[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 3 trong 88 Đầu tiênĐầu tiên 123451353 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 21 tới 30 trên 880
  1. #21
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Tiềm lực quân sự VN trong thời đại mới

    Nguồn: http://www.chaocovietnam.org/story.php?id=2681
    http://www8.ttvnol.com/forum/gdqp/Viet- ... 64099.ttvn

    Tháng Giêng, 2006, Nga đạt thỏa thuận để bán cho Việt Nam 2 giàn hỏa tiễn phòng không S300 PMU1 trị giá $300 triệu USD. Hỏa tiễn này có tầm hoạt động thấp từ 10 mét kể từ mặt đất và tầm xa có thể đến 150 cây số. Các hỏa tiễn này được dùng để phòng thủ thủ đô Hà Nội.





    Thông số kỹ thuật S-300PMU1

    Dài:7,5 m

    Đường kính :0,5m

    Nặng: ? kg

    Phạm vi hoạt động0-200km

    Tốc độ: 2km /giây

    Đầu nổ: 5kg chất nổ công phá mạnh

    Dưới sự điều khiển của radar

    Tháng Mười năm 2003, tin báo Hải Quân Hoa Kỳ cho biết: “Giữa Tháng Mười, 2003, Việt Nam đã mua 10 tàu tấn công nhanh của Nga do công ty Vympel vẽ kiểu. Theo thỏa thuận, các tàu chiến này sẽ được sản xuất ngay tại Sài Gòn (Saigon Shipbuilding Company) với bản vẽ có bí danh là chiến hạm loại BPS-500. Chúng là loại chiến hạm dựa trên kiểu chiến hạm Tarantul III (Molniya).”


    Tàu VN HQ-381 (Hải Quân 381)


    Tàu hỏa tiễn lớp BPS 500

    Con tàu tuần tra Molniya đầu tiên, được gắn hệ thống tên lửa tấn công Uran-E, sẽ được giao cho Việt Nam trước cuối năm nay.

    Hãng tin Nga Itar-Tass dẫn lời người phát ngôn của công ty đóng tàu KSMK nói rằng các thử nghiệm đang sắp hoàn tất.

    Ông này nói một con tàu thứ hai sẽ được giao vào năm 2007, và 20 tàu nữa sẽ được đóng tại chính Việt Nam.

    Các tài liệu kỹ thuật và bản vẽ được nói là đã được chuyển giao cho phía Việt Nam.

    Tàu tuần tiễu đóng tại Việt Nam sẽ được gắn thiết bị nước ngoài và của Nga.

    Giám đốc cơ quan Liên bang về Hợp tác quân sự và kỹ thuật với nước ngoài của Nga Mikhail Dmitriev nói với Itar-Tass rằng thỏa thuận buôn bán phương tiện quân sự giữa Nga và Việt Nam có trị giá gần một tỉ đôla trong thời gian không giới hạn.

    Ông này cũng nói Nga định bán hai tàu Gepard cho Việt Nam trong tương lai gần, và hợp đồng trị giá khoảng 350 triệu đôla.

    Ông nói thêm: "Việt Nam là đối tác chiến lược của Liên bang Nga trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, và nước này thuộc trong số 10 nước đầu tiên mà Nga có hợp tác ở quy mô lớn nhất."

    Hai bên cũng đã ký hợp đồng về việc cung cấp máy bay Su-30 và hệ thống phòng không hiện đại.

    Ngoài Việt Nam, các nước Đông Nam Á khác như Indonesia và Malaysia cũng đang trở thành bạn hàng lớn của Nga trong lĩnh vực quân sự.

    Hồi tháng Hai năm nay, BBC đã loan tin Nga sẽ mở một hoặc hai trung tâm bảo trì vũ khí của mình tại Việt Nam và một trung tâm tại Trung Quốc.

    Nga đã có một trung tâm như vậy tại Ethiopia và kế hoạch thành lập địa điểm tương tự ở Jordan và Algeria


    Gepard

  2. #22
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Không quân Việt Nam



    Lịch Sử
    * Ngày 9 tháng 3 năm 1949: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1951 giải thể ban này, nhập vào lực lượng pháo binh và phòng không
    * Ngày 3 tháng 3 năm 1955: Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu Sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng. Ngày này được lấy làm ngày thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam.
    * Ngày 24 tháng 1 năm 1959: Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ban hành Quyết định số 319/QĐ thành lập Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu trên cơ sở tổ chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu Sân bay và Cục Hàng không dân dụng Việt Nam.
    * Ngày 1 tháng 5 năm 1959, tại sân bay Gia Lâm, trung đoàn không quân vận tải đầu tiên, trung đoàn 919 ra đời. (nay là Đoàn bay 919 của Hàng không Việt Nam)
    * Ngày 22 tháng 10 năm 1963: Cục Không quân sáp nhập với Bộ Tư lệnh Phòng không thành Quân chủng Phòng không-Không quân. Lực lượng không quân lúc đó chỉ có 1 trung đoàn vận tải 919 và trung đoàn 910 (trường huấn luyện).
    * Tháng 3 năm 1967: thành lập Bộ Tư lệnh Không quân
    * Ngày 16 tháng 5 năm 1977: thành lập Quân chủng Không quân. Quân chủng Không quân gồm các binh chủng Không quân tiêm kích, Không quân tiêm kích-bom, Không quân vận tải, Không quân trinh sát,... và tồn tại đến năm 1999.
    * Từ ngày 3 tháng 3 năm 1999: trở lại là một thành phần (gồm một số binh chủng) trong Quân chủng Phòng không-Không quân.

    [sửa] Sự hình thành các trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên
    Đoàn không quân "Sao Đỏ", đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng trong trận Điện Biên Phủ trên không
    Đoàn không quân "Sao Đỏ", đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng trong trận Điện Biên Phủ trên không

    Ngay từ tháng 3 năm 1956, các đoàn cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu sân bay được cử đi nước ngoài học tập. Đoàn học lái máy bay tiêm kích có 50 người, do Phạm Dưng làm trưởng đoàn (sau này Đào Đình Luyện thay) được cử sang học tập tại Trung Quốc.

    Lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam đầu tiên được thành lập là Trung đoàn không quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó. Trung đoàn này được huấn luyện trên cao nguyên Vân Quý - Trung Quốc. Ngày 3 tháng 2 năm 1964, lễ thành lập Trung đoàn không quân đầu tiên được tổ chức tại Mông Tự, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Ban đầu Trung đoàn có 32 chiếc máy bay chiến đấu kiểu MiG-17, 4 chiếc máy bay kiểu MiG-15, số phi công có 70 người, được đào tạo ở Trung Quốc trở về nước cùng với số máy bay MiG-17A được viện trợ. Từ tháng 4 năm 1965 chuyển sang máy bay MiG-21.

    Ngày 4 tháng 8 năm 1965, Trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 là Trung đoàn 923, mật danh Đoàn Yên Thế, được thành lập, gồm 2 đại đội 17 phi công MiG-17, do Nguyễn Phúc Trạch làm Trung đoàn trưởng, Nguyễn Ngọc Phiếu làm Chính ủy. Không quân Việt Nam được trang bị thêm một số máy bay MiG-17F có bộ phận tăng lực. Đến cuối năm 1965, Không quân Việt Nam có thêm một số máy bay MiG-21 do Liên Xô viện trợ, tuy nhiên, mãi đến tháng 3 năm 1966, số máy bay này mới về đến Việt Nam. Từ năm 1979 Trung đoàn 923 trang bị máy bay tiêm kích-bom Su-22.

    Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn không quân Thăng Long (phiên hiệu là Sư đoàn 371) tức Bộ tư lệnh không quân được thành lập, gồm các trung đoàn 921, 923, 919 và đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Đến tháng 3 năm 1972, trung đoàn không quân tiêm kích thứ 3 thành lập, trung đoàn 927, mật danh Đoàn Lam Sơn.

    Lấy máy bay đối phương

    Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam cũng có một số trường hợp đặc biệt hi hữu. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, Hồ Duy Hùng, vốn là một Thiếu úy phi công trực thăng vũ trang của Việt Nam Cộng hòa bị sa thải, thực chất là một điệp viên được cài vào Không lực Việt Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay trực thăng vũ trang UH-1A tại Đà Lạt và hạ cánh tại Dầu Tiếng, thuộc vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

    Đúng 17 tháng sau, ngày 8 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thành Trung, cũng là một một điệp viên được cài vào Không lực Việt Nam Cộng hòa, đã đánh cắp một chiếc máy bay phản lực chiến đấu F-5E, ném bom vào dinh Độc Lập và sau đó hạ cánh tại sân bay dã chiến tại Phước Long. Không lâu sau đó, đúng 20 ngày sau, vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, cũng chính Nguyễn Thành Trung dẫn đầu một phi đội gồm 5 chiếc khu trục ném bom A-37 chiến lợi phẩm, đã ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, thực hiện trận đánh cuối cùng của Không quân Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Phi đội gồm Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Từ Đễ (3 phi công lái MiG-21 vừa mới học chuyển loại) và Trần Văn On (phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa được trưng dụng).


    Máy bay A-37


    Máy bay F5-E

    Khu vực đỗ máy bay của không lực Chính quyền Sài Gòn đã bị trúng 6 quả bom làm ít nhất 3 chiếc AC – 119 và một số chiếc C–47 bị phá hủy hoàn toàn. Hai quả bom khác rơi đúng điểm giữa tòa nhà Phòng tác chiến và tháp chỉ huy.

    Những tổn thất và vinh quang

    Trước một đối phương chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng lẫn chất lượng, với hàng ngàn máy bay và hàng trăm phi công có trên 1.000 giờ bay trên nhiều lọai máy bay khác nhau, Không quân Việt Nam vào lúc cao điểm cũng không có quá 200 máy bay MiG-17/19/21 với chưa đến 100 phi công với số giờ bay ít ỏi, thì những tổn thất của phía Việt Nam là rất khó chịu đựng. Họ đã cố gắng cải thiện vấn đề này bằng nhiều biện pháp tổng hợp từ tinh thần đến chiến thuật đánh nhằm hạn chế tổn thất đến mức tối thiểu. Tuy nhiên, các phi công Mỹ cũng không phải là những kẻ bất tài.

    Phía Mỹ công bố trong thời gian từ 1965 đến 1973, họ đã có 194 phi công, trong đó có 143 là phi công F-4, đã bắn hạ MiG. Một tài liệu khác của Hải quân Mỹ công bố, trong suốt thời gian từ ngày 7 tháng 6 năm 1965 đến 12 tháng 1 năm 1973, các phi công Hải quân Mỹ đã hạ 60 chiếc MiG. Đặc biệt với chiến dịch Bolo vào năm 1967 và chiến dịch TopGun vào năm 1972 của người Mỹ đã làm không quân Việt Nam thiệt hại đến mức khủng khiếp, nhất là trên số lượng phi công ít ỏi của họ.

    Riêng ngày 2 tháng 1 năm 1967, chiến dịch Bolo nhằm gài bẫy các MiG Việt Nam được thực hiện. Trong ngày này, có 6 MiG cất cánh, thì 5 chiếc bị bắn rơi tại chỗ, 4 phi công phải nhảy dù (trong đó có 3 người về sau trở thành hạng "Ách" là Nguyễn Đăng Kỉnh, Nguyễn Văn Cốc, Nguyễn Hồng Nhị) và một phi công thiệt mạng, phía Mỹ không mất máy bay nào. Trong hai ngày sau, riêng đoàn 921 mất thêm 3 chiếc nữa. Trong vòng 3 ngày, Việt Nam tổn thất 9 máy bay trong tổng số 16 máy bay tham gia chuẩn bị chiến đấu. Hoặc trong ngày 10 tháng 5 năm 1972, các phi công Mỹ tốt nghiệp chương trình huấn luyện TopGun đã bắn hạ gần 10 chiếc MiG-17/19. Phía Việt Nam cũng thừa nhận thiệt hại trong vòng 3 ngày liên tiếp, họ mất gần 10 phi công giỏi.


    Máy bay tiêm kích MIG 17 này đã được Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ngày 19/4/1972 và ném bom trúng tàu khu trục Hibi đang thực hiện nhiệm vụ pháo kích Đồng Hới.

    Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam còn bị tổn thất bởi chính những người đồng đội Phòng không của mình. Do số lượng máy bay Việt Nam rất ít, ngay trong không chiến, giữa đông đảo các máy bay của đối phương, các MiG cũng rất dễ bị lạc đạn trong lưới lửa phòng không Việt Nam. Ngoài ra, do ít thông tin, những người lính phòng không còn bắn nhầm trong nhiều trường hợp đáng tiếc. Ngoài trường hợp 3 máy bay MiG bị rơi, được cho là bị đạn cao xạ bắn nhầm ngày 4 tháng 4 năm 1965, tài liệu phía Việt Nam ghi nhận một trường hợp 2 MiG bị bắn rơi bở tên lửa Việt Nam làm 1 phi công chết, 1 bị thương nặng. Ngoài ra, sự yếu kém do thiếu kinh nghiệm cũng làm phía Việt Nam mất nhiều phi công trẻ và máy bay, có lúc làm cho lực lượng không quân Việt Nam gần như tê liệt.

    Tuy nhiên, các phi công Việt Nam đã thể hiện sự dũng cảm và sáng tạo của họ trong cả hai phương diện chiến thuật và kỹ thuật, làm kinh ngạc đối phương. Trong suốt các cuộc không chiến giữa không quân Việt Nam với quân đội Mỹ, phía Việt Nam có 16 phi công đạt đẳng cấp "Ách" (tức đã bắn hạ được từ 5 máy bay đối phương trở lên), trong đó người cao nhất là phi công MiG-21 Nguyễn Văn Cốc đã bắn hạ 9 máy bay Mỹ. Một phi công huyền thoại khác là Nguyễn Văn Bảy, phi công MiG-17, cũng đã bắn hạ 7 máy bay Mỹ. Trong khi đó, chỉ có 3 nhóm phi công Mỹ đạt đẳng cấp "Ách" (đều là F-4) và người cao nhất là Hoa tiêu, Đại úy Không quân Chuck E. DeBellevue đã bắn hạ được 6 máy bay. Hai tổ lái còn lại là tổ lái của Ritchie Richard (phi công) và Feinstein Jeffrey S. (hoa tiêu) của Không quân và tổ lái Cunningham Randolph (phi công) và Driscoll William (hoa tiêu) của Hải quân, đều hạ 5 chiếc.


    MiG-21 F94 số 5020 của Đoàn 927 Không quân Nhân dân Việt Nam đã được nhiều anh hùng lục lượng vũ trang Việt Nam lái trong thời gian Chiến tranh Việt Nam.

    Các phi công Mỹ còn lưu truyền về một phi công MiG-17 được họ gọi bằng biệt hiệu Đại tá Toon (hay Tomb) với số lần bắn hạ đối phương là 13 lần, về sau bị một "Ách" của Hải quân Hoa Kỳ là Đại úy Randy "Duke" Cunningham bắn rơi. Một số người cho rằng đây là phi công Đinh Tôn, tuy nhiên Đinh Tôn lại lái chiếc MiG-21 và không được xếp vào nhóm "Ách". Trên thực tế, phía Việt Nam không đưa các phi công có cấp bậc Thiếu tá trở lên để tham gia không chiến. Sau này, Đại tá Toon được xác nhận là một nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, Đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những "nghệ sỹ sôlô" ném bom đơn độc ban đêm trong Thế chiến thứ hai được gọi là "máy giặt Charlie"

    Lực lượng không quân Việt Nam hiện nay
    Nguồn: http://www8.ttvnol.com/forum/gdqp/910000.ttvn
    - KQNDVN có 3 vạn người,biên chế thành 3 sư đoàn : B70 : Lê Lợi, B71 : Thăng Long, B72 : Hải Vân. 2 đoàn công kích,2 đoàn tiêm kích,3 đoàn vận tải,3 đoàn huấn luyện,4 lữ đoàn cao pháo,6 lữ rada,hơn 100 trận địa rada,66 trận địa tên lửa không đối không.
    - Máy bay Tiêm Kích &Cường kích : 70 chiếc Su 22(hiện đã mua thêm một số lượng khá SU22 của Balan, chất lượng còn khá tốt),12 chiếc Su27,4 chiếc Su 30
    - Máy bay Tiêm Kích : 124 bis Mig 21(có nguồn cho rằng chúng ta có 200 Mig21)
    - trực thăng vũ trang: 26 chiếc Mi 24
    - Trinh sát biển: 4 chiếc Be ( không biết viết đúng không )12
    - CHống ngầm: 3 chiếc Ka 25,10 chiếc Ka 28, 2 chiếc Ka 32
    Trắc lường: 2 chiếc AN 30
    - Vận tải: 12 chiếc AN 2, 12 chiếc AN 26, 4 chiếc YAK 40, 4 chiếc Mi6, 30 chiếc Mi8,Mi17
    - Huấn luyện: 18 chiếc L39, 10 chiếc YAK18,10 chiếc BT6,và một vài chiếc MIg 21U
    - Tên lửa không đối không: AA-2,AA-8,AA-10...
    -Tên lửa không đối đất: AS-9...
    -Tên lửa đất đối không:SA-2/-3/-6/-7/16.. S300PMu
    -Pháo phòng không: 37mm,57mm,85mm,100mm,130mm...
    -Rada cảnh bị : khoảng 1000 bộ.

    Trong tương lai có thể có thêm số lượng khá lớn trực thăng UH1 được đưa vào trang bị , và số lượng máy bay Tiêm kích &Cường kích có thể tăng lên cùng chất lượng vì Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm buôn bán vũ khí với VN, có thể còn xa vời nhưng đấy cũng là một thuận lợi cho Không Quân Việt Nam

    Trực thăng MI-24



  3. Thanks toiyeuvietnambmt thanked for this post
    Likes ganlam_truongsa_oi liked this post
  4. #23
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Không quân Việt Nam










    Mig-21






    Ka-25




    Anh hùng Phạm Tuân

  5. #24
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Cảnh sát đặc nhiệm VN
















  6. #25
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tình báo Việt Nam

    Khác với các nước có bộ máy tình báo gián điệp hiện đại được nhà nước công khai như FSB của Nga, CIA của Mỹ, MI-5 của Anh... Tình báo Việt Nam vẫn chưa được nhà nước chính thức công khai hoạt động, tuy ít được nhắc đến, nhưng không phải là không có. Từ trước những năm 1975, tình báo VN đã lập được nhiều chiến công lẫy lừng, xuất sắc, góp phần vào sự chiến thắng của miền bắc XHCN trước đế quốc Mỹ, và VNCH.

    Những nhà tình báo hoạt động xuất sắc như Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) dưới vỏ bọc phóng viên của tạp chí Times (Mỹ), đã hoạt động không hề bị lộ, cho đến ngày giải phóng, Vũ Ngọc Nha (Hai Long) đã giành được sự tin tưởng tuyệt đối từ Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu, giữ những chức vụ cao nhất trong VNCH cho đến khi bị bại lộ năm 1969, Phạm Ngọc Thảo (Chín Thảo) thành viên chủ chốt trong 2 cuộc đảo chính bất thành ở Việt Nam Cộng hòa vào những năm 1964–1965.... những người mà tình tiết về cuộc đời sóng gió của họ có thể đủ để dựng thành phim hay tiểu thuyết.

    Tình báo Việt Nam hiện nay, tuy vẫn vẫn chưa được nhà nước công khai, nhưng những tin tức tình báo về các tổ chức phản động ở nước ngoài như Việt Tân, Việt Nam Tự Do mà các hoạt động, hành động của chúng đều bị ta biết trước và kịp thời ngăn chặn. Chứng tỏ tình báo Việt Nam tổ chức phản gián, nằm vùng rất hiệu quả.

    Bài chi tiết trên wikipedia:
    Phạm Xuân Ẩn
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A ... %E1%BA%A8n
    Vũ Ngọc Nhạ
    http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ng ... h%E1%BA%A1
    Phạm Ngọc Thảo
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A ... %E1%BA%A3o


    Phạm Xuân Ẩn


    Phạm Ngoc Thảo


    Vũ Ngọc Nhạ (thứ hai từ trái sang) trong buổi chuẩn bị đón Phó Tổng thống Mỹ Johnson sang thăm Sài Gòn tháng 5-1961.


    Với Trần Lệ Xuân, con gái Ngô Đình Lệ Thủy


    Bút tích của Hồng y Spellman trong lần trao đổi với cố vấn Vũ Ngọc Nhạ về vị trí của Thiệu - Kỳ trong chính quyền Sài Gòn.


    Thư của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi cố vấn Vũ Ngọc Nhạ.


  7. Thanks ganlam_truongsa_oi thanked for this post
  8. #26
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Các loại vũ khí của VN

    Vũ khí của Việt Nam hiện nay, ngoài các loại vũ khí do LX, TQ và các nước XHCN viện trợ trước đây, còn có 1 lượng lớn vũ khí của VNCH do Mỹ viện trợ để lại.


    Ak-47


    M-16 (gần 1 triệu khẩu của VNCH để lại)


    Ak-M




    Tokarev TT (K-54)


    Makarov PM (K-59)


    MAT-49


    PPS-43 (K-53)


    SVD Dragunov


    Mosin-Nagant (K-44)


    SVT-40


    SKS (CKC)


    DPM


    Bren


    RPD


    RPK






    M-60


    Lựu đạn F1


    Lựu đạn RGD-33


    Lựu đạn RG-42


    Súng phóng lựu M-79


    Súng phóng lựu chống tăng RPG-2 (B-40)


    Súng phóng lựu chống tăng RPG-7 (B41)


    Súng phun lửa LPO-50


    Đại liên SG-43 7,62mm (K-53)


    Đại liên DShKM 12,7mm (K-63)


    Đại liên ZU-23 23mm


    Đại liên Browning M1919 .30cal


    Đại liên Browning M2HB .50cal


    Súng cối M-1 60mm


    Súng cối M-2 81mm


    Súng không giật M-18 57mm


    Súng không giật B-10 82mm


    Súng không giật M-20 75mm


    Pháo phản lực ĐKZB


    Pháo phản lực BM-14-16/17 140mm


    Pháo phản lực Type-63 107mm


    Tên lửa chống tăng có điều khiển AT-3 Sagger (B-72)


    Pháo M-46 130mm


    Pháo M-1 155mm


    Pháo M-30 122mm

  9. Likes ngochua liked this post
  10. #27
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Các loại vũ khí của VN (tt)

    Nguồn:
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%8 ... BB%87t_Nam
    http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_l ... BB%87t_Nam

    Xe tăng


    T-34/85


    T-54/55


    Type-59 (T-59)


    Xe tăng lội nước PT-76


    Xe tăng lội nước Type-63 (PT-85 hoặc K-63-85)


    M24 Chaffee


    M41 Walker Bulldog


    M48 Patton

    Thiết giáp


    Pháo tự hành ASU-76


    BMP-1


    BTR-50


    BTR-60


    BTR-152


    Type-63 (K-63)



    M-113


    Pháo phòng không tự hành ZSU-57-2


    Pháo phòng không tự hành ZSU-23-4

    Máy bay


    MiG-21 Fishbed


    MiG-19 Farmmer


    MiG-17 Fresco


    AN-2


    Mi-8



    Trực thăng UH-1

  11. #28
    DuLong Guest

    Re: Tiềm lực quân sự VN trong thời đại mới

    Mình thấy trong danh sách súng của bạn có các loại như MAT-49, PPS-43, Mosin, Bren. Theo mình được biết các loại này vồn đã được quân Đồng Minh và Liên Xô sử dụng rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ 2. Riêng về khẩu PPS-43 thì mình được biết từ những năm 50 Liên Xô đã chuyển sang sử dụng AK để thay thế. Những khẩu này ít ra cũng 50 năm tuổi rồi, bây giờ may ra thì tìm thấy trong viện bảo tàng chứ làm gì còn ai sử dụng nữa nhỉ?

  12. #29
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Re: Tiềm lực quân sự VN trong thời đại mới

    Trích dẫn Nguyên văn bởi DuLong
    Mình thấy trong danh sách súng của bạn có các loại như MAT-49, PPS-43, Mosin, Bren. Theo mình được biết các loại này vồn đã được quân Đồng Minh và Liên Xô sử dụng rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ 2. Riêng về khẩu PPS-43 thì mình được biết từ những năm 50 Liên Xô đã chuyển sang sử dụng AK để thay thế. Những khẩu này ít ra cũng 50 năm tuổi rồi, bây giờ may ra thì tìm thấy trong viện bảo tàng chứ làm gì còn ai sử dụng nữa nhỉ?
    Súng Mosin-Nagant là loại súng bắn tỉa đáng gờm của Liên Xô trong chiến tranh TG 2, ai đã từng chơi game Call of duty 1 & 2 thì sẽ biết được sự lợi hại của loại súng này Tuy nhiên, cũng không phủ nhận trong danh sách cũng có vài loại súng đã lỗi thời không còn sánh kịp với hỏa lực đối phương, thì chỉ còn mang ý nghĩa tham khảo thồi. Chúc các bác vui khi xem topic này.

    Tham khảo thêm về thông tin các loại súng:
    http://vndefence.info/modules.php?name= ... topic&t=76

  13. #30
    Ngày gia nhập
    Dec 2007
    Bài gửi
    63
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Tiềm lực quân sự VN trong thời đại mới (P.2)

    Nguồn: http://www.vndefence.info

    Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp

    Ngày 5 tháng 10 năm 1959, trung đoàn xe tăng đầu tiên, Trung đoàn 202, trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, được thành lập. Ngày này nay đã trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp.
    Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Bộ Tư lệnh Thiết giáp được thành lập, đánh dấu sự ra đời của một binh chủng mới trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời thành lập trung đoàn xe tăng 203. Quyền Tư lệnh đầu tiên: Đào Huy Vũ (1965-1970), Chính ủy đầu tiên: Lê Ngọc Quang.
    Ngày 18 tháng 11 năm 1971, thành lập trung đoàn xe tăng 201.
    Từ năm 1973 trở đi, thành lập các trung đoàn, lữ đoàn xe tăng trực thuộc các quân đoàn, quân khu.
    Trang thiết bị
    Binh chủng Tăng - Thiết giáp được trang bị các loại xe chiến đấu sau :
    Xe tăng chủ lực (MBT) T-54/55, T-62 của Liên Xô; T-59 (Type-59) của Trung Quốc. Đang đặt mua 120 T-72.
    Xe tăng lội nước PT-76 của Nga; PT-85 hay K-63-85 (Type-63) của Trung Quốc.
    Xe thiết giáp chiến đấu của bộ binh BMP-1/2 của Nga.
    Xe thiết giáp trinh sát BRDM-1/2 của Nga.
    Xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152 của Nga; M-113, M114 của Mỹ; K-63 (Type-63) của Trung Quốc.

    Trang bị lực lượng Tăng – thiết giáp Việt Nam

    Vào năm 1952 một vài cán bộ Việt Minh được cử qua Trung Quốc để học về binh chủng tăng-thiết giáp, tuy nhiên họ không được dùng để xây dựng lực lượng thiết giáp mà được giao nhiệm nghiên cứu chiến thuật chống lại xe tăng pháp là chủ yếu vì Việt Minh lúc đó chưa có điều kiện thành lập binh chủng thiết giáp
    Sau trận Điện Biên Phủ Việt Minh thu được ít nhất là 2 xe tăng M-24 còn dùng được. Tuy vậy chúng không dùng để chiến đấu mà dùng làm công tác tuyên truyền.

    QDNĐVN được trang bị lại và phát triển vượt bậc vào những năm 1955-1960. Để tăng cường khả năng bảo vệ miền Bắc XHCN, ta nhận thấy rằng việc xây dựng lực lượng thiết giáp là rất cần thiết. Vào năm 1956 một đại đội thiết giáp được thành lập, được trang bị xe thiết giáp M-8 và M-3 của Mỹ (có lẽ xe chiến lợi phẩm của Pháp). Lực lượng thiết giáp này được biên chế thành những trung đội bảo vệ sân bay. Bên cạnh đó QDNĐVN cũng tăng cường lực lượng chống tăng bằng các tiểu đoàn pháo chống tăng của Nga (57mm) và Đức (PAK 40 75 mm)

    Trung đoàn xe tăng đầu tiên được thành lập vào ngày 5/10/1959 –trung đoàn 202. Trung đoàn này được trang bị 35 xe tăng T-34-85 và 16 xe SU-76. Vào năm 1964 trung đoàn 202 có 3 tiểu đoàn được trang bị thêm xe tăng T-54 và PT-76. Lúc này lực lượng tăng thiết giáp miền Bắc có khoảng 100 xe. Một ban nghiên cứu thiết giáp được thành lập vào năm 1965 để tìm ra cách đánh bằng tăng – thiết giáp.

    Chỉ với khoảng 100 xe tăng trong tay, QDNĐVN không chủ trương sử dụng xe tăng trong các trận đánh lớn, mà chủ yếu là bảo vệ các vị trí quan trọng và tránh thương vong cho bộ binh trong phòng thủ.

    Vì không được không quân yểm trợ nên Tăng Việt nam chú trọng vào ngụy trang, điều đó được chứng minh trong các trận đánh sau này nhiều tiểu đoàn Tăng miền Bắc di chuyển hàng trăm km mà không bị phát hiện.

    Vào năm 1962, những thành phần nòng cốt của trung đoàn 202 đã vào Trung ương cục miền Nam làm cố vấn về tăng – thiết giáp nhằm xây dựng lực lượng thiết giáp tại miền nam. Nhưng lại không mang theo chiếc xe nào. Lúc này quân GPMN được trang bị B-40 và B-41 thay thế cho Bazooka và súng 75 mm nặng nề, kết quả là tổn thất của Mỹ – Ngụy tăng lên đáng kể

    Xe tăng Việt Nam thực sự tham chiến ở Lào vào năm 1967 khi 2 đại đội PT-76 được gửi đến đó. Lúc này Bắc Việt có thêm xe thiết giáp BTR-50K

    Vào ngày 26/1/1968 Đại đội 3 PT-76 tấn công căn cứ Tà Mây của trung đoàn 24 Ngụy, quân Ngụy hoàn toàn tan vỡ. Thừa thắng lực lượng tăng PT-76 áp sát căn cứ Làng Vây của Mỹ. Trong trận này có 16 tăng PT-76 cùng 500 quân giải phóng đã tấn công Làng Vây. Đây là lần đầu tiên quân Mỹ đối đầu với lực lượng thiết giáp Bắc Việt. Cuối cùng Làng Vây thất thủ sau vài ngày giao tranh. Chỉ có một ít quân Mỹ - Ngụy mở đường máu thoát về được Khe Sanh. Quân giải phóng mất 6 xe tăng mặc dù bị máy bay và pháo oanh kích. Lực lượng bộ binh được thiết giáp che chở nên ít tổn thất, tỉ lệ thương vong là 1-6 so với quân Mỹ -Ngụy. Sau trận này Mỹ chỉ gặp thiết giáp giải phóng vài lần.

    Vào năm 1968 Mỹ có một trận tăng đấu tăng vói quân Bắc Việt tại sông Bến Hải, quân giải phóng mất 2 PT-76 và 1 BTR-50 trong trận này. Vào thời gian này Bắc Việt có khoảng 60 T-54, 50 T34-85 và 300 PT-76. thiết giáp gồm có BTR-40, BTR-152 và BTR-50.
    Năm 1970-1971 Liên Xô và Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam các loại tăng mới như T-54B, thêm một số PT-76, Tăng Trung Quốc T-59 và thiết giáp T-63

    Vào năm 1973, Việt Nam được trang bị thêm xe phòng không ZSU-23

    Đến năm 1975 Quân giải phóng có khoảng 1000 tăng thiết giáp bao gồm rất nhiều xe tăng-thiết giáp chiến lợi phẩm của Ngụy gần như còn nguyên vẹn. Các loại tăng – thiết giáp của Ngụy là M-41, M-48 và M-113. Trong đó xe M-113 còn được dùng cho đến tận ngày nay, còn xe M-41 và M-48 không thấy sử dụng nữa, có lẽ do thiếu phụ tùng thay thế hay do tính năng không phù hợp với bộ đội Việt Nam vốn đã quen với dòng xe tăng T-54/55 và T-59?

    Một số xe tăng thiết giáp đỉển hình của QDNDVN qua các thời kỳ







    Xe tăng chủ lực T-54

    Tương tự như súng AK, dòng tăng T-54 là dòng xe tăng phổ biến nhất trên thế giới, cho đến đầu thế kỷ 21 rất nhiều nước trên thế giới vẫn còn dùng T-54/55 và vẫn còn tiếp tục cải tiến. Việt Nam là nước sử dụng T-54 từ rất sớm khi nó còn là một trong những xe tăng chủ lực đáng gờm nhất trên thế giới.
    T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).



    Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II.

    T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan.









    Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Syria năm 1970, nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970, T-54 tham chiến ở Việt Nam, Cambodia và Uganda.

    Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.

    KHẢ NĂNG

    T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động, một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa, tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước, có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.

    Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm”, áo giáp bán nguyệt lắp thêm, có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE).

    Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn, động cơ tốt hơn, xích bằng các miếng cao su, và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS, ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển, và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư, Marconi Digital FCS của Anh, SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên, được gọi là Drozd, được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980, và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối), được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo, hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng, và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.




    NHỮNG HẠN CHẾ

    T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại, vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính, gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính, không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu, nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái, dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn, thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính, vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn, và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái, chỉ huy, và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc, họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1,4m (5,5m với ống thông hơi). Tuy nhiên, có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được, và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.

    CÁC BIẾN THỂ


    Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.

    * T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).

    * T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
    * T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.

    * T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.

    * T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.

    * T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.

    * T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ, và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm, nhưng ở vị trí khác với T54.

    * T-55AM có thêm vỏ yếm, một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG

    * T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
    * T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
    * T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.
    * T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
    * T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.

    T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.



    Tăng lội nước PT-76



    Thông số kỹ thuật
    Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ
    Nước Sản xuất:Liên Xô
    Nặng: 14 tấn với PT-76
    15,4 tấn với PT-76B
    Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m
    Cao: 2,26 m
    Rộng: 3,15m
    Tổ lái: 3 người
    Giáp trước : dày nhất 14mm
    Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm
    Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên
    1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT
    Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
    Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước
    Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước

    Địa hình nước ta từ Nam chí Bắc phần lớn là rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích , xét về mặt địa thế hoàn toàn ko thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp .
    Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng ko thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn , đặc biệt là ko thích hợp cho các loại tăng lớn, nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967, cuộc hành quân Juinction City, quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp , trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48, kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam . Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40, mìn ch61ng tăng..).Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh.

    Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình , phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên 1 địa hình hoàn tòan ko phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam, các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao, trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh, tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh, Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử, hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.
    Sau đây Website vndefence lần lượt xin cung cấp thông tin về các loại tăng thiết giáp mà QDND Việt Nam hiện đang sử dụng



    PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô, mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà ko cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác( T34,T54) . Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang ko đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet , các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX.Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu, có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm với tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người , PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt,phẳng , có hình dáng như mũi tàu .Xích xe có 6 bánh chạy và ko có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt ,nằm trên vị trí bánh thứ 2,3,4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn, cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính .

    PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw .Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1, BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát, bộ binh hạng nhẹ,và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát, nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng nên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển.Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km, hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km.Súng chính 76mm, bắn đạn HVAP HEAT, đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ , APC( xe bọc thép).PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy, cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.

    Như hầu hết các loại xe tăng của Liên Xô Sản xuất, PT-76 bị hạn chế khả năng hạ thấp súng chính và vì thế nên gây trở ngại cho việc bắn tỉa từ khu đất cao.Kiểu thiết kế lội nước của PT-76 làm kích thước của nó lớn ko cần thiết đối với trọng lượng cùa dòng tăng hạng nhẹ dẫn đến làm giảm vỏ thép bảo vệ của nó mỏng hơn các loại tăng hạng nhẹ khác. Chính vì lớp giáp tương đối mỏng cùa PT-76 làm nó rất dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn pháo và bởi đạn .50 cal(12,7x99mm).Thêm vào đó,chỉ huy vừa là xạ thủ đồng thời vừa là người điều khiển Radio , điều này làm hạn chế khả năng quan sát của anh ta. PT-76 cũng bị tụt hậu so với các thế hệ xe cơ giới chiến đấu của Liên Xô bởi ko có thiết bị quan sát ban đêm và hệ thống bảo vệ NBC( hệ thống bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học) cho tổ lái.

    Trong chiến tranh Việt Nam, PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây, Khe Sanh, dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây, PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu, yểm trợ bộ binh xung phong , làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh , gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt, 7 lính Mỹ chết), tuy nhiên phe QđND VN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi, tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐ ND VN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng, PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3 /1969 gần biên giới Lào, trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào Qđ NDVN thời nay , trang bị cho các đơn vị thiết giáp , bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.




Tags for this Thread

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •