[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 10 trong 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 8910
Kết quả từ 91 tới 94 trên 94
  1. #91
    Ngày gia nhập
    Aug 2010
    Nơi cư ngụ
    Волгоград, Россия
    Bài gửi
    292
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tuyên bố ứng xử và lộ trình quản lý tranh chấp Biển Đông

    Bài viết của TS Ian Storey, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore phân tích những yếu tố gây căng thẳng leo thang ở Biển Đông và hệ lụy đối với khu vực khi những nhân tố này không được giải quyết. Bài viết của tác giả cũng khuyến nghị cách thức thực hiện một số biện pháp thực thi Tuyên bố ứng xử các bên (DOC) nhằm hạn chế những căng thẳng hiện nay ở Biển Đông.



    Tình trạng căng thẳng đang leo thang ở Biển Đông là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có việc ASEAN và Trung Quốc không thể triển khai các biện pháp hợp tác xây dựng lòng tin (CBM) đã được vạch ra trong bản Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử của các bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC). Nếu các xu hướng như hiện tại còn tiếp diễn mà căng thẳng không được giải quyết thì nguy cơ về việc các bên tính toán sai lầm và thậm chí dẫn đến xung đột sẽ ngày càng gia tăng. Sự ổn định ở Biển Đông có tầm quan trọng thiết yếu cho cho quá trình phát triển kinh tế của các nước Châu Á Thái Bình Dương, và các quốc gia khu vực đã bày tỏ các mối quan ngại của mình tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Cộng (ADMM+). Do tần suất các sự cố trên biển ngày càng tăng nên việc ASEAN và Trung Quốc cùng tiến tới triển khai thực thi DoC là hết sức cấp bách. Bài viết này sẽ khuyến nghị cách thức thực hiện một số hợp tác xây dựng lòng tin (CBM) trong DoC.

    Phần mở đầu

    Việc Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton “đích thân bước vào vùng nước dữ” của Biển Đông tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vào tháng 7 năm 2010 khi tuyên bố rằng vùng biển này là “then chốt” cho an ninh khu vực và rằng quyền tự do hàng hải là “lợi ích quốc gia” là một dấu hiệu nữa cho thấy cuộc tranh chấp lãnh thổ này đã dần quay trở lại vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về an ninh của Đông Nam Á. Nhiều nhà phân tích an ninh đã lưu ý về bản chất tuần hoàn của các căng thẳng ở Biển Đông và cho thấy căng thẳng ngày một gia tăng kể từ năm 2007 là do sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc (đặc biệt là ở Việt Nam và Trung Quốc); sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đối với nguồn tài nguyên biển như ngành đánh cá, dầu khí; và các nỗ lực của các bên yêu sách nhằm tăng cường yêu sách chủ quyền của mình đối các đảo nhỏ và các đảo đá nằm rải rác trong khu vực rộng 1,2 dặm vuông trên biển. Tuy nhiên, nhìn chung thì Trung Quốc mới là nước có ảnh hưởng chính tới tình hình tranh chấp và trong vòng ba năm trở lại đây, Bắc Kinh đã trở nên ngày càng cương quyết đối với Biển Đông bằng việc tạo áp lực buộc các công ty năng lượng nước ngoài phải ngưng các dự án khai thác ở vùng biển tranh chấp, mạnh mẽ thi hành lệnh cấm đánh cá thường niên đơn phương của mình, và gia tăng tần suất cũng như mức độ cứng rắn của các tàu tuần tra của hải quân Trung Quốc và các cơ quan thực thi pháp lý trên biển. Ngay đến cả Thủ tưởng Malaysia, nước đã chủ trương hạ thấp tầm quan trọng của các căng thẳng ở Biển Đông từ năm 1993, cũng đã phải đánh giá rằng thái độ của Trung Quốc là “cứng rắn hơn bao giờ hết”.[1]

    Điều đáng thất vọng là trong khi căng thẳng ngày càng gia tăng, thì Tuyên bố Quy tắc Ứng xử Biển Đông năm 2002 (DoC) lại không thể cải thiện được vấn đề. Tuy nhiên, nếu các bên có ý chí chính trị thì bản DoC có thể sẽ trở thành một cơ chế quan trọng để giảm thiểu căng thẳng và tăng cường ổn định. Trong khi một số nhà phân tích đã mô tả bản DoC là “một bệnh nhân ốm yếu phải dùng đến máy hỗ trợ kéo dài cuộc sống”, hay một số khác thậm chí coi nó là “một cơ chế đã chết” thì trên thực tế, thoả thuận này ASEAN-Trung Quốc lại là khuôn khổ duy nhất đang tồn tại mà có thể được áp dụng để quản lý tranh chấp. Bản DoC thực sự có chứa đựng nhiều biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) có thể trở nên vô cùng hữu ích – chẳng hạn như nhu cầu cần phải cải thiện sự an toàn trong việc đi lại và liên lạc trên biển, cụ thể là thực thi các biện pháp nhằm ngăn ngừa các cuộc đụng độ nhỏ ngày càng gia tăng trên biển– các biện pháp này nếu được thực thi và tuân thủ một cách đúng đắn thì có thể giảm được nguy cơ về các tính toán sai và thậm chí xung đột. Mục tiêu của bài viết này là kiến nghị các cách thức mà ASEAN và Trung Quốc nên thực hiện để có thể hướng tới việc thi hành một cách cụ thể các CBM được chứa đựng trong DoC.

    Tuyên bố DoC 2002: Các Nguyên tắc và Mục tiêu chủ đạo

    Bản DoC được ký kết vào ngày 4 tháng 11 năm 2002 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Phnom Penh, Campuchia. Bản thoả thuận này đã được cả hai bên ca ngợi. Phó Bộ trưởng Ngoại giao Wang Yi, người đã đại diện cho Trung Quốc ký bản thoả thuận, đã mô tả về DoC như “một biểu tượng thúc đẩy các quan hệ mới giữa Trung Quốc và ASEAN.”[2] Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã ca ngợi bản DoC và cho rằng nó đã đánh dấu một “cấp độ cao hơn về niềm tin chính trị giữa hai bên và đóng góp vào hoà bình và ổn định khu vực”.[3] Bộ trưởng Ngoại giao Phi-lip-pin Blas Ople đã tuyên bố rằng bản thoả thuận này là một “bước tiến nhảy vọt cho hoà bình”.[4] Vậy liệu những lời tán thành này có cơ sở nào không? Các nguyên tắc và mục tiêu chủ đạo của DoC là gì và kể từ khi nó được kí kết đến giờ thì các nguyên tắc đó có được tuân thủ, các mục tiêu đó đã đạt được chưa?

    Văn bản dài hai trang này đã được xây dựng dựa trên Tuyên bố năm 1992 và quy tắc ứng xử năm 1995 giữa Trung Quốc và Phi-lip-pin vì thế nó có nhiều điểm tương tự.[5] Lời mở đầu của bản tuyên bố khẳng định quyết tâm của các bên trong việc phát triển mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn “nhằm thúc đẩy mối quan hệ đối tác hướng tới thế kỷ 21 dựa trên quan hệ láng giềng tốt và tin cậy lẫn nhau” và sự cần thiết phải “thúc đẩy môi trường hoà bình, hữu nghị và hoà hợp” ở Biển Đông để tăng cường hoà bình và ổn định trong khu vực. Đáng chú ý là lời mở đầu đã khẳng định rằng mục tiêu của bản thoả thuận không phải là để giải quyết vấn đề mà là để “thúc đẩy các điều kiện thuận lợi để giải quyết hoà bình và lâu bền những bất đồng và tranh chấp” – nói cách khác, bản DoC cần phải đóng vai trò là một cơ chế quản lý xung đột chứ không phải là cơ chế giải quyết xung đột.

    Tiếp sau lời mở đầu, bản DoC đã liệt kê các nguyên tắc sau trong mười điều khoản. Thứ nhất, rằng các bên cam kết tuân thủ các quy tắc trong quan hệ giữa các quốc gia và các quy tắc của luật quốc tế được chứa đựng trong các văn kiện như Hiến chương LHQ, TAC, UNCLOS và Năm Nguyên tắc về Chung sống Hoà bình. Thứ hai, các bên kí kết cam kết “tạo dựng sự tin cậy và lòng tin” phù hợp với các nguyên tắc nêu trên. Thứ ba, rằng sự tôn trọng đối với quyền tự do hàng hải và quyền bay ngang qua vùng trời phía trên Biển Đông được tuân thủ. Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp hoà bình và không sử dụng vũ lực “thông qua tham khảo ý kiến và tham vấn hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền trực tiếp liên quan”. Thứ năm, các bên kí kết nhất trí “tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp” bao gồm việc “không tiến hành việc đưa người đến sinh sống” trên các vùng hiện không có người ở. Thứ năm, các bên kí kết nhất trí “tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp” trong đó có việc “không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống” tại các đảo hiện chưa có người sinh sống. Khoản 5 đưa ra các hoạt động mà thông qua đó các bên có thể “xây dựng sự tin cậy và lòng tin” bao gồm đối thoại giữa các quan chức quốc phòng và quân sự, các hoạt động nhân đạo với những người gặp nguy hiểm hay lâm nạn (cụ thể là trong hoạt động tìm kiếm và cứu nạn), thông báo trước cho các bên liên quan khác về các cuộc tập trận quân sự trong khu vực, và tự nguyện trao đổi các thông tin “liên quan”. Thứ sáu, các bên nhất trí cam kết thực hiện “các hoạt động hợp tác”, song phương hoặc đa phương, như bảo vệ và nghiên cứu môi trường biển, an toàn hàng hải trên biển, tìm kiếm-cứu nạn, và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia. Thứ bảy, các bên nhất trí sẽ tiếp tục “các cuộc tham khảo ý kiến và đối thoại” về cuộc tranh chấp. Thứ tám, các bên kí kết sẽ tôn trọng các điều khoản trong DoC. Thứ chín, khuyến khích các nước khác tôn trọng các nguyên tắc được nêu trong Tuyên bố. Thứ mười, nhất trí rằng một bộ quy tắc ứng xử cho Biển Đông sẽ “thúc đẩy hơn nữa hoà bình và ổn định ở khu vực”.

    Là một thoả thuận mang tính thoả hiệp nên tuyên bố DoC có các điểm mạnh và điểm yếu của nó. Khía cạnh tích cực nhất là việc các bên đã thừa nhận rằng tranh chấp Biển Đông đã có tác động trực tiếp lên hoà bình và ổn định, từ đó dẫn đến các ảnh hưởng về tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, các cam kết về việc giải quyết vấn đề thông qua các cuộc đàm phán hoà bình, không sử dụng vũ lực, và tôn trọng quyền tự do hàng hải đều đã được hoan nghênh. Tính bao hàm và loại trừ của bản thoả thuận vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của nó. Sự tham gia của tất cả các quốc gia ASEAN – mà không phải chỉ có bốn nước yêu sách – đã nêu bật được tầm quan trọng của Biển Đông đối với sự phát triển kinh tế và an ninh lương thực của tất cả các quốc gia Đông Nam Á. Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa là các cuộc bàn luận sâu xa hơn cũng sẽ có sự góp mặt của các thành viên ASEAN không có lợi ích trực tiếp trong tranh chấp này. Như sẽ được phân tích ở phần sau, đây sẽ là một vấn đề đối với Trung Quốc. Hơn nữa, tuyên bố DoC còn mang tính loại trừ ở khía cạnh là Đài Loan đã không được mời kí kết, chủ yếu là do chính sách của Bắc Kinh trong việc hạn chế không gian quốc tế của Đài Bắc. Việc loại trừ đi một phần sáu của số lượng các bên tranh chấp rõ ràng là một điểm hạn chế của DoC. Ba hạn chế nữa của DoC là: thứ nhất, sự mập mờ trong ngôn từ được sử dụng, đặc biệt không nêu rõ những yếu tố cấu thành sự “kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp”. Thứ hai là không hề có sự đề cập đến phạm vi bao quát về địa lý của bản tuyên bố. Và thứ ba, việc không có các biện pháp trừng phạt trong trường hợp một bên ký kết bị xác định là đã vi phạm thoả thuận.

    Tuân thủ và thi hành

    Sự tuân thủ của các bên yêu sách đối với tuyên bố DoC là khác nhau. Đáng khích lệ nhất là việc tất cả các bên yêu sách đều đã tuyệt đối chấp hành nguyên tắc cấm không sinh sống và xây dựng các cấu trúc mới trên các đảo không người. Tuy nhiên, việc thực hiện “kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hoà bình và ổn định” lại không mấy thành công. Vấn đề chủ yếu nằm ở chỗ điều khoản quy định của nó vốn đã mập mờ và do đó các nước yêu sách có thể tùy ý giải thích. Kể từ năm 2002 các nước yêu sách – đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc – đã cáo buộc nhau là đã vi phạm quy định về “kiềm chế” rất nhiều lần đối với các hoạt động được thực hiện trên Biển Đông. Chẳng hạn, vào tháng 4 năm 2004, cả Manila và Bắc Kinh cùng phản đối Hà Nội vì đã thực hiện cuộc thăm quan kéo dài bảy ngày cho các quan chức chính phủ và du khách đến các đảo do Việt Nam chiếm giữ - Hà Nội đã phản bác rằng mình có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Trường Sa và rằng cuộc thăm quan này đã cấu thành các hoạt động “bình thường”.[6] Do việc tự kiềm chế đã không được định nghĩa cụ thể, Việt Nam đã có thể đưa ra lập luận này một cách hoàn toàn chính đáng.

    Việc quân sự hoá một cách nhanh chóng các đảo cũng đã tác động tiêu cực đến ổn định khu vực. Như đã được đề cập ở trên, tuyên bố DoC không hề ngăn cấm việc nâng cấp các cấu trúc hiện đang có, và tất cả các bên yêu sách trừ Brunei (bên tranh chấp duy nhất không chiếm đóng một đảo nào) đã mở rộng đáng kể các căn cứ quân sự của mình ở Trường Sa mà không mảy may để ý tới điều khoản “tự kiềm chế”. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước năng động nhất trong hoạt động này, tiếp sau đó là Malaysia; Philipin không thể quá năng nổ do các hạn chế về ngân sách. Ví dụ, Việt Nam đã xây dựng các điểm quốc phòng mới, các bãi đáp, bến tàu, doanh trại và hệ thống liên lạc trên tất cả 21 hòn đảo của mình.[7] Các nước yêu sách đã thiết lập các đường kết nối thường xuyên qua đường hàng không, biển và bưu điện với các đảo thuộc sở hữu của mình. Từ năm 1999 Trung Quốc đã đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh cá ở Biển Đông trong quãng thời gian từ tháng năm đến tháng 8, trong những năm gần đây đã tăng cường tần suất tuần tra hải quân để cưỡng chế lệnh cấm này.[8]

    Nguyên nhân khiến cho các bên yêu sách tăng cường các hoạt động ở Biển Đông để củng cố cho yêu sách quyền tài phán của mình một phần xuất phát từ phán quyết của Toà Công lý Quốc tế (ICJ) vào năm 2002 mà theo đó Malaysia được hưởng chủ quyền đối với hai hòn đảo – Sipadan và Litigan – nằm ngoài khơi của Borneo. Toà ICJ đã đưa ra phán quyết rằng Malaysia chứ không phải Indonesia mới có quyền sở hữu hai hòn đảo bởi Malaysia đã chứng minh được một cách thuyết phục hơn về khả năng chiếm đóng trên thực tế của mình: các hành vi của chính phủ nhằm chứng minh sự chiếm đóng trên thực tế đối với các hòn đảo, bao gồm việc xây dựng các ngọn hải đăng.[9] Mặc dù không một bên tranh chấp nào tự nguyện muốn đưa yêu sách Biển Đông của mình lên toà ICJ, nhưng tác động của phán quyết của toà rõ ràng vẫn có ảnh hưởng với họ.

    Vai trò của Công ước UNCLOS – điều ước đã được các bên khẳng định tôn trọng trong DoC – cũng chỉ làm phức tạp hơn cho cuộc tranh chấp và tạo ra các va chạm giữa các bên yêu sách của ASEAN với Trung Quốc. Đầu năm 2009, để có thể kịp cho thời hạn ngày 13 tháng 5, Việt Nam, Philipin và Malaysia đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa của Liên Hợp Quốc (UNCLCS) các vấn đề liên quan đến khu vực thềm lục địa “mở rộng”, bao gồm các vùng nước đang tranh chấp tại Biển Đông.[10] Trung Quốc đã phản đối và cho rằng hành động này là vi phạm chủ quyền của mình, và kêu gọi Ủy ban UNCLCS bác bỏ nó (Phi-lip-pin cũng đã phản đối các đệ trình của Việt Nam và Malaysia). Bởi vì trong trường hợp có các yêu sách đối nghịch thì Ủy ban không có đủ thẩm quyền để xem xét các đệ trình, vì thế trên thực tế quá trình này đã trở nên không có hiệu quả.

    Mức độ mà các bên tiến tới “xây dựng lòng tin và niềm tin” trong tám năm kể từ khi DoC được ký kết cũng là một điểm gây thất vọng. Khoản 5 của DoC kêu gọi các bên thực hiện các cuộc “đối thoại và trao đổi ý kiến” giữa các cơ quan quân sự của mình. Một số nước Đông Nam Á trong đó có các nước Philipin và Việt Nam đã triển khai đối thoại quốc phòng và an ninh thường niên với CHND Trung Hoa kể từ khi DoC được ký kết, mặc dù Malaysia và Brunei đến nay vẫn chưa thực hiện việc này. Tuy vậy người ta không rõ liệu Biển Đông có phải là chủ đề chính trong các đối thoại tại các cuộc họp này hay không. Khoản 5 cũng khuyến khích các bên thông báo cho nhau biết về các cuộc tập trận quân sự sắp diễn ra ở Biển Đông nhưng trên thực tế lại không có bằng chứng nào cho thấy việc này được thực hiện một cách thường xuyên hay có hệ thống.

    Khoản 6 của DoC liệt kê một loạt các CBM nhằm xây dựng lòng tin và hợp tác. Tuy nhiên cho đến nay mới chỉ có một biện pháp được thực hiện, mà kết quả lại rất đáng thất vọng. Vào năm 2005, Philipin, Việt Nam và Trung Quốc đã thống nhất sẽ thực hiện khảo sát chung về địa chấn ở Biển Đông để tìm hiểu về các nguồn trữ lượng hydrocarbon. Ba chính phủ này đã biện minh cho dự án này cơ sở rằng đây là một thành phần trong các hoạt động “nghiên cứu khoa học biển” được xác định ở Khoản 6 phần c. Khi Hiệp định ba bên Trung Quốc – Phi-líp-pin – Việt Nam về thỏa thuận thăm dò địa chấn trên biển trong Khu vực thoả thuận tại Biển Đông (JMSU) được kí kết, nó đã được hoan nghênh một cách rộng rãi là một đột phá mới cho cuộc tranh chấp. Mặc dù rất hấp dẫn trên lý thuyết, nhưng khi thực hiện thì JMSU đã bộc lộ nhiều hạn chế cơ bản. Nội dung của bản thoả thuận này chưa bao giờ được công bố để tránh sự chỉ trích mãi cho đến năm 2008 thì mới có thông tin tiết lộ rằng một phần sáu của khu vực thăm dò này là nằm trong vùng lãnh hải của Philipin và nằm ngoài vùng yêu sách của cả Trung Quốc và Việt Nam.[11] Những người chỉ trích Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo đã coi JMSU là vi phạm hiến pháp và đòi hỏi phải được bồi thường bằng việc Bắc Kinh phải kéo dài các khoản vay cho Manila trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm một mạng lưới phát sóng quốc gia và khôi phục mạng lưới đường ray của nước này (những dự án này sau đó đã bị ngưng trệ hoặc thất bại do các cáo buộc về tình trạng tham nhũng). Hơn nữa, JSMU còn bị chỉ trích do bên kí kết phía Trung Quốc, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), đã kiểm soát quá trình thu thập, lưu trữ và phân tích dữ liệu mà không chia sẻ đầy đủ với bên đồng nhiệm của Philipin và Việt Nam.[12] Trong một nỗ lực nhằm tránh khỏi nguy cơ bị đàn hạch một lần nữa, Arroyo đã rút khỏi JMSU và thoả thuận này sau đó đã sụp đổ vào tháng 6, 2008. Kể từ đó đến nay đã không có một nỗ lực nào nhằm khôi phục tiến trình này.

    Việc ASEAN và Trung Quốc thất bại trong việc thực thi một số ít các CBM là do không có một tiến trình nào nhằm tạo ra sự đồng thuận về các nguyên tắc thực thi DoC. Hai năm sau khi được ký kết, một tiến trình đã được đặt ra hướng tới được mục tiêu này. Vào tháng 12 năm 2004 hai bên đã tổ chức cuộc Hội thảo Quan chức Cấp cao (SOM) về vấn đề Thực thi DoC.[13] Tại cuộc hội thảo này các bên nhất trí thành lập một Ủy ban Làm việc Chung (JWC) để kiến nghị các nguyên tắc thực thi DoC, bao gồm cả các dự án hợp tác. Ủy ban JWC đã họp ba lần, vào năm 2005, 2006, và không chính thức vào năm 2008, nhưng đã không đi đến thống nhất về phương hướng cụ thể.

    Đến năm 2009 thì đã quá rõ ràng rằng các cuộc thảo luận về việc thực thi DoC đã đi vào chỗ bế tắc. Cản trở lớn nhất chính là phương thức để tiến hành các cuộc đàm phán trong tương lai. Trung Quốc đã nêu rõ nước này muốn bàn bạc vấn đề với từng nước trong số bốn nước yêu sách của ASEAN trước, rồi sau đó đến các nước không yêu sách trước khi họp với ASEAN với tư cách là một tập thể.[14] Rõ ràng Trung Quốc đang lo lắng rằng ASEAN với tư cách là một tập thể sẽ tạo nên một “mặt trận thống nhất” trên vấn đề Biển Đông, đây là một quan điểm mà lãnh đạo các nước ASEAN thấy bối rối bởi tổ chức này đã có thông lệ là sẽ họp với tư cách tập thể trước khi họp với các Đối tác Đối thoại.[15] Trung Quốc dường như phản đối mọi cuộc nói chuyện về vấn đề Biển Đông với ASEAN. Trước khi Hội nghị cấp cao ASEAN diễn ra ở Cha-am, Thái Lan vào tháng 10 năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN Xue Hanqin đã lập luận rằng bởi vì ASEAN bao gồm cả các nước yêu sách và các nước không yêu sách nên việc thảo luận vấn đề Biển Đông tại các cuộc họp của ASEAN là không hợp lý và rằng vấn đề này cần phải được giải quyết qua các cơ chế song phương.[16] Theo đó, tại Cha-am, vấn đề tranh chấp đã không được thảo luận.[17]

    Vào tháng 1 năm 2010, Việt Nam đảm nhiệm chức chủ tịch của ASEAN và tỏ ra rất quyết tâm trong việc phá vỡ thế bế tắc của DoC. Một vài tuần sau khi chính thức nhậm chức, Việt Nam đã chủ trì một cuộc họp với các bộ trưởng ngoại giao ASEAN ở Đà Nẵng trong một nỗ lực nhằm xây dựng sự đồng thuận đối với vấn đề này. Các lãnh đạo ASEAN đã tham dự cuộc hội nghị cấp cao ở Hà Nội vào tháng 4, trong khi thông cáo chính thức không đề cập gì đến tranh chấp, nhưng tại cuộc họp báo sau hội nghị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã công bố rằng các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí sẽ tổ chức các cuộc họp để “thảo luận về các giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực thi DoC”, cho thấy rằng Trung Quốc cuối cùng cũng đã đồng ý họp với ASEAN với tư cách một tập thể.[18] Vào ngày 16 tháng 4 năm 2010 JWG đã tổ chức họp lần đầu tiên kể từ năm 2008, được biết tại đây hai bên đã thảo luận về cách thức triển khai các CBM được vạch ra trong DoC. Dự kiến JWG sẽ tiếp tục họp vào cuối năm 2010 nhưng sau đó đã bị lùi lại vào tháng 1 năm 2011 tại Côn Minh, Trung Quốc.

    Một yếu tố nữa làm cho quá trình đàm phán DoC trở nên phức tạp hơn là việc Mỹ quyết định đóng vai trò chủ động hơn trong cuộc tranh chấp này. Vào những năm 1990, Washington đã bằng lòng với vị trí đứng ngoài miễn sao quyền tự do hàng hải được tôn trọng. Tuy nhiên, kể từ sau năm 2007, các quan chức cấp cao của Mỹ đã bắt đầu phản ánh mối lo ngại rằng tình hình căng thẳng leo thang đang phá hoại các lợi ích chiến lược và kinh tế của Mỹ. Tại cuộc họp ARF vào tháng 7 năm 2010 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton – người đã mô tả Biển Đông là “then chốt” cho an ninh khu vực và rằng quyền tự do hàng hải là lợi ích quốc gia của Mỹ - đã đề xuất tạo điều kiện cho các cuộc thảo luận về việc thi hành DoC, đây là một động thái được hiểu một cách rộng rãi là một phần trong chiến dịch đẩy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc trên biển. Tại cuộc họp ARF đã có 11 nước khác nêu lên vấn đề này, đây là một tiến triển mới chưa từng có tiền lệ ở khía cạnh là kể từ ban đầu Trung Quốc đã luôn gạt được vấn đề này ra khỏi chương trình nghị sự của của ARF. Để hồi đáp lại các bình luận của Clintion, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã tuyên bố răng Trung Quốc tuyệt đối chống đối việc “quốc tế hoá” tranh chấp Biển Đông.[19] Ngay cả bản thân các nước ASEAN cũng có nhiều nghi ngại đối với sự tham gia trực tiếp của Mỹ, lo sợ rằng Bắc Kinh sẽ rút khỏi tiến trình này. Washington đã lưu ý về mối quan ngại của các đồng minh của mình và đã lùi bước trong đề nghị của mình: vào tháng 10 năm 2010 Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbellhas đã phát biểu rằng ông không nghĩ việc Mỹ “đóng một vai trò trực tiếp” trong vấn đề DoC là thích đáng và rằng việc Mỹ thực sự muốn làm là “tạo ra một môi trường mà trong đó các bên yêu sách có thể thấy thoải mái hơn trong các cuộc đối thoại”.[20] Về mặt chính trị, điều này có nghĩa là Washington kỳ vọng ASEAN sẽ đóng vai trò tiên phong đối với Trung Quốc; còn về mặt chiến lược nó có nghĩa là chính quyền Obama rất sẵn lòng tăng cường sự hiện diện của Hải quân Mỹ ở không gian biển Châu Á và tích cực giúp đỡ các lực lượng hải quân Đông Nam Á với các hỗ trợ nâng cao năng lực.

    Ngoài các khác biệt giữa ASEAN và Trung Quốc về phương thức đối thoại, một vài vấn đề khác cũng góp phần khiến cho DoC trở nên bế tắc. Đầu tiên là việc bản thân ASEAN không thể đạt tới đồng thuận về vấn đề tranh chấp Biển Đông. Các thành viên của ASEAN đã đồng loạt ủng hộ Philipin vào năm 1995 bằng việc đưa ra tuyên bố về mối quan ngại và trực tiếp bày tỏ mối lo về CHDCND Trung Hoa tại Diễn đàn ASEAN – Trung Quốc lần thứ nhất tại Hàng Châu, Trung Quốc vào tháng tư.[21] Tuy nhiên, vào cuối những năm 90 thì mặt trận thống nhất của ASEAN về Biển Đông đã bắt đầu rạn vỡ. Sự sụp đổ về mặt kinh tế và chính trị do cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 – 1998 gây ra đã đẩy cuộc tranh chấp lãnh thổ này ra khỏi chương trình nghị sự của ASEAN. Hơn nữa, các lục đục nội bộ khiến cho sự đồng thuận của ASEAN ngày càng khó đạt được. Đặc biệt là những lời chỉ trích của Tổng thống Philipin Joseph Estrada đối với việc bắt giữ Phó Thủ tướng Anwar Ibrahim ở Malaysia vào năm 1998 đã làm căng thẳng mối quan hệ chính trị giữa Philipin và Malaysia. Do đó, khi Trung Quốc nâng cấp các cơ sở của mình trên Đá Vành Khăn vào tháng 11/1998 thì Manila đã không thành công trong nỗ lực kêu gọi sự đoàn kết từ các thành viên ASEAN, đến mức mà Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Philipin phải cay đắng bình luận rằng “một số bạn bè ASEAN của chúng ta hoặc là im lặng, nhút nhát hoặc không có khả năng vượt quá thái độ nhường nhịn dĩ hòa vi quý”.[22] Sự rạn nứt của đồng thuận giữa các nước còn trở nên trầm trọng hơn vào giữa năm 1999 khi mà Malaysia chiếm đóng đảo đá En Ca và Bãi Thám hiểm, hai hòn đảo mà cả Philipin và Việt Nam đều có yêu sách. Philipin đã cáo buộc Kuala Lumpur vì đã vi phạm Tuyên bố năm 1992 của ASEAN. Sự mở rộng của ASEAN từ sáu lên mười thành viên trong giai đoạn 1995 – 1999 cũng đã khiến cho việc đồng thuận trở nên khó đạt được hơn, đặc biệt khi Myanmar, Lào và Campuchia là các nước không có yêu sách ở Biển Đông. Cả ba nước này đều có mối liên hệ chính trị và kinh tế khăng khít với CHDCND Trung Hoa, và vì họ không có lợi ích bị ảnh hưởng trong cuộc tranh chấp này, ba nước này dường như không muốn mạo hiểm trong quan hệ với Bắc Kinh vì vấn đề lãnh thổ. Kết quả là, từ đầu những năm 2000 quan điểm của ASEAN đối với Biển Đông chỉ đơn thuần là duy trì hiện trạng và ngăn ngừa các căng thẳng khỏi bị vượt quá tầm kiểm soát – một quan điểm đang ngày càng trở nên không vững chắc.

    Một vấn đề thứ hai chính là quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc đối với các yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông. Điều này là chính là một trong những biểu hiện của sự tự tin ngày càng cao của Bắc Kinh cũng như quá trình hiện đại hoá nhanh chóng của Hải quân Trung Quốc, điều đã tạo ra cho nước này một điều kiện tiên quyết để có thể theo đuổi một chính sách cứng rắn hơn trên biển, trong đó bao gồm sự hiện diện mạnh mẽ hơn ở Biển Đông. Nó cũng phản ánh những mối lo ngại đang ngày càng gia tăng ở CHND Trung Hoa rằng các nước yêu sách khác đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển – đặc biệt là dầu, khí và cá – những tài nguyên mà Trung Quốc cho rằng vốn không thuộc về các nước này. Do đó các quan chức Trung Quốc đã lên tiếng chỉ trích các hoạt động đánh cá “bất hợp pháp” của các tàu thuyền nước ngoài cũng như việc bắt giữ và, như Trung Quốc nói, “bạc đãi” ngư dân Trung Quốc của các cơ quan thi hành pháp luật trên biển của các nước khác.[23] Còn về vấn đề trữ lượng hydrocarbon, Trung Quốc đã áp dụng quan điểm cứng rắn hơn với các công ty dầu khí nước ngoài có các dự án ngoài khơi của Việt Nam. Chẳng hạn, trong giai đoạn 2007-2008 Trung Quốc đã tạo áp lực lên các tập đoàn năng lượng như BP và ExxonMobil và bắt họ phải ngưng các dự án Bồn trũng Côn Sơn, một động thái được hậu thuẫn bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, và gián tiếp bởi đích thân Bộ Ngoại giao Trung Quốc.[24] Đáng chú ý nhất, nhiều báo cáo cho thấy giờ đây Trung Quốc đã coi Biển Đông là một trong các “lợi ích chủ yếu” của mình, mặc dù bắc Kinh vẫn chưa khẳng định điều này một cách chính thức.[25] Nếu các báo cáo này thực sự phản ánh các quan điểm chính thức của Bắc Kinh, thì nó sẽ nâng tầm của Biển Đông lên ngang hàng các vấn đề nhạy cảm cốt lõi về chủ quyền như Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương. Điều này sẽ dẫn đến hai hệ quả sau: thứ nhất, vấn đề chủ quyền không thể được đàm phán; và thứ hai, là Trung Quốc có quyền sử dụng vũ lực để khẳng định yêu sách của mình. Không đàm phán và quyền sử dụng vũ lực rõ ràng đi ngược lại với các nguyên tắc được nêu trong DoC.

    Phương hướng tiếp theo

    Mâu thuẫn ngày càng gia tăng trong các tranh chấp về yêu sách chủ quyền và tài nguyên biển ở Biển Đông, cùng với sự thay đổi trong thế cân bằng sức mạnh quân sự theo hướng có lợi cho Trung Quốc dẫn đến nhu cầu cấp bách đối với ASEAN và Trung Quốc để tiến tới việc thực thi DoC một cách cụ thể và hiệu quả để các căng thẳng không leo thang thành các đối đầu quân sự gây mất ổn định trên biển. Như các lời bình luận của 12 nước tại cuộc họp ARF 2010 đã nêu lên, các bên có lợi ích liên quan khác cũng rất kỳ vọng vào các động lực mạnh mẽ. Với sự tồn tại của các vấn đề nhạy cảm và các yếu tố cản trở đã được xác định ở trên trong bài viết này, việc thống nhất được về một bộ quy tắc ứng xử chính thức và có tính ràng buộc hơn dường như là điều nằm ngoài tầm với. Chính vị vậy, việc ASEAN và Trung Quốc thực hiện các biện pháp trong khuôn khổ có sẵn của DoC sẽ lợi hơn. Việc các bên cùng ghi nhận rằng mất ổn định ở Biển Đông không phải là lợi ích của bất kỳ nước nào, hay tình trạng thân ái và tích cực trong quan hệ của Trung Quốc – Đông Nam Á, đã tạo nên cơ sở cho niềm tin lạc quan rằng các tiến trình thiết thực có thể sẽ đạt được trước khi các cánh cửa cơ hội khép lại.

    Ở cấp độ chính trị, thay đổi trong quan điểm là cần thiết cho cả hai bên. Về phần mình, ASEAN với tư cách là một tổ chức cần phải đạt được một quan điểm chung về Biển Đông ngoài quan điểm hiện tại về việc duy trì hiện trạng. Những kinh nghiệm trước đây cho thấy rằng Trung Quốc sẵn sàng lưu ý đến các quan ngại của ASEAN khi tổ chức này tạo được một mặt trận thống nhất. Mặt khác, ASEAN cũng cần phải bảo đảm được với Bắc Kinh rằng ASEAN không “két bè kết phái” chống lại Trung Quốc, hay đang tranh thủ thúc đẩy các yêu sách của quốc gia thành viên của mình. Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong cuộc tranh chấp lãnh thổ và các chính sách cũng như các hành động của nước này thường chi phối tình hình cuộc tranh chấp. Do đó, Trung Quốc cần phải làm sao để giảm thiểu hơn nữa các mối lo trong khu vực ngoài việc chỉ đưa ra những phát biểu sáo rỗng. Tăng cường sự minh bạch là mấu chốt của vấn đề, cả về nội dung yêu sách ở Biển Đông của Trung Quốc cũng như các động lực thúc đẩy việc hiện đại hoá quân sự của nước này. Cuộc tranh chấp phải trở thành một vấn đề được thảo luận chính thức tại các cuộc họp ASEAN – Trung Quốc chứ không thể bị làm ngơ. Việc này thực ra sẽ không gây tranh cãi bởi vì các bên kí kết DoC đều đã thống nhất sẽ “tiếp tục trao đổi ý kiến và đối thoại” để “thúc đẩy môi trường hoà bình, hữu nghĩ và hoà thuận trên Biển Đông … để tiến tới hoà bình, ổn định, tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng trong khu vực.”

    Như đã phân tích, điều khoản về “tự kiềm chế” có vấn đề do sự mập mờ trong ngôn từ sử dụng. Việc thống nhất ngừng mọi hoạt động xây dựng mới trên các hòn đảo đã chiếm đóng có lẽ là một mục tiêu phi thực tế, nhất là đối với vấn đề thẩm định. Tuy nhiên, có một số biện pháp có thể được thực hiện nhằm xây dựng lòng tin và giảm thiểu căng thẳng. Theo Khoản 5, các bên cần phải có nhiều cuộc thảo luận hơn giữa các lực lượng vũ trang của từng nước ASEAN và Trung Quốc. Các diễn đàn quốc phòng và an ninh thường niên là địa điểm thích hợp cho việc này, và Malaysia, Brunei cần phải được khích lệ thiết lập các cuộc thảo luận an ninh với Trung Quốc. Các nhóm làm việc chung từ đó có thể được thành lập để xem xét khả năng thực hiện các CBM sau:

    · Việc thông báo trước về các cuộc tập trận và tuần tra biển trên Biển Đông. Vào thời điểm hiện tại, các nước yêu sách không thông báo cho nhau về các cuộc tập trận hay dàn quân trong khu vực, và đây đã trở thành nguyên nhân gây căng thẳng.

    · Thành lập các đường dây nóng điện thoại giữa các cơ quan của bộ quốc phòng hay tùy viên hải quân sẽ tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin giữa các quan chức quốc phòng để ngăn ngừa việc gia tăng tình trạng đối đầu. Trong bối cảnh này, hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc vào giữa năm 2010 về việc thiết lập đường dây nóng điện thoại giữa các lãnh đạo cấp cao cần phải được hoan ngênh và hưởng ứng bởi các nước yêu sách khác.[26]

    · Cần phải xem xét một cách nghiêm túc về một hiệp định về các sự cố trên Biển. Một mô hình đáng lưu ý là hiệp định Phòng chống các Sự cố Trên Biển cả và Vùng không gian phía trên giữa Mỹ và Liên Xô năm 1972, trong đó có yêu cầu các tàu chiến xuất hiện rõ ràng để tránh các vụ va chạm, duy trì một khoảng cách an toàn từ các tàu bị theo dõi, thực hiện báo hiệu rõ ràng khi di chuyển, và không tấn công giả định các tàu thuyền đi qua, kể cả từ trên không (Hiệp định Mỹ - Liên Xô 1972). Việc Mỹ và Trung Quốc không thể đạt được một tiến trình thiết thực trong việc đàm phán một hiệp định tương tự như vậy không nên làm các nước Đông Nam Á nản lòng và không bàn bạc về ý tưởng này với Trung Quốc tại các cuộc thảo luận quốc phòng thường niên hay tại ADMM+.

    · Khoản 6, phần a và b, kiến nghị các bên yêu sách cam kết thực hiện các dự án chung để giải quyết vấn đề “bảo vệ tài nguyên biển” và “nghiên cứu khoa học biển”. Hợp tác trong ngành đánh cá và bảo tồn nguồn cá ở Biển Đông chính là một lĩnh vực có tiềm năng trong trường hợp này. Lệnh cấm đánh cá đơn phương của Trung Quốc chỉ làm gia tăng căng thẳng và cần phải được thay thế bởi một hiệp định bao hàm trong đó giải quyết các mối quan ngại của của tất cả các bên.

    · Khoản 6, phần d và e, cũng kêu gọi các bên kí kết hợp tác trong các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia. Cả hai hoạt động này đều đòi hỏi sự phối hợp giữa hai và có thể là nhiều lực lượng vũ trang của Đông Nam Á và Trung Quốc, kể cả ở cấp độ huấn luyện và hành động. Các đợt tập huấn tìm kiếm và cứu nạn giữa các lực lượng hải quân Trung Quốc và Đông Nam Á đến nay chỉ giới hạn ở các buổi tập trận trên sa bàn, vì vậy cần phải được thúc đẩy tiến tới các hoạt động tập huấn trên biển như những gì mà Lực lượng Canh giữ Bờ biển Mỹ, PLA, Cảnh sát Biển Hồng Kông đã làm. Đối với vấn đề chống cướp biển, một khuôn khổ hợp tác hiện đang tồn tại dưới dạng Hiệp định Hợp tác Khu vực về Chống Cướp biển và Cướp Vũ trang Tàu thuyền ở Châu Á (ReCAAP) – có Trung tâm Chia sẽ Thông tin ở Singapore – cả mười thành viên ASEAN và Trung Quốc đều là bên kí kết (mặc dù Malaysia và Indonesia chưa thông qua hiệp định do các lo ngại về chủ quyền). The Cơ quan Hàng hải Quốc tế thì trong khi các vụ việc cướp biển dọc Đông Nam Á đã giảm mạnh kể từ năm 2005 nhưng số lượng các vụ tấn công trong khu vực Biển Đông lại tăng: từ 6 vụ trong năm 2005 lên đến 13 vụ trong năm 2009.[27] Các cuộc tuần tra phối hợp giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm giải quyết vấn đề cướp biển ở Biển Đông sẽ gặp nhiều vấn đề do các yêu sách chồng lấn về chủ quyền. Tuy nhiên, có hai ví dụ điển hình có thể được dùng như các mô hình cho việc hợp tác trong tương lai. Kể từ năm 2006 Trung Quốc và Việt Nam đã thực hiện các cuộc tuần tra “chung” ở Vịnh Bắc Bộ một đến hai lần một năm.[28] Thiết thực hơn, vào năm 2005 các lực lượng hải quân của Indonesia, Malaysia, và Singapore đã bắt đầu các cuộc tuần tra phối hợp trên Eo biển Malacca (chung cùng Thái Lan vào năm 2008) bất chất các tranh chấp biên giới biển ở tuyến đường biển quan trọng.[29]

    Ngoài khuôn khổ của DoC, các quốc gia yêu sách còn có thể thực hiện nhiều biện pháp để xây dựng lòng tin và làm giảm căng thẳng ở khu vực Trường Sa bằng cách minh bạch hơn về các chương trình hiện đại hoá quốc phòng của mình. Các biện pháp minh bạch bao gồm việc thảo luận thẳng thắn về quan điểm đối với thách thức an ninh quốc gia, các ý đồ chiến lược, và việc trang bị vũ trang. Năm 2009 Phó Thủ tướng Singapore kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Tiêu Chí Hiền (Teo Chee Hean) đã nhận xét rằng Châu Á Thái Bình Dương đang ở trong tình trạng khó có thể dự đoán được về chiến lược và rằng:

    Các xung đột mới có thể phát sinh khi các quốc gia tìm cách bảo đảm khả năng tiếp cận với các tuyến đường biển và tài nguyên biển, hay bảo vệ các yêu sách mới đối với các vùng biển, chẳng hạn như Thềm Lục địa… Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các quốc gia có thể có nhiều nguồn lực hơn cho quốc phòng, và cũng nhiều lợi ích cần phải bảo vệ hơn. Đặc biệt đáng lo ngại cho khu vực là các yêu sách chồng lấn và tranh chấp đối với các đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở Biển Đông. Khả năng xảy ra các sự cố là rất cao, đặc biệt là khi giá trị của những vùng lãnh thổ này được nâng lên bởi vị trí chiến lược của chúng liền kề với các đường biển then chốt, và các dự báo về các trữ lượng quí giá ở đáy biển.”[30]

    Ông Tiêu kêu gọi việc cần có sự minh bạch lớn hơn nữa để giảm các bất trắc, tránh hiểu nhầm và tăng cường sự tin tưởng thông qua việc công bố đầy đủ các thống kê, lời phát biểu về ý đồ chiến lược và các quan ngại về an ninh, cũng như việc hợp tác thực tế ở các lĩnh vực như an ninh biển. Kể từ giữa những năm 1990 những bên tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN đều được khích lệ phát hành các sách trắng định kỳ để tăng cường minh bạch: mặc dù số lượng các nước phát hành loại văn bản này đã tăng, và chất lượng cũng đã được nâng cao, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được cải thiện. Một kênh đầy hứa hẹn cho việc tăng cường mình bạch là Hội thảo Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Cộng (ADMM+), quy tụ được các bộ trưởng quốc phòng của ASEAN và tám Đối tháng Đối thoại vào tháng 10/2010. Mặc dù Biển Đông không nằm trong chương trình nghị sự chính thức, đã có tám nước nêu lên vấn đề này. Các bộ trưởng ADMM+ đã nhất trí thành lập năm Nhóm Chuyên gia Làm việc, trong đó có một nhóm về an ninh biển. Mặc dù Trung Quốc lập luận rằng các diễn đàn đa phương như ADMM+ không phải là các địa điểm thích hợp để thảo luận về Biển Đông, do các mối lo ngại về các diễn biến trong khu vực, Mỹ và các bên tham gia khác có nhiều khả năng sẽ bảo đảm rằng các vấn đề này được đề cập đến.[31]

    Kết luận

    Các mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đã biến chuyển theo chiều hướng tích cực kể từ Chiến tranh Lạnh, chủ yếu là nhờ sự gia tăng các mối quan hệ kinh tế cũng như sự mở rộng dần dần các thể chế liên kết giữa ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, việc thể chế hoá các mối quan hệ về an ninh giữa Trung Quốc – ASEAN đã không bắt kịp được với các lĩnh vực chức năng khác do tính nhạy cảm cố hữu. Hệ quả là, các tiến trình hướng đến việc quản lý tranh chấp Biển Đông trở nên trễ nải. Trong khi cả hai bên, về mặt hình thức đã có các cam kết nhằm làm giảm căng thẳng, thúc đẩy hợp tác và xây dựng lòng tin, nhưng những lời nói của các bên hiếm khi được chuyển thành các biện pháp mang tính hành động. Mặc dù DoC được ban hành vào năm 2002, đến nay vẫn không có được thoả thuận nào về các nguyên tắc thi hành do sự kết hợp của các yếu tố sau: sự không thường xuyên của các cuộc họp nhóm làm việc chung (chỉ có bốn lần trong tám năm); việc Trung Quốc cố ý chần chừ không muốn thảo luận vấn đề với ASEAN với tư cách là một tập thể; và sự thiếu đoàn kết giữa bản thân các nước ASEAN. Hậu quả là việc quân sự hoá Biển Đông đã tiến triển nhanh chóng, căng thẳng ngày càng leo thang và Mỹ đã tỏ rõ ý định theo đuổi một vai trò có tính can thiệp hơn vào cuộc tranh chấp. Bài viết này đã lập luận rằng trừ khi các CBM được liệt kê trong DoC được đi vào hoạt động, nếu không căng thẳng vẫn sẽ tiếp tục tăng cao và nguy cơ đụng độ quân sự trên biển, dù là tai nạn hay do cố ý sắp đặt sẽ gia tăng./.

    TS, Ian Storey, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore

    * Bài viết này trích từ: Ian Storey, “Managing the South China Sea Problem in ASEAN-China Relations: Progress, Problems and Prospects”, bài viết được trình bày tại Hội thảo RSIS-McArthur về Hợp tác An ninh Khu vực Building Institutional Coherence in Asia’s Security Architecture: The Role of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), Singapore, 19-20//7/2010; và Ian Storey, “Asia’s Changing Military Balance of Power: Implications for the South China Sea Dispute”, bài viết được trình bày tại Hội thảo Developing Disputed Maritime Energy Resources in Asia, National Bureau of Asian Research-MacArthur Foundation, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, 6-7/8/2010.

    [1] “Malaysia PM: China not indulging in power projection”, China Daily, 29/9/2010.

    [2] “ASEAN, China sign document on territorial dispute”, Kyodo, 4/11/2002.

    [3] “China, ASEAN sign pact on disputed South China Sea islands”, ChinaOnLine News, 4 /11/2002.

    [4] “ASEAN, China sign landmark, but weakened accord on South China Sea”, Associated Press, 4/11/2002.

    [5] ASEAN (1992) Declaration on the South China Sea. Có trên

    [6] “60 Viet tourists visit to Spratlys raises furor”, Philippine Daily Inquirer, 20/4/2004.

    [7] “Life goes on in the Truong Sa archipelago”, Outlook [Vietnam News Service] VI, số 67 (7/2009).

    [8] “Gov’t urges China to quit Vietnam waters”, Vietnam News Service, 8/6/2009.

    [9] Xem Clive Schofield và Ian Storey, “Energy Security and Southeast Asia: The Impact on Maritime Boundary and Territorial Disputes”, Harvard Asia Quarterly IX, no. 4 (Fall 2005).

    [10] Xem Clive Schofield and Ian Storey, The South China Sea Dispute: Increasing Stakes and Rising Tensions, Jamestown Foundation Occasional Paper (11/2009).

    [11] “Palace fails to reach decision on Spratlys deal,” Philippine Star, 11/3/2008.

    [12] Nt.

    [13] Nguyễn Hùng Thao, “The Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Vietnamese Perspective, 2002-2007”, trong S. Bateman and R. Emmers (eds), Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime. Abingdon, Oxford: Routledge, tr. 215-218.

    [14] Kavi Chongkittavorn, “China is searching for new ASEAN strategies”, The Nation, 19/11/2009.

    [15] Phỏng vấn cùng quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao, Singapore, 4/8/2010

    [16] “We want good ties, says China,” Straits Times, 22/10/2009.

    [17] “A diplomatic victory for China”, South China Morning Post, 31/10/2009.

    [18] “No agreement on South China Sea reached at ASEAN Summit”, Deutsche Presse-Agentur, 12/4/2010.

    [19] “Chinese Foreign Minister refutes fallacies on the South China Sea”, Nhật báo Trung Hoa, 25/7/2010.

    [20] Media Roundtable at the U.S. Embassy in Tokyo, Kurt M. Campbell, Thư ký trợ lý, Cơ quan các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Tokyo, Nhật Bản, 6/10/2010.

    [21] “Why China is creating mischief in the Spratlys”, Straits Times, 7/4/1995.

    [22] “But for Wales”, Philippine Daily Inquirer, 10/2/1999.

    [23] Xem Robert Sutter và Chin-Hao Huang, “China-Southeast Asia Relations: Ferment over South China Sea”, Comparative Connections: A Quarterly E-Journal on East Asia Bilateral Relations (7/2009).

    [24] Điều trần của Phó Thư ký Trợ lý Scot Marciel, Cơ quan về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ trước tiểu ban về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Ban Đối ngoại, Thượng viện Mỹ, 15/7/2009, <http://foreign.senate.gov/testimony/2009/MarcielTestimony090715p.pdf>; “China opposes any act of violating its sovereignty,” Xinhua News Agency, 27/7/2008.

    [25] “South China Sea part of core interests: Beijing”, Straits Times, 6/7/2010.

    [26] “Vietnam, China to set up hotline for issues of major concern”, Vietnam News Service, 3/7/2010.

    [27] International Maritime Bureau, “Piracy and Armed Robbery Against Ships: Annual Report 1 January – 31 December 2009 (January 2010), tr. 5.

    [28] Cuộc tuần tra đầu tiên diễn ra vào tháng 4/2006. Các cuộc tuần tra về sau được thực hiện vào tháng 12/2006, 7/2007, 10/207 và 5/2008. Xem Carlyle A. Thayer, “The Structure of Vietnam-China Relations, 1991-2008”, Bài viết cho Hội thảo lần thứ 3 về Nghiên cứu Việt Nam, Việt Nam, 4-7/12/2008, tr.19.

    [29] Ian Storey, “Securing Southeast Asia’s Sea Lanes: A Work in Progress”, Asia Policy, số 6 (7/2008), tr. 95-127.

    [30] Bài phát biểu của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng ông Tiêu Chí Hiền tại Đối thoại Shangri La, Singapore, 31/5/2009, http://www.mindef.gov.sg/imindef/new...1may09_nr.html.

    [31] Ian Storey, “Good start on Asean defence cooperation”, Straits Times, 16/10/2010.

    nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/toa-dam-...nh-chp-bin-ong

  2. Thanks anh2 thanked for this post
  3. #92
    Ngày gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    Vũng Tàu & Tp. Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    8.893
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    118
    Uploads
    1090
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Đóng góp của các hội thảo về Biển Đông -Tầm quan trọng của cách tiếp cận chức năng

    NCBĐ giới thiệu bài nghiên cứu của GS. Ian Townsend-Gault, Khoa Luật, Đại học British Columbia, Canada phân tích cách tiếp cận trong vấn đề Biển Đông thông qua Kênh 2, cụ thể là các hội thảo quốc tế về Biển Đông. Phần I bài viết là một số đánh giá về Hội thảo “Quản lý các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông”, thành phần chính tham gia và một số kết quả mà Hội thảo đã đem lại trong khi ở kênh chính thức khó có thể đạt đươc bởi những lý giải, cách tiếp cận khác nhau từ các quốc gia.


    Giới thiệu

    Chương này đưa ra một số quan điểm về tầm quan trọng của cách tiếp cận chức năng trong bối cảnh cụ thể của sáng kiến ngoại giao phòng ngừa Kênh 2 “Quản lý các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông”. Đây sẽ là quan điểm của người trong cuộc. Từ khi sáng kiến này được đưa ra vào tháng 10/1989 cho tới hội thảo lần thứ 10 năm 2000, tôi rất vui mừng có cơ hội cùng làm việc với Đại sứ Hasjim Djalal trong việc tổ chức các cuộc hội thảo, bao gồm việc đề ra các chương trình nghị sự, lựa chọn các học giả để thuyết trình và biên soạn các báo cáo của hội thảo. Tôi cũng phải chịu trách nhiệm về khoản hỗ trợ tài chính từ Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA).[1] Có thể còn quá sớm để đưa ra một đánh giá toàn diện về sáng kiến này. Nhưng tôi nghĩ có rất nhiều điều để nói về phương thức này: mục đích của nó là gì, nó hoạt động có hiệu quả không, tại sao chỉ một số vấn đề nhất định được giải quyết còn các vấn đề khác thì không?.[2] Bằng cách đó, tôi hy vọng chứng minh được tầm quan trọng cốt yếu của cách tiếp cận chức năng này.

    Tôi nghĩ Phương thức hội thảo này đã và đang tiếp tục có đóng góp giá trị không chỉ vào việc duy trì hoà bình và an ninh khu vực: ngoài giải quyết các thuyền đánh bắt cá bất hợp pháp và cướp biển, chưa từng có bất kỳ xung đột hải quân nào trên Biển Đông (A: South China Sea – nd) trong hơn 15 năm qua. Phương thức Hội thảo này còn thành công trong việc tập trung sự chú ý của ngày càng nhiều nhà bình luận vào các lĩnh vực rộng lớn hơn liên quan đến các vấn đề Biển Đông so với trước đây. Tất nhiên, các chuyên gia về nghề cá quan tâm tới việc đánh bắt cá; các nhà môi trường biển quan tâm tới suy thoái biển và việc thiếu khả năng xử lý tràn dầu; và các vấn đề phổ biến liên quan tới việc tìm kiếm và cứu hộ. Nhưng tôi cho rằng Phương thức hội thảo này là một trong các cách làm cho các vấn đề này được nhận thức một cách rộng rãi hơn, qua đó có được những tiến triển và tầm quan trọng, chứ không phải là việc quan tâm tới dự trữ dầu, giá trị thương mại của hầu hết các giếng dự trữ dầu ngoài khơi vẫn chưa được xác định rõ.

    Hội thảo đầu tiên về Quản lý các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông được tổ chức ở Bali, Indonesia vào tháng 2/1990. Kể từ đó đã có tới gần 50 hội nghị – các hội thảo, các nhóm kỹ thuật, và các cuộc họp của các nhóm chuyên gia - được tổ chức tại hầu hết các địa điểm thuộc khu vực Biển Đông,[3] đều nhằm tìm các mô hình hợp tác giữa các quốc gia ven biển. Mặc dù sự chú ý dường như chỉ tập trung vào các cuộc hội thảo thường niên, một khối lượng lớn công việc được đề ra từ các hội thảo này lại được diễn ra ở các diễn đàn khác.

    Phương thức Hội thảo đã thu hút giới phê bình, nhưng hầu hết các nhận xét một phần bắt nguồn từ các giả định hoàn toàn sai lầm về việc chúng tôi đang nỗ lực làm gì. Ví dụ, chúng tôi không “giải quyết” tranh chấp về quyền tài phán ở Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands – nd).[4] Điều này là không thể và những ai cho rằng chúng tôi lẽ ra phải giải quyết vấn đề này thì hoàn toàn không thể đưa ra cách làm việc có thể chấp nhận được (chưa nói đến có thể hoạt động được) cho một nhiệm vụ lớn như vậy. Và những ai xem xét phương thức này chỉ trên khía cạnh xây dựng lòng tin và an ninh và hoà bình khu vực không nhận ra rằng:

    · Biển Đông là một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất trên thế giới với hơn một nửa tuyến đường chở dầu của thế giới qua đây hàng năm;

    · Các bản đồ mà các tàu lớn hay sử dụng có nhiều lỗi sai;

    · Các quốc gia ven biển hoàn toàn thiếu khả năng ứng phó với ô nhiễm và việc tìm kiếm và cứu hộ;

    · 500 triệu người phụ thuộc vào Biển Đông với 80% lượng protein họ cần mỗi ngày;

    · Đánh bắt cá hầu như không được kiểm soát ở một vài khu vực (và kỹ thuật đánh bắt cá bất hợp pháp xảy ra ở khắp nơi);

    · Các hệ thống đá ngầm bị phá huỷ do đánh cá bất hợp pháp và xây dựng các đảo nhân tạo;

    · Sự đa dạng sinh học của Biển có giá trị vô cùng to lớn: nó cung cấp ¼ lượng cung thực vật phù du trên toàn cầu.

    Những khẳng định này - điều mà Phương thức Hội thảo này đã nỗ lực để phổ biến rộng rãi – có thể được đưa ra trên cơ sở dữ liệu xác định. Tất cả các cuộc đàm phán về trữ lượng dầu khổng lồ sẽ chỉ nhằm mục đích đầu cơ cho tới khi các phát hiện được đưa ra. Trong khi đó, khủng hoảng môi trường, sinh thái và an ninh con người vẫn hiện hữu.

    Thực trạng năm 1989

    Tôi đã kể lại ở đâu đó các trường hợp mà sáng kiến hội thảo được đưa ra.[5] Trong các phiên thảo luận về khả năng khuyến khích hợp tác biển ở Đông Nam Á, Tiến sĩ Hasjim Djalal cho rằng nếu như các quỹ được thành lập thì sẽ thật thú vị để xem liệu các nước ASEAN (lúc đó gồm 6 nước) có cho phép các quan chức nhà nước, các học giả, các nhà nghiên cứu… tham gia vào cuộc họp không chính thức bàn về khả năng tìm kiếm các cơ hội hợp tác biển ở Biển Đông hay không. Nếu cách tiếp cận được ủng hộ này là không thể chấp nhận được với các nước ASEAN thì sẽ có rất ít cơ hội cho cách tiếp cận này trong phạm vi rộng hơn về biển . Chúng tôi đã viết một tài liệu phác qua chiến lược dự kiến của chúng tôi và có thể khiến cho một vài quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Canada quan tâm. Tôi phải nói ngay rằng tên của ngài Hasjim Djalal luôn luôn cần thiết để thu hút sự chú ý đối với dự kiến này. Một quỹ nhỏ trong Cơ quan phát triển quốc tế Canada được thành lập để cung cấp tiền cho các dự án đã tài trợ cho chúng tôi để đến thủ đô các nước ASEAN cùng với bài viết về khái niệm mà Tiến sĩ Djalal viết. Hội thảo đầu tiên - chỉ có 6 nước ASEAN được mời tới dự - bắt đầu vào tháng 2/1990. Hội thảo thứ hai triệu tập một năm sau đó có sự tham gia của Trung Quốc, Trung Hoa Đài Bắc, Lào và Việt Nam (vài vấn đề ở Campuchia đã khiến nước này không thể tham gia). Phương thức này ngay từ đầu đã gặp những khó khăn. Vì vậy cần đánh giá cao thực trạng chính trị và luật pháp khi phương thức này được bắt đầu.

    Định nghĩa “khu vực Biển Đông”

    Định nghĩa của chúng tôi về “Biển Đông” bao gồm cả Vịnh Thái Lan, vì hai khu vực này có các mối liên kết về sinh thái mạnh mẽ. Cách tiếp cận chức năng đòi hỏi phải dỡ bỏ các giới hạn tuy thuận tiện cho các bên nhưng lại vô ích hoặc (trong bối cảnh này) mang tính nhất thời, do yếu tố địa lý hoặc chính trị tạo ra. Giữa hai khu vực biển này là biển nửa kín được tạo bởi lục địa châu Á và các quần đảo của Indonesia và Philippines. Thực tế, khu vực này hầu như hoàn toàn bị bao bọc bởi đất liền có nghĩa là có rất ít sự giao lưu với biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, dẫn tới rất nhiều hậu quả sẽ được nêu ở phần sau. Lý tưởng thì, chúng tôi muốn làm việc với tất cả các nước thuộc toàn bộ khu vực Biển Đông như đã được định nghĩ ở trên. Việc tham gia của Đài Loan là cần thiết và các đồng nghiệp của chúng tôi ở Bắc Kinh không phản đối điều này miễn là công thức “Trung Hoa Đài Bắc” được tuân thủ. Vì mọi người tham dự các cuộc họp đều nhận thức được điều này nên các khó khăn nảy sinh trong một bối cảnh chính thức hơn đều có thể tránh được. Việc bao gồm cả Vịnh Thái Lan với Biển Đông đưa ra một danh sách ấn tượng các quốc gia ven biển: Trung Quốc/Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Chúng tôi bao gồm cả Lào vì các quốc gia không có biển trong luật quốc tế cũng có quyền đối với khu vực biển của các nước láng giềng, và Lào là một phần của “khu vực”.

    Hiện nay, chúng ta đã có thể đi du lịch dễ dàng tới các địa điểm ở Đông và Đông Nam Á. Những người đi trăng mật tới Vịnh Hạ Long của Việt Nam, mọi người thích ăn mừng năm mới cùng với vẻ đẹp đặc biệt của Luang Prabang hoặc Angkor. Năm 1989, những điều này hầu như là không thể. Lúc đó, thị thực du lịch cho Việt Nam dần phổ biến nhưng khách du lịch chủ yếu đến từ khối Sô Viết. Việt Nam khi ấy, ít nhất là về mặt chính thức, không phải là nước chào đón khách du lịch từ những nước có hệ tư tưởng khác, bao gồm cả sáu nước thành viên ASEAN.

    Ở một mức độ nào đó nếu như Việt Nam đóng cửa với bên ngoài thì Lào còn hơn thế. Lào không muốn chịu ảnh hưởng của những người ngoài khối cộng sản chủ nghĩa, và tất nhiên nước Campuchia vẫn ở trong tình trạng hỗn loạn – Khmer Đỏ vẫn hoạt động, người dân thì bị bắt cóc và giết hại. Cả ba nước Đông Dương thuộc Pháp trước đây có xu hướng thi hành chính sách đóng cửa với bên ngoài và chỉ quan hệ với các nước có cùng hệ tư tưởng trên thế giới. Cho tới khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt lên điều hành đất nước, về mặt địa lý lẽ ra Việt Nam thuộc Đông Nam Á, nhưng lại không phải vậy. Các hội nghị khu vực về các vấn đề luật biển được tổ chức bởi mạng lưới SEAPOL[6] có rất nhiều đại diện của 6 nước ASEAN khi đó và thậm chí của cả Trung Quốc nhưng tôi nhớ chỉ có duy nhất một đại biểu của Việt Nam, từ Vụ luật pháp của Bộ Ngoại giao. Cứ như thể Việt Nam không tồn tại vậy. Và tất nhiên việc thiếu lòng tin - chứ không đề cập đến sự thiếu hiểu biết và hiểu lầm – có cả từ hai phía..

    Tất nhiên, tất cả những điều này đã thay đổi cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN, nhanh hơn nhiều người nghĩ. Nhưng khi các thành viên của chúng tôi họp ở Bandung năm 1991, rõ ràng các mối quan hệ ví dụ như giữa các nhà khoa học biển của các nước ASEAN và các nước ngoài ASEAN là rất ít. Cần phải có mối quan hệ giữa hai nhóm này với lợi ích chung ở cả cấp chuyên gia và cá nhân. Nói cách khác, cái mà chúng ta vô tình gọi là “khu vực” chỉ là một cái tên và tất nhiên điều này đã thay đổi.

    Ảnh hưởng của luật quốc tế

    Ngay từ đầu, rõ ràng rằng chúng ta cần phải sử dụng các nguyên tắc của Luật Biển để thiết lập các cách thức, qua đó nếu hợp tác biển được hình thành giữa các nước, họ nên tham gia vào các hợp tác này. Trong khi hiện nay chúng ta có xu hướng coi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982[7] như một văn bản chỉ còn tồn tại trong ký ức thì cần nhớ rằng đây không phải là một trường hợp như vậy. Khi chúng tôi bắt đầu công việc này, hầu hết các nước của các thành viên của chúng tôi vẫn chưa phê chuẩn Công ước và Công ước cũng chưa có hiệu lực.

    Cũng cần chỉ ra rằng trong khi các luật sư và các nhà ngoại giao có thể đã hài lòng với bản công ước cuối cùng, thì ngày càng rõ rằng các điều khoản dựa trên cơ sở khoa học của Công ước – bao gồm các điều khoản quy định sự hợp tác chức năng để đảm bảo một hệ thống thống nhất và hài hoà cách quản lý biển – lại gây ra các khó khăn chính trị cho một vài nước. Bản chất và phạm vi của một số nghĩa vụ trong Công ước không rõ ràng và theo quan điểm của tôi chính điều này gây ra tình trạng như hiện nay.[8] Còn rất nhiều việc cần phải làm, ví dụ như về quy chế của biển kín và nửa kín, đặc biệt với các phán quyết của tòa liên quan đến vấn đề hợp tác trong các lĩnh vực khác. Các cuộc tranh luận mang tính học thuật và pháp lý diễn ra cả về ý nghĩa chính xác của Điều khoản 121(3),[9] điều khoản quy định rằng những bãi đá không thể duy trì sự sống của loài người hoặc không có hoạt động kinh tế riêng thì không được phép có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.[10]

    Công ước này dài và phức tạp - một hiệp ước đa phương dài nhất từng được đàm phán – và một số nước đã có sẵn các đội chuyên gia về mọi lĩnh vực trong khi các nước khác không có sự chuẩn bị này. Do đó, không có một sự hiểu biết chung về bản chất và phạm vi các quyền hợp pháp và nghĩa vụ của các nước ven biển với các nước láng giềng. Sự không đối xứng này - được nêu ra trong rất nhiều chủ đề mà chính phương thức của hội thảo này rất quan tâm - phải được giải quyết bằng các phiên họp “đuổi kịp” mà thực tế chính là các bài giảng về Luật Biển. Các sáng kiến như thế này không thể thành công nếu những ai phải chịu trách nhiệm với các sáng kiến này tự lừa dối mình ở mức mà mọi người trong một không gian và thời gian xác định đều biết đến như nhau.

    Việc tham khảo Điều khoản 121(3)[11] phù hợp nhất trong ngữ cảnh này, vì phần lớn các loại địa hình đã được đặt tên thuộc nhóm Trường Sa không có ý nghĩa tài phán vì chúng bị chìm đi khi thuỷ triều lên và do đó không được coi là “quần đảo”. Các đảo này, chủ yếu là đá, có thể hình thành nên lãnh hải chứ không phải là một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Rất dễ nghi ngờ rằng liệu có hòn đảo nào có thể duy trì sự sống con người hay có đời sống kinh tế riêng trên hòn đảo đó hay không.[12] Luật học của Toà án quốc tế vì công lý cho rằng các loại địa hình không quan trọng không nên có ảnh hưởng tới các biên giới trên biển, đặc biệt đối với các khu vực được hình thành từ các phần đất lớn hơn. Công ước cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các đảo (được hình thành từ đất liền một cách tự nhiên, bao quanh bởi nước và ở trên mặt nước lúc thuỷ triều lên) và các đảo nhân tạo, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu thực tiễn quốc gia không quan tâm tới sự khác biệt này? Điều gì sẽ xảy ra nếu như việc xây dựng ở nơi có mức dâng của thuỷ triều thấp sẽ biến nó thành hòn đảo? Công ước nêu rõ rằng điều này không thể xảy ra - một hòn đảo là một vùng đất được hình thành tự nhiên. Hơn nữa, Công ước cho thấy rõ sự khác biệt giữa đảo và đảo nhân tạo và chỉ rõ không có sự liên hệ giữa chúng. Nói cách khác, theo như Công ước, việc xây dựng ở những nơi có mức dâng thuỷ triều thấp không “hình thành” được các đảo. Chúng vẫn chỉ là các “đảo nhân tạo”.[13]

    Hơn nữa, trong Công ước không nêu rõ liệu có thể “biến” đảo nhân tạo thành đảo như Điều 121 hay không. Do đó, để có thể hiểu hoặc hình dung được, hãy bỏ đi ý nghĩa rõ ràng của Công ước trong việc duy trì sự khác biệt giữa đảo tự nhiên và nhân tạo. Cuối cùng, Công ước đó chỉ còn là một quy phạm chứ không còn là một bộ nguyên tắc chỉ đạo nữa. Các nguyên tắc của Công ước phải được tuân thủ chặt chẽ - đó là cách các luật sư đọc và hiểu các văn bản luật pháp, vì các cách làm khác làm giảm đi tính quy phạm của chúng và đặt ra nghi vấn về tính ứng dụng của chúng. Tại sao lại gây ra rắc rối bằng việc đưa ra các quy tắc rõ ràng và cụ thể nếu như các quốc gia có quyền phá vỡ chúng?

    Thực tiễn ở các nước ven Biển Đông dường như có xu hướng xây dựng ở những nơi có mức dâng thủy triều thấp hoặc đá ngầm để tạo ra các công trình nổi trên mặt nước khi thủy triều dâng. Như các phương tiện truyền thông đưa tin, điều các nước muốn làm là mời mọi người tới để đưa ra một kết luận tài phán thích hợp từ vấn đề này - nhằm thừa nhận rằng có thể dùng những loại địa hình này để khẳng định yêu sách về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế/thềm lục địa. Nếu như Công ước này không có hiệu lực hoặc có ít nước phê chuẩn, thì chắc chắn tập quán khu vực về luật quốc tế sẽ được hình thành nhờ đó mà việc xây dựng trên đá ngầm và ở những nơi có mức dâng thuỷ triều thấp sẽ được công nhận như là cơ sở để tuyên bố quyền tài phán trên biển ở các khu vực rộng lớn hơn. Tôi đoán điều này sẽ bị phản đối ở các quốc gia khác: Tôi không thể tưởng tượng được Mỹ, Liên minh Châu Âu, Úc và Nhật sẽ không đưa ra những phản ứng dữ dội. Ít nhất, nó sẽ gây ra sự nhập nhằng và nghi ngờ trong cuộc tranh luận. Theo quan điểm của tôi, với việc chấp nhận Công ước này, sẽ không xảy ra việc đó mặc dù chúng ta vẫn chưa có cách giải quyết thích đáng cho khổ 3 của Điều 121.

    Để kết luận điểm này, thực trạng của Công ước Luật Biển không còn là một kết luận đã được nêu năm 1990, và có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc liệu có bao nhiêu điều khoản của Công ước có ý nghĩa trong thực tiễn. Tuy nhiên, ý nghĩa rõ ràng của hiệp ước là để thúc đẩy hợp tác trên biển.

    Đề ra chương trình nghị sự

    Như đã nêu ở phần trên, chúng tôi cho rằng cần phải (a) làm rõ rằng sẽ không thảo luận các vấn đề chủ quyền và quyền tài phán, (b) nhưng cũng chỉ ra các khu vực hợp tác không chỉ là có thể mà còn được đỏi hỏi bởi luật quốc tế và bởi vì sự cân nhắc thực tế. Nghĩa là, sự hợp tác không chỉ là kết quả được mong muốn mà còn là điều kiện thiết yếu để đạt được mục tiêu đề ra. Hợp tác vì lợi ích hợp tác đưa ra ít sự chú ý hơn một hành động phối hợp nhằm một mục đích chung. Tôi sẽ quay lại trở lại vấn đề này sau.

    Do đó, chúng tôi xác định các lĩnh vực hợp tác trên biển liên quan ở Biển Đông, và mời các chuyên gia khu vực nghiên cứu về các khả năng của cách tiếp cận khu vực. Chúng tôi đề ra các chủ đề rộng nhưng quan trọng: nghiên cứu khoa học biển, môi trường và sinh thái học, sự tiếp giáp của các đường bờ biển, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên hữu sinh và vô sinh, và các cơ chế hợp tác. Cuối Hội thảo lần thứ nhất, chúng tôi đã có một danh sách các ý tưởng của các chuyên gia cho thấy sự mong muốn có một cách tiếp cận khu vực.

    Cấu trúc tiến triển của các hội nghị

    Các kết quả này đã được xem xét tại Hội thảo lần thứ 2, nhưng rõ ràng một cuộc họp toàn thể bao gồm các nhà ngoại giao, các nhà khoa học, luật sư, thuỷ thủ, các chuyên gia quản lý tài nguyên và nhiều nhà khoa học khác không thể giải quyết được nhiều vấn đề vì mức độ tranh luận không cao do vượt quá tầm khả năng của nhiều học giả. Do đó, Hội thảo lần thứ 3 (1992) đề xuất một cuộc họp của các nhà khoa học biển của khu vực cho phép các kiến nghị ưu tiên được phát triển hơn nữa. Các kết quả của hội thảo này sẽ được chuyển tới Hội thảo lần thứ 4.

    Ngay từ đầu, Viện nghiên cứu khoa học biển của trường Đại học Philippines đã đóng vai trò tiên phong trong lĩnh vực này, nên chính phủ Manila đề xuất tổ chức nội dung cho Cuộc họp lần thứ 1 của Nhóm kỹ thuật về Nghiên cứu khoa học biển. Cuộc họp này diễn ra tại Manila năm 1993.[14]

    Từ đó, các cuộc họp đã tăng lên, các lĩnh vực khác cũng thành lập Nhóm kỹ thuật (TWGs) (các Vấn đề về luật pháp được thêm vào năm 1995). Nhưng những cuộc họp này vẫn chưa đi vào cụ thể. Do đó, chúng tôi đã tổ chức các cuộc họp của Nhóm các chuyên gia (GEMs) để nghiên cứu các vấn đề cụ thể. Ví dụ, một Nhóm các chuyên gia được thành lập để xem xét các cách trao đổi thông tin về thuỷ văn học. Các học giả bao gồm các nhà thuỷ văn học đứng đầu của các lực lượng hải quân khu vực.

    Sau đó, Nhóm các chuyên gia sẽ báo cáo cho Nhóm kỹ thuật của mình để Nhóm kỹ thuật báo cáo cho Hội thảo tiếp theo (hiện nay được tổ chức thường niên). Các báo cáo này bao gồm chi tiết những điều đã đạt được và các kiến nghị cho tương lai. Các cuộc Hội thảo sẽ chính thức quyết định chấp nhận các kiến nghị hợp tác và “có thể thông báo các hợp tác này cho các chuyên gia phụ trách lĩnh vực đó.” Do đó, các cuộc Hội thảo trở thành công cụ chỉ dẫn cho cả Phương thức.

    Nhóm nghiên cứu của tôi tại trường Đại học British Columbia (UBC) là những người chuẩn bị báo cáo, và chúng tôi đưa ra các bản báo cáo hoàn chỉnh của mỗi cuộc họp kèm theo phần tóm tắt các phiên họp, các tài liệu được thuyết trình hoặc được thảo luận (chúng tôi nghiên cứu và viết một số tài liệu đó), cũng như các chi tiết về việc ai tham gia và chương trình nghị sự. Chúng tôi cũng làm việc với Tiến sĩ Djalal về các tuyên bố đồng thuận cuối cùng, các cuộc đàm phán như vậy có thể gây tranh cãi cao, và kéo dài hàng giờ.[15]

    Những người tham gia

    Nhân tố quan trọng để hình thành nên Phương thức Hội thảo là sự tham gia của các cá nhân cấp cao. Sự tham gia của các nhà thủy văn học hàng đầu của các lực lượng hải quân khu vực cũng được nhắc đến. Tên của các nhà khoa học biển làm về các vấn đề này sẽ được tất cả các chuyên gia trên thế giới về lĩnh vực này biết tới. Những người đứng đầu bộ phận luật pháp và hiệp ước quốc tế của các Bộ Ngoại giao khu vực cũng tham gia vào các cuộc Hội thảo thường niên. Các nhà chức trách khu vực cho phép các chuyên viên cấp cao tham gia để minh chứng cho giá trị của các cuộc họp dự án. Điều đó cũng có nghĩa là ảnh hưởng của các quyết định sẽ lớn hơn (có thể được phổ biến rộng hơn) mong đợi với sự tham gia của nhiều quan chức cấp dưới.

    Nhiều người cho rằng các quan chức cấp cao ở các bộ ngoại giao không giao giờ có thể ở một vị trí không chính thức thậm chí ở các hội thảo kín như Hội thảo này. Trước kia có một cấp độ thủ tục nhưng đã được xóa bỏ vì những người tham gia đã dần biết nhau: cũng có một sự liên tục tương đối trong việc cử người tham dự các hội nghị này (lựa chọn tùy thuộc vào từng nhà chức trách).

    Điểm cuối cùng minh chứng hơn nữa giá trị của Phương thức đối với khu vực này. Ngân quỹ cho phép chúng tôi mời ba người tham gia từ các quốc gia phù hợp với các Hội thảo này (được trả tất cả chi phí). Chúng tôi quyết định sử dụng quỹ để tạo điều kiện cho hai người tham gia vào các cuộc họp TWG và cho một người tham gia vào GEM. Tuy nhiên, đến năm 1995, khi có danh sách những người tham gia vào các cuộc họp, chúng tôi chỉ cấp tiền cho một nửa số tiền chi trả cho ba người tham dự đó. Ngoài ra, các nhà chức trách khu vực phải tự trả cho các chi phí sắp xếp và tổ chức các cuộc họp.

    Kết quả

    Đến năm 2000, sau gần 10 năm làm việc, chúng tôi đã đạt được một hiệp định cho các sáng kiến hợp tác trong các lĩnh vực sau:

    · bảo vệ đa dạng sinh học;

    · giám sát mức nước biển dâng;

    · trao đổi thông tin và dữ liệu về nghiên cứu khoa học biển;

    · giám sát môi trường biển;

    · chuẩn hoá các quy chuẩn giáo dục và đào tạo cho các thuỷ thủ;

    · nghị định thư khu vực về trao đổi dữ liệu và thông tin về thuỷ văn học;

    · một bản khảo sát thuỷ văn chung ở các địa điểm ở Biển Đông;

    · các khu vực hợp tác biển bao gồm các mô hình khác nhau về việc khai thác dầu mỏ ở các vùng ngoài khơi chung;

    · hoà hợp các luật và chính sách về môi trường biển;

    · ước tính dự trữ cá;


    · trao đổi thông tin về các nguồn tài nguyên vô sinh không có hydrocacbon;

    · các vấn đề nổi lên từ thực trạng “nửa kín” của Biển Đông được nêu ở Điều 123 Công ước Luật Biển;

    · các quy tắc để thúc đẩy sự bảo vệ và bảo tồn môi trường biển.

    Có thể nói, Phương thức Hội thảo đã thực hiện được các mục tiêu của nó. Mặc dù nhiệm vụ đưa các ý tưởng này vào thực tiễn được giao cho các tổ chức khác nhưng công việc bảo vệ đa dạng sinh học được thực hiện dưới sự bảo trợ của chúng tôi. Theo lý thuyết thì công việc của kênh hai sẽ do các nước lựa chọn hoặc nếu không thì ở cấp độ chính thức. Đây cũng là mục tiêu cho công việc của Hội đồng Hợp tác An ninh ở châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP).

    GS. Ian Townsend-Gault, Khoa Luật, Đại học British Columbia, Canada

    Người dịch: Vũ Song Hà

    Người hiệu đính: Lê Quang Hưng


    Bài viết trích trong " Security and International Politics in the South China Sea",
    Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Ammers, năm 2009.

    Bản gốc tiếng Anh " The contribution of the South China Sea Workshops: the importance of a functional approach"

    Chú thích:

    [1] Khoản hỗ trợ này lên tới hơn 5 triệu đôla Canada trong 11 năm. “Managing Potential Conflicts in the South China Sea” [Quản lý các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông] là tên khoản quỹ đầu tiên mà chúng tôi nhận được, được đưa ra bởi Chương trình quản lý các biển đổi của CIDA – các quan chức thích sử dụng từ “quản lý” [managing] trong mỗi sáng kiến mà chương trình này hỗ trợ (hiện nay chương trình này không còn tồn tại nữa), và chúng tôi vẫn giữ lại tên đó.

    [2] Một vài nhà phê bình đã yêu cầu chúng tôi giải thích cho những gì mà họ nghĩ chúng tôi đang làm gì hoặc lẽ ra phải làm gì, ngược lại với những gì chúng tôi đã làm hoặc nói sẽ làm và một số trường hợp không được chú ý tới. Điều này cho thấy các quan điểm hoài nghi. Học giả Liselotte Odgaard của trường Đại học Aarhus đã đưa ra bài phân tích đầy đủ về sáng kiến này: xem “Deterrence and Co-operation in the South China Sea,” Contemporary Southeast Asia 23, 2 (2001), tr. 292-306, và các bài toàn diện hơn của bà The Balance of Power in Asia – Pacific Security: US-China Policies On Regional Order (London: Routledge,2007) và “The South China Sea: ASEAN’s Security Concerns About China,” Security Dialogue 34, 1 (tháng 3/2003), tr. 11-24.

    [3] Danh sách hoàn chỉnh các cuộc họp ở Phụ lục I của chương này.

    [4] Có rất nhiều bài viết về chủ đề này. Các vấn đề luật pháp được tranh luận sắc bén trong R.Haller-Trost, The Spratly Islands – A Study on the Limitations of International Law [Quần đảo Trường Sa – Nghiên cứu về những giới hạn của luật pháp quốc tế], Centre of South-East Asian Studies Occasional Paper No.14 (University of Kent at Canterbury). Có thể xem thêm bài của Leni Stenseth, “Nationalism and Foreign Policy – The Case of China’s Nansha Rhetoric,” [Chủ nghĩa dân tộc và Chính sách đối ngoại – Trường hợp Nam Sa của Trung Quốc], Centre for Development ands Environment, University of Oslo, 1999.

    [5] Xem Ian Townsend-Gault, “Preventive Diplomacy and Pro-Activity in the South China Sea,” [Ngoại giao phòng ngừa và Hành động tích cực ở Biển Đông], Contemporary Southeast Asia 20, 2 (August 1998), tr. 171-190. Để biết chi tiết về căn nguyên và cách làm việc của dự án, xem Hasjim Djalal và Ian Townsend-Gault, “Managing Potential Conflicts in the South China Sea: Informal Diplomacy for Conflict Prevention,” [Quản lý Xung đột tiềm tàng ở Biển Đông: Ngoại giao không chính thức để ngăn ngừa xung đột] trong C.A. Croker, F.O. Hampton, và P. Aall (eds), Herding Cats: Multiparty Mediation in a Complex World (Washington DC: United States Institute of Peace Press, 1999), tr. 107-134.

    [6] Chương trình Đông Nam Á về luật biển, chính sách và quản lý được thành lập năm 1983.

    [7] Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, Montego Bay, ngày 10/12/1982, có hiệu lực vào 16/10/1994, United Nations Treaty Series, Vol. 1833, tr. 3. Ngày 22/7/2007, trang web của Liên hợp quốc liệt kê 155 quốc gia tham gia Công ước này.

    [8] Ví dụ, tra trên mạng cụm từ “biển nửa kín” (semi-enclosed seas) cho kết quả là phạm vi nghiên cứu khoa học và cách quản lý và hầu như không có sự quan tâm của các luật sư quốc tế.

    [9] Xem toàn bộ điều khoản này ở Phụ lục II.

    [10] Thuật ngữ “đá” không được định nghĩa trong Công ước. Tuy nhiên, các quy tắc diễn giải được nêu ra trong Công ước Viên về Luật các Điều ước ở một mức độ nào đó hạn chế cách diễn giải của một số nhà phân tích: nhiều ý nghĩa bao gồm cả thuật ngữ này không được mở rộng. Để biết thêm chi tiết, xem chương của TS. Schofield trong phần này, và các tài liệu tham khảo của ông ở chú thích 50-53.

    [11] Xem toàn bộ Điều 121 ở Phụ lục II.

    [12] Để hiểu sự đánh giá theo từng loại địa hình như Điều ước 121, xem D.Hancox và J.R.V.Prescot, A Geographical Description of the Spratly Islands and An Account of Hydrographic Surveys Amongst Those Islands [Mô tả về mặt địa lý của quần đảo Trường Sa và tầm quan trọng của các nghiên cứu thủy văn học ở những đảo đó], Maritime Briefing 1, 6 (Durham: International Boundaries Research Unit, 1995).

    [13] Công ước không đưa ra định nghĩa về “đảo nhân tạo” và cũng không yêu cầu điều này. Ý nghĩa tài phán chỉ liên quan tới “các đảo” được định nghĩa ở Điều khoản 121(1).

    [14] Xem danh sách các cuộc họp ở Phụ lục I. Nhóm kỹ thuật này có nhiều cuộc họp hơn các nhóm khác, kết quả của các cuộc họp xem Tom Naess, “Environment Cooperation around the South China Sea: The Experience of the South China Sea Workshops and the United Nations’ Strategic Action Programme,” [Hợp tác Môi trường ở Biển Đông: Kinh nghiệm của các Hội thảo về Biển Đông và Chương trình Hành động Chiến lược của Liên Hiệo Quốc], Pacific Review 14, 4 (2001), tr. 553-573; và “Dangers to the Environment,” [Những nguy hiểm đối với môi trường] trong Timo Kivimaki (ed), War or Peace in the South China Sea? [Chiến tranh hay Hòa bình ở Biển Đông?] (Copenhagen, NIAS Press, 2002), tr. 42-53 của cùng tác giả.

    [15] Điều này lại minh chứng những thành viên quan trọng đổ tại Phương thức. Nếu các Hội thảo không quan trọng đối với các thành viên hay chính quyền cử họ thì tại sao mọi người lại tốn thời gian và những khác biệt (đôi khi là rất nhỏ) về quan điểm đối với từng câu chữ của Tuyên bố? Báo cáo tại Hội nghị luôn luôn có thể tìm được từ các tác giả.

    Nguồn: NCBĐ
    I have a dream

  4. Thanks anh2 thanked for this post
  5. #93
    Ngày gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    Vũng Tàu & Tp. Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    8.893
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    118
    Uploads
    1090
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Đóng góp của các hội thảo về Biển Đông -Tầm quan trọng của cách tiếp cận chức năng (tt)

    Phần này tác giả đi sâu phân tích “cách tiếp cận chức năng” trong vấn đề giải quyết tranh chấp. Từ cách tiếp cận này, các bên tranh chấp, nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học…đi đến điểm chung nhằm hợp tác giải quyết vấn đề hiệu quả nhất.


    Hợp tác trên biển – nhưng vì mục tiêu gì?

    Ở mục này, “cách tiếp cận chức năng” cần được xem xét. Các nhà phê bình, những người không biết về các vấn đề thực chất nổi lên từ các lĩnh vực mà chúng tôi đang giải quyết, có xu hướng đưa ra những phê bình về các kết quả cuối cùng của các hoạt động của chúng tôi. Những lời nhận xét đó cho rằng những việc làm của chúng tôi là các biện pháp xây dựng lòng tin đầu tiên và trước hết trong khuôn mẫu cổ điển. Điều này là không đúng: ở Hội thảo lần thứ hai, khi lần đầu tiên những người tham gia tới từ toàn bộ khu vực trừ Campuchia bàn về các vấn đề Biển Đông thì không có sự tin tưởng giữa các nhóm tham gia, và cũng rất khó để có được điều đó. Nhưng có rất nhiều hình thức để xây dựng lòng tin: từ hình thức mang tính biểu tượng đơn thuần cho tới hình thức mang tính chức năng và thực tế cao. Chúng tôi quan tâm tới hình thức sau nhiều hơn và khuyến khích các chuyên gia xác định hình thức đó.

    Không cần tổ chức một hội nghị của các nhà ngoại giao và các luật sư quốc tế để tìm kiếm các cơ hội hợp tác hoặc các lĩnh vực mà việc hợp tác chắc chắn là cần thiết. Vấn đề này tốt nhất là đặt ra cho các chuyên gia kỹ thuật trong các lĩnh vực liên quan. Ngay từ đầu để đảm bảo rằng chúng tôi sẽ có một buổi thảo luận độc lập về các vấn đề mà những bên liên quan không thể từ chối được, chúng tôi đã kêu gọi những người có trách nhiệm lựa chọn người tham gia (chúng tôi hầu như không có vai trò trong việc này) bao gồm cả các chuyên gia có liên quan. Tại Hội thảo lần thứ nhất, điều này tương đối dễ dàng. Vì chúng tôi đã xác định sáu lĩnh vực hợp tác tiềm năng hoặc nội dung sẽ được bàn bạc trong các hoạt động chung, nên rất dễ để phân bổ một vấn đề cho sáu nhà chức trách tham gia. Trước đây, tôi đã đề cập tới vai trò tiên phong của Philippines trong các vấn đề nghiên cứu khoa học biển và chỉ ra điều này xảy ra như thế nào. Tương tự với Các vấn đề luật pháp TWG – các luật sư từ Bộ Ngoại giao Thái Lan là các nhà lãnh đạo, và với sự nhất trí của các nước tham gia, Thái Lan đã tổ chức tất cả các cuộc họp của nhóm này.

    Nhưng nhu cầu hợp tác này xuất phát từ đâu? Đối với các chuyên gia kỹ thuật, câu trả lời nằm ở ngay các hoạt động kỹ thuật. Đối với các nhà khoa học biển, việc khuyến khích nghiên cứu khoa học biển là hiển nhiên rất có giá trị, và nó cũng đòi hỏi cần có nhiều sự nghiên cứu hơn nữa. Nhưng ngay từ đầu, có thể nhận thấy sự phản đối mang tính chính trị đối với quan điểm cho rằng cần phải hợp tác; một vài lực lượng có xu hướng phản đối quan niệm rằng hợp tác mang tính chất bắt buộc - được quy định bởi các nghĩa vụ quốc tế. Cũng có thể xem xét nguồn gốc những quan điểm này, những quan điểm mà chắc chắn là không có ích trong những năm đầu tiên của sáng kiến hội thảo..

    Vấn đề đầu tiên nằm ở bản chất của chủ quyền quốc gia, và ở quan điểm của nhiều nước về quyền và quan hệ với các nước khác, do đó mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ có liên quan tới mọi vấn đề. Đối với những ai tiếp cận chủ quyền như một khái niệm tuyệt đối, coi nó như là một khái niệm không thể bị chia cắt hoặc giảm bớt và cho phép chống cự lại bất kỳ sự tấn công nào, thì ý tưởng hợp tác chỉ là lựa chọn có tham gia hay không của mỗi quốc gia vì ý tưởng này vốn đã bị phản đối. Đối với những người như vậy, Điều khoản quan trọng nhất trong Hiến chương Liên hợp quốc là điều 2(7) – không quốc gia nào có thể can thiệp vào các vấn đề của các quốc gia khác, đặc biệt là các vấn đề thuộc về quyền tài phán nội bộ. Theo quan điểm của một vài người, rào cản gây ra bởi điều khoản này là rất lớn và mạnh mẽ, và không thể can thiệp vào được. Trước khi Công ước 1982 có hiệu lực, Luật Biển đã phản ánh quan điểm này. Trước khi học thuyết về thềm lục địa trở thành quy tắc của luật quốc tế, lãnh hải với phạm vi thông thường là ba hải lý thuộc chủ quyền quốc gia, và nhiều nước có xu hướng coi các phần lãnh hải này như là phần không thể thiếu của lãnh thổ quốc gia (quyền qua lại vô hại). Cơ sở cho học thuyết về thềm lục địa bao gồm khái niệm cho rằng phần địa hình này là sự kéo dài tự nhiên của các lục địa - phần đất bị che phủ bởi nước – theo đó quốc gia có quyền đối với các phần đất này. Các quyền đó không có nghĩa là chủ quyền nhưng hoàn toàn là độc quyền và cố hữu.[1] Trong Công ước về Thềm lục địa năm 1958, quyền quốc gia về thăm dò hoặc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên không yêu cầu đưa ra tuyên bố hoặc yêu sách.

    Đây là một khái niệm có tác động lớn, truyền đạt không chỉ là một quyền thông thường nhằm thực hiện và kiểm soát các hoạt động liên quan đến tài nguyên. Các đường ranh giới của thềm lục địa (hoặc phạm vi hướng ra biển) được xem như giống các đường hoạch định trên mặt đất. Luật pháp quốc tế chỉ ra rằng, miễn là không gây tổn hại to lớn nào đối với các hoạt động đánh bắt cá, vận tải đường biển và môi trường biển, các quốc gia có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn ở thềm lục đia. Thực tế cũng có một ngoại lệ khi mỏ dầu hoặc khí gas nằm vắt qua đường ranh giới, theo đó có thể được khai thác cả từ hai nước. Thực tiễn ở các mỏ dầu đòi hỏi mức độ hợp tác cao nhất có thể được giữa các quốc gia liên quan và những công ty được cấp phép của các nước này. Dường như là có một quy định trong luật tập quán nghiêm cấm việc khai thác đơn phương đối với những mỏ dầu như vậy mà không có sự tham khảo ý kiến bên kia. Quy định này có hiệu lực nhờ vào tác dụng của một số điều khoản trong nhiều hiệp định ranh giới thềm lục địa, nhưng điều này cũng ảnh hưởng tương đối đến một số ít quốc gia..

    Việc thay đổi khái niệm là do sự phát triển các khu đánh cá lớn, và sự gia tăng các phong trào vì môi trường trong những năm 1960 và 1970. Khi mọi quốc gia đều có khả năng đánh bắt hết số lượng cá, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các tàu chở dầu và các mục đích sử dụng biển khác, thì khả năng dễ bị tổn thương của môi trường biển ngày càng rõ ràng. Hơn nữa, các khu đánh cá rộng lớn có nghĩa là các ngư dân không còn được tự do đánh cá ở bất kỳ đâu họ muốn nữa, và các vấn đề về các kho dự trữ nằm ở ranh giới giữa các khu đánh cá và giữa các vùng biển cả bắt đầu nảy sinh. Nói cách khác, nhiệm vụ quản lý biển trở thành một nhiệm vụ rất khó khăn, do đó đòi hỏi phải có xem xét cẩn thận các khu vực biển khác nhau cũng như quan tâm toàn bộ tới môi trường biển, hệ sinh thái dưới quyền tài phán quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học... Tuy nhiên, vấn đề là trong khi các hoạt động khai thác dầu và khí gas có thể được diễn ra ở các khu vực khác nhau của thềm lục địa ít nhiều cũng độc lập với các quốc gia khác(ngoại trừ các mỏ xuyên qua ranh giới thềm lục địa) thì việc khai thác tương tự không thể áp dụng với nguồn tài nguyên hữu sinh, môi trường và hệ sinh thái.

    Điều này được áp dụng với cả biển kín và nửa kín hoặc ở nơi có các biển tiếp giáp với nhau. Việc quản lý đại dương ở Úc và New Zealand hoàn toàn không phải xét tới các quy tắc áp dụng cho các nước như ở Vịnh Thái Lan, Vịnh Ả rập, Biển Baltic, vùng Địa Trung Hải, Biển Bắc và vùng Caribê.

    Nhiệm vụ quản lý này được phản ánh trong các điều khoản của Công ước Luật Biển. Các điều khoản này khuyến khích và trong một vài trường hợp kêu gọi hợp tác giữa các quốc gia láng giềng. Ví dụ như các điều khoản về quy chế của biển kín và nửa kín. Theo ý nghĩa của Điều 123 của Công ước, Biển Đông (và vịnh Thái Lan) là biển nửa kín, một sự khẳng định được các quan chức chính phủ của nhiều nước tranh cãi mạnh mẽ (các quan chức này không phải các chuyên gia kỹ thuật).[2] Tất nhiên, họ không muốn coi Biển Đông là biển nửa kín vì họ không muốn phải có nghĩa vụ hợp tác. Nhưng điều đó là bắt buộc. Từ “nên” rõ ràng minh chứng cho nghĩa vụ đó.

    Giới thiệu luật quốc tế

    Ở phần trên tôi đã đề cập tới việc đưa ra nhóm TWG về các vấn đề luật pháp vào năm 1995. Đó là một tiến triển quan trọng của Phương thức Hội thảo này. Cho đến nay, các cuộc tranh luận về hợp tác vẫn hoàn toàn mang tính kỹ thuật. Hiện nay đã có cơ hội để chuyển sang lĩnh vực chính sách. Rõ ràng rằng các vấn đề như chủ quyền và quyền tài phán sẽ không được tranh luận, nhưng các vấn đề khác thì vẫn có thể được thảo luận. Ví dụ, nếu có hợp tác trong các lĩnh vực như sinh thái, bảo vệ môi trường, an toàn trên biển… thì các vấn đề pháp lý sẽ nổi lên cùng với chi tiết việc hợp tác đó sẽ được thực hiện như thế nào. Do đó, nhóm TWG này sẽ nghiên cứu các vấn đề đó.

    Tại Cuộc họp lần thứ 2 của nhóm TWG ở Pattaya, Thái Lan, ý tưởng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông đã được đưa ra. Công lao thuộc về Giáo sư Robert Beckman của Trường Đại học quốc gia Singapore và một đồng nghiệp tới từ Viện Chưởng Lý Singapore, hai người đã tập hợp một loạt các điều khoản từ các hiệp ước đã được áp dụng trong khu vực như Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố 1971 về khu vực Hoà bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN), Hiệp ước ASEAN… Đối với Biển Đông, nếu các khái niệm này hiện nay còn tồn tại thì sẽ rất khó để phán đối các văn bản trên. Khi Bộ trưởng Ngoại giao Philippines quyết định thử và thúc đẩy bộ quy tắc ứng xử ở kênh chính thức, thì các đề xuất của ông đã được nêu trong bản dự thảo Pattaya. Vấn đề nổi lên chắc chắn khác với các kiến nghị được đưa ra trong các cuộc họp, nhưng chắc chắn rằng Phương thức Hội thảo đã có ảnh hưởng tới việc tranh luận bộ quy tắc ứng xử cho cả khu vực (so với các hiệp định song phương đơn thuần) và cả các công thức ít quan trọng hơn. Tất nhiên đây là điều chúng ta mong đợi – sự tự do ở Kênh 2 có thể mang lại những kết quả mà sau đó Kênh 1 có thể thông qua (hoặc lờ đi).

    Nhưng nhóm TWG về các vấn đề luật pháp cũng cho chúng tôi cơ hội tranh luận về các vấn đề khác. Ví dụ, Robert Adamson, thành viên của nhóm nghiên cứu của tôi tại UBC, đã đưa ra một bài viết trong đó sử dụng cụm “không tổn hại” trong các hiệp định quốc tế. Các từ này chỉ đơn giản nghĩa là bất kỳ điều gì các bên đã đồng ý thực hiện trong quá khứ cũng đều không ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của họ dù dưới hình thức nào. Ví dụ điển hình là hàng loạt các hiệp định giữa Vương quốc Anh và Argentina liên quan tới hợp tác trên biển ở khu vực giữa Quần đảo Falkland (A: Falkland Islands – nd) và lục địa Nam Mỹ. Hai nước đã trải qua một cuộc chiến ngắn nhưng đầy khốc liệt khi phe quân sự ở Argentina muốn chiếm lấy quần đảo này từ người Anh bằng vũ lực: thương vong nặng nề và quan hệ căng thẳng. Tuy nhiên vì lợi ích từ nguồn tài nguyên, hai nước đã đồng ý hợp tác mà không gây tổn hại tới các tuyên bố của mỗi nước về chủ quyền đối với quần đảo.[3]

    Vấn đề đặc biệt này rất quan trọng vì việc tranh luận trong bài viết của Adamson đã gợi ra một vài điều cho tôi. Đầu tiên, như tôi đã nghi ngờ, có sự khác biệt rất lớn trong kinh nghiệm (và cả trình độ) luật pháp của những người tham gia. Đây sẽ không phải là một vấn đề nếu các vấn đề được luận không nghiêm trọng, nhưng nếu nó thật sự nghiêm túc thì một vài người tham gia sẽ không theo kịp cuộc tranh luận. Họ sẽ không hiểu điều gì đang được tranh luận và có xu hướng bác bỏ vấn đề đó. Nói cách khác, những người tham gia cần phải có một trình độ về luật pháp nhất định và cần phải thu hẹp khoảng cách về trình độ giữa những người tham gia, đặc biệt liên quan tới việc hiểu biết luật gì hiệu quả hoặc không hiệu quả ở các nơi trên thế giới. Điều này đôi khi là rất khó bởi vì đối với những người này, phản ứng đầu tiên của họ thường là Biển Baltic là Biển Baltic, biển Địa Trung Hải là biển Địa Trung Hải và Biển Caribê là biển Caribê – các biển đó không phải là biển Đông. Và đôi khi các hình mẫu hóa ra lại chẳng là cả - nhưng đối khi các hình mẫu lại rất có ý nghĩa, và cần tìm những mô hình thích hợp, mang tính minh hoạ và bỏ qua các mô hình làm rối sự việc.

    Những người tham gia dường như ngày càng thích sử dụng Nhóm làm việc không chính thức về Biển Đông ở UBC như một công cụ để mở rộng kiến thức nền. Tôi nhớ tới một cuộc họp nơi mà các quan chức cấp cao của Trung Quốc đề nghị chúng tôi sắp xếp một cuộc họp về khai thác chung dầu mỏ ngoài khơi, một đề tài được tranh luận rất nhiều vào hôm đầu tiên tôi gặp Đại sứ Djalal. Ông muốn biết chính xác các khu này hoạt động như thế nào. Các quyền và nghĩa vụ tương tự của các bên là gì? Ai là người tiến hành các hoạt động? Do đó, chúng tôi đã thiết lập một nhóm các chuyên gia về vấn đề rộng hơn việc khai thác dầu chung ở ngoài khơi, cụ thể là các khu hợp tác. Chúng tôi đã tổ chức cuộc họp này ở Vientiane, Lào, những người tham gia bao gồm các diễn giả mà sau đó tham gia vào các nhóm giảm khoảng cách phát triển giữa Úc và Indonesia Timor, nhóm phát triển chung của Malaysia và Thái Lan ở Vịnh Thái Lan, và nhóm nghiên cứu của tôi đã tập hợp các bản sao các hiệp ước và các tài liệu cho những người tham gia. Nói cách khác, chúng tôi đã đưa chủ đề này vào một cuộc điều tra chi tiết và nghiêm túc, mà sau đó tính thực tiễn và linh hoạt của khái niệm này đã rõ ràng hơn rất nhiều từ trước tới nay.

    Hơn nữa, chúng tôi cũng có thể liên kết cách tiếp cận này với Đoạn 3 của Điều 74 và 83 của Công ước về Luật Biển, các điều khoản liên quan tới việc phân định biên giới trên biển. Đoạn 3 cho rằng khi không đạt được hiệp định về phân định biên giới, trên tinh thần hợp tác, các quốc gia liên quan nên đi đến “các hiệp định sơ bộ về tình trạng thực chất” trong thời gian chuyển tiếp. Hầu hết các khu vực khai thác chung đều có các vấn đề do các quốc gia liên quan không thể nhất trí về biên giới trên biển. Các vấn đề đó có các bộ quy tắc – chúng là các hiệp định sơ bộ và rõ ràng mang tính thực tế. Việc ủng hộ quan điểm này được minh chứng trong lịch sử hợp tác đánh cá và các hình thức hợp tác chung khác ở Đông và Đông Nam Á. Tôi không cần phải nói về uy tín của Phương thức Hội thảo này nữa, nhưng chúng tôi chắc chắn phải giúp minh họa cho các cách sử dụng của khái niệm này. Nói cách khác, đây không phải là một thủ tục khác thường với đầy nguy hiểm và khó khăn. Ngược lại, nó đưa các nguồn này vào hoạt động, nếu không thì các nguồn này có thể vẫn giữ nguyên như vậy, không được sử dụng trong một tương lai gần.

    Trong các phiên họp về luật pháp, chúng tôi cũng tham gia vào một tiến trình mà tôi nghĩ như “việc xoá đi các tầng thấp” - một nội dung chủ đạo của cuộc tranh luận về vấn đề không tương thích hoặc không đúng. Ví dụ, việc khẳng định sự khác biệt giữa quần đảo và đảo nhân tạo, và việc tìm ra ra cách áp dụng Khổ 3 của Điều 121 của Công ước này đã thay đổi, một cách đầy tranh luận, bức tranh tài phán ở Biển Đông ở một mức độ nào đó. Thẳng thắn mà nói, tôi nghĩ một vài nước đã có thể tiến xa hơn nữa. Trong suốt những năm giữa thập kỷ 1990, đã có một giai đoạn trao đổi ngoại giao mở rộng giữa Philippines và Trung Quốc liên quan tới Đá Vành Khăn (A: Mischief Reef – nd). Cả hai bên đều tuyên bố đó là “một phần không thể nhân nhượng của lãnh thổ quốc gia”. Với tôi, điều đó dường như là họ có thể đạt được một điều gì đó họặc chỉ ra rằng đó không phải là lãnh thổ - nó là một đảo nhân tạo được xây trên một tảng đá ngầm, và không có ý nghĩa tài phán. Nói cách khác, theo như giáo sư Prescott, nếu như chúng ta áp dụng các quy tắc của Công ước này để đặt tên cho các loại địa hình ở Biển Đông bất chấp việc chúng được gọi là gì đi nữa thì cho đến nay số lượng các hòn đảo sẽ ít hơn rất nhiều. Trong số đó, có một số lượng lớn các hòn đảo được hình thành theo như ý nghĩa của Điều 121 Khổ 3 của Công ước này – chúng có thể có lãnh hải, nhưng không rộng hơn các vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Việc xây dựng ở các phần địa hình không bị chìm dưới mặt nước không thay đổi hiện trạng pháp lý của loại địa hình đó – nó vẫn là một đảo nhân tạo, là một khu vực được cho là an toàn (nhưng không có quyền tài phán) về biển đối với các mục đích khai thác tài nguyên), và có lẽ là điểm diễn tập quân sự ưu tiên đầu tiên.

    Một câu hỏi hay được đặt ra đó là liệu các quốc gia ở Biển Đông có thể phát triển “một tập quán khu vực”, điều làm thay đổi các quy tắc của Công ước này về quần đảo và đảo nhân tạo hay không? Theo quan điểm của tôi, cộng đồng quốc tế sẽ bác bỏ một động thái như thế, vì nó có thể được áp dụng ở những nơi khác và sẽ mở ra một lời mời cho các quốc gia ven biển khác để củng cố và phát triển mọi tảng đá, do đó làm mất dần khái niệm tự do biển cả và vùng di sản chung của nhân loại. Phần biển chung toàn cầu chắc chắn sẽ bị lấn chiếm dần, và mục tiêu của Công ước về Luật Biển chính là để ngăn chặn điều này. Do đó, để thực tiễn này phát triển sẽ không phù hợp với các mục đích lớn hơn của Công ước và do đó sẽ đi ngược lại với Công ước. Hơn nữa, vì tầm quan trọng của các hệ thống đá ngầm ở Biển Đông ngày càng trở nên rõ rệt, nên cần phải kêu gọi dừng hoàn toàn việc xây dựng trên các tảng đá ngầm này vì nó không chỉ là một hành động khiêu khích tiềm tàng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái. Nói cách khác, chúng ta có thể thấy một hệ quả khốc liệt là việc xây dựng trên các hệ thống đá ngầm không mang lại lợi ích gì trên phương diện quyền tài phán và gây ra những ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái biển và môi trường. Do đó, tham gia vào việc xây dựng này dường như là vô ích cho dù nó có vẻ hấp dẫn ở phương diện tuyên bố quyền tài phán quốc gia.

    Cuối cùng, luật quốc tế hiện đại cho thấy nhiều đặc trưng của thuyết chức năng. Trên thế giới hiện nay, các cách tiếp cận đa dạng của các quốc gia có thể rất nguy hiểm và sai chức năng. Ví dụ như sự đa dạng trong áp dụng quy tắc kiểm soát giao thông hàng không – thì khi một quốc gia hành động như thế sẽ dẫn tới thảm hoạ. Các hiệp ước được ký kết để đóng vai trò là hình mẫu cho hành động lập pháp nội địa đã tạo ra nhiều vấn đề chưa từng có nhằm đảm bảo rằng các quốc gia thông qua các biện pháp chính xác cao. Nhu cầu về cách tiếp cận toàn cầu nảy sinh từ bản chất của vấn đề. Nó không phải là một trường hợp nghiên cứu để tìm ra điều bất biến vì lợi ích của nó.

    Kết luận

    Nhiều người cho rằng khả năng Phương thức Hội thảo này có thể tìm ra các cơ hội hợp tác biển hiệu quả và có giá trị đã tạo điều kiện cho hội thảo này đạt được động lực ở mỗi đỉnh cao của các hoạt động của hội thảo (trong một năm có tới tám cuộc họp). Nhưng rất quan trọng để hình thành giá trị của các kiến nghị này, và nhấn mạnh rằng chúng không phải là sự lựa chọn “tốt thứ hai” để thay thế cho điều lẽ ra đã có thể đạt được như vấn đề cơ bản ở Biển Đông – tranh chấp chủ quyền/quyền tài phán.

    Các chuyên gia trong các lĩnh vực mà chúng tôi chọn để tập trung nghiên cứu đã có thái độ mạnh mẽ đối với sự cấp thiết của các biện pháp mà họ ủng hộ. Rất khó để biết như thế nào và tại sao các nguồn lực lại bị chệch hướng thay vì nỗ lực giải quyết tranh chấp chủ quyền, điều mà theo quan điểm của tôi là vô ích. Đó là bởi vì cách giải quyết như vậy đòi hỏi sự nhất trí của các quốc gia liên quan tham gia vào tiến trình hoà giải và tuân theo kết quả đạt được. Chưa từng đạt được một sự đồng thuận nào như thế. Ngược lại: các quan chức cấp cao của các quốc gia ven biển đã tuyên bố rằng bởi vì tuyên bố của đất nước họ vượt ngoài phạm vi cuộc tranh chấp, nên không cần phải bàn bạc, không bao giờ quan tâm tới việc kiện tụng.[4]

    Khả năng phát hiện các lĩnh vực hợp tác hiệu quả, giá trị và cần thiết là thiết yếu và điều này chắc chắn là yêu cầu nếu các sáng kiến ngoại giao phòng ngừa được xem xét. Nhưng chúng tôi cũng có thể chỉ ra các nhân tố khác: cam kết của những người tham gia và quyền của họ trong Phương thức này; sự tham gia những trung gian, người có thể đưa ra thực trạng và ý kiến cho cuộc hội thoại; sự lãnh đạo nhiều kinh nghiệm, thông minh và kiên trì của TS. Djalal; việc phân bổ các quỹ. Cuối cùng, tôi nghĩ một khi những người tham gia đã không quan tâm tới các vấn đề mà họ được thông báo là “các vấn đề đang bị đe dọa” và thay vào đó tập trung vào các vấn đề được xác định ở đầu chương này, thì nhu cầu thiết yếu để tìm ra biện pháp giải quyết vấn đề ngày càng trở thành một mối quan tâm chung.

    Phụ lục I Danh sách các cuộc họp theo chủ đề


    Nghiên cứu khoa học biển

    · TWG 1 – Manila, Philippines, 1993
    · TWG 2 – Surabaya, Indonesia, 1993
    · TWG 3 – Singapore, 1994
    · TWG 4 – Hanoi, Vietnam, 1995
    · TWG 5 – Cebu, Philippines, 1996
    · TWG – Kiến nghị đa dạng sinh học, Cebu, Philippines, 1996
    · TWG – 6/GEM, Manila, Philippines, 1998

    Bảo vệ môi trường biển

    · TWG 1 – Hàng Châu, Trung Quốc, 1994
    · GEM – Phnom Penh, Campuchia, 1997
    · TWG 2 – Hải Nam, Trung Quốc, 1997
    · GEM – Kiến nghị giám sát, Manila, Philippines, 1998

    An toàn hàng hải, giao thông và thông tin liên lạc

    · TWG 1 – Jakarta, Indonesia, 1995
    · TWG 2 – Bandar Seri Bagawan, Brunei Darussalam, 1996
    · GEM – Đào tạo thủy thủ, Singapore, 1997
    · GEM 1 – Trao đổi dữ liệu và thông tin thủy văn, Kuching, Malaysia, 1997
    · GEM – Trao đổi dữ liệu và thông tin thủy văn, Singapore, 1998
    · TWG 3 – Singapore, 1998
    · GEM – Tìm kiếm và cứu hộ và các hoạt động bất hợp pháp trên biển, Kota Kinabalu, Malaysia, tháng 6/1999
    · GEM 2 – Trao đổi thông tin và dữ liệu thủy văn, Singapore, tháng 10/1998

    TWG về Đánh giá tài nguyên và các phương thức phát triển

    · TWG 1 – Jakarta, Indonesia, 1993
    · GEM 1 – Các khu vực hợp tác, Viêng Chăn, Lào, 1998
    · GEM – đánh giá nguồn hydrocacbon không phải khoáng sản, Jakarta, Indonesia, 1998
    · GEM 2 – Các khu vực hợp tác, Bali, Indonesia, tháng 6/1999

    Các vấn đề luật pháp (tổ chức ở Thái Lan)

    · TWG 1 – Phuket, 1995;
    · TWG 2 – Chiang Mai, 1997
    · TWG 3 – Pattaya, 1998
    · TWG 4 – Hua Hin, 1999

    Các hội thảo về quản lý các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông (tổ chức ở Indonesia)

    · 1 – Bali, 1990,
    · 2 – Bandung, 1991,
    · 3 – Yogyakarta, 1992,
    · 4 – Surabaya, 1993,
    · 5 – Bukit Tinggi, 1994
    · 6 – Balikpapan, 1995
    · 7 – Batam, 1996
    · 8 – Pacet Puncak, 1997
    · 9 – Jakarta, 1998
    · 10 – Bogor, 1999
    · 11 – Cengkareng (cuộc họp tiếp theo ở Jakarta vào tháng 8) 2001
    · 12 – Jakarta 2002
    · 13 – Medan 2003
    · 14 – Batam, 2004
    · 15 – Anyer, Banten, 2005
    · 16 – Bali, 2006
    · 17 – Yogyakarta, 2007
    · 18 – Menado, 2008

    Phụ lục II Công ước Luật Biển – một số điều khoản


    Điều 74 (và 83)

    3. Đối với hiệp định chưa đạt được ở khổ 1, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, các quốc gia liên quan sẽ cố gắng để đạt được các hiệp định sơ bộ về nội dung thực tế, và trong giai đoạn chuyển giao này, không làm hại hoặc cản trở việc đạt được hiệp định cuối cùng. Các hiệp định này không được ảnh hưởng tới việc hoạch định biên giới cuối cùng.

    Phần VIII, quy chế của các đảo

    Điều 121 quy chế của các đảo

    1 Một hòn đảo là một vùng đất được hình thành một cách tự nhiên, bao quanh bởi nước, và ở trên mặt nước khi thủy triều lên.

    2 Trừ các khu vực được nêu ở khổ 3, theo các điều khoản của Công ước này, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo thì tương xứng với các phần lãnh thổ khác.

    3 Đá, nơi không thể duy trì sự sống của cong người hoặc có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.

    Phần IX Biển kín và nửa kín

    Điều 122 Định nghĩa

    Theo như mục đích của Công ước này, “biển kín và nửa kín” nghĩa là vịnh, vịnh nhỏ hoặc biển bao quanh bởi hai quốc gia trở lên và nối với biển khác hoặc đại dương bởi một dòng nước hẹp hoặc bao gồm một phần hoặc toàn bộ lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế của từ hai quốc gia ven biển trở lên.

    Điều 123 Hợp tác của các quốc gia ven biển kín hoặc nửa kín

    Các quốc gia ven biển kín hoặc nửa kín phải hợp tác với nhau theo quyền và nghĩa vụ theo như Công ước này. Để thực hiện được điều này, trực tiếp hoặc thông qua một tổ chức khu vực thích hợp, các quốc gia phải nỗ lực để:

    (a) điều phối việc quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên hữu sinh ở biển;

    (b) điều phối việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đồng thời tôn trọng việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển.

    (c) điều phối các chính sách nghiên cứu khoa học và thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học chung trong khu vực.

    (d) mời các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế quan tâm để hợp tác trong việc thúc đẩy các điều khoản này.

    GS. Ian Townsend-Gault, Khoa Luật, Đại học British Columbia, Canada

    Người dịch: Vũ Song Hà

    Người hiệu đính: Lê Quang Hưng

    Bài viết trích trong " Security and International Politics in the South China Sea",
    Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Ammers, năm 2009.
    Bản gốc tiếng Anh " The contribution of the South China Sea Workshops: the importance of a functional approach"

    Chú thích:

    [1] Các quyền của quốc gia đối với các nguồn tài nguyên hữu sinh và vô sinh của EEZ và thềm lục địa là “các quyền chủ quyền cho mục đích” thăm dò và khai thác. Xem Công ước về thềm lục địa, Điều 2; Công ước về Luật Biển, Điều 56 (EEZ) và 77 (thềm lục địa).

    [2] Xem Điều 123 ở Phụ lục II.

    [3] Khi soạn thảo những nhận xét này, chính phủ Argentina đã tuyên bố việc chấm dứt Hiệp định! Điều này không thay đổi được thực tế là nó đã được tạo ra.

    [4] Để biết thêm các quan điểm khác về cách giải quyết vấn đề này, xem L. McManus, “The Spratly Islands: A Marine Park?” [Quần đảo Trường Sa: Một công viên hải dương?] Ambio 23, 3 (tháng 5, 1994), tr. 181-186. Được coi như quan điểm viển vông khi xuất bản, ý tưởng của TS. McManus hiện nay được coi như một đề nghị theo nguyên tắc và phù hợp nhất với việc định ra các đặc tính một cách chính xác.

    Nguồn: NCBĐ
    I have a dream

  6. Thanks anh2 thanked for this post
  7. #94
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    (SÁCH MỚI) Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác

    Sách mới (do Nhà Xuất bản Thế giới ấn hành, chủ biên: Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao) tập hợp các bài viết cập nhật sau Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 về Biển Đông với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực” tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chủ biên: Đặng Đình Quý, Nhà xuất bản Thế giới 2011.
    Số trang: 510 trang
    Sách có bán tại:
    - Phòng Tạp Chí Nghiên cứu Quốc tế, Trung tâm Thông tin Tư liệu, Học viện Ngoại giao, 69 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
    - Hiệu sách Nhà Xuất Bản Thế Giới, 46 Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội
    - Hiệu sách Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 24 Quang Trung, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

    Nội dung cuốn sách tập trung vào các chủ đề chính sau: (i) Tầm quan trọng của Biển Đông trong bối cảnh môi trường chiến lược đang thay đổi, (ii) Những diễn biến ở Biển Đông gần đây và hệ lụy đối với an ninh và thịnh vượng ở khu vực, (iii) Các vấn đề pháp lý quốc tế trong các tranh chấp ở Biển Đông, (iv) Quá trình giải quyết tranh chấp, xây dựng lòng tin và phương thức thúc đẩy hợp tác khu vực.
    Tải bản mềm (tóm tắt một số nội dung chính) tại đây
    Một số bài viết trong cuốn sách
    Nguyễn Hồng Thao, Biển Đông, Ba giai đoạn, bốn thách thức, hai cách tiếp cận khu vực và một niềm tin
    Bronson Percival, Biển Đông Quan điểm từ Hoa Kỳ
    Daniel Scheaffer, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Biển Đông : Một quan điểm từ bên ngoài
    Alberto A. Encomienda, Quan điểm và cách tiếp cận về hợp tác khu vực
    Bác nào quan tâm theo dõi nên tải kỷ yếu Hội thảo về tại Tủ sách HSO

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

Trang 10 trong 10 Đầu tiênĐầu tiên ... 8910

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 8
    Bài mới gửi: 06-01-2011, 04:09 AM
  2. Trả lời: 15
    Bài mới gửi: 03-01-2011, 02:03 PM
  3. Cuộc thi Miss HSO năm 2010 ( Lưu ý 2010 ko phải 2009 đừng nhầm)
    By Quân_Đội_Anh_Hùng94 in forum Làm quen -Tâm sự & Thư giãn
    Trả lời: 115
    Bài mới gửi: 10-08-2010, 11:32 PM
  4. Diễn đàn Tuổi trẻ Việt Nam năm 2010 (VYF 2010)
    By KID1485 in forum Tuổi trẻ : Giáo dục & Cuộc sống
    Trả lời: 3
    Bài mới gửi: 17-05-2010, 01:09 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •