[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 9 trên 9
  1. #1
    Ngày gia nhập
    Nov 2007
    Bài gửi
    1.334
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    100
    Uploads
    35
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết

    (TuanVietNam) - Nhằm đưa đến cho độc giả một số kiến thức căn bản về lãnh hải, luật biển quốc tế, Tuần Việt Nam đăng tải một phần cuốn sách “Sổ tay pháp lý cho người đi biển”. Sách do Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới Chính phủ và NXB Chính trị Quốc gia phát hành, năm 2002.

    Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
    Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
    Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia.

    ***
    CHƯƠNG III. CÁC THỰC THỂ LIÊN QUAN ĐẾN BIỂN
    Bìa cuốn sách

    Về quốc gia ven biển, quốc gia không có biển, quốc gia quần đảo
    Quốc gia ven biển là các quốc gia có bờ biển.
    Quốc gia không có biển là các quốc gia không có bờ biển. Hiện trên thế giới có 42 quốc gia không có bờ biển. Lào, nước láng giềng của nước ta, là quốc gia không có bờ biển.
    Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào để thực hiện các quyền mà những quốc gia này được hưởng theo Công ước Luật biển 1982 (quyền tự do trên biển cả, các quyền với vùng…), quyền có hạm đội treo cờ của nước mình, được khai thác số cá thừa tại vùng đặc quyền về kinh tế của quốc gia ven biển theo thỏa thuận với quốc gia ven biển.
    Thực hiện các quyền này, các quốc gia không có biển có quyền quá cảnh các quốc gia khác thông qua thỏa thuận với các quốc gia đó. Việc quá cảnh được thực hiện trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của quốc gia không có biển và lợi ích chính đáng của quốc gia quá cảnh hữu quan.
    Lào thực hiện quyền quá cảnh qua Việt Nam theo Hiệp ước năm 1959 giữa Lào và Nam Việt Nam, bảo đảm quyền tự do quá cảnh. Sau năm 1975, CHXHCN Việt Nam tạo điều kiện cho Lào quá cảnh qua cảng Đà Nẵng và cảng Cửa Lò. Ngoài ra, Việt Nam còn cho phép Lào đánh bắt lượng cá dư thừa trên vùng đặc quyền về kinh tế theo thỏa thuận giữa hai bên.
    Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần dảo và có thể bao gồm một số hòn đảo khác nữa. Ven bờ Biển Đông có hai quốc gia quần đảo thuộc loại lớn nhất trên thế giới là Philippines và Indonesia. Nước ta tuy có nhiều đảo và quần đảo song vẫn không phải là quốc gia quần đảo mà chỉ là quốc gia ven biển.
    Khái niệm quốc gia quần đảo lần đầu tiên được công nhận trong Công ước Luật biển 1982, tại Điều 46. Trên thế giới có nhiều quốc gia quần đảo, gần gũi với chúng ta có Indonesia, Philippines, hay Cabo Verde.
    ….
    Đảo là gì?
    Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh. Theo cách hiểu này, ta có đảo nằm trong các sông hồ và đảo nằm trong biển (hải đảo). Đối với người đi biển thì đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gồm các đảo, đá.
    Theo nghĩa pháp lý:
    Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. (trích Điều 121, Công ước Luật biển 1982)
    Định nghĩa trên đã đưa ra các điều kiện pháp lý để một vùng đất có nước bao quanh được công nhận là đảo trước pháp luật:

    1. một đảo phải được hình thành một cách tự nhiên: “Vùng đất tự nhiên” này phải có sự gắn bó hữu cơ với đáy biển;
    2. có cùng độ nổi thường xuyên như đất liền, khi thủy triều lên vẫn ở trên mặt nước, ở trên mực triều cường và
    3. Đảo cần phải có nước bao bọc xung quanh. Tuy nhiên, khi một đảo được nối với đất liền bởi cây cầu hoặc đường hầm thì đương nhiên vẫn có giá trị như một đảo. Trong các quy định của luật pháp quốc tế cũng như thực tiễn đời sống quốc tế đã chứng minh thành phần vật chất cấu tạo nên đảo có thể từ bùn, san hô, cát, đất… mà không ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của các đảo.

    Chế độ pháp lý của đảo:
    Với điều kiện phải tuân thủ Khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. (trích Điều 121 Công ước Luật biển 1982)
    Quy định này khẳng định các đảo cũng có cùng các danh nghĩa và được đối xử ngang bằng như các vùng lãnh thổ đất liền. Có nghĩa là, các đảo có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.
    Trên các đảo, quốc gia cũng có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền (các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp). Điều này đã làm tăng thêm vai trò của các đảo. Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho Hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý.
    Đảo Cook rộng 243 km vuông có quyền nhận 352.240 km vuông vùng đặc quyền về kinh tế. Đảo Naru với 21 km vuông sẽ có 323.750 km vuông vùng đặc quyền về kinh tế. (1)
    Phân loại
    Mặc dù có một quy chế cho các đảo, nhưng Công ước Luật biển 1982 không đưa ra được các tiêu chuẩn để phân loại các đảo. Trước đây, trong dự thảo các điều khoản liên quan tới việc hoạch định quyền tài phán của quốc gia ven biển trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ đưa ra trong Hội nghị lần thứ III của LHQ về Luật biển ngày 17-7-1973 có đưa ra đề nghị đảo “là một diện tích tự nhiên có diện tích trên 1 km vuông” (2). Kiến nghị này có vẻ như giống các nỗ lực phân loại của Văn phòng Thủy văn Quốc tế và một số chuyên gia:
    + Đá (rocks) có diện tích nhỏ hơn 0,001 hải lý vuông
    + Đảo nhỏ (islets) có diện tích 0,001 - 1 hải lý vuông
    + Đảo vừa (isles) có diện tích 1 - 1.000 hải lý vuông
    + Đảo lớn (islands) có diện tích trên 1.000 hải lý vuông

    Cho đến nay, vẫn chưa có sự phân loại các đảo một cách cụ thể chính xác của bất cứ cơ quan, tổ chức quốc tế nào.
    Các đảo và các quy định của Việt Nam về các đảo?
    Việt Nam là một quốc gia ven biển, với chiều dài bờ biển khoảng 3.620 km và rất nhiều các đảo ven bờ và xa bờ. Hệ thống đảo tiền tiêu phía Bắc có các đảo: đảo Trần (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Mát, Hòn Mê (Thanh Hóa)… Các đảo lớn ven bờ, giàu tiềm năng như: Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa Biển Đông… Các đảo của nước ta có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Việt Nam phê chuẩn Công ước Luật biển 1982. Theo quy định chung, Việt Nam phải có các quy định phù hợp với Công ước. Về các đảo, chúng ta cũng như các quốc gia khác thường không có các quy định cụ thể, chế độ pháp lý của các đảo. Chỉ trong trường hợp cụ thể (liên quan đến việc hoạch định quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong các vùng biển…) có thể sẽ có các quy định riêng.
    Đá có phải là đảo không?
    Đá là một dạng của đảo, thường được gọi là đảo đá hoặc bãi đá. Đây là những đảo được hình thành một cách tự nhiên từ đá. Các đảo này thường được cấu thành từ một khối liền nhất hoặc từ nhiều chỏm đá, diện tích nhỏ (thường nhỏ hơn 0,001 hải lý vuông).
    Các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ được có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý, không được phép có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế (trích Khoản 3, điều 121 Công ước Luật biển 1982).
    Trong điều 10 của Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 đã trao một lãnh hải cho tất cả các phần nhô lên một cách tự nhiên trên biển. Và theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982, đã không được hưởng quy chế của các đảo, có nghĩa là đá chỉ có được vùng lãnh hải 12 hải lý và vùng tiếp giáp lãnh hải 12 hải lý.
    Trong thực tiễn quốc tế, có những trường hợp, bãi đá chỉ được 3, 6 hay 9 hải lý lãnh hải và vùng tiếp giáp, tùy vào sự thỏa thuận của các quốc gia liên quan hoặc phán quyết của Tòa án Quốc tế, Tòa Trọng tài hoặc các cơ quan tài phán quốc tế khác mà các bên liên quan chấp nhận đề nghị hoặc trưng cầu.
    CÁC VÙNG BIỂN VÀ THỀM LỤC ĐỊA
    Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 quy định về các vùng biển như thế nào?
    Công ước Luật biển 1982 chính thức xác lập cơ sở pháp lý cho việc xác lập các vùng biển – một vấn đề vốn gây rất nhiều bất đồng giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Công ước quy định cụ thể về cách xác định, phạm vi, quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán và quyền chủ quyền của quốc gia, các vùng biển nằm ngòai phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, theo đó:
    Các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán hoặc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển gồm:

    • Nội thủy
    • Lãnh hải
    • Vùng tiếp giáp lãnh hải
    • Vùng đặc quyền về kinh tế
    • Thềm lục địa

    Các vùng biển nằm ngoài phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển gồm:

    • Biển cả
    • Vùng đáy đại dương – di sản chung của nhân loại

    ____________
    Ghi chú:
    (1) Quy chế pháp lý của các đảo trong luật biển mới. Tạp chí Luật quốc tế của các khoa học ngoại giao và chính trị, tập 65, 1987, tr. 162.
    (2) Tư liệu A.AC, 138 SC II.L. 28 ngày 17-7-1973

    Kỳ sau: Về đường cơ sở, nội thủy và lãnh hải của Việt Nam.
    http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/6394/index.aspx


  2. #2
    Ngày gia nhập
    Nov 2007
    Bài gửi
    1.334
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    100
    Uploads
    35
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)
    Trong phần này của cuốn “Sổ tay pháp lý cho người đi biển”, độc giả sẽ tìm hiểu các khái niệm căn bản như: Đường cơ sở là gì? Biên giới nước ta trên biển được xác định như thế nào? Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam? v.v.

    Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
    Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
    Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia.
    ***


    Đường cơ sở là gì? Ý nghĩa của nó trong việc xác định không gian biển?
    Đường cơ sở là cách nói ngắn của từ “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”. Tuy nhiên, do sau này đường cơ sở này còn là căn cứ để xác định ranh giới của tất cả các vùng biển còn lại nên người ta có xu hướng gọi tắt. Theo cách hiểu trực quan nhất, đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải chính là đường ranh giới bên trong của lãnh hải. Theo Công ước Luật biển 1982, ta có hai loại đường cơ sở: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng.
    Đường cơ sở thông thường “… là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận” (Điều 5, Công ước Luật biển 1982).
    Đường cơ sở thẳng là đường cơ sở nối liền các điểm thích hợp và được áp dụng “ở những nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển”, hoặc “ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và do những điều kiện tự nhiên khác” (Điều 7, Công ước Luật biển 1982). Việc vạch đường cơ sở thẳng phải tuân thủ hai điều kiện:

    1. Tuyến đường cơ sở thẳng vạch phải đi theo xu hướng chung của bờ biển, và
    2. Các vùng biển ở bên trong đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đặt dưới chế độ nội thủy, nghĩa là tuyến đường cơ sở thẳng vạch ra không được cách xa bờ.

    Khi vạch ra đường cơ sở thẳng phải tuân thủ theo các hạn chế sau:

    1. Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm không được chọn làm các điểm cơ sở trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước, hoặc việc kẻ đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế;
    2. Khi vạch đường cơ sở thẳng phải lưu ý không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hay một vùng đặc quyền về kinh tế.

    Đường cơ sở quần đảo: là đường cơ sở thẳng nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo. Đường cơ sở thẳng này phải bảo đảm các điều kiện:

    • Khu vực trong đường cơ sở quần đảo phải có tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, từ tỷ số 1/1 đến 9/1.
    • Chiều dài các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; có thể có tối đa 3% tổng số đường cơ sở dài quá 100 hải lý nhưng cũng không được quá 125 hải lý.
    • Tuyến đường cơ sở không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của hòn đảo.
    • Đường cơ sở quần đảo không được phép làm cho lãnh hải của một quốc gia khác tách rời khỏi biển cả hay vùng đặc quyền về kinh tế.

    Đường cơ sở có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định ranh giới các vùng biển. Theo Công ước Luật biển 1982, đường cơ sở được dùng để xác định nội thủy (vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở), lãnh hải (12 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng tiếp giáp (24 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng đặc quyền về kinh tế (200 hải lý tính từ đường cơ sở)…
    Đường cơ sở của Việt Nam? Phao số 0 có phải là điểm mốc xác định ranh giới phía bên ngoài của lãnh hải nước ta không?
    Việt Nam tuyên bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải vào ngày 22-11-1982. Theo Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 (sau đây gọi là Tuyên bố 82), hệ thống đường cơ sở của Việt Nam gồm 11 điểm có tọa độ xác định.
    Hệ thống này thực tế là kiểu đường cơ sở thẳng và còn để ngỏ hai điểm: điểm 0 nằm trên giao điểm giữa đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu (Việt Nam) và đảo Poulowai (của Campuchia) và đường phân định biên giới giữa hai bên trong vùng nước lịch sử; và điểm kết thúc ở cửa vịnh Bắc Bộ là giao điểm đường cưa vịnh với đường phân dịnh biển trong vịnh Bắc Bộ.
    Theo Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước ta và CHND Trung Hoa ngày 25-12-2000, đường phân định biển trong Vịnh Bắc Bộ và đường cửa vịnh đã được xác lập. Tuy nhiên, đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ chỉ là đường phân định lãnh hải (các điểm từ 1 đến 9) hoặc đường phân định vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa (các điểm từ 9 đến 21) giữa hai nước. Như vậy, theo tinh thần của Hiệp định, Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa hai nước, không phải là vịnh lịch sử như trong các tuyên bố năm 1977 và 1982 của ta. Trong thời gian tới, ta sẽ phải xác lập hệ thống đường cơ sở trong vịnh để xác lập nội thủy và các vùng biển khác của ta trong Vịnh Bắc Bộ.
    Đây là trường hợp hiếm thấy trong tiền lệ phân định biển: Đường cơ sở được xác lập sau đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, vì thông thường các đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được xác lập sau khi đã xác lập được đường cơ sở.
    Trong khi hoạt động trên biển, nhiều bà con thường thấy có phao số 0 và cho rằng đó là biên giới quốc gia trên biển. Sự thực phao số 0 không phải là điểm mốc của đường biên giới quốc gia trên biển. Nó chỉ là điểm đầu tiên của hệ thống mốc tiêu dẫn luồng vào cảng, được đặt theo quy định của Luật Hàng hải.
    Đảo Phú Quốc - một địa điểm du lịch đẹp của Việt Nam. (Nguồn ảnh: saigontimesusa.com)


    Đường cơ sở có phải là biên giới nước ta trên biển không?

    Đường cơ sở không phải là đường biên giới quốc gia trên biển, nhưng nó là cơ sở để xác định đường biên giới đó. Đường biên giới quốc gia trên biển chính là đường song song với đường cơ sở và cách đường cơ sở một khoảng cách vừa bằng chiều rộng của lãnh hải. Như vậy, đường biên giới của nước ta trên biển chính là ranh giới bên ngoài của lãnh hải, chạy song song với đường cơ sở và cách đường cơ sở 12 hải lý. Tại những vùng chồng lấn lãnh hải với Trung Quốc hay Campuchia, ranh giới bên ngoài của lãnh hải được xác lập theo thỏa thuận giữa ta và bạn.


    Nội thủy là gì? Tàu thuyền khi hoạt động trong vùng nội thủy phải tuân thủ những hệ thống pháp luật nào?
    Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tối cao và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền. Nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, vịnh, các vùng nằm giữa đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải và lãnh thổ đất liền.
    Trong nội thủy, quốc gia có chủ quyền không chỉ với vùng nước mà cả với vùng trời, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Theo nguyên tắc chủ quyền, luật quốc gia là luật áp dụng trong nội thủy. Tuy nhiên, vẫn có đôi chút khác biệt giữa chủ quyền trong nội thủy và chủ quyền với đất liền ở một số trường hợp cụ thể:

    • Vùng nước nội thủy tại các cảng biển quốc tế theo chế độ tự do thông thường cho tàu thuyền thương mại (Công ước Geneva 09-12-1923). Tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử chỉ được vào cảng quốc tế khi có thỏa thuận giữa quốc gia ven biển và quốc gia tàu mang cờ.
    • Khi quốc gia ven biển áp dụng đường cơ sở thẳng làm cho những vùng nước trước đây chưa phải là nội thủy trở thành nội thủy, thì chế độ qua lại không gây hại vẫn áp dụng với vùng nước nội thủy đó.
    • Tàu thuyền nước ngoài được đặt dưới thẩm quyền tuyệt đối của quốc gia ven biển về trật tự, an ninh, cảnh sát, y tế, hàng hải. Quốc gia ven biển có quyền khám xét trên boong.
    • Tàu nhà nước dùng vào mục đích không thương mại và tàu quân sự nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ. Thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia cảng đối với các tàu này chỉ được thực hiện khi:


    1. Tội phạm xảy ra trên boong tàu, người thực hiện hành vi là người ngoài thủy thủ đoàn và nạn nhân là người thuộc thủy thủ đoàn. Trường hợp này, quốc gia cảng có thẩm quyền nhưng quốc gia tàu mang cờ cũng có thẩm quyền;
    2. Tội phạm xảy ra trên boong tàu, người thực hiện hành vi và nạn nhân đều không thuộc thủy thủ đoàn, thì quốc gia cảng có thẩm quyền tuyệt đối;
    3. Nếu thành viên thủy thủ đoàn phạm tội ngoài tàu thì quốc gia cảng có thể bắt giữ nhưng phải trao trả ngay cho thuyền trưởng nếu ông ta yêu cầu.

    Vùng nước quần đảo có được hưởng quy chế của nội thủy không?
    Vùng nước quần đảo là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở quần đảo. Vùng nước này không phải là nội thủy nhưng quốc gia quần đảo có chủ quyền với vùng nước, vùng trời và vùng đáy và lòng đất tương ứng cũng như tài nguyên ở đó. Các quốc gia khác có quyền qua lại không gây hại trong vùng nước quần đảo theo đúng các quy định của Công ước về Luật biển 1982. Như vậy, vùng nước quần dảo có quy chế pháp lý gần giống với nội thủy, chỉ trừ quy chế qua lại không gây hại.
    Vùng nước lịch sử là gì? Sao trong Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 lại không thấy có quy định về nó?
    Đúng là trong Công ước Luật biển 1982 không có quy định về vùng nước lịch sử cũng như về vịnh lịch sử. Các khái niệm này được hình thành thông qua thực tiễn pháp lý, cụ thể là qua các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế. Theo phán quyết ngày 18-12-1951 của Tòa án Công lý Quốc tế về vụ Ngư trường Anh - Na Uy, “Người ta gọi chung ‘vùng nước lịch sử’ là các vùng nước người ta đối xử như vùng nước nội thủy, trong khi nếu các vùng nước này thiếu một danh nghĩa lịch sử thì nó sẽ không có tính chất đó”. Các vùng nước lịch sử được đặt dưới quy chế của nội thủy và không tồn tại quyền qua lại không gây hại.
    Nội thủy của Việt Nam gồm những khu vực nào?
    Theo Tuyên bố 77, nội thủy của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm:

    • Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở ven bờ lục địa VIệt Nam, gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở.
    • Vùng biển nằm ở phía trong đường cơ sở của các đảo, quần đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
    • Vùng nước lịch sử của Việt Nam trong vịnh Thái Lan (xác định theo Hiệp định về vùng nước lịch sử chung Việt Nam - Campuchia 07-7-1982).

    Lãnh hải và quy chế pháp lý của nó? Tàu biển khi hoạt động trong vùng lãnh hải phải tuân thủ theo những hệ thống pháp luật nào?
    Lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia. Các vùng đất ven biển của quốc gia và các đảo đáp ứng tiêu chuẩn của Điều 121 Công ước Luật biển 1982 đều có lãnh hải.
    Bản chất pháp lý của lãnh hải: Từ lãnh hải lần đầu tiên được sử dụng chính thức tại Hội nghị của LHQ tại La Haye, đó là sự kết hợp thành công giữa hai từ lãnh thổ và biển. Biển theo luật quốc tế được cấu thành bởi vùng bề mặt biển phục vụ cho thông thương tự nhiên và vùng đáy biển cũng như lòng đất dưới đáy biển.
    Lãnh thổ là khoảng không gian thuộc một quốc gia và được đặt dưới chủ quyền của quốc gia đó.

    Hai khía cạnh trái ngược nhau này được kết hợp trong cùng một khái niệm pháp lý đã tạo ra bản chất pháp lý lưỡng cực của lãnh hải, trong đó chủ quyền của quốc gia ven biển thống trị và quyền tự do hàng hải được bảo đảm với một số điều kiện. Lãnh hải trở thành vùng đệm giữa một bên là lãnh thổ do quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, bên kia là các vùng biển mà tại đó các quyền chủ quyền và tài phán của quốc gia ven biển bị hạn chế bởi các nguyên tắc tự do trên biển và nguyên tắc di sản chung của nhân loại.
    Lãnh hải được coi như một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm như đối với lãnh thổ đất liền của mình. Tuy nhiên, trong lãnh hải, các tàu thuyền nước ngoài có quyền qua lại không gây hại.
    Chiểu rộng của lãnh hải được chính thức xác lập là không quá 12 hải lý. Đường ranh giới phía trong của lãnh hải chính là đường cơ sở, và đường ranh giới phía ngoài chính là đường thẳng song song với đường cơ sở và cách đường cơ sở một khoảng cách chính bằng chiều rộng của lãnh hải.
    Khi đi trong lãnh hải của một quốc gia, tàu thuyền mang quốc tịch của quốc gia đó phải tuân thủ theo pháp luật của quốc gia đó. Các tàu thuyền nước ngoài được hưởng quyền qua lại không gây hại, nhưng phải tuân thủ theo pháp luật quốc gia ven biển về:

    • An toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển;
    • Bảo vệ các thiết bị công trình, đường dây cáp, ống dẫn ở biển;
    • Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, gìn giữ môi trường biển;
    • Hải quan, thuế khóa, y tế, nhập cư.

    Kỳ sau: Về quyền qua lại không gây hại, lãnh hải của Việt Nam, vùng tiếp giáp lãnh hải.
    http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...399/index.aspx


  3. #3
    Ngày gia nhập
    Nov 2007
    Bài gửi
    1.334
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    100
    Uploads
    35
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông-những điều cần biết (kỳ 3)

    (TuanVietNam) - Tuần Việt Nam tiếp tục trích đăng một phần quan trọng trong cuốn “Sổ tay pháp lý cho người đi biển”, về quyền qua lại không gây hại, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam. Các tác giả nêu rõ: "Lãnh hải của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được xác lập khi vấn đề chủ quyền được giải quyết...".

    Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
    Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
    Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.
    ***
    >> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 1)
    >> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)

    Quyền qua lại không gây hại là gì?

    Quyền qua lại không gây hại là một quyền dành riêng cho tàu thuyền nước ngoài tại lãnh hải của một quốc gia ven biển. Quyền này là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế và được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia. Nền tảng của nó là nguyên tắc tự do hàng hải.
    Đi qua lãnh hải được hiểu là: đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy, không đậu lại tại các công trình cảng hay một vũng tàu ở bên ngoài nội thủy, đi qua lãnh hải để vào nội thủy hoặc rời nội thủy đi ra biển cả.

    Việc đi qua được tiến hành liên tục và nhanh chóng. Các tàu thuyền nước ngoài chỉ có thể dừng lại và thả neo khi gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng, hay mắc nạn, hoặc vì mục đích cứu giúp người hay tàu thuyền, phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn. Sau khi các sự biến trên kết thúc, tàu thuyền nước ngoài phải tiếp tục hành trình liên tục và nhanh chóng (Điều 18, Công ước Luật biển 1982).
    Qua lại không gây hại được hiểu là không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc qua lại không gây hại phải được tiến hành phù hợp với Công ước Luật biển 1982 và pháp luật quốc tế. Tàu ngầm nước ngoài khi đi trong lãnh hải phải đi trong trạng thái nổi và treo cờ quốc tịch.
    Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài bị coi là phương hại đến hòa bình, trật tự, an ninh của quốc gia ven biển nếu như ở trong lãnh hải tàu thuyền nước ngoài tiến hành một trong bất kỳ hành động nào sau đây:

    • Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương của LHQ;
    • Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
    • Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
    • Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
    • Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
    • Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
    • Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;
    • Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước Luật biển 1982;
    • Đánh bắt hải sản;
    • Nghiên cứu hay đo đạc;
    • Làm rối loạn hoạt động của bất kỳ hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;
    • Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

    Khi tiến hành bất kỳ hành động nào được liệt kê trên đây, tàu thuyền nước ngoài bị coi là vượt quá quyền qua lại không gây hại và sẽ bị xử lý theo pháp luật.
    Lãnh hải của Việt Nam được xác định gồm những khu vực nào?
    Lãnh hải Việt Nam được xác lập theo Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12-5-1977 về các vùng biển của Việt Nam.
    Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.
    (trích Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12-5-1977)
    Chiều rộng của lãnh hải được xác lập là 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra. Điều này phù hợp với luật quốc tế.
    Lãnh hải ven bờ lục địa được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng đã công bố trong Tuyên bố 82. Nhưng hệ thống này vẫn còn hai điểm ngỏ ở cửa vịnh Bắc Bộ và trên vịnh Thái Lan. Hơn nữa, hiện hệ thống này bị các nước khác phản đối vì chúng ta đã sử dụng nhiều đảo xa bờ làm điểm cơ sở. Chúng ta đang xem xét việc vạch lại đường cơ sở đã công bố này trong thời gian thích hợp.
    Theo Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa ta và Trung Quốc, các điểm từ 1 đến 9 là biên giới lãnh hải của nước ta trong vịnh Bắc Bộ. Như vậy, các điểm này là ranh giới bên ngoài của lãnh hải Việt Nam tại khu vực đó (xem Bản đồ phân định vịnh Bắc Bộ giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa).
    Lãnh hải của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được xác lập khi vấn đề chủ quyền được giải quyết.
    Như vậy, việc xác lập khu vực lãnh hải cụ thể trên thực địa của chúng ta hiện nay vẫn chưa hoàn tất vì hệ thống đường cơ sở của ta vẫn chưa đầy đủ. Điểm này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động của các lực lượng quản lý biển cũng như người đi biển. Trong thời gian tới, Nhà nước cần khẩn trương xác lập và công bố hệ thống đường cơ sở hoàn chỉnh.

    Một phần quần đảo Trường Sa nhìn từ trên cao. (Nguồn ảnh: photobucket.com)

    Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại lãnh hải Việt Nam? Tàu của nước ta có được hưởng quyền qua lại vô hại trong lãnh hải nước ta không?
    Nước ta tôn trọng quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982.
    Mọi tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển Việt Nam (bao gồm việc vào, ra, qua lại, trú đậu, và làm các công việc khác) đều phải tôn trọng chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với từng vùng biển, phải chấp hành đầy đủ những quy định của nghị định này và những luật lệ, chế độ, quy định khác có liên quan của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành.
    Tàu, thuyền nước ngoài hoạt động trong vùng biển của Việt Nam phải chịu sự giám sát và sự kiểm soát của các lực lượng Việt Nam có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành nghị định này và những luật lệ, chế độ, quy định khác có liên quan của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
    (trích Điều 2 Nghị định 30/CP ngày 21-01-1980)
    Điều này rõ ràng đã thừa nhận quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam.
    Trong nội thủy và lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài phải đi nhanh chóng, liên tục, theo đúng tuyến đường và đúng các hành lang quy định, không được vào các khu vực cấm (Điều 9, Nghị định 30/CP).
    Việc quy định các tàu phải đi theo tuyến đường và hành lang quy định hoàn toàn không trái với Điều 22 của Công ước Luật biển 1982. Nhưng trên thực tế, cho đến nay, ta vẫn chưa quy định các tuyến đường và hành lang, nên các tàu thuyền nước ngoài vẫn đi theo các tuyến đường hàng hải truyền thống.
    Tàu thuyền nước ngoài trong những trường hợp khẩn cấp không thể khắc phục được như gặp thiên tai, tai nạn uy hiếp đến an toàn của tàu thuyền và sinh mạng của những người đi trên tàu thuyền… bắt buộc phải dừng lại hoặc thả neo trong lãnh hải Việt Nam, thì phải tìm mọi cách liên lạc nhanh chóng và báo cáo lập tức với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ở nơi gần nhất; phải chịu mọi sự kiểm soát của các nhà chức trách Việt Nam để làm rõ tính chân thực của lý do nêu ra, và phải tuân theo mọi hướng dẫn của các nhà chức trách Việt Nam (Điều 6 Nghị định 30/CP).
    Việc qua lại không gây hại cũng được quy định trong Nghị định 30/CP trong các Điều 2, 10, 11, 12, 13, 14 và 17. Về cơ bản, chúng giống với quy định tại Điều 19 Công ước Luật biển 1982.
    Tàu ngầm nước ngoài (bao gồm tàu ngầm quân sự và dân sự) khi thực hiện quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam nhất thiết phải ở tư thế nổi, phải treo cờ của nước mà tàu đó mang quốc tịch.
    Việt Nam không công nhận quyền qua lại không gây hại của tàu quân sự nước ngoài. Tàu thuyền quân sự (bao gồm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (qua đường ngoại giao) ít nhất 30 ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho các nhà đương cục quân sự Việt Nam (qua Bộ Giao thông Vận tải nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam (Điều 3 Nghị định 30/CP).
    Quy định này không phù hợp với Công ước Luật biển 1982, vì Công ước này cho phép tất cả các loại tàu thuyền, kể cả tàu thuyền quân sự, đều được hưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam.
    Đối với tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ/ các chất gây nguy hiểm độc hại khác cũng được quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, nhưng phải cung cấp cho các nhà chức trách Việt Nam các tài liệu kỹ thuật và tiến hành các biện pháp phòng chống đặc biệt nhằm tránh ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này. Các tàu thuyền cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự phòng chống ô nhiễm môi trường (Điều 23 Bộ luật Hàng hải). Việc Điều 23 Bộ luật Hàng hải quy định các tàu thuyền loại này khi vào hoạt động trong lãnh hải Việt Nam phải được phép của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) là trái với Công ước Luật biển 1982.
    Các tàu thuyền Việt Nam đương nhiên được quyền qua lại trên các vùng biển Việt Nam. Vấn đề quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam không đặt ra với các tàu thuyền Việt Nam mà chỉ đặt ra với tàu thuyền nước ngoài. Khi hoạt động trên các vùng lãnh hải nước ngoài, tàu thuyền Việt Nam đương nhiên được hưởng quyền lại không gây hại.
    Vùng biển Việt Nam có tới 11.000 loài sinh vật cư trú và được công nhận là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và là một trong 20 vùng biển giàu hải sản trên thế giới. (Nguồn: TTXVN)

    Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì? Quy chế vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam như thế nào?
    Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các lĩnh vực nhất định. Phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở.
    Nguồn gốc sự ra đời vùng này là do nhu cầu kiểm soát thuế quan của quốc gia ven biển chống lại các hoạt động buôn lậu trên biển.
    Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm:

    • Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;
    • Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình.

    Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, nhưng cũng không phải là biển cả. Nó là một phần của vùng đặc quyền về kinh tế và có quy chế đặc biệt (sui generic).
    Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ. Mọi việc trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được sự cho phép của quốc gia ven biển đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ và lãnh hải của quốc gia ven biển.
    Tuyên bố 77 quy định rõ việc Việt Nam thực hiện quyền kiểm soát với vùng biển rộng 12 hải lý tiếp liền với lãnh hải nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, và nhằm bảo đảm sự tuân thủ các quy định về y tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
    Những quy định này về cơ bản phù hợp với Công ước Luật biển 1982, nhưng có mở rộng thêm phạm vi kiểm soát cả với các tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn chặn và trừng trị vi phạm về an ninh và di cư trên đất liền hay trong lãnh hải Việt Nam. Việc mở rộng này là do hoàn cảnh lịch sử, và chúng ta đang xem xét sửa đổi lại cho phù hợp với Công ước. Trong khi chưa sửa đổi, các cơ quan quản lý cần thực hiện việc kiểm soát một cách linh hoạt, phù hợp với tinh thần Công ước Luật biển 1982 đã có hiệu lực với nước ta.
    Pháp luật Việt Nam cũng chưa quy định về việc trục vớt hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ trong vùng tiếp giáp lãnh hải.

    • Phạm Đoan Trang

    http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...491/index.aspx

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Nov 2007
    Bài gửi
    1.334
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    100
    Uploads
    35
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 4)

    (TuanVietNam) - Phần trích đăng sau đây từ cuốn "Sổ tay pháp lý cho người đi biển" sẽ giải thích một số khái niệm căn bản về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam như: trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có các quyền gì? Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam gồm những phần nào?

    Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
    Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
    Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.
    ***

    >> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 1)
    >>
    Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)
    >> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 3)

    Vùng đặc quyền về kinh tế là gì? Nó có phải là vùng biển của quốc gia không?



    Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, và được đặt dưới chế độ pháp lý riêng theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do của quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh. Chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Nói khác đi, chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế là 188 hải lý.
    Vùng đặc quyền về kinh tế không phải là biển cả mà là một vùng đặc thù sui generic, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 quy định, không chia sẻ với các quốc gia khác. Để xác lập vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển cần đưa ra tuyên bố về vùng đặc quyền về kinh tế để xác lập quyền của mình.
    Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có:
    a) Các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.
    b) Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:
    i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;
    ii. Nghiên cứu khoa học về biển;
    iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
    c) Các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định.
    Quốc gia ven biển quản lý các tài nguyên trong vùng đặc quyền về kinh tế:

    • Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình và đặt dưới quyền kiểm soát của mình.
    • Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong khai thác và ấn định số dư của khối lượng cho phép đánh bắt. Nếu có dư, quốc gia ven biển có thể cho phép các quốc gia khác khai thác số dư thông qua điều ước hoặc thỏa thuận giữa các bên, quốc gia cần ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc các quốc gia bất lợi về địa lý.

    Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức.
    Thực hiện các quyền chủ quyền nêu trên theo Công ước về Luật biển năm 1982, quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các quy định mà họ đã ban hành theo đúng Công ước. Tuy nhiên, cần lưu ý:

    • Khi có sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này.
    • Không được áp dụng các hình phạt giam giữ cũng như các hình phạt thân thể khác nếu không có thỏa thuận khác.
    • Phải thông báo ngay cho quốc gia mà tàu mang cờ vi phạm biết các biện pháp cũng như các chế tài áp dụng.

    Trong vùng đặc quyền về kinh tế, các quốc gia khác đều được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm cũng như quyền tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước. Khi đặt đường ống, phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển.
    (Nguồn ảnh: baophuyen.com)

    Vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam là gì?

    Tuyên bố 77 xác lập chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam là 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam, có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam, có thẩm quyền riêng biệt trong việc thiết lập, lắp đặt và sử dụng các công trình, các đảo nhân tạo, có thẩm quyền riêng biệt về bảo vệ chống ô nhiễm môi trường.
    Thềm lục địa là gì?
    Thềm lục địa theo nghĩa pháp lý không hoàn toàn trùng với thềm lục địa địa chất. Theo Công ước Luật biển 1982, thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý nếu như rìa ngoài của bờ lục địa ở khoảng cách gần hơn.
    Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa theo sự kéo dài tự nhiên đó, nhưng cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không quá 100 hải lý.
    Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình; quyền này là đặc quyền và đương nhiên tồn tại không phụ thuộc vào việc có chiếm hữu hay tuyên bố hay không. Khi quốc gia tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý thì phải đóng góp một khoản theo quy định của Công ước Luật biển 1982.
    Quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này. Quốc gia ven biển không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận.
    Các quốc gia khác có quyền đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa, nhưng phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hay dây cáp.
    Thềm lục địa Việt Nam như thế nào?
    Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của lục địa Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào rìa ngoài của bờ lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra đến 200 hải lý kể từ đường cơ sở.
    Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam. Các đảo, quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam đều có lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa riêng.
    Thềm lục địa Việt Nam theo cấu tạo tự nhiên gồm bốn phần:

    • Thềm lục địa vịnh Bắc Bộ;
    • Thềm lục địa khu vực miền Trung;
    • Thềm lục địa khu vực phía Nam;
    • Thềm lục địa khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Tại khu vực miền Trung, thềm lục địa ra ngoài khoảng 50 km đã thụt sâu xuống hơn 1.000 m, như vậy ở đây thềm lục địa mở rộng ra tới 200 hải lý kể từ đường cơ sở.
    Hải quân Việt Nam. (Ảnh: Phạm Hùng Cường)

    Vấn đề phân định không gian biển giữa các quốc gia có vùng chồng lấn như thế nào?

    Khi các vùng biển và thềm lục địa của đất liền hoặc của các đảo của các quốc gia ven biển chồng lấn lên nhau, người ta cần phải tiến hành phân định. Như vậy, phân định là quá trình hoạch định đường ranh giới phân tách hai hay nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp liền với nhau và không được phân tách bởi biển cả hoặc đáy biển, vùng di sản chung của loài người. Việc phân định thường là một hoạt động có tính quốc tế, do hai hay nhiều quốc gia hữu quan cùng tiến hành.
    Việc phân định có thể là phân định nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp.
    Việc phân định phải tuân thủ các nguyên tắc của luật quốc tế:

    • Nguyên tắc thỏa thuận phù hợp với luật quốc tế;
    • Nguyên tắc công bằng;
    • Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

    Có hai loại hoạch định biên giới biển:

    1. Vạch đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải, sau đó xác định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa, và
    2. Phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển đối diện nhau hoặc tiếp giáp nhau, có các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn.


    • Tuần Việt Nam (giới thiệu)

    http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...509/index.aspx

  5. #5
    Avatar của sanleo
    sanleo đang Offline Vì một HSO không troll, không cãi lộn, không võ mồm manh động, không tổ lái...
    Ngày gia nhập
    Jan 2008
    Nơi cư ngụ
    Thủ đô
    Bài gửi
    2.394
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    255
    Uploads
    82
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    3 Thread(s)

    Căn cứ vào luật biển để xem tàu Hongkong có phạm luật hay không?

    Tạm giữ một tàu Hong Kong vi phạm lãnh hải

    Hôm qua (29-3), Đồn biên phòng 460 thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Bình Thuận vừa bắt giữ tàu biển Home Stais (Hong Kong) vi phạm lãnh hải.
    Trong lúc tuần tra, lực lượng bộ đội biên phòng phát hiện con tàu trên đang đậu cách bờ biển Hàm Tân (Bình Thuận) bốn hải lý. Ngoài thuyền trưởng còn có 17 thuyền viên khác đều ở Hong Kong, Trung Quốc. Bước đầu nhóm người này khai đang trên đường vào đất liền tránh bão.
    Hiện con tàu trọng tải 13.000 tấn này đã được lai dắt vào Hàm Tân để tạm giữ và làm rõ.
    Theo PH.NAM - Pháp Luật TP.HCM
    Nguồn http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/In...01&ChannelID=3

    Căn cứ vào UNCLOS, điểm đỗ tàu cách bờ biển Hàm Tân (Bình Thuận) 4 hải lý tức là nằm trong vùng lãnh hải của Việt Nam. Luật UNCLOS cho phép tàu nước ngoài đi qua không gây hại nhưng không được phép đỗ lại để làm bất cứ việc gì nếu nước ven biển không cho phép. Vậy rõ ràng là tàu này phạm luật. Điều quan trọng, đây là một tàu của Trung Quốc, và việc đỗ lại có ý đồ gì? Trung Quốc không làm điều gì mà không có tính toán. Bão đâu lúc này mà lại đi tránh? Mà có tránh bão thật cũng phải xin phép Việt Nam chứ không phải tiền trảm hậu tấu, nếu không bị bắt thì muốn làm gì cũng được. Điều quan trọng nữa là liệu VN có bao quát được hết bờ biển 3260 km hay không? Và khả năng kịp thời bắt giữ xử lý các tàu nước ngoài vi phạm để răn đe hay không? Và có dám xử lý mạnh hay không?

    Những sự việc nhỏ như thế này cũng sẽ đặt ra bài toán lớn là tăng hiểu biết luật biển cho người dân nói chung, ngư dân nói riêng, và để các tàu thuyền ngư dân cùng tham gia vào phát hiện, thông báo cho cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, cũng như các lực lượng chức năng khác để ngăn chặn và xử lý những hoạt động xâm lấn, nhất là các hoạt động có chủ ý của Trung Quốc
    Sửa bởi sanleo : 30-03-2009 lúc 09:46 AM
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------
    ...Mảnh đất quê ta giữa đại dươ­ng mang tình thươ­ng quê nhà...
    ...Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa. Quần đảo đứng hiên ngang thiên hùng ca ngời sáng...


    ...Ở đảo xa khơi nơi đây quân cướp kia đã nhiều lần định âm mưu lấn tới. Tay súng trên đảo tôi đã đánh tan giặc kia bảo vệ nước non biển trời...

    Sen tàn, cúc lại nở hoa
    Tan mây, rạng nắng, Hoàng Sa sẽ về!

  6. #6
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)
    Chào các bác, tôi có thông tin như sau về vụ này: "Bộ đội biên phòng tỉnh Bình Thuận vừa tạm giữ chiếc tàu Homestais quốc tịch Hồng Kông (Trung Quốc) khi tàu này đang neo đậu tại cửa biển Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Đây là con tàu chở hàng trọng tải 13.000 tấn, vi phạm pháp luật khi cố tình không neo đậu trong cảng quốc tế mà ra vùng biển Bình Thuận neo đậu từ ngày 15.3 để trốn đóng tiền bến cảng. Ngoài việc tạm giữ, lực lượng biên phòng đã đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật" (nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/news/Pag...329233547.aspx)
    Do vậy tôi không nghĩ đây là vụ vi phạm lãnh hải vì trọng tải tàu tới 13.000 tấn, xâm nhập sâu trong lãnh hải mà biên phòng không biết thì đơn vị này có mà giải thể sớm.

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  7. #7
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Xã Đảo Phú Lâm-H.Đảo Hoàng Sa-Việt Nam
    Bài gửi
    1.441
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    16
    Uploads
    4
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Mình lục lọi trên trang của Liên hợp Quốc. Thấy cái tài liệu này (đường dẫn) khi đánh chữ Xisha. Không biết có tài liệu bổ ích gì không. HS team xem qua nếu không quan trọng thì del luôn nhé.
    http://www.un.org/depts/los/nippon/u...7_thailand.pdf

  8. #8
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Nơi cư ngụ
    Vĩnh Long & Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    1.591
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    43
    Uploads
    31
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Submarine Xem Bài gửi
    Mình lục lọi trên trang của Liên hợp Quốc. Thấy cái tài liệu này (đường dẫn) khi đánh chữ Xisha. Không biết có tài liệu bổ ích gì không. HS team xem qua nếu không quan trọng thì del luôn nhé.
    http://www.un.org/depts/los/nippon/u...7_thailand.pdf
    Cảm ơn bác, tôi đã cho lên tủ sách tài liệu bổ ích này.
    [COLOR=Red][B]Điều ta biết chỉ là giọt nước, điều ta chưa biết mới là đại dương. [/B][/COLOR][COLOR=Red][B]Sứ mệnh của hoangsa.org chưa thể tạm dừng khi vẫn còn đó những sự hiểu biết mù mờ và không lành mạnh về chủ quyền thực tế của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. [/B][/COLOR]

  9. #9
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    27
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    ''Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng '' Với công hàm của bác Đồng, em chưa thể xác định được nó là thật hay giả. Nhưng với ý trên em sếch goole, tìm được bài nói về luật biển quốc tế.
    http://hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=4636
    Từ câu hỏi 1 đến câu hỏi 4, em rút ra được ý như thế này về công ước biển quốc tế 1982.12 hải lý lãnh hải = 22,224 km. Lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền.Đường cơ sở thẳng: Nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo.Mà đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển. Việt Nam có chuỗi đảo dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng.Việt Nam cũng không vạch đường cơ sở cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì hai quần đảo này không được hưởng quy chế quốc gia quần đảo theo điều 46 của Công ước này. Tương tự như vậy đối với Khựa và đảo Hải Nam cũng không được hưởng quy chế quần đảo. Mà thậm chí Hải Nam được hưởng quy chế vậy thì tính từ đường cơ sở của Hải nam và 22,224 km lãnh hải cũng còn bắn đại bác nữa mới đến được Hoàng Sa của Vịt.
    Vậy theo em, cái công hàm kia của bác Đồng là đúng. Thiết nghĩ các bạn Mẽo vàng không nên vun vén cho rằng Hoàng Sa, Trường sa là của Khựa. Thật, việc đấy cteo' phải đến lượt các bạn Mẽo vàng lo. Nếu như công hàm cho rằng HS, TS là của Khựa, thì với tiềm lực của chúng nó em nghĩ npos không mất nhiều thời gian lắm để thịt cả 2 quần đảo. Nhưng với công ước 1982 nên chúng chưa làm ???

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •