Trang 15 trong 15 Đầu tiênĐầu tiên ... 5131415
Kết quả từ 141 tới 142 trên 142
  1. #141
    Ngày gia nhập
    May 2011
    Bài gửi
    9
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0

    [Báo Đại Đoàn Kết]<Lịch sử hoang đường của yêu sách “đường lưỡi bò”>

    "Đường lưỡi bò" phi lý
    Lịch sử hoang đường của yêu sách “đường lưỡi bò”
    Thạc sĩ Hoàng Việt, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này cho biết, yêu sách về "đường lưỡi bò” ban đầu được đưa ra một cách không chính thức từ hai chính quyền, một là từ Cộng hòa Trung Hoa (sau thất bại năm 1949 phải chạy ra Đài Loan, từ thời điểm này gọi là chính quyền Đài Loan), và từ Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập từ năm 1949 tới nay (gọi tắt là Chính phủ Trung Quốc).
    Theo các học giả Trung Quốc kể cả Đài Loan, vào năm 1935 để đối phó với yêu sách của Pháp đối với chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, Cộng hòa Trung Hoa (CHTH) đã cho xuất bản một bản đồ chính thức đầu tiên về các đảo trên Nam Hải (tên Trung Quốc gọi Biển Đông), bản đồ này chưa thể hiện "đường lưỡi bò”. Tháng 2 năm 1947, Bộ Nội vụ nước CHTH đã tiếp tục cho xuất bản Bảng tài liệu tra cứu tên cũ của các đảo biển ở Nam Hải, trong đó liệt kê 159 đảo, đá. Sau đó, tháng 1 năm 1948, Bộ Nội vụ nước CHTH chính thức công bố một bản đồ có tên Nanhai zhudao weizhi tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), tháng 2 năm 1948 bản đồ này được xuất bản chính thức, trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà Trung Quốc gọi là "đường chữ U”, một số học giả gọi nó là "đường lưỡi bò”, bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống Biển Đông, được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn. Trong đó "đường lưỡi bò” được thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa). Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác.
    Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) ra đời, cũng cho ấn hành một bản đồ, trong đó "đường lưỡi bò” được thể hiện giống như trên bản đồ trước đó gồm 11 đoạn. Tuy nhiên, đến năm 1953, bản đồ "đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện "đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả CHTH lẫn CHNDTH chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về "đường lưỡi bò” đó cả.
    Năm 2003, các học giả Li Jin Ming và Li De Xia của Trường đại học Hạ Môn (Trung Quốc) đã công bố một bài viết đăng trên tạp chí Ocean Development & International Law, tiếp tục trình bày và làm rõ về lập luận đối với "đường lưỡi bò” này. Hai học giả này đã tổng kết một số quan điểm của các học giả Trung Quốc, trong đó hầu hết là khẳng định về chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo và các vùng nước xung quanh các đảo đó nằm trong "đường lưỡi bò”. Các học giả Trung Quốc này được hai học giả trích dẫn như Cao Chí Quốc (Gao Zhiguo), Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc cho rằng đường yêu sách này sở hữu các đảo nằm bên trong hơn là một đường biên giới biển. Ông ta nhận xét, mặc dù "Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ các cột nước của vùng Biển Đông”, nhưng "tất cả các đảo và vùng nước kế cận trong đường biên giới này phải thuộc quyền tài phán và kiểm soát của Trung Quốc”.
    Zou Keyuan cho rằng, yêu sách của Trung Quốc không nên xem như yêu sách "vùng nước lịch sử” theo nghĩa truyền thống mà giống như một dạng yêu sách các quyền chủ quyền và quyền tài phán lịch sử chứ không phải là yêu sách chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Nói cách khác, đây là sự ngụỵ biện liên hệ "đường lưỡi bò” với các khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển hiện đại.
    Tháng 7 năm 1996, Nhà xuất bản Thông tin Kinh tế Hồng Kông cho xuất bản cuốn The petropolitics of the Nansa islands – China's indisputable legal case của Phan Thạch Anh (Pan Shi Ying), theo lời của ông ta thì "Chính phủ CHNDTH thông qua việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế: 1) Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử. 2) Phù hợp với các công ước quốc tế, vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9 đoạn) đã được vạch ra theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong Biển Đông và đường bờ biển của các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý. 3) Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã chỉ ra thực chất của việc "chưa dứt điểm” để lại những khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong tương lai.
    Với Công hàm ngày 7-5-2009 có kèm bản đồ "đường lưỡi bò”, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận "tính chất lịch sử của "đường lưỡi bò”, coi Biển Đông như một "vịnh lịch sử”. Đường này sẽ được ngộ nhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng rất khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam). Như vậy toàn bộ Biển Đông sẽ trở thành ao hồ của Trung Quốc.
    Theo các tiêu chí để thỏa mãn một vùng nước được coi là "vùng nước lịch sử”, thì Trung Quốc phải chứng minh được họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng nước trong đường lưỡi bò này một cách thật sự và liên tục trong một thời gian dài. Điều này thật không đơn giản, bởi vì: Các văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên Nhất Thống Chí (1294), Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Đại Thanh Nhất Thống Chí (1842), trước năm 1909 đều khẳng định "cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”. Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ XVII của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Công ty Đông Ấn - Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: "nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ [9]. Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ. Về Trường Sa, cho tới tận năm 1932, Công hàm ngày 29-9-1932 của Phái đoàn ngoại giao CHTH tại Paris vẫn còn khẳng định các nhóm đảo "Amphitrite” (Lưỡi Liềm) và "Croissant” (An Vĩnh) của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) "tạo thành phần lãnh thổ Trung Quốc nằm tận cùng ở phía Nam”.
    Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyết phục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này một cách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa. Các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả Rập, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam và Vùng Vịnh trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy Biển Đông hoàn toàn là "ao hồ của Trung Quốc”. Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn (Việt Nam). Ngược lại còn có những sự kiện lịch sử thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774 quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.
    Theo Yann Huei Song thì mặc dù "đường lưỡi bò” đã xuất hiện trên các bản đồ xuất bản ở Trung Hoa lục địa từ năm 1949, nhưng chưa bao giờ CHNDTH yêu sách chính thức các vùng nước nằm trong đường này như các vùng nước lịch sử. Đại diện của CHNDTH đã không tuyên bố như vậy trong Hội nghị Công ước Luật Biển lần III. Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử, ít nhất các quốc gia khác phải có cơ hội được biết những gì đang diễn ra. Như vậy, kể cả CHTH lẫn CHNDTH đều chưa bao giờ công bố chính thức yêu sách về vùng biển bên trong "đường lưỡi bò” đó. Đặc biệt, Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của CHNDTH đã nhấn mạnh rằng: "Chiều rộng lãnh hải nước CHNDTH là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước CHNDTH, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”.
    Như vậy, Tuyên bố 1958 của Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là "vùng nước lịch sử”. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển cả nằm trong nội thuỷ của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó. Do vậy, Tuyên bố và các đạo luật của các nhà chức trách Trung Quốc, đặc biệt Tuyên bố năm 1958 của CHNDTH là không phù hợp với yêu sách lịch sử được phân định bởi "đường lưỡi bò”. Tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc ngày 15-5-1996 càng làm cho sự mập mờ này của họ tăng lên bởi họ yêu sách một đường cơ sở nối cả Hoàng Sa nhưng lại không đề cập gì đến Trường Sa.
    Hơn nữa, tại Hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là "đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận. Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.
    Theo thạc sĩ Hoàng Việt, bản chất thực sự của yêu sách này vẫn đang bị bao phủ bởi sự bí ẩn, Trung Quốc (kể cả Đài Loan) đều mập mờ với các tuyên bố không rõ ràng. Tuy nhiên, những hoạt động của Trung Quốc cho thấy quốc gia này thực tế đang yêu sách tất cả các vùng nước và tài nguyên nằm trong vùng Biển Đông. Những phân tích về yêu sách này theo luật pháp quốc tế cho thấy vì cơ sở pháp lý thiếu thuyết phục cho nên Trung Quốc không đưa ra những yêu sách lịch sử của mình với các tọa độ rõ ràng, và giữ im lặng về bản chất của "đường lưỡi bò” cũng như chế độ pháp lý của vùng biển được bao bọc bởi nó.

    Đọc bài này sẽ làm cho các bạn nâng tầm hiểu biết.

  2. Thanks Listen me! đã cám ơn bài viết
  3. #142
    Ngày gia nhập
    May 2011
    Bài gửi
    9
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0

    [Báo Đại Đoàn Kết]<Lịch sử hoang đường của yêu sách “đường lưỡi bò”>

    "Đường lưỡi bò" phi lý
    Lập luận mâu thuẫn về lịch sử “đường lưỡi bò” (28/12/2011)
    Đối với các quốc gia ven Biển Đông, yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc tương tự như việc một trong những người hàng xóm của bạn đột nhiên tuyên bố rằng toàn bộ con đường ở trước nhà bạn là tài sản riêng của anh ta. Hơn nữa, anh ta cũng tuyên bố rằng, vỉa hè, đường lái xe vào nhà bạn và cả sân trước nhà bạn cũng thuộc về anh ta... Nếu bạn hay các hàng xóm khác phản đối, anh ta chối bỏ hiệu lực danh nghĩa mà bạn có và từ chối việc ra tòa giải quyết bằng luật pháp.





    Vào đầu những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu tuyên bố rằng toàn bộ Biển Đông là vùng lãnh thổ của họ. Yêu sách của Trung Quốc đã đi ngược lại hoàn toàn với luật pháp quốc tế cũng như tự mâu thuẫn với chính sử, với các tuyên bố chính thức trước đó của quốc gia này. Trung Quốc sử dụng tập hợp các yêu sách lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả các thành tố kinh tế, chính trị và quân sự; một lập trường ngoại giao không thoả hiệp đi kèm với các hành vi đơn phương và áp đặt; và một yêu sách lịch sử dựa trên ý tưởng rằng Biển Đông và các đảo nằm trong đó đã thuộc về Trung Quốc trong hàng thế kỷ tính từ đời nhà Hán vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Trung Quốc lập luận rằng quyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông đã có từ hàng ngàn năm trước. Trung Quốc còn biện minh cho yêu sách của mình bằng cách tạo nên một bảng niên giám lịch sử trích dẫn hành trình của các nhà hàng hải và ngư dân Trung Quốc đi vào và qua Biển Đông. Và trên cơ sở niên giám này, Trung Quốc lập luận rằng yêu sách rộng lớn của họ đối với hầu hết Biển Đông dựa trên các dữ kiện lịch sử có từ lâu đời.
    Theo TS Nguyễn Hồng Thao - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm chứng minh sự quản lý của họ trên các đảo tranh chấp này từ hàng nghìn năm, Trung Quốc đã dẫn chứng một số sự kiện. Đó là sự kiện từ thời nhà Tống (960 - 1127) Hải quân Trung Quốc đã đi tuần tra đến vùng biển quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Sự khẳng định này dựa trên cơ sở đoạn văn trích từ Vũ Kinh tổng yếu có lời tựa của Vua Nhân Tông đời Bắc Tống. Đoạn trích trong văn kiện chính thức của Trung Quốc như sau: "Triều đình Bắc Tống lệnh cho Vương Sư đi phòng giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở Quảng Nam (tức Quảng Đông ngày nay) và "đóng tàu chiến đao ngư”. Tác phẩm trên còn khẳng định: "Từ Đồn Môn Sơn, dùng gió Đông hướng Tây Nam 7 ngày thì đến Cửu Nhũ Loa Châu. Cửu Nhũ Loa Châu là quần đảo Tây Sa ngày nay. Điều đó chứng tỏ quần đảo Tây Sa đã thuộc phạm vi cai quản của đời Bắc Tống”. Theo Sách trắng 1981 của Việt Nam thì đoạn trích từ Vũ Kinh tổng yếu này là sự kết hợp ba đoạn riêng rẽ khác nhau trong một đoạn sau lời tựa: "Lệnh cho quân nhà vua đi trấn giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển phía Đông và phía Tây rộng 280 trượng đến Đồn Môn Sơn 200 lý đóng tàu chiến đao ngư. Từ Đồn Môn Sơn dùng gió Đông đi về hướng Tây Nam bảy ngày thì đến Cửu Nhũ Loa Châu, đi ba ngày nữa đến Bất Lao Sơn (thuộc địa giới Hoàn Châu), đi 300 hải lý nữa về phía Nam đến lăng Sơn Đông. Phía Tây Nam nơi đó là các nước Đại Thực Phật, Sư Tử, Thiên Trúc không thể tính được hành trình”. Rõ ràng trong đoạn trích kể trên của Vũ Kinh tổng yếu, có đoạn văn Bắc Tống "lệnh cho quân nhà vua đi trấn giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở Quảng Nam (Quảng Đông ngày nay)”, "đóng tàu chiến đao ngư”, có đoạn mô tả vị trí địa lý của đồn binh nhắc trên, đoạn khác tả lộ trình đi từ cảng Quảng Nam tới tận Ấn Độ Dương. Đó là hành trình khảo sát địa lý, không phải là tuần tra lãnh thổ Trung Quốc. Không có gì trong đoạn trích trên cho phép khẳng định rằng Cửu Nhũ Loa Châu chính là quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Điều đó không thể là bằng chứng đầy đủ chứng minh rằng ngay từ thời nhà Tống, quần đảo Hoàng Sa đã thuộc quyền quản lý của Trung Quốc và "Hải quân Trung Quốc đã đi tuần tới các đảo Tây Sa”.
    Một sự kiện khác, Trung Quốc cho rằng việc đo thiên văn trong biển Nam Hải vào đầu đời Nguyên đã khẳng định rằng các đảo là một bộ phận của lãnh thổ nước này. Sách trắng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc 1980 viết: "Năm thứ nhất đời Nguyên tiến hành đo đạc thiên văn 27 nơi trong nước, nhà Nguyên năm thứ 16 (Công nguyên năm 1279) Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đích thân sai Đồng Trí Thái, Sử viện sử, Quách Thụ Kinh, nhà thiên văn nổi tiếng đến biển Nam tiến hành đo đạc. Theo Nguyên Sử, điểm thiên văn Nam Hải nằm ở phía Nam Châu Nhai (thuộc đảo Hải Nam) và kết quả đo đạc cho thấy Nam Hải ở vĩ tuyến Bắc 15 độ. Điểm thiên văn Nam Hải chính là ở quần đảo Tây Sa ngày nay. Điều đó nói rõ quần đảo Tây Sa thời Nguyên đã là nằm trong biên thùy Trung Quốc”. Thực ra, theo Nguyên Sử, bộ sử chính thức của nhà Nguyên, việc đo đạc thiên văn được ghi chép như sau: "Việc đo bóng mặt trời bốn biển ở hai mươi bảy nơi. Phía Đông đến Cao Ly, phía Tây đến Điền Trì, phía Nam qua Chu Nhai, phía Bắc đến Thiết Lặc”. Khái niệm "bốn biển”, theo ngôn từ Trung Quốc, chỉ rằng các lãnh thổ này nằm ngoài lãnh thổ quốc gia. Trên thực tế, dưới đầu đề "đo đạc bốn biển”, Nguyên Sử chép rõ tên 27 nơi đo đạc thiên văn trong đó có những địa danh hoàn toàn không thuộc cương vực Trung Quốc như Cao Ly (Triều Tiên), Thiết Lặc (Siberia). Chính Nguyên Sử cũng nói rõ "lãnh thổ Trung Quốc” dưới thời Nguyên phía Nam chỉ tới đảo Hải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gobi. Các quan trắc thiên văn trên có phần tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc, có phần nằm ngoài cương vực Trung Quốc. Do đó, nó không thể tạo ra bằng chứng xác đáng cho chủ quyền của họ. Ngay cả khi điểm quan sát thiên văn "Nam Hải” nằm trên các đảo Tây Sa, thì việc quan sát thiên văn đó... cũng không đủ để thể hiện ý chí của "Chính phủ đó thực hiện chủ quyền trên các đảo đá nhỏ này”. Hơn nữa một hành động nghiên cứu khoa học không thể tạo nên một danh nghĩa chủ quyền.



    Yêu sách "đường lưỡi bò” của Trung Quốc
    trong tương quan với tuyên bố chủ quyền
    của các quốc gia ven Biển Đông




    Bài viết gần đây "Sự hình thành chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông, nguồn gốc của các vấn đề Biển Đông”, trên mạng Quishi cung cấp sự biện minh đối với yêu sách lịch sử của Trung Quốc nhưng cũng đầy mâu thuẫn. Bài báo do Li Guoqiang viết trích dẫn hai bản ghi chép lịch sử của Trung Quốc kể về các hải trình của các nhà hàng hải triều Hán và Minh ở Biển Đông. Dựa trên hai bản ghi chép lịch sử này, Li lập luận rằng người Trung Quốc đã khám phá ra và phát triển các đảo này trước tiên. Và kết quả là, chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông dần dần được hình thành dựa trên cơ sở pháp lý liên tục của các Chính phủ Trung Quốc trong các triều đại nối tiếp nhau bất chấp việc các đảo này là đảo nhỏ, cằn cỗi và không thích hợp cho con người sinh sống. Sau đó ông cho rằng bởi vì người dân của các quốc gia khác có yêu sách không thể đưa ra bất kỳ ghi chép nào liên quan đến việc tổ tiên của họ tìm thấy và đặt tên cho các đảo đó, từ đó vội vã cho rằng Trung Quốc có "chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Trường Sa. Bài viết thể hiện chính sách của Trung Quốc trong việc gây áp lực lên các quốc gia khác có yêu sách rằng Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc trên cơ sở ghi chép lịch sử mà Trung Quốc có được và từ chối thương lượng với các quốc gia đó trừ phi họ chấp nhận "chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc. Gần đây, một nhà bình luận Trung Quốc đã cố tình làm giảm vai trò pháp lý của UNCLOS bằng cách lập luận rằng đây "chỉ là một luật biển quốc tế, không phải là luật biển duy nhất, và do đó (các quốc gia khác có yêu sách) nên ngừng thắc mắc về tính pháp lý của "đường lưỡi bò” của Trung Quốc”.

    Tuy nhiên, theo các chuyên gia quốc tế, bằng chứng lịch sử của Trung Quốc không đủ cơ sở để loại bỏ yêu sách của các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Có thể cho rằng các nhà hàng hải và ngư dân Trung Quốc đã đi qua Biển Đông trong hai nghìn năm qua. Tuy nhiên, cũng có nhiều bằng chứng cho thấy, tổ tiên của các quốc gia Đông Nam Á ngày nay cũng đã đi qua và đánh cá ở các hòn đảo đó rất lâu trước bất kỳ ghi chép nào của người Trung Quốc. Do quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cằn cỗi và không thích hợp cho con người sinh sống nên dân cư thời tiền sử của các quốc gia Đông Nam Á đã đánh cá và khai thác kinh tế các nguồn tài nguyên ở Biển Đông thậm chí trước cả triều Hán và triều Minh. Các quốc gia ven Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia...) được định hình một phần từ những dân cư đi biển, những người đã đến những vùng đất này qua một số làn sóng nhập cư từ rất xưa khoảng hàng vạn năm trước. Không có gì nghi ngờ rằng những người đi biển này đã đi qua và đánh cá ở Biển Đông, giống như những gì mà con cháu họ đang làm hiện nay. Do đó, bình luận về bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với Biển Đông, nhiều chuyên gia quốc tế về hàng hải đương đại lưu ý rằng: "Không có bằng chứng nào chỉ ra lợi ích kinh tế độc nhất của Trung Quốc đối với các đảo hay khu vực xung quanh các đảo ở Biển Đông. Thay vào đó, bằng chứng chỉ thấy điều ngược lại – rằng các vùng biển ở Biển Đông và các đảo nằm rải rác ở đó... từ bao thế kỷ nay đã trở thành khu vực đánh cá và các tuyến đường thương mại chung của các cư dân trong khu vực. Thực sự, việc sử dụng chung lâu đời này cho thấy Biển Đông đã phát triển như một khu vực chung, ở đó các bên theo đuổi các lợi ích của mình mà không phải lo sợ bị chính quyền của các quốc gia khác làm phiền”.



    Bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
    do người Hà Lan vẽ năm 1754



    Cần thấy rằng các tác giả Trung Quốc đã quá vội vàng khi khẳng định rằng "đường lưỡi bò” đã được cộng đồng quốc tế công nhận và các quốc gia liên quan không có sự phản đối. Trước hết, thời điểm xuất hiện của "đường lưỡi bò” còn chưa được chính các tác giả Trung Quốc thống nhất. Thứ hai, nguồn gốc đường này ban đầu chỉ là một dạng xuất bản tư nhân. Thứ ba, một đường lúc thì 11 đoạn, lúc thì 9 đoạn, vẽ tùy tiện, không tọa độ, không rõ ràng làm sao có khả năng thể hiện một đường yêu sách biên giới rõ ràng theo đúng các quy định của luật quốc tế để các quốc gia khác phải bận tâm. Thứ tư, vào thời điểm đường lưỡi bò đang được Bộ Nội vụ CHTH in trên bản đồ, Pháp đã đưa tàu và quân ra đóng giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tiếp tục duy trì danh nghĩa chủ quyền kế thừa từ các Nhà nước phong kiến Việt Nam và thực hiện hoạt động chiếm hữu theo luật quốc tế của Pháp năm 1933. Hoạt động thực tiễn này chính là sự phản đối hùng hồn yêu sách "đường lưỡi bò” từ phía nước láng giềng phương Bắc. Thứ năm, Hiệp ước hòa bình San Francisco 1951 không hề đả động tới "đường lưỡi bò”. Ngay cả tuyên bố của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai năm 1951 về dự thảo Hiệp ước San Francisco cũng không nói gì đến "đường lưỡi bò”. Thứ sáu, thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Philippines, Malaysia đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói "đường lưỡi bò” trên Biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận. Thứ bảy, ngay cả những nước không liên quan gì đến tranh chấp cũng thể hiện quan điểm không đồng tình. Mỹ không công nhận bất kỳ vùng biển nào không gắn với đất liền và đảo. Indonesia ngày 8-7-2010 đã nộp lên Liên Hợp Quốc Công hàm phản đối "đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Vì vậy không thể nói đã có sự công nhận quốc tế về "đường lưỡi bò”.
    Lập luận "đường lưỡi bò” là đường "vùng nước lịch sử” của Trung Quốc đã không thể thuyết phục được cộng đồng quốc tế vì ngay cả trong tài liệu chuẩn bị cho Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1958 trong danh sách các vùng nước lịch sử của thế giới không có tên một vùng nước nào trong Biển Đông. Việc duy trì một yêu sách không khoa học, không khách quan, không phù hợp luật pháp quốc tế đã làm xấu đi hình ảnh của một đất nước Trung Quốc trỗi dậy hòa bình, đồng tác giả của năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và là trở ngại chính cho mọi giải pháp giải quyết tranh chấp trong Biển Đông bằng biện pháp hòa bình.

    Mời các bạn cùng đọc và cho ý kiến nhe. Theo mình các ban nên đọc kỹ và ghi nhớ để có những kiến thức cơ bản về yêu sách phi lý về "đường lưỡi bò" của Trung Quốc. Kể từ ngày xuất hiện "đường lưỡi bò" phi lý này, TQ không từ bỏ mọi thủ đoạn để tuyên truyền xuyên tạc về "đường lưỡi bò" nhằm mục đích đọc chiếm biển đông. Một trong những hình thức tuyên truyền đó là trên bản đồ, ấn phẩm của Trung Quốc xuất hiện đường đứt khúc 9 đoan (Đường lưỡi bò).




Chủ đề tương tự

  1. [Thảo luận] [QDND]Nhà văn hóa thành "hoang hóa"
    By hhhh in forum Đất nước và con người Việt Nam
    Trả lời: 3
    Bài mới gửi: 21-02-2011, 07:15 AM
  2. Điểm lại “Hội thảo Biển Đông” với tướng hồi hưu Pháp - Daniel Schaeffer.
    By Dinh_Kim_Phuc in forum Thảo luận về Hoàng Sa - Trường Sa
    Trả lời: 1
    Bài mới gửi: 18-11-2010, 03:57 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •