàu rà mìn
    lớp Monitor, loại thiết giáp hạm đầu tiên, thời Nội chiến Mỹ.
    USS Monitor, chiếc dầu tiên của Lớp Monitor.
    tàu Monitor, pháo hạm nhỏ nhưng mang pháo lớn bắn lên bờ. Đi được ở các vùng nước nông.
    Tàu phóng lôi (Torpedo boat), tàu phóng ngư lôi, nhỏ, tốc độ cao, có súng bắn nhanh.
    Xà-lúp (Sloop), trước đây là tàu tuần tra nhỏ một buồm châu Âu, nay chỉ các tàu nhỏ.
    Xà-lan
    Thông báo hạm, (Commerce raider)
    Tàu bọc thép, (Ironclad), tàu gỗ bọc thép.
    Tầu hộ tống (Corvette)
    Ca-nô
    Thuyền phóng hỏa (Fireship), thuyền chứa các chất dễ cháy, đốt rồi lao về phía tầu địch.
    Tàu Viking dài (Longship), tầu đột kích của quân Viking.
    Man of war, Tàu buồm chiến đấu chủ lực thế kỷ 16-18.
    Tàu ngầm
    MAI NÀY NẾU PHẢI CHẾT
    LÀM CHIẾN BINH OAI HÙNG
    HOA HỒNG TRÊN MỘ CHÍ
    NỞ MÃI SẮC TƯƠI HỒNG
    Paracel Islands,Spratly Islands there will come a day....
    HASTA LA VISTA BABY !
    Lấy từ“http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_chi%E1%BA%BFn
    Thành viên này đang bị xếp vào dạng theo dõi. Các bạn xem chi tiết ở đây

  2. #2
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    77
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Bác tính biến hoangsa.org thành vi.wikipedia.org à
    Chính trị là một con đĩ

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    1.037
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Ồ No!tại em thấy nó hay nên mới đem lên cho mọi người xem cho vuiđể ta được hiểu biết nhìu hơn.Chứ thấy mấy Bác cứ Bàn Luận choảng nhau trên Biển mà không có Bình luận gì về Lịch sử Phát triển tàu Chiến thì hơi lạ
    Thành viên này đang bị xếp vào dạng theo dõi. Các bạn xem chi tiết ở đây

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    545
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    nói chung wiki cũng có nhiều cái đúng,đùng cứng nhắc nhủ vậy!

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    khắp nơi nơi mệt đứt cả hơi
    Bài gửi
    831
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    5
    Uploads
    2
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    Bác kiếm được tài liệu lịch sử tàu chiến của Việt Nam thì tốt. Không hiểu thời đánh quân nguyên, quân nam hán trên sông Bạch Đằng, tàu thuyền chúng ta như thế nào
    Hạnh phúc đơn sơ

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    1.037
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi duongquynh Xem Bài gửi
    Bác kiếm được tài liệu lịch sử tàu chiến của Việt Nam thì tốt. Không hiểu thời đánh quân nguyên, quân nam hán trên sông Bạch Đằng, tàu thuyền chúng ta như thế nào
    Em cũng đang tính kiếm cái tài liệu này nhưng nghe nói chỉ toàn được ghi lại trong sách cổ thôi không có hình ảnh mà có thì toàn hình mình tái hiện lại trên 3D thôi.Nếu bác thích Bữa nào rảnh em ra Tiệm Net SACN cái tài liệu đó lên Em xin nói trước:CÁI ĐÓ KHÁ DÀI VÀ ĐỌC HƠI MỎI MẮT VÌ CHI CHÍT LÀ CHỮ nẾU bÁC LÀ NGƯỜI THÍCH ĐỌC CHỮ THÌ EM SẼ ĐEM LÊN CHO cOI
    Thành viên này đang bị xếp vào dạng theo dõi. Các bạn xem chi tiết ở đây

  7. #7
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    1.037
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Post cái này lên dây Cót tinh thần a e 1 cái để a e biết rằng Mình sẽ Chiến thắng
    Chiến thuyền thời Tây SơnNguyễn Huệ - linh hồn của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn - sinh trưởng ở vùng núi, nên rất giỏi về bộ chiến. Đồng thời ông còn là vị tướng rất tài ba trên phương diện thủy chiến, có những chiến công vô cùng hiển hách.
    Trong quá trình phát triển đi lên của nghĩa quân, Nguyễn Huệ đã chú trọng đến việc xây dựng đội thủy binh hùng mạnh. Thủy quân Tây Sơn gồm có thuyền vận tải và thuyền chiến, đông đến cả ngàn chiếc.

    Chiến thuyền Tây Sơn trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút.

    Lúc bấy giờ, công nghệ đóng thuyền ở nước ta đã có những tiến bộ nhất định. Cuối thế kỷ XVIII, John Barraw - hội viên Hội Hoàng gia Anh - đã đến xứ Đàng Trong (miền Trung và miền Nam Việt Nam) và chứng kiến: "Thuyền của họ đóng rất đẹp, thường dài từ 50 đến 80 pied (1pied = 0,30m). Đôi khi một chiếc thuyền như vậy chỉ gồm 5 tấm ván, kéo dài từ đầu nọ đến đầu kia và được ghép vào nhau bằng mộng. Thuyền biển của họ đi không nhanh lắm, nhưng rất an toàn. Bên trong được chia thành từng khoang, loại này rất chắc có thể đâm vào đá ngầm mà không chìm vì nước chỉ vào một khoang mà thôi. Hiện tại ở Anh đã bắt chước cách làm này để áp dụng vào việc đóng tàu".

    Một số lớn thuyền chiến của Tây Sơn được trang bị pháo, nhằm tăng cường hỏa lực, tạo nên mũi đột kích có sức công phá và tiêu diệt lớn. Trong một bức thư của Jeaptiste Chaigneau cho biết ở Quy Nhơn, thủy đội Tây Sơn có 54 tàu, 93 chiếc thuyền, 300 pháo hạm, 100 tàu buồm trang bị khá hùng hậu.
    Năm 1782, thủy quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến đánh Gia Định. Thủy quân của Nguyễn Ánh dàn trận ở sông Cần Giờ nghênh chiến. Chiến thuyền Tây Sơn "giương buồm căng, xông pha thẳng tiến" (Lịch triều tạp kỷ - LTTK - Ngô Cao Lãng). Chiến thuyền quân Nguyễn "chưa giao chiến đã tự tan vỡ". Trong trận này, thủy quân Tây Sơn đã đốt cháy chiếc tàu do Maanuel - một sĩ quan Pháp trong quân đội chúa Nguyễn - làm thuyền trưởng và giết chết luôn y. Thừa thắng, thủy quân Tây Sơn đánh tan luôn cả hạm thuyền của Nguyễn Ánh đóng ở sông Ngã ba thuộc Xoài Rạp, rồi tiến thẳng đến Bến Nghé, khiến chúa Nguyễn phải bôn tẩu ra đảo Phú Quốc.
    Năm 1783, thủy quân Tây Sơn lại tiến vào Gia Định, đánh quân Nguyễn. Hạm thuyền Tây Sơn và hạm thuyền chúa Nguyễn giáp chiến kịch liệt ở sông Bến Nghé. Kết cục hạm thuyền Tây Sơn đã đốt cháy hạm thuyền quân Nguyễn mờ mịt trong vòng khói lửa dữ dội! Lần này, Nguyễn Ánh cùng tàn quân lại phải chạy trốn ở đảo Phú Quốc.
    Năm 1786, nghĩa quân Tây Sơn tiến đánh Phú Xuân, các pháo thuyền Tây Sơn đậu ở sông Hương, chờ nước thủy triều lên, bắn phá dữ dội vào thành và nhanh chóng chiếm được Phú Xuân của quân Trịnh. Thừa thắng quân thủy Tây Sơn gồm 1.400 chiến thuyền và 2 vạn quân tiến ra Bắc Hà. Quân Trịnh tổ chức phòng thủ ở Nghệ An, nhưng bị nghĩa quân đánh chiếm dễ dàng.
    Sử cũ ghi: "Thuyền Tây Sơn đến cửa Hội thuộc Hội An, trấn thủ Bùi Thế Toại đốt doanh trại, bỏ trốn chạy. Thuyền (Tây Sơn) như đi vào chốn không người, như gió, lướt đến đấy, không ai dám chống cự" (LTTK). Thủy quân Tây Sơn tiến tiếp đến Vị Hoàng. Viên trấn thủ của chúa Trịnh ở đấy chạy trốn. Lúc bấy giờ, thanh thế của nghĩa quân rất lừng lẫy. Nhân dân Nghệ An leo lên núi, trông ra ngoài biển thấy "cánh buồn và cờ xí của Tây Sơn rất nhiều" (LTTK).
    Sau khi mất Vị Hoàng, chúa Trịnh vội điều Đinh Tích Nhưỡng - một viên tướng rất giỏi thủy chiến của quân Trịnh - đem chiến thuyền từ Hải Dương vào bảo vệ trấn Nam Sơn cùng với trấn thủ Đỗ Thế Dân chuyên lo mặt bộ. Chiến thuyền Tây Sơn tiến đến xông chiến. Hai bên đấu pháo kịch liệt, nhưng uy lực pháo từ các chiến thuyền Tây Sơn đã bỏ ra át hẳn quân Trịnh: "Đại pháo (Tây Sơn) tiếng to như tiếng sấm, đạn bay qua các cây cổ thụ, tiện làm hai đoạn" (LTTK). Sau một lúc bắn nhau, chiến thuyền Tây Sơn "nổi trống, reo hò, tiến lên không biết bao nhiêu mà kể. Thấy không địch nổi, Nhưỡng vội quay thuyền về, lên bờ chạy trốn" LTTK).
    Phát huy chiến thắng, thủy quân Tây Sơn, từ sông Lục Môn (Sơn Nam) tràn về kinh thành Thăng Long như nước vỡ bờ. Chúa Trịnh vội sai tướng Hoàng Phùng Cơ (Quận Thạc) đem binh thuyền trấn giữ cửa sông Thúy Ái. Pháo từ các chiến thuyền Tây Sơn bắn cấp tập vào đội hình quân Trịnh, khiến các tướng của Quận Thạc trên chiến thuyền thuộc tiền trạch đội và trung trạch đội bị pháo giết chết toàn bộ. Quận Thạc buộc phải "cướp đường chạy, chỉ kịp thoát thân. Quân Trịnh bị chết, thây xác ngổn ngang trên và dưới hồ Vạn Xuân không sao kể xiết" (LTTK).
    Sau đó, quân thủy Tây Sơn đổ bộ lên bến Tây Luông và đánh bại quân Trịnh cuối cùng ở tại đây. Chúa Trịnh Tông phải chạy trốn và bị bắt. Chấm dứt việc cai trị Bắc Hà của dòng họ Trịnh - một dòng họ từ lâu đã đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân.
    Sau khi vào Thăng Long, Nguyễn Huệ lập lại trật tự Bắc Hà và giao quyền cai trị cho vua Lê Hiển Tông, chẳng bao lâu sau, vua Lê chết và Lê Chiêu Thống lên nối ngôi. Tình hình Bắc Hà trở nên rối ren. Lê Chiêu Thống bất tài và nhu nhược cầu viện quân Thanh (Trung Hoa). Nhân cớ đó, Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân xâm lược nước ta. Trước thế nước nguy vong, Nguyễn Huệ từ Phú Xuân thống lĩnh đại quân ra Bắc diệt bọn cướp nước và bọn bán nước. Từ Phú Xuân, toàn bộ lực lượng của nghĩa quân đã xuống thuyền cấp tốc hành quân đến Nghệ An và từ đây, chia làm 2 cánh, cánh quân bộ và cánh quân thủy, tiến đến Thăng Long. Mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (3-2-1789), nghĩa quân giải phóng kinh thành khỏi ách chiếm đóng của quân xâm lược Thanh.
    Chiến thuyền Tây Sơn kiểm soát Biển Đông
    Giống như các Chúa Nguyễn trước đây, Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ tổ chức ra các hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải để thực thi nhiệm vụ xác lập và bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794 – 1857) có viết: “Chiến thuyền của quân Tây Sơn cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển, nếu quân Thanh gặp phải thì cũng khó có thể địch được”. Đây là bằng chứng khẳng định hải quân Tây Sơn thời đó vượt trội hơn hải quân Trung Quốc, trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển, các đảo và quần đảo trên Biển Đông.

    (Theo Dư Địa chí Bình Định)

    Mỹ - Tàu “đụng nhau” và hành động của chúng ta! http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/6398/index.aspx

    Mấy thằg Đực khựa qua Đây tao thách Chúng mày

    Có Ngon ra solo với tao nè

    Thành viên này đang bị xếp vào dạng theo dõi. Các bạn xem chi tiết ở đây

  8. #8
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    1.037
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    1
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Hàng không mẫu hạm (Aircraft Carrier)

    Một hàng không mẫu hạm (còn được gọi là tàu sân bay) là một loại tàu chiến được thiết kế để triển khai và thu hồi lại máy bay chiến đấu—trên thực tế hoạt động như một căn cứ không quân trên biển. Vì vậy các hàng không mẫu hạm cho phép lực lượng hải quân triển khai không lực ở những khoảng cách lớn không phụ thuộc vào các căn cứ ở gần đó để làm căn cứ trên mặt đất cho máy bay. Các lực lượng hải quân hiện đại với những con tàu như vậy coi chúng là trung tâm của hạm đội, vai trò trước đó do tàu chiến đảm nhận. Sự thay đổi này, một phần vì sự phát triển của chiến tranh trên khôngthành một phần quan trọng trong chiến tranh, đã diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ II. Các hàng không mẫu hạm không có hộ tống được coi là dễ bị các tàu khác, máy bay, tàu ngầm hay phi đạn tấn công và vì thế phải di chuyển trong một nhóm tàu chiến hàng không mẫu hạm. Trong lực lượng hải quân của nhiều nước, đặc biệt là Hải quân Hoa Kỳ (US), một hàng không mẫu hạm được coi là tàu chính.


    Với chiều dài gần gấp 3 lần sân bóng đá, trọng tải lên tới hàng chục vạn tấn, có giá trị hàng tỷ USD... các tàu sân bay (hàng không mẫu hạm) thực sự là những người khổng lồ trên đại dương. Nó không chỉ là căn cứ không quân trên biển mà còn là phương tiện để các cường quốc như Mỹ, Anh phô trương uy lực của mình.

    Sơ lược về Hàng không mẫu hạm (HKMH) trong lực lượng Hải quân các nước:



    Quân đội giải phóng nhân dân của Trung Quốc đang sở hữu chiếc hàng không mẫu hạm cũ của Liên Xô chiếc Varyag, nhưng đa số các nhà phân tích hải quân tin rằng họ không có ý định đưa nó vào sử dụng, mà chỉ sử dụng chiếc Varyag để học cách sử dụng các hàng không mẫu hạm Trung Quốc trong tương lai.
    Ấn Độ đã bắt đầu chế tạo một chiếc hàng không mẫu hạm 37.500 tấn, 252 mét dài vào tháng 4 năm 2005. Chiếc hàng không mẫu hạm mới sẽ có giá 762 triệu US dollar và sẽ mang theo các máy bay Mig-29K 'Fulcrum' và Sea Harrier cùng với các máy bay trực thăng do Ấn Độ và Nga cùng chế tạo. Chiếc tàu này sẽ có bốn động cơ turbine và khi hoàn thành sẽ có tầm hoạt động 7.500 dặm biển, mang theo 160 sỹ quan, 1400 binh lính và 30 máy bay. Chiếc tàu đang được đóng tại một xưởng đóng tàu nhà nước ở phía nam Ấn Độ. Năm 2004, Ấn Độ cũng mua chiếc Admiral Gorshkov từ Nga với giá 1,5 tỷ US dollar; nó đang sắp được biên chế vào Hải quân Ấn Độ vào năm 2008 sau khi được sửa chữa.


    Mặt dù rất hiệu quả , cơ động trong việc đem sức mạnh không quân đến bất cứ nơi nào trên thế giới nhưng chi phí duy trì hoạt động của KHMH rất tốt kém. Do đó, ngoài Mỹ, các quốc gia còn lại có số lượng rất hạn chế (Riêng Nga thì hiện tại chỉ còn lại 1 chiếc HKMH đang hoạt động và chưa có kế hoạch đóng HKMH mới nào)



    Về cơ bản tàu sân bay có chức năng chính là nơi đậu cho các máy bay và có một hệ thống đường băng cho phép cất và hạ cánh thuận lợi. Trong cuộc chiến 10 năm (1903-1913), Mỹ cùng với Anh và Đức đã thử nghiệm các tàu chiến hiện đại nhất của mình bấy giờ và đều hiểu rằng cần phải páht triển đuợc 1 dạng tàu cỡ lớn có khả năng chuyên chở các máy bay chiến đấu tới bất kỳ nơi nào trên thế giới.
    Ngày nay, các hàng không mẫu hạm là thành phần chủ yếu trong các chiến dịch quân sự do quân đội Mỹ thực hiện...Mặc dù không được trang bị những loại vũ khí đặc biệt, khi thực hiện nhiệm vụ luôn cần một đội tàu hộ tống từ 5 đến 7 chiếc, nhưng sức mạnh của tàu sân bay với ưu thế về không lực có thể tạo ra sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại. Vì vậy không có gì lạ khi Mỹ muốn chuẩn bị tấn công nước nào là hàng loạt các tàu sân bay được điều động tới hải phận của quốc gia đó...


    Cấu trúc & vận hành
    Thân tàu được thiết kế bằng những lá thép siêu cứng có độ dày vài inch. Vỏ tàu có khả năng bảo vệ hiệu quả trước các cuộc tấn công và phá hoại. Phần vỏ tàu nằm dưới mặt nước thu nhỏ hơn so với phần nổi. Cấu trúc này giúp tăng cường bảo vệ trước các cuộc tấn công bằng ngư lôi hay tai nạn trên biển. Giống như các loại tàu thuỷ khác, tàu sân bay chuyển động bằng lực đẩy với các động cơ đẩy quay tròn. 4 cánh quạt của động cơ làm bằng đồng được nối với tuabin hoạt động bằng năng lượng hạt nhân. Một tàu sân bay mang hai lò phản ứng hạt nhân đặt tại khu vực giữa tàu và được bảo vệ nghiêm ngặt. Năng lượng được giải phóng sẽ tạo ra áp suất cao nhằm quay cánh quạt trong tuabin và tạo ra lực đẩy làm tàu chuyển động. Thông thường công suất của động cơ trên tàu sân bay đạt tới 280000 sức ngựa, đạt vận tốc gần 70km/h.
    Cất và hạ cánh trên tàu sân bay
    Khu vực boong (Flight-deck) trên tàu sân bay là một môi trường làm việc nguy hiểm và cũng nhộn nhịp nhất. Flight-deck cũng giống như một đường băng trên mặt đất, nhưng thực tế nó rất khác do bị bó buộc trong không gian nhỏ hơn. Để cất cánh, máy bay phải tạo ra một luồng không khí chuyển động trên cánh để tạo ra lực nâng. Để máy bay cất cánh dễ dàng, tàu sân bay có thể hỗ trợ lực đẩy không khí trên mặt đường băng theo hướng máy bay cất cánh. Nó làm giảm tốc độ cất cánh tối thiểu của máy bay. Việc tạo luồng không khí do một thiết bị được gọi là máy phóng (Catapult) tạo ra. Trung bình tàu sân bay thường có 4 máy phóng, giúp cho máy bay tăng tốc cực nhanh trong khoảng cách ngắn. Hệ thống máy phóng có thể đẩy một máy bay trọng lượng hơn 20 tấn lên tốc độ 266km/h trong vòng 2 giây. Nếu mọi chuyện đều ổn, tốc độ của máy bay sẽ đủ để tạo ra lực nâng và máy bay sẽ cất cánh. Ngược lại, phi công sẽ phải kích hoạt hệ thống đẩy ghế lái (Ejector Seat) bật ra khỏi máy bay và nhảy dù trước khi máy bay rơi xuống biển.
    Cất cánh đã phức tạp như vậy nhưng hạ cánh còn nguy hiểm hơn nhiều. Đây được coi là việc khó nhất mà các phi công phải thực hiện với đường băng trên tàu chỉ dài khoảng 150m, quá ngắn cho việc hạ cánh thông thường. Để hạ cánh mỗi máy bay cần phải có một chiếc móc (taihook) ở phía đuôi. Phi công cần làm sao cho Taihook vướng vào 1 trong 4 đoạn cáp hãm (Arresting wire) cực chắc được tạo từ thép siêu bền. Các đoạn cáp hãm được căng ngang boong và được gắn vào hai đầu của một xilanh sử dụng áp lực nước nằmg phía dưới. Nếu chiếc móc của máy bay vướng vào một trong những đoạn cáp hãm, nó sẽ làm căng dây cáp và hệ thống xilanh sẽ sinh ra năng lượng làm máy bay dừng lại. Hệ thống cáp hãm có khả năng hãm một máy bay nặng 24,5 tấn với tốc độ 241km/h chỉ trong vòng 2 giây. Khi chuẩn bị hạ cánh, phi công cần tiếp cận mặt boong chính xác từ góc phải. Các thao tác hạ cánh bắt đầu khi máy bay lượn theo hình ô van quanh tàu. Khi nhận lệnh cho cho phép hạ cánh, phi công cho máy bay tiếp cận mặt boong và đẩy động cơ tới mức tối đa, thay vì đưa về mức thấp để hãm máy bay lại. Điều này có vẻ vô lý nhưng nếu chiếc móc không không vướng vào bất cứ đoạn cáp nào thì máy bay vẫn đủ tốc độ để cất cánh lại, tiếp tục bay và tìm cách hạ cánh sau.
    Đường băng chéo

    Đường băng chéo góc cho phép phóng và đáp máy bay cùng lúc an toàn




    Trong Thế chiến thứ hai, máy bay phải hạ cánh trên một đường băng song song với trục dài của thân tàu. Máy bay nào đã đỗ trên sàn được cho đỗ ở mũi tàu, chỗ cuối đường băng. Một thanh ngăn va chạm được dựng lên phía sau chúng để ngăn máy bay đang hạ cánh khỏi lao vào khu vực đố bởi vì móc giữ của nó móc trượt vào các dây giảm tốc. Nếu điều này xảy ra, thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng, thương vong hay thậm chí, nếu thanh chắn không đủ chắc, còn phá hủy các máy bay đã đỗ.
    Một phát triển quan trọng trong thập niên 1940 khi Anh phát minh ra đường băng chéo, nơi đường băng được đặt chéo vài độ so với trục thân tàu. Nếu một máy bay không móc được cáp giảm tốc, phi công chỉ cần tăng sức động cơ lên tối đa rồi lại cất cánh lại và sẽ không đâm phải các máy bay đã đỗ bởi vì đường băng chéo góc hướng ra ngoài biển.




    Các máy bay trên hàng không mẫu hạm Shokaku - Nhật Bản chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng - Chiến tranh thế giới II






    HKMH USS Saratoga năm 1935





    Những cải tiến thời chiến


    Hàng không mẫu hạm Taiho mũi chống bão


    Kinh nghiệm chiến đấu đã cho thấy phát minh "mũi tàu chống bão" của Anh là các sử dụng mũi tàu hữu hiệu nhất, hơn cả súng máy hay một tầng thứ nhì. Loại mũi tàu này đã được sử dụng rộng rãi cho các hàng không mẫu hạm Anh và Mỹ. Hàng không mẫu hạm Nhật Taiho là tàu đầu tiên của Nhật sử dụng phát minh này.
    Bắt đầu muộn trong cuộc chiến với lớp HKMH Midway, các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đã trở nên to lớn tới mức thực tế việc áp dụng khái niệm thiết kế sàn chứa máy bay (hangar deck) trở thành sàn chắc (strenth deck) không còn thích hợp nữa, và mọi hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sau này đều có sàn cất cánh là sàn chắc, khiến đảo trở thành siêu cấu trúc duy nhất.

    Những phát triển thời hậu chiến:


    Hệ thống phóng thủy lực hiện đại, được cung cấp sức mạnh thủy lực từ các nồi hơi hay các lò phản ứng, được Chỉ huy trưởng C.C. Mitchell Royal Naval Reserve phát minh ra. Nó đã được ứng dụng rộng rãi sau khi được thử nghiệm nhiều lần trên chiếc HMS Perseus từ giữa 1950 và 1952 nó cho thấy sức mạnh lớn hơn và độ tin cậy cao hơn những hệ thống phóng dùng khí nén vốn từng được đưa vào sử dụng từ thập niên 1930. Hiện tại, chỉ các hàng không mẫu hạm dùng năng lượng hạt nhân là có các nồi hơi như một phần trong hệ thống sức mạnh chuyển động của nó, đa phần các hàng không mẫu hạm hiện nay được trang bị thiết bị phát hơi chỉ dùng để cung cấp năng lượng cho các máy phóng.
    Một sáng chế khác của người Anh là bộ phận chỉ thị độ dốc trượt (glide-slope indicator) (cũng được gọi là "thịt viên"). Đó là một cái đèn được điều khiển kiểu con quay hồi chuyển (gyroscopically-controlled lamp) ở phía hạ cánh của boong, và được phi công đang sắp hạ cánh quan sát thấy, chỉ thị cho anh ta thấy anh ta đang ở quá cao hay quá thấp so với đường lượn xuống chính xác. Nó cũng tính toán sẵn ảnh hưởng của sóng đối với boong. Thiết bị này đã trở nên cần thiết khi tốc độ hạ cánh của máy bay ngày càng tăng lên.
    Hải quân Hoa Kỳ từ sớm đã cố gắng để trở thành một lực lượng hạt nhân chiến lược với kế hoạch chế tạo chiếc USS United States (CVA -58), thuật ngữ CVA, với chữ "A" để biểu thị "hạt nhân". Chiếc tàu này mang các máy ném bom cánh quạt đôi, mỗi chiếc có thể mang một quả bom hạt nhân. Dự án này đã bị hủy bỏ dưới sức ép của lực lượng mới được thành lập gần đây là Không lực Hoa Kỳ, và chữ "A" được dùng lại với ý nghĩa "tấn công". Nhưng điều này chỉ làm chậm sự lớn mạnh của các hàng không mẫu hạm. Các vũ khí hạt nhân sẽ được mang ra biển bất chấp sự phản đối của Không quân năm 1955 trên chiếc USS Forrestal , và tới cuối thập niên 1950 Hải quân đã có nhiều máy bay tấn công trang bị vũ khí hạt nhân.

    Hải quân Hoa Kỳ mang vũ khí hạt nhân trên biển theo cách khác bằng cách chế tạo các hàng không mẫu hạm có trang bị các lò phản ứng hạt nhân. Chiếc USS Enterprise là chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên được cung cấp năng lượng theo kiểu này và những chiếc siêu hàng không mẫu hạm này có ưu thế vì kiểu công nghệ đó cho phép chúng hoạt động lâu dài trên biển. Một quốc gia khác duy nhất học theo Hoa Kỳ là Pháp với chiếc Charles de Gaulle.
    HKMH USS Enterprise của Mỹ.


    Những năm hậu chiến cũng chứng kiến sự phát triển của máy bay trực thăng với nhiều khả năng khác biệt so với máy bay chiến đấu. Trong khi các máy bay có cánh cứng thường có nhiệm vụ chiến đấu không đối không và không đối đất thì các máy bay trực thăng được sử dụng để vận chuyển trang thiết bị và con người và có thể được sử dụng trong vai trò chiến tranh chống tàu ngầm với thiết bị siêu âm thả xuống nước và các tên lửa.
    Vào cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960, Anh Quốc đã hoán cải một số hàng không mẫu hạm cũ của họ thành các hàng không mẫu hạm chở quân biệt kích, và những chiếc máy bay trên biển kiểu HMS Bulwark. Để chiến đấu chống lại những ý nghĩa đắt giá của thuật ngữ "hàng không mẫu hạm", chiếc tàu loại mới lớp Invincible ban đầu được chỉ định "thông qua sàn các tuần dương hạm" và chở các máy bay trực thăng với nhiệm vụ hộ tống. Khi loại máy bay Sea Harrier xuất hiện, chúng đã có thể mang cả máy bay cánh cứng dù có đường băng ngắn.
    HMS Bulwark






    Các tàu sân bay hiện nay


    Các tàu sân bay thường là những tàu lớn nhất được điều hành bởi các lực lượng hải quân; một chiếc thuộc lớp Nimitz được lắp hai lò phản ứng hạt nhân và bốn turbine hơi dài 1092 ft (333 m) và có giá khoảng 4.5 tỷ US dollar. Hoa Kỳ sở hữu nhiều tàu sân bay nhất với khoảng hơn mười chiếc đang hoạt động, và các tàu sân bay của họ là nền tảng để phô trương khả năng quyền lực Hoa Kỳ.
    Chín nước có sở hữu các tàu sân bay là: Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Brazil, Italy, Ấn Độ và Thái Lan. Hơn nữa Quân đội giải phóng nhân dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sở hữu chiếc tàu sân bay cũ của Liên xô chiếc Varyag, nhưng đa số các nhà phân tích hải quân tin rằng họ không có ý định đưa nó vào sử dụng, mà chỉ sử dụng chiếc Varyag để học cách sử dụng các tàu sân bay Trung Quốc trong tương lai. Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Pakistan, Australia, Chile, New Zealand và Singapore cũng đang sở hữu các tàu mang máy bay trực thăng.
    Thông thường các tàu sân bay được hộ tống theo bởi nhiều tàu khác, để bảo vệ chiếc tàu to lớn đó, để cung cấp hậu cần, và để tăng khả năng tấn công. Những nhóm này thường được gọi bằng thuật ngữ nhóm chiến đấu hay nhóm tàu sân bay, thỉnh thoảng là một nhóm tàu sân bay chiến đấu.
    Các tàu sân bay hiện đại
    Việc sử dụng tàu sân bay gần đây gồm trong chiến tranh Falklands, khi Anh Quốc đã có thể chiến thắng trong một cuộc xung đột cách nước họ 8,000 dặm (13,000 km) phần lớn nhờ ở việc sử dụng chiếc tàu sân bay cỡ lớn HMS Hermes và chiếc nhỏ hơn HMS Invincible. Chiến tranh Falklands cho thấy giá trị của những chiếc máy bay kiểu VSTOL – chiếc Hawker-Siddeley Harrier (loại RN Sea Harrier và press-ganged RAF Harriers) trong việc bảo vệ hạm đội và lực lượng tấn công khỏi sự tấn công của các máy bay từ trên bờ và trong tấn công đối phương. Các máy bay trực thăng từ các tàu sân bay được sử dụng để triển khai quân và thu hồi quân lính bị thương.

    Một chiếc Harier đang hạ cánh trên tàu sân bay
    Người Mỹ cũng đã sử dụng các tàu sân bay ở Vịnh Péc xích, Afghanistan và để bảo vệ các quyền lợi của họ ở Thái bình dương. Gần đây nhất, trong cuộc tấn công Iraq năm 2003 đã đề cao khả năng của các tàu sân bay trong vai trò căn cứ hàng đầu của không lực Hoa KỲ. Thập chí không có khả năng có nhiều căn cứ không quân ở Trung Đông, Hoa Kỳ vẫn có thể tung ra những cuộc tấn công đáng kể từ các phi đội xuất phát từ các tàu sân bay.
    Đầu thế kỷ 21, các tàu sân bay trên khắp thế giới đã có khả năng mang khoảng 1250 máy bay. Hoa Kỳ chiếm hơn 1000 chiếc trong số đó; nước đứng thứ hai là Anh Quốc với hơn 50 chiếc. Anh Quốc và Pháp cả hai đều đang tiến hành mở rộng khả năng về tàu sân bay của họ (với một lớp tàu thông thường), nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí đầu bảng của mình với khoảng cách khá xa.


    Các hàng không mẫu hạm hiện đại


    Hàng không mẫu hạm USS Constellation CV-64 của Hoa Kỳ



    Hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan của Mỹ







    HKMH USS Theodore Roosevelt (cvn-71) của Mỹ.



    HKMH USS Abraham Lincoln của Mỹ


    HKMH USS Abraham Lincoln của Mỹ



    Thao tác chuẩn bị bay trên chiếc HKMH USS Abraham Lincoln



    Một số hình ảnh Hàng không mẫu hạm của Mỹ:



















    Hàng không mẫu hạm Đô đốc Kuznetsov, Nga (chiếc HKMH duy nhất còn đang hoạt động của Hải quân Nga).











    Máy bay Su-33 cất cánh từ tàu sân bay của Nga.










    Hàng không mẫu hạm Nga Novorossijsk Kiev. Tuy cùng là hàng không mẫu hạm nhưng nó có kích thước khá nhỏ so với các hạm của Hoa Kỳ và chỉ có thể chở trực thăng. Hiện đã ngưng phục vụ.




    HKMH Charles De Gaulle (Lớp CVN) của Pháp.






    Máy bay Rafale-12F trên tàu sân bay của Pháp.




    HKMH Giuseppe Garibaldi của Ý







    Một số thông tin thêm về HKMH của Hải quân TRUNG QUỐC

    Trung Quốc hạ thủy hàng không mẫu hạm tự đóng

    Trung Quốc từ lâu muốn làm chủ một hàng không mẫu hạm. Các dự án tự đóng bị trì hoãn. Nhưng khát vọng đó có thể đã thành hiện thực, cùng chiến lược hải quân Nam tiến.
    Năm 1985, Trung Quốc quyết định mua một hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) phế thải của Australia, chiếc HMAS Melbourne, trên danh nghĩa để lấy sắt vụn với giá chưa tới 2 triệu USD. Chiếc HMAS Melbourne này được đóng với kỹ thuật từ thời chiến tranh thế giới thứ hai nhưng đã được tân trang và tu sửa nhiều lần để lưu dụng tới năm 1982. Khi về tay Trung Quốc đường băng trên tàu vẫn còn nguyên vẹn. Trung Quốc thật sự đã tháo dỡ hàng không mẫu hạm này, trước tiên là để các kỹ sư đóng tàu của hải quân học hỏi chi tiết cấu trúc, phần đường băng đã được giữ lại để huấn luyện.

    Chiếc Varyag đã được Trung Quốc tu sửa

    Sự tan rã của Liên Xô tạo cơ hội để Trung Quốc học hỏi thêm về kỹ thuật đóng tàu sân bay. Trong khi kinh tế các nước Cộng hoà cũ thuộc Liên bang Xô Viết gặp khó khăn, Trung Quốc bước vào thời kỳ ổn định và phát triển vượt bậc. Nhờ đó, nước này mua thêm hai hàng không mẫu hạm cũ của Nga: chiếc Minsk vào năm 1998 và chiếu Kiev vào năm 2000.
    Sau khi nghiên cứu kỹ thiết kế của 2 hàng không mẫu hạm này, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng trong lĩnh vực giải trí để thu hút du khách. Việc dùng các công ty tư nhân mua hàng không mẫu hạm cũ cho du lịch của Trung Quốc chỉ là cái cớ. Trước khi các tàu này được đưa vào sử dụng với mục đích dân sự, chúng đã qua một thời gian dài nghiên cứu của hải quân.
    Cùng sách lược này, một công ty Trung Quốc đã mua hàng không mẫu hạm thứ tư, chiếc Varyag của Ukraine, với giá 20 triệu USD. Sau nhiều năm thương lượng, thêm gần 3 tháng lênh đênh trên biển và hơn 10 triệu USD thuê kéo, hàng không mẫu hạm Varyag (Viking) đã về đến xưởng đóng tàu Đại Liên của Trung Quốc năm 2002.
    Khác với những chiếc trước, Varyag không phải là hàng không mẫu hạm cũ mà là một chiếc tàu mới đang nằm trong xưởng đóng tàu.
    Số là vào thời điểm 1992, chiếc tàu đã gần hoàn thiện, chỉ cần thêm vài trăm triệu USD thực hiện các khâu cuối cùng. Nhưng Liên Xô tan rã, không ai có tiền để tiếp tục hoàn thành con tàu. Cũng không ai biết nó sẽ thuộc về nước nào sau khi hoàn thành, nên nó bị bỏ dở. Sau gần 10 năm hoang phế, Ukraine đã tháo hết máy móc và trang thiết bị điện tử, chỉ còn lại vỏ tàu để bán cho Trung Quốc. Nếu hoàn tất và được trang bị đầy đủ thì hoả lực của Varyag rất đáng sợ. Với đường bay dài hơn 300 thước, Varyag có thể là căn cứ di động của 24 máy bay chiến đấu loại có khả năng cất cánh gần thẳng đứng, như Mig-29L hay SU-33. Đồng thời, Varyag còn mang được 42 trực thăng tấn công loại KA-29/31.
    Một số quan sát viên quân sự cho rằng tất cả các vỏ tàu hàng không mẫu hạm Trung Quốc mua, kể cả chiếc Varyag, đều ở trong tình trạng quá tồi tệ, Trung Quốc không thể nào sửa chữa hay tân trang để dùng lại. Thật ra, Trung Quốc đã cặm cụi tu sửa Varyag liên tục trong suốt thời gian qua. Nó đã được sơn màu xám hải quân. Hàng không mẫu hạm là một chiếc tàu vô cùng phức tạp và rất đắt tiền. Không phải chỉ trong chuyện thiết kế và chế tạo, mà cả trong việc trang bị, điều hành và vận hành. Giá một hàng không mẫu hạm mới đóng nằm trong khoảng từ 2 tới 10 tỷ USD. Trang bị điện tử, vũ khí và máy bay sẽ tốn tối thiểu 2 tỷ nữa. Sau đó là huấn luyện thuỷ thủ, học cách sử dụng. Thêm vào đó: hàng không mẫu hạm không thể hoạt động một mình mà phải có cả một hạm đội đi theo để bảo vệ nó.
    Chỉ những kẻ khờ khạo mới hoài nghi khả năng của Trung Quốc. Cuối năm 2006, báo Kommersant của Nga đưa tin về hợp đồng cung cấp hàng trăm máy phản lực cho không quân Trung Quốc. Loạt động cơ này sẽ được ráp cho các máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc. Theo nguồn tin trên, một hợp đồng tân trang máy bay chiến đấu và máy bay ném bom chiến lược SU -27/30 cũng được ký kết. Trung Quốc có khoảng 100 máy bay loại này. Một hợp đồng khác cũng sẽ cung cấp cho Trung Quốc 50 chiếc Su -33 với giá trung bình mỗi chiếc là 50 triệu USD. SU -33 là kiểu cải biến của máy bay chiến đấu SU -27K để dùng cho hải quân. Rõ ràng, Trung Quốc đang mua sắm khí cụ cho một hàng không mẫu hạm.

    Trung Quốc hiện có hơn 50 tàu ngầm, kể cả 8 chiếc mới mua năm 2005 của Nga. Cùng đợt này, Trung Quốc còn mua 2 tàu khu trục mới, nâng số tàu khu trục lên gần 30 chiếc. Theo tạp chí Quốc phòng ngày nay thì Trung Quốc có 47 tàu khu trục nhỏ và hơn 200 tàu hộ tống và tàu tuần tra các loại. Tất cả tàu khu trục và tàu tuần tra của Trung Quốc đều được trang bị hoả tiễn có ra đa hướng dẫn và có thể tấn công các mục tiêu cách xa hơn 120 cây số.
    Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2008 lên tới gần 60 tỉ USD. Thống kê về chi tiêu quân sự do Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế ở Stockholm cho biết, Trung Quốc đã gia tăng ngân sách liên tục trong 12 năm qua. Trung Quốc đang muốn biến đổi một quân đội với trang bị thô sơ, chủ yếu mạnh về bộ binh, thành một quân đội có khả năng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của họ bên ngoài biên giới quốc gia.

    Tháng 6/2005, trang boxun.com đăng tải thông tin Trung Quốc sẽ chế tạo một chiếc tàu sân bay có giá 362 triệu USD với trọng lượng rẽ nước 78.000 tấn, nó được chế tạo bởi Xưởng đóng tàu mật Giang Nam ở Thượng Hải. Báo cáo này đã bị quan chức Bộ quốc phòng Trung Quốc tên là Zhang Guangqin bác bỏ.
    Ngày 10/3/2006, Trung tướng Wang Zhiyuan thông báo rằng Trung Quốc sẽ nghiên cứu và chế tạo một tàu sân bay để phát triển một nhóm tàu sân bay tác chiến (CVBG) trong 3-5 năm. Các nhà quan sát cho rằng chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sẽ được dùng để đảm bảo an ninh những đường vận chuyển năng lượng ở Biển Đông. Theo trang web của mạng Quốc phòng Trung Quốc sinodefence.com, hiện họ đã cho hạ thủy hàng không mẫu hạm này.
    Tại Hải Nam, ở khu vực Tam Á, Trung Quốc đã hoàn thành xây dựng 2 căn cứ cầu cảng có thể neo đậu 2 hàng không mẫu hạm. Tháng trước, theo các hãng tin Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đến thăm Tam Á, có thể là vì sự kiện quan trọng này và phát động chiến lược Hải quân Nam tiến.

    P/S:
    Hải Quân Trung Quốc phát triển HKMH đáng để VN đề phòng cực độ vì khả năng phát triển sức mạnh quân sự Hải quân-Không quân Trung Quốc, quốc gia này đã thêm 1 bước chiến lược để thao túng vùng biển Đông (được gọi là biển NAM TRUNG HOA), nơi có tranh chấp về chủ quyền Quần đảo HOÀNG SA - TRƯỜNG SA, bằng sức mạnh quân sự.


    Trung Quốc đã có Hàng Không Mẫu Hạm thì ngoài việc lép vế với lực lượng Hạm đội của Trung Quốc, VN còn phải đối phó với sức mạnh không quân TQ trên biển, nếu xảy ra cuộc chiến ở Trường Sa, Hoàng Sa. Vài chiếc máy báy Su-27, Mig-29 mua của Nga sẽ không làm gì được vì tầm bay & khả năng hoạt động không bao phủ được tới các đảo xa này. Và chúng ta không thể 'đánh du kích' trên biển, trên không với Trung Quốc được
    Thành viên này đang bị xếp vào dạng theo dõi. Các bạn xem chi tiết ở đây

  9. #9
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    107
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    8
    Uploads
    1
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    hàng này cũng hay day ,,đa^y ...
    đe^ kie^m gơi moi ngươi xem chơi

  10. #10
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    333
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Bác nào có Tầu Sân Bay của Nhật Bản không ?

    Loại cũ dùng để đánh Trân Châu Cảng ấy !
    [FONT=Arial][SIZE=2][I][SIZE=4][COLOR=#0000cc]Bảo Mật Phòng Gian là 1 trong 5 công tác lớn của toàn dân Việt Nam [/COLOR][/SIZE][/I]( Trích từ CT của BBT ngày 15.03.1967 )[/SIZE][/FONT]

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 103
    Bài mới gửi: 20-12-2010, 11:13 PM
  2. Trả lời: 23
    Bài mới gửi: 27-11-2010, 09:35 AM
  3. [VTC] Mỹ sẽ tham chiến khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra?
    By huyblog in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 13
    Bài mới gửi: 24-11-2010, 05:00 PM
  4. Video - Tàu chiến Hàn Quốc đụng độ tàu chiến Triều Tiên
    By KIDI in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2011
    Trả lời: 1
    Bài mới gửi: 11-11-2009, 03:13 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •