Lúc nãy có đi ngang qua đường Bà Triệu (Hà Nội), thấy ở chùa có treo băng rôn "Kỉ niệm 581 năm Hội thề Đông Quan 1427 - 2008", Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân và dân ta bằng thắng lợi vẻ vang của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, buộc đối phương là một đế chế lớn mạnh phải chấp nhận và thực thi nghi lễ thua trận như vậy. Âu cũng là một niềm tự hào của dân tộc.

Sau khi toàn bộ lực lượng viện binh đều bị tiêu diệt và mọi cố gắng nhằm xoay chuyển tình hình cũng đêù bị thất bại, ngày 10/12/1427 , tổng binh giặc là Thành sơn hầu Vương Thông đành phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Lễ kí kết văn kiện đầu hàng nhục nhã này của Vương Thông được các lãnh tụ Lam Sơn đặt cho một cái tên thật hài hước là hội thề Đông Quan! (Đông Quan là thành Đông Quan tức là thành Đông Đô cũng là kinh đô Thăng Long cũ nay là thủ đô Hà Nội).

Cứ chiểu theo âm lịch mà suy, thì cái ngày 16-12-1427 dương lịch diễn ra Hội thề Đông Quan ấn định ngày 29-12-1427 đến ngày 3-1-1428 Vương Thông cùng bè lũ xâm lược Minh phải rút về nước thì nhằm đúng bữa 12 tháng Chạp của Tết Đinh Mùi. Vừa chẵn 580 năm!

Chính sử chép, ngày 16 tháng 12 năm 1427, tại phía nam thành Đông Quan, bên bờ sông Nhị, một hội thề lịch sử đã diễn ra, gọi là hội thề Đông Quan. Đây là một hình thức định ước đình chỉ chiến sự giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân đô hộ nhà Minh.

Lễ thề do chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn tổ chức, theo đó buộc quân Minh tuyên thệ rút hết về nước sau thất bại nặng ở trận Tốt Động-Chúc Động (ngày 5-7 tháng 11, 1426) và Chi Lăng - Xương Giang (11-1427).

Tại buổi lễ, trước đoàn nghĩa quân do Lê Lợi dẫn đầu, có các tướng: Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phan Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bối, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân. Vương Thông tổng tư lệnh quân Minh cầm đầu cùng các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vinh Thanh, Dực Khiêm, Lục Quảng Quảng Bình, Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Dương Thời Tập, Quách Đoan.

Tại Hội thề Đông Quan, Tổng tư lệnh Vương Thông trước đoàn nghĩa quân do Lê Lợi dẫn đầu đã phải đọc Bài văn hội thề với nội dung cam kết đình chỉ mọi hoạt động chiến sự, rút hết quân trong thời hạn 5 tháng; không cướp bóc sách nhiễu trên đường rút quân

Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỉ, quyển 10) chép rằng: "Bấy giờ các tướng sĩ và người nước ta rất căm thù quân Minh đã giết hại cha con, thân thích họ, liền rủ nhau tới khuyên vua giết bọn chúng đi. Vua dụ rằng:

"Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Và lại, người ta đã hàng mà mình lại giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng. Nếu cốt để hả nỗi căm giận trong chốc lát mà mang tiếng với muôn đời là giết kẻ đã hàng, thì cho bằng tha mạng sống cho ức vạn người, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao".

Vua bèn hạ lệnh: Cánh đường thuỷ, cấp 500 chiếc thuyền, cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc Lãnh nhận. Còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và hai vạn con ngựa thì do Mã An lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tát cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về. Bọn Phương Chính vừa xúc động vừa hổ thẹn đến rơi nước mắt.

Sách "Quân trung từ mệnh tập" của Nguyễn Trãi đã ghi lại lời thề của Vương Thông trong "hội thề" này như sau: "Về phía bọn Tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, tự làm trái lời thề, nhất là khi người phục dịch và thuyền bè đã sắp sẵn rồi, cầu đường cũng đã sửa xong rồi, mà không làm theo lời bàn, nghĩa là không lập tức đem quân về nước, cứ kéo dài năm tháng để đợi viện binh, hoặc giả là khi về đến triều đình mà tâu sai sự lí, không sợ thần linh sông núi nước An Nam, hoặc bàn khác đi, hoặc cho quân cướp phá dọc đường thì Trời, Đất cùng Danh Sơn, Đại Xuyên và Thần kỳ các xứ, tất đem bọn Tống binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, cùng thân thích, đều làm cho chết hết và cả đến lũ quan quân cũng không một ai được sống sót trở về".

Tiếp sau đó quân Minh đã kéo đến dinh Bồ Đề, Tổng hành dinh của Bình Định Vương Lê Lợi trong cuộc kháng chiến để lạy tạ lãnh đạo nghĩa quân. Thực hiện cam kết, ngày 29/12/1427 (tức là ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi) đúng như cam kết trong Hội thề, Vương Thông đã rút quân về nước dù chưa nhận được lệnh bãi binh của Thiên triều. Đến ngày 2/1/1428 thì đất nước sạch bóng quân xâm lăng. Cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của thế kỉ XV kết thúc toàn thắng. Năm đó Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, nhà Hậu Lê được chính thức lập ra.

Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được trở về quê hương an toàn. Hội thề Đông Quan 1427 thể hiện cách kết thúc chiến tranh sáng tạo, mềm dẻo, nhân đạo của nghĩa quân Lam Sơn.

Tham khảo XaLuan.Com,
ThanhHoaOnline, Sưu tập