Trang 270 trong 297 Đầu tiênĐầu tiên ... 170220260268269270271272280 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 2.691 tới 2.700 trên 2965
  1. #2691
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    [QNCBĐ] Chuyên gia Trung Quốc viết về ý nghĩa chiến lược của việc lập thành phố Tam Sa

    Ngày 25/6, tờ “Thời báo Hoàn Cầu” (Trung Quốc) đăng bài viết “Dùng hành động thực tế giáo huấn Việt Nam” của Úc Chí Vinh, chuyên viên của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hải dương Trung Quốc. Tác giả cho rằng, việc Trung Quốc hủy bỏ Văn phòng quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa thành lập từ năm 1959 đến nay đồng thời phê chuẩn thành lập thành phố Tam Sa (thành phố cấp địa khu), có ý nghĩa chiến lược đặc thù và có tầm ảnh hưởng sâu rộng.
    Theo chuyên gia Úc Chí Vinh, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa sẽ có lợi cho việc tăng cường quản lý hành chính đối với 3 quần đảo nói trên và vùng biển phụ cận. Rất nhiều đảo và quần đảo của tỉnh Hải Nam, không những có khoảng cách xa đại lục mà còn nằm phân tán rải rác và do các cơ quan quản lý hành chính ở mức thấp phụ trách. Bằng việc thành lập Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa trước đây, Trung Quốc muốn quản lý hiệu quả các quần đảo và vùng biển phụ cận tại Nam Hải (Biển Đông). Tuy nhiên, hoạt động của văn phòng này gặp nhiều khó khăn do cơ quan quản lý ở cấp bậc thấp, quyền lực hạn chế và nhân lực ít. Khi thực hiện nhiệm vụ lớn, phải xin chỉ thị nhiều cấp, vì vậy qua 50 năm thành lập, thực tiễn cho thấy Văn phòng hoạt động không hiệu quả. Với quyết định thành lập thành phố Tam Sa lần này, Trung Quốc muốn nâng cao cấp bậc, mở rộng quy mô, hỗ trợ tăng cường quản lý hành chính các quần đảo và vùng biển phụ cận tại Biển Đông.

    hiện nay Việt Nam thách thức Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, vì vậy tác giả kiến nghị Chính phủ Trung Quốc cần dùng hành động thực tế để giáo huấn Việt Nam, cho Việt Nam biết sự nhẫn nại của Trung Quốc là có giới hạn.


    Chuyên gia Úc Chí Vinh cũng cho rằng, việc thành lập thành phố Tam Sa sẽ giúp Trung Quốc tăng cường bảo vệ quyền lợi Biển Đông. Thành phố Tam Sa trở thành cơ quan cấp một của chính quyền địa phương, mặc dù không thể thay đổi tình hình hiện nay, nhưng động thái này có thể hóa giải "chiến thuật bầy sói" của một số quốc gia Đông Nam Á đang từng bước xâm chiếm Biển Đông.
    Sau khi thành lập thành phố Tam Sa, có thể phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền địa phương trong phương diện duy trì chủ quyền biển tại Biển Đông. Tăng cường điều tra cụ thể đối với các đảo và vùng biển phụ cận, từng bước nghiên cứu về lịch sử và pháp luật, thu thập có hệ thống và toàn diện chứng cứ, nhằm cung cấp luận chứng chứng minh các quần đảo tại Biển Đông thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Phối hợp với nhà nước thông qua kênh ngoại giao tiến hành giao thiệp và đàm phán chính trị với các nước, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, tổ chức lực lượng phối hợp với các bộ ngành trung ương tiến hành điều tra chi tiết đối với các đảo do các nước, trong đó có Việt Nam, chiếm lĩnh, đề xuất ý tưởng và phương án giải quyết vấn đề, kiềm chế tình hình xấu nảy sinh và phát triển.
    Hiện nay, việc bảo vệ chủ quyền khu vực Biển Đông của Trung Quốc được phân chia thành nhiều đầu mối. Thành phố mới thành lập Tam Sa phải nắm chắc trọng điểm, nội dung quan trọng và từng vấn đề điểm nóng, để có hướng ưu tiên xử lý, giải quyết từng vấn đề. Hiện nay, mũi nhọn và đối tượng chủ yếu nên nhằm vào Việt Nam. Lý do là gần đây, Việt Nam xâm phạm quyền lợi biển của Trung Quốc như cố ý cử sư sãi ra đảo; xâm nhập vũ trang vào khu vực phụ cận đảo Thái Bình (Ba Bình); tiến hành tuần tra, giám sát quần đảo Nam Sa bằng máy bay chiến đấu Su-27 và tuyên bố sẽ thực hiện bình thường hóa hoạt động này; đáng quan tâm hơn, Việt Nam còn cho tàu chiến Mỹ cập cảng Cam Ranh.
    Úc Chí Vinh khẳng định, công tác chuẩn bị thành lập thành phố Tam Sa của Trung Quốc đã được hoàn tất vài năm trước đây, nhưng lưu ý đến phía Việt Nam nên chưa công bố. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam thách thức Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, vì vậy tác giả kiến nghị Chính phủ Trung Quốc cần dùng hành động thực tế để giáo huấn Việt Nam, cho Việt Nam biết sự nhẫn nại của Trung Quốc là có giới hạn.
    Ngoài các vấn đề trên, tác giả còn cho biết, việc thành lập thành phố Tam Sa còn giúp Trung Quốc phát huy vai trò tích cực trong việc đẩy mạnh khai thác, sử dụng vùng Biển Đông, bảo vệ môi trường biển, an ninh quốc phòng và phòng chống thiên tai biển.

    QNCBĐ
    Sửa bởi anh2 : 27-06-2012 lúc 09:06 AM

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  2. Thanks anhyeuem đã cám ơn bài viết
    Likes svvietnam91 đã thích bài viết này
  3. #2692
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    Dư luận Trung Quốc về Luật biển Việt Nam

    Một số bài viết phân tích, bình luận và những ý kiến bày tỏ quan điểm, thái độ liên quan đến vấn đề Quốc hội Việt Nam vừa thông qua “Luật biển Việt Nam” hiện đang lưu hành trên một số mạng như mạng Sina, mạng Tài chính (JRJ.com), mạng Baidu và các mạng địa phương… ở Trung Quốc. Dưới đây là các bài và ý kiến thể hiện như sau:
    I- Bài viết của “một thượng tá”, cho rằng tiếp theo sau việc bốn nước Việt Nam, Philíppin, Inđônêxia và Malaixia thành lập cái gọi là cơ chế “chống đánh bắt trộm” để đối phó với các ngư dân Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông), ngày 21/6 Quốc hội Việt Nam đã thông qua “Luật biển Việt Nam”, đưa các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) vào trong phạm vi của cái gọi là “chủ quyền” và “quyền quản lý” của Việt Nam. Cùng ngày Chính phủ Trung Quốc đã có phản ứng mạnh mẽ, ngoài việc Bộ Ngoại giao ra tuyên bố công khai một cách hiếm thấy, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao khi trả lời câu hỏi của các phóng viên cũng đã khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Tây Sa và Nam Sa, đồng thời Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân đã triệu kiến Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ để bày tỏ sự bất bình và phản đối mạnh mẽ trước việc Việt Nam đưa tranh chấp Nam Hải vào làm luật, tái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo nói trên.
    Bài viết dẫn tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản ngày 21/6 có tựa đề “Nhật Bản cần noi theo cách ngoại giao của Việt Nam”, cổ vũ chính phủ học tập phương thức ngoại giao đối với Trung Quốc của Việt Nam, tăng cường liên kết với Mỹ, Nga, Ấn Độ, áp dụng sách lược “vừa cứng vừa mềm” đối với Trung Quốc để thắng điểm trong vấn đề đảo Điếu Ngư. Bài viết cổ vũ rằng “trong vấn đề Nam Hải, Việt Nam luôn áp dụng phương thức ‘ngoại giao nhiều góc độ’ với Trung Quốc, Chính quyền Noda sao lại không học hỏi ‘trí tuệ’ ngoại giao của Việt Nam?”
    Thông qua việc báo chí Nhật Bản đề cao trí tuệ của Việt Nam không thua Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, coi đó như một hình mẫu đối với Nhật Bản, bài báo cho rằng Việt Nam đã phát huy vai trò hết sức tai hại trong việc chiếm cứ các bãi đảo và vùng biển của Trung Quốc ở Nam Hải bằng phương pháp vừa cứng vừa mềm, vì thế việc Việt Nam đưa vấn đề chiếm Nam Hải vào làm luật là việc đã hết sức nghiêm trọng, tuyệt đối không thể chờ đợi ngồi nhìn. Trung Quốc chỉ có thể đưa quân đánh, giải quyết triệt để tình hình khủng hoảng ở Nam Hải.
    Bộ Ngoại giao nước ta (Trung Quốc) tuy đã phát đi tiếng nói cứng rắn, nhưng đó là việc làm thường ngày không có tác dụng gì, người nước ta và Việt Nam đều đã nghe quen đến nhàm chán, nực cười. Trung Quốc đã luôn tận tình khuyên bảo Việt Nam trở lại đàm phán hòa bình để giải quyết tranh chấp, nhưng chúng ta cũng không được quên rằng Bộ Ngoại giao Việt Nam đã từng tổ chức họp báo, nói sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ toàn vẹn lãnh hải của họ, cho biết tàu hải giám Trung Quốc hoạt động ở Nam Hải là “xâm phạm chủ quyền của Việt Nam”, quân đội Việt Nam lại càng lớn tiếng quyết chiến một trận với Trung Quốc bằng mọi giá.
    Theo bài viết này, tranh chấp chủ quyền Nam Hải càng ngày càng phức tạp, Trung Quốc tuy ngày càng cứng rắn hơn trong tranh chấp chủ quyền Nam Hải, Quốc vụ viện cuối cùng đã phê chuẩn cho thành lập thành phố Tam Sa cấp địa khu để quản lý các quần đảo Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và vùng biển thuộc các quần đảo này, củng cố chủ quyền đối với các quần đảo đó nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề.
    Người viết bài này cho rằng trước mắt cần đặt trọng tâm đấu tranh vào nước chiếm nhiều đảo của Trung Quốc nhất, dã tâm lớn nhất. Việt Nam đã làm luật về Nam Hải, giữ thái độ cố chiếm ngang ngược, hô hào có cuộc chiến với Trung Quốc bằng mọi giá, Trung Quốc sao có thể sợ một cuộc chơi của Việt Nam như vậy?
    Việt Nam đã kêu gào “một cuộc chơi” với Trung Quốc, lại còn ba hoa “lục quân Việt Nam có thể đánh tới tận Bắc Kinh”, vậy nhân khi Mỹ chưa hoàn thành bố trí quân sự đến Nam Hải, sao chúng ta lại không dứt khoát chiều theo hành động của Việt Nam, đánh một trận nên thân để thu hồi chủ quyền Nam Hải, cũng chỉ có một trận đánh nên thân như vậy mới có thể phá vỡ được cục diện bế tắc ở Nam Hải!
    Cùng với tranh chấp Nam Hải mỗi ngày một quyết liệt, ngày càng quốc tế hóa, ai trên thế giới cũng đều biết nước có ảnh hưởng lớn nhất đối với chủ quyền của Trung Quốc, chiếm nhiều đảo nhất, có dã tâm lớn nhất đối với Trung Quốc ở Nam Hải chính là Việt Nam. Tình hình Nam Hải đã cực kỳ nghiêm trọng, đất nước không thể tiếp tục nhắm mắt làm ngơ mãi, không thể giấu mình chờ thời phiến diện mãi mà phải tiếp tục chống lại cách xử sự ba phải, “hòa cả làng” tự làm tê liệt mình.
    Bài viết cho rằng đánh Việt Nam phá vỡ bế tắc ở Nam Hải là sách lược đấu tranh đúng đắn hiện nay đối với Trung Quốc. Trong hoàn cảnh nguy cơ Nam Hải ngày một quyết liệt, các nước Nam Hải ngày càng coi trời bằng vung, cần phải theo bài học xưa bắt đạo tặc phải truy bắt kẻ cầm đầu, giữ vững cuộc đấu tranh chống xâm chiếm của Việt Nam, phối hợp với lực lượng hùng mạnh hải quân và không quân bằng thái độ cứng rắn và biện pháp mạnh, áp dụng chiến thuật phức hợp để thu phục, bảo vệ, kiên quyết thu hồi chủ quyền.
    Phải thông qua tấn công Việt Nam để phá hủy phòng tuyến tâm lý của các nước khác, thu lại hết lãnh thổ, lãnh hải và chủ quyền. Trung Quốc cần phải coi Việt Nam là đối tượng đấu tranh chủ yếu ở Nam Hải, không sợ cái gọi là ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị Trung-Việt, không sợ kích động Việt Nam, mà chính là phải đánh mạnh Việt Nam để bắt Ngưu Ma Vương. Trước mắt chúng ta phải cứng rắn lên, phải từ bỏ hoặc gác lại nguyên tắc gọi là “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”. Nam Hải khói lửa chiến tranh đã bốn bề, đích xác đã nổi lên rõ “tập đoàn Nam Sa”, những nước xâm chiếm Nam Hải của Trung Quốc chỉ lòe bịp lừa người, dựa vào thế lực cường quốc bên ngoài để dọa Trung Quốc, mở rộng mua bán vũ khí, xây dựng lực lượng không quân hải quân hòng chiếm vĩnh viễn Nam Hải. Tình hình như vậy đã đến lúc nguy hiểm nhất.
    Bài viết kết luận trong bối cảnh chung nói trên, Việt Nam là kẻ thù chính đầu tiên đối với chủ quyền Trung Quốc ở Nam Hải, cộng thêm lần làm luật này về Nam Hải, mức độ nghiêm trọng của vấn đề là ở chỗ Trung Quốc đã không còn đường lùi, Việt Nam thông qua lập pháp đã bức Trung Quốc chỉ có thể sử dụng vũ lực để đánh. Biện pháp tốt nhất để Trung Quốc loại bỏ nguy cơ hiện nay là thực hiện chiến thuật “bắt cướp phải bắt đầu đảng trước”, răn đe những tên đạo tặc nhỏ khác, giải quyết triệt để nguy cơ. Chỉ có kiên quyết đánh mạnh Việt Nam thì chủ quyền Nam Hải mới thu về được, mới có được vốn liếng để đàm phán ngoại giao.
    II- Bài trên“Diễn đàn cường quốc” ngày 23/6/2012, có tựa đề “Quốc hội Việt Nam tuyên bố thông qua luật biển sẽ buộc Trung Quốc phải sử dụng vũ lực ở Nam Hải?”, nội dung như sau:
    Ngày 21/6/2012, Quốc hội Việt Nam thông qua luật biển, đưa các quần đảo Tây Sa, Nam Sa vào trong phạm vi của cái gọi là “chủ quyền” và “quyền quản lý” của Việt Nam . Cùng ngày, Chính phủ Trung Quốc lập tức có phản ứng quyết liệt, cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên thông qua luật tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển tranh chấp ở Nam Hải, ngoài Trung Quốc.
    Việt Nam chọn thời điểm như hiện nay để đưa vấn đề chủ quyền vào lập pháp, có thể nói là đã qua quá trình cân nhắc công phu kỹ lưỡng. Vào cuối năm, Trung Quốc sẽ tiến hành hội nghị quan trọng, trước đó tất cả đều sẽ lấy hòa bình và hài hòa làm trọng, trừ phi đứng trước những vấn đề trọng đại liên quan đến sinh tử tồn vong, nếu không sẽ không có quyết định phản ứng quyết liệt đối với tình hình khủng hoảng trong và ngoài nước. Đó là bối cảnh thứ nhất.
    Bối cảnh thứ hai để Việt Nam lựa chọn hành động là ý thức chủ quyền ở các nước cạnh Nam Hải tuyên bố chủ quyền đang lên cao, thông qua các biện pháp thực tế để tranh thủ quyền chủ động chiến lược, rõ nhất là Philíppin liên tục có thái độ cứng rắn với Trung Quốc trong vấn đề về đảo Hoàng Nham.
    Bối cảnh thứ ba để Việt Nam dám trực diện thách thức, cũng là bối cảnh quan trọng nhất, đó là chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ đã đi vào giai đoạn mang tính thực chất, công khai tuyên bố sẽ bảo vệ các nước đồng minh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tạo nên thế áp đảo về mặt dư luận đối với Trung Quốc. Đồng thời tìm kiếm đồng minh trong số các nước xung quanh Trung Quốc, từng bước tạo nên mạng lưới kiềm chế chiến lược đối với Trung Quốc. Trên cơ sở đó, trong một số năm tới đây Mỹ sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương để đảm bảo chắc chắn kiềm chế hành động bành trướng của Trung Quốc khi cần thiết.
    Trong 20 năm qua, Trung Quốc đã không nắm được thời cơ lịch sử to lớn, không xây dựng và thực thi chiến lược hữu hiệu trong việc đối phó với vấn đề chủ quyền, dẫn đến chỗ bị Việt Nam chiếm mất cơ hội, mất đi quyền chủ động chiến lược, trong tương lai dù về mặt pháp luật, đạo lý hay về hình ảnh quốc gia, Trung Quốc ắt phải rơi vào cảnh ngày càng bị động.
    Ngay từ năm 1982, Trung Quốc đã cho ra đời “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh”, quy định chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, đường cơ bản của lãnh hải là đường thẳng cơ bản. Vùng tiếp giáp là vùng giáp ranh với lãnh hải phía ngoài lãnh hải, rộng 12 hải lý, trong đó đã phân định ranh giới rõ ràng đối với chủ quyền Nam Hải.
    Tuy thế, điều đáng tiếc là, đó là bộ luật theo “chủ nghĩa hòa bình” đích thực, không có bất cứ lời nào trình bày chiến lược, sách lược mà quốc gia cần phải áp dụng khi xảy ra tranh chấp hoặc xung đột chủ quyền lãnh hải, vì thế không thể kiềm chế, thậm chí không thể ngăn chặn nước cạnh Nam Hải tuyên bố chủ quyền đối với khu vực tranh chấp, lại càng không thể ngăn chặn hành động lập pháp của các nước đó trong phạm vi của mỗi nước về khu vực tranh chấp.
    Tinh thần nguyên tắc để làm căn cứ khi Trung Quốc xây dựng “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh” đã được xác nhận lại trong “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” được Trung Quốc và ASEAN ký kết năm 2002, xác nhận Trung Quốc và ASEAN ra sức tăng cường quan hệ đối tác láng giềng tin cậy lẫn nhau, cùng bảo vệ hòa bình và ổn định ở khu vực Nam Hải.
    Tuyên bố nhấn mạnh thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, giải quyết tranh chấp Nam Hải bằng phương thức hòa bình. Trước khi giải quyết tranh chấp, các bên cam kết giữ kiềm chế, không áp dụng hành động làm cho tranh chấp mở rộng và phức tạp hóa, đồng thời dựa theo tinh thần hợp tác và thông cảm tìm kiếm con đường xây dựng sự tin cậy lẫn nhau, bao gồm hợp tác phát triển môi trường biển, cứu hộ cứu nạn, tấn công tội phạm xuyên quốc gia v.v..
    Tuyên bố trên vẫn tiếp tục giữ giọng điệu cơ bản về “chủ nghĩa hòa bình” theo cách chủ quan của mình, trong thực thi chính sách cụ thể lại biểu hiện thành chủ nghĩa bình lặng, khi các nước Nam Hải áp dụng hành động khiến tranh chấp mở rộng và phức tạp hóa, Trung Quốc lại thiếu căn cứ và biện pháp cần thiết để ngăn chặn. Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu để Philíppin và Việt Nam dám liên tục “vượt ra khỏi đường ray”.
    Trong xung đột giữa Trung Quốc và Philíppin ở đảo Hoàng Nham (bãi cạn/Scarborough), và lần này Việt Nam cho ra đời “Luật biển” để xác nhận chủ quyền của họ ở khu vực tranh chấp bằng hình thức pháp luật, trừ phi Trung Quốc áp dụng biện pháp mạnh như chiến tranh cục bộ, bằng không thì bất cứ việc làm nào của Trung Quốc cũng đều không có tác dụng, và cũng vô hiệu. Đó là hậu quả nghiêm trọng do thất sách chiến lược, tự đẩy mình vào cảnh lưỡng nan chỉ được phép chọn một, hoặc là chiến tranh, hoặc là thỏa hiệp chứ không có được lối đi nào ở giữa.
    Cách phản đối ngoại giao và thành lập, nâng cấp thành phố Tam Sa của Trung Quốc chẳng thà nói đó là việc làm mang tính tượng trưng, chứ không thể tạo thành đe dọa mang tính thực chất đối với nước hữu quan, cũng không thể ngăn chặn được các nước này từng bước dồn ép gần hơn đến chủ quyền, tranh chấp chủ quyền Nam Hải vì thế sẽ từng bước xấu đi.
    Nam Hải với tư cách là nơi hội tụ lợi ích của nước lớn, nếu Trung Quốc có ý đồ quay lưng lại với chủ trương chính sách liên quan đến vấn đề Nam Hải trước đây, thậm chí trái với pháp luật do chính mình định ra để chuyển sang áp dụng phương thức cứng rắn, thậm chí là vũ lực, sẽ khiến Trung Quốc mất đi uy quyền về đạo lý của một nước châu Á, mất đi danh dự của quốc gia, nghiêm trọng hơn nữa là tất yếu dẫn đến sự can thiệp của nước lớn, tạo nên xung đột dữ dội hơn.
    Đến lúc đó sẽ còn làm đảo lộn bố cục đã có, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình phát triển trong nước, sẽ chỉ rơi vào kết cục thất bại toàn diện. Vì thế đối với Trung Quốc, điều quan trọng nhất là phải điều chỉnh chiến lược trước, hiện nay tuy có muộn nhưng so với trực tiếp chuyển đổi thành chiến tranh một sớm một chiều nào đó cũng đều có lợi hơn nhiều.


    QNCBĐ
    Sửa bởi anh2 : 27-06-2012 lúc 10:08 AM

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  4. #2693
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    Mỹ sẽ tạo sóng ở Biển Đông?

    Sau một thập kỷ sa lầy ở Trung Đông, Mỹ đang điều chỉnh chính sách quốc phòng, hướng về châu Á. Dù không khẳng định rõ ràng sự thay đổi này, nhưng Mỹ thừa nhận sự cần thiết phải tăng cường sự hiện diện của mình tại khu vực. Tuy nhiên, theo Bộ phận phân tích và tư vấn kinh tế (EIU), do chiến lược tái cân bằng này diễn ra vào thời điểm ngân sách quốc phòng của Mỹ bị cắt giảm và những căng thẳng liên quan đến chủ quyền ở Biển Đông tăng cao, nên việc triển khai trở nên phức tạp và khó khăn hơn. EIU cũng cho rằng dù sự hiện diện rõ ràng hơn của Mỹ tại khu vực sẽ làm thay đổi cơ bản cuộc chơi tại Biển Đông, nhưng trong ngắn hạn khó có thể đạt được một giải pháp mang tính ràng buộc cho tranh chấp này.
    Chính sách hướng về châu Á của Mỹ lần đầu tiên được hé mở cách đây 2 năm trong chuyến thăm Hà Nội của Ngoại trưởng Hillary Clinton và được Tổng thống Barack Obama khẳng định chính thức khi ông thực hiện chuyến công du châu Á tháng 11/2011. Chính sách này hiện là nền tảng trong chính sách đối ngoại của Obama và phản ánh sự thừa nhận trong Chính phủ Mỹ rằng sự cân bằng quyền lực ở châu Á đã bị lung lay trong thời gian Mỹ bị cuốn vào 2 cuộc chiến ở Irắc và Ápganixtan. Một số chi tiết về cách thức triển khai chính sách hướng Đông này của Mỹ đã được đề cập vào tháng 6 vừa qua khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tới thăm một số nước trong khu vực.
    Ông Panetta đã tiết lộ rằng Lầu Năm Góc sẽ triển khai lực lượng một cách hợp lý và linh hoạt hơn ở châu Á so với trước đây. Con số mà ông Panetta đề cập - tới năm 2020, Mỹ sẽ bố trí 60% số tàu chiến ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, không phải là sự thay đổi lớn trong điều chỉnh chính sách lần này của Mỹ vì thực tế Mỹ đã bố trí 50% lượng tàu chiến ở khu vực này. Thực tế, sự điều chỉnh có ý nghĩa hơn cả là việc chuyển bố trí quân Mỹ tại những căn cứ quân sự thường trực và đắt đỏ trên đất liền ở châu Á sang chiến lược: luân chuyển quân thường xuyên qua các cảng khác nhau ở khu vực. Đây sẽ là lựa chọn ít tốn kém hơn nhưng cũng đòi hỏi sự hợp tác cao hơn từ các nước chủ nhà ở châu Á. Chắc chắn rằng, có những nhân tố trong chuyến công du của ông Panetta nhấn mạnh tới một giải pháp toàn diện và mềm mỏng hơn. Tại Xinhgapo, ông gợi mở mong muốn của Mỹ muốn nâng cấp lực lượng quân sự của tất cả các đối tác, bao gồm cả Mianma. Tuyên bố này không chỉ đáp lại những thay đổi chính trị nhanh chóng của Mianma thời gian qua mà còn xuất phát từ chính lợi ích của Mỹ. Ngoài ra, Mỹ cũng bày tỏ sự tôn trọng với 2 đối tác vốn ngoài vòng ảnh hưởng truyền thống của nước này ở châu Á là Ấn Độ và Việt Nam.
    Ông Panetta đã thăm cảng Cam Ranh ở miền Nam Việt Nam , một địa danh mang tính biểu tượng cao. Cảng nước sâu này đã từng được Pháp, Nhật Bản, Mỹ và Liên Xô sử dụng trong thế kỷ 20. Trong chuyến thăm này, ông Panetta đã cam kết rằng Mỹ sẽ hỗ trợ Việt Nam trong “những vấn đề biển quan trọng”. Chính phủ Việt Nam luôn chào đón sự quan tâm nhiều hơn của Mỹ vào khu vực và trước hết muốn Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam . Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không thúc đẩy quá mạnh mẽ để Mỹ dỡ bỏ lệnh này mà mong rằng sự hiện diện lớn hơn của Mỹ ở châu Á có thể giúp giải quyết những vấn đề lâu dài và phức tạp nhất của đất nước này: tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
    Thuần hóa được rồng?
    Trong suốt chuyến công du châu Á của mình, ông Panetta tìm cách thoái thác hoặc phủ nhận những nhận định rằng chính sách quốc phòng mới của Mỹ là nhằm vào Trung Quốc khi sức mạnh kinh tế, quân sự của cường quốc này đang tăng lên nhanh chóng những năm gần đây. Cùng với 2 thập kỷ tăng liên tục ở mức 2 con số ngân sách quốc phòng và sự quyết đoán hơn của Trung Quốc khi theo đuổi các tuyên bố chủ quyền biển đảo đã dẫn tới những thời kỳ đỉnh điểm căng thẳng nghiêm trọng và thường xuyên hơn ở Biển Đông trong 5 năm qua. Những tuyên bố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc, Đài Loan, Philíppin, Malaixia, Việt Nam và Brunây chồng chéo lẫn nhau đã biến khu vực này trở thành điểm có nguy cơ bùng phát xung đột của thế giới. Mỹ sẽ phải lèo lái thận trọng nếu nước này không muốn vướng vào những khó khăn lớn về ngoại giao. Chi tiết của chính sách này chưa được nêu cụ thể, nhưng về cơ bản Mỹ có thể khuyến khích tự do hàng hải ở Biển Đông theo luật biển quốc tế. Chính sách này nghe có vẻ thân thiện nhưng sẽ làm Trung Quốc khó chịu khi quốc gia này yêu cầu các quốc gia khác phải xin phép nếu muốn tiến hành các hoạt động hải quân trong vùng lãnh hải mà Trung Quốc coi là của mình.
    Chắc chắn rằng sự hiện diện lớn hơn của Mỹ ở châu Á sẽ làm gia tăng căng thẳng với Trung Quốc. Theo cách nhìn của người Trung Quốc, chính sách hướng Đông của Mỹ thể hiện rằng Mỹ đang tìm cách bao vây nước này thông qua các đồng minh và nỗ lực thiết lập chương trình nghị sự cho nền chính trị khu vực. Điều này có thể dẫn tới thái độ đối đầu hơn của cường quốc châu Á này ở châu Á. Lo ngại điều này, Mỹ đã nỗ lực thiết lập các kênh tiếp cận, trong đó bao gồm kênh liên lạc giữa quân đội hai nước nhằm ngăn chặn những đụng độ nhỏ hoặc những hiểu lầm có thể làm leo thang khủng hoảng quân sự hoặc ngoại giao. Tuy nhiên, Mỹ cũng thấy rằng Trung Quốc không phải là một đối tác thiện chí.
    Các mối quan hệ của Mỹ với các đồng minh hiện tại và các đối tác tiềm năng có thể gặp nhiều khó khăn, nhất là trong bối cảnh ngân sách quốc phòng bị cắt giảm. 8000 binh sĩ Mỹ đóng tại Okinawa , Nhật Bản đã phải rút quân và thêm nhiều đợt rút quân nữa ở châu Á có thể tạo nghi ngờ về sự thiếu cam kết của Mỹ khi sức mạnh quân sự thường đi đôi với số lượng binh sĩ. Thách thức của ông Panetta vì vậy sẽ phải triển khai lực lượng quân sự một cách hợp lý hơn như ông đã hứa.
    Sức mạnh ở con số
    Đối với khu vực Biển Đông, sự hiện diện lớn hơn của Mỹ sẽ làm thay đổi đáng kể cán cân quyền lực. Trung Quốc từ lâu vẫn muốn giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương để tận dụng lợi thế sức mạnh chính trị và ngoại giao của mình. Việt Nam và Philíppin kiên quyết phản đối yêu cầu này và muốn giải quyết vấn đề thông qua đàm phán đa phương. Chính sách hướng Đông của Lầu Năm Góc đồng nghĩa với việc những thỏa thuận song phương đang đạt được sẽ yếu đi khi các quốc gia châu Á nhỏ bé nhận được khích lệ từ sự tăng cường hiện diện của Mỹ. Tuy nhiên, nó khó mang lại hy vọng cho một giải pháp lâu dài trong giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khi Trung Quốc cũng có thể trở nên cực đoan hơn để chống lại sự can sự mạnh hơn của Mỹ ở châu Á. Hơn nữa, sự hiện diện mạnh mẽ hơn của Mỹ cũng không làm giảm tác động từ các biện pháp trả đũa truyền thống của Trung Quốc dưới hình thức: áp đặt trừng phạt kinh tế đối với những quốc gia vi phạm./.

    QNCBĐ


    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  5. #2694
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    Những thông tin báo chí mới nhất về Trường sa, Hoàng sa và Biển Đông

    Liên tục trong hai tháng qua, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã tổ chức hai cuộc điều trần về việc Mỹ nên hay không nên tham gia vào Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Tại các diễn đàn này, phần lớn các quan chức chóp bu về an ninh, quốc phòng và ngoại giao Mỹ đều ủng hộ việc tham gia UNCLOS, nhưng cũng có một số ý kiến trái chiều, cho rằng tham gia UNCLOS sẽ trói tay trói chân và bất lợi đối với Mỹ. Dưới đây là tổng hợp các bài phát biểu của các quan chức Mỹ tại các cuộc điều trần ngày 23/5 và ngày 14/6 tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện.
    Phát biểu trong cuộc điều trần ngày 23/5, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho rằng việc Mỹ cho đến nay vẫn chưa tham gia UNCLOS đã làm suy yếu sự ủng hộ đối với các đồng minh trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông đang bị đe dọa bởi tham vọng chủ quyền của Trung Quốc. Bà Hillary nhấn mạnh “vì không phải là thành viên của UNCLOS, chúng ta để cho Trung Quốc tung hoành về mặt pháp lý. Chúng ta đã tự đặt mình vào thế bị động. Chúng ta không phát huy được vai trò là chỗ dựa cho các bạn bè và các đồng minh trong khu vực. Đây là điều không cường quốc hàng hải nào của thế giới muốn lâm vào”. Ngoại trưởng Hillary nói: "Chúng ta cần chấm dứt việc đứng ngoài lề và bắt đầu tận dụng những lợi ích to lớn mà UNCLOS mang lại cho Mỹ và cộng đồng doanh nghiệp”. Bà cho rằng các công ty dầu khí của Mỹ trước đây chưa có đủ công nghệ để tận dụng những quy định của UNCLOS về thềm lục địa, nhưng nay các công ty này đã có khả năng và sẵn sàng khai thác các vùng này. Bà cũng cho rằng nếu tham gia UNCLOS, Mỹ sẽ nhận được sự công nhận của quốc tế về quyền chủ quyền, trong đó có việc sử dụng các thủ tục nêu trong Công ước, cho phép các công ty dầu lửa cơ sở pháp lý để thực hiện việc khai thác. Bà Hillary bác bỏ lập luận của những người chống UNCLOS, cho rằng UNCLOS được sự ủng hộ của tất cả các tổng thống của cả hai đảng, trong đó có Tổng thống đảng Cộng hòa George W. Bush, các doanh nghiệp Mỹ, ngành công nghiệp năng lượng và vận tải biển, cũng như các tổ chức về môi trường. Trong cuộc điều trần, lần đầu tiên Ngoại trưởng Mỹ công khai cho rằng đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông đã vượt quá những gì UNCLOS cho phép.
    Cũng trong cuộc điều trần ngày 23/5, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khẳng định, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất thế giới và có thềm lục địa mở rộng rộng nhất thế giới, Mỹ sẽ được lợi nhiều nhất từ việc tham gia UNCLOS. Ông Panetta cho rằng việc này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho Mỹ có các quyền tự do hàng hải và tiếp cận toàn cầu cho các tàu thuyền thương mại và quân sự, máy bay và các đường cáp quang dưới đáy biển, thay vì như hiện nay phải thực hiện quyền tự do hàng hải thông qua tập quán quốc tế. Ông Panetta cho biết cho tới nay đã có 161 nước phê chuẩn UNCLOS và Mỹ là nước duy nhất trong Hội đồng bảo an LHQ chưa phê chuẩn UNCLOS. Theo lập luận của ông Panetta, khi tham gia UNCLOS, Mỹ vừa bảo vệ được lợi ích của mình, vừa chi phối được các cuộc thảo luận để tác động vào các thể chế liên quan tới luật biển. Tham gia UNCLOS, Mỹ có thể mở rộng nguồn tài nguyên và quyền tài phán kinh tế không chỉ trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển Mỹ mà cả thềm lục địa được mở rộng ra ngoài phạm vi 200 hải lý. Tham gia UNCLOS, Mỹ cũng sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của mình ở vùng Bắc Cực, một khu vực ngày càng quan trọng về kinh tế và an ninh.
    Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Tướng 4 sao Martin Dempsey phát biểu trong cuộc điều trần ngày 23/5 cho rằng là thành viên thường trực duy nhất của Hội đồng Bảo an LHQ và là quốc gia Bắc Cực duy nhất chưa phải là thành viên UNCLOS, vì thế Mỹ bị hạn chế trong khả năng xây dựng các liên minh cho các nỗ lực an ninh quốc tế quan trọng. Tướng Dempsey đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải tham gia UNCLOS “trong bối cảnh chúng ta đã bắt đầu tái cân bằng những lợi ích an ninh của mình ở khu vực Thái Bình Dương, việc phê chuẩn công ước là rất quan trọng. Nếu không phê chuẩn công ước này trong thời gian tới, chúng ta có nguy cơ phải đối đầu với các nước vẫn luôn diễn giải tiền lệ luật pháp quốc tế theo hướng có lợi cho họ. UNCLOS sẽ tạo cơ hội để chúng ta nói mạnh về tự do trên biển và các quyền hàng hải.
    Thượng nghị sỹ John Kerry, người chủ trì cả hai phiên điều trần cho rằng việc phê chuẩn công ước UNCLOS là vấn đề cấp bách, nhưng Mỹ đã chần chừ quá lâu. Không phê chuẩn công ước, Mỹ sẽ mất nhiều lợi ích như dầu lửa và khí đốt, quyền đi lại trên biển và thâm nhập các nguồn tài nguyên như các mỏ đất hiếm. Với Trung Quốc, ông Kerry nói: “Trung Quốc và một số nước đang đưa ra những đòi hỏi phi pháp ở Biển Đông và các vùng biển khác. Tham gia Công ước sẽ giúp Mỹ ngay lập tức nâng cao uy tín, đồng thời đẩy lùi những đòi hỏi chủ quyền quá đáng và những lệnh cấm phi pháp đối với các chiến hạm và tàu chở hàng của Mỹ”.
    Tham gia cuộc điều trần ngày 14/6 có Đô đốc James Winnefeld, Phó Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân; Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Jonathan Greenert; Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, đô đốc Samuel Locklear; cựu Giám đốc Cục tình báo trung ương (CIA), cựu Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte; cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cùng một số quan chức và cựu quan chức cấp cao khác.
    Phát biểu trong cuộc điều trần ngày 14/6, Phó Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân, đô đốc James Winnefeld cho rằng tham gia UNCLOS sẽ góp phần củng cố vai trò lãnh đạo toàn cầu về hàng hải, tăng cường uy tín của Mỹ và cho phép Mỹ trong vị trí cường quốc hải quân có đầy đủ tầm ảnh hưởng đối với các tranh chấp biển. Theo Đô đốc Winnefeld, sẽ là sai lầm khi cho rằng công ước UNCLOS sẽ hạn chế hoạt động hải quân của Mỹ tại các khu vực đang hoạt động hiện nay, trái lại tham gia UNCLOS sẽ tạo cho Mỹ ở vào một vị thế mạnh hơn để ủng hộ các đồng minh và đối tác đang chịu sự hăm dọa trong các tranh chấp.
    Tư lệnh Hải quân Jonathan Greenert khẳng định Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc tham gia UNCLOS đối với hoạt động của Mỹ trên biển; tăng cường quyền chủ quyền cho các tàu Mỹ, nâng cao vị thế của Mỹ trong việc thúc đẩy áp dụng luật pháp và duy trì quyền tự do tiến hành các hoạt động quân sự trong các khu vực này. Việc Mỹ không tham gia UNCLOS có thể tạo cớ cho các quốc gia khác ngăn cản quyền tự do hàng hải.
    Tư lệnh Thái Bình Dương Samuel Locklear cho rằng do khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục trỗi dậy, ngày càng nhiều đòi hỏi chủ quyền trên biển chồng chéo, nhất là Biển Đông, do vậy tham gia UNCLOS, Mỹ sẽ khích lệ các bên giải quyết tranh chấp bằng hòa bình dựa trên luật pháp. Công ước UNCLOS cũng sẽ hỗ trợ pháp lý quan trọng cho các đối tác vận tải hàng không dân sự của Bộ Quốc phòng Mỹ.
    Tư lệnh lực lượng bảo vệ bờ biển Robert Papp cho rằng tham gia UNCLOS sẽ đảm bảo các quy định thuận lợi trên cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhất và vị thế tốt hơn cho Lực lượng bảo vệ bờ biển thực hiện các quyền và duy trì hoạt động. Tham gia công ước giúp tăng cường vị thế của Mỹ khi phản đối và ngăn cản các đòi hỏi chủ quyền trên biển quá đáng; tạo cho Mỹ ở vị thế thuận lợi đối với tương lai tại Bắc Cực.
    Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản đối tham gia UNCLOS. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, phát biểu trong cuộc điều trần ngày 14/6 thừa nhận công ước UNCLOS mang lại một số lợi ích, trong đó có việc giải quyết những tranh chấp cụ thể dễ dàng hơn, tuy nhiên Hải quân Mỹ đã làm tốt chức năng này nên Mỹ không cần phải tham gia UNCLOS. Chuyên gia Viện Heritage Steven Groves thì cho rằng tham gia UNCLOS không giúp gì cho việc phát triển hoặc đảm bảo vị thế chủ thể của các nguồn tài nguyên khí đốt tại các vùng thềm lục địa mở rộng và Mỹ sẽ phải mất một khoản thu lớn do phải nộp phí khai thác tại các khu vực chung của quốc tế.
    Mỹ là nước tích cực tham gia đàm phán, soạn thảo Công ước UNCLOS 1982. Từ năm 1994 đến nay, Chính phủ Mỹ qua các Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush đã nhiều lần đề nghị Thượng viện phê chuẩn nhưng đều thất bại do sự chống đối của một số thượng nghị sĩ bảo thủ của đảng Cộng hòa. Ngày 25/5, ngay sau cuộc điều trần đầu tiên đã có 27 Thượng nghị sĩ Mỹ đồng gửi thư tuyên bố chống việc tham gia UNCLOS, cho rằng UNCLOS 1982 phản ánh các quan điểm chính trị, kinh tế và tư tưởng không thống nhất với các giá trị và chủ quyền của Mỹ./.

    QNCBĐ


    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  6. Thanks longtt88 đã cám ơn bài viết
  7. #2695
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    [BĐO] Trung Quốc dùng kế thứ 37: Nói một đằng, làm một nẻo

    Bộ Ngoại giao Trung Quốc mới đây đã phủ nhận thông tin cho rằng Trung Quốc đã rút các tàu công vụ khỏi khu vực bãi đã ngầm tranh chấp Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).

    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho rằng tình hình xung quanh khu vực này nhìn chung có xu hướng hạ nhiệt.

    Tuy nhiên, các tàu của Trung Quốc vẫn duy trì quản lý và cảnh giới đối với bãi đá ngầm Scarborough.
    Tàu hải giám Trung Quốc lởn vởn quanh khu vực bãi đã ngầm tranh chấp Scarborough

    Tuyên bố của Trung Quốc được đưa ra sau khi báo chí Philippines cho biết Trung Quốc đã rút các tàu của nước này khỏi khu vực quanh bãi đá tranh chấp.

    Tuy nhiên, trên thực tế tuyên bố “mập mờ” của ông Hồng Lỗi cũng không nêu chính xác liệu Trung Quốc còn duy trì các tàu công vụ tại khu vực tranh chấp hay không?
    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi

    Sau tuyên bố “cứng” này, Trung Quốc tiếp tục có những động thái “hằm hè” cả với Nhật Bản và Việt Nam. Ngày 26/6, Trung Quốc một lần nữa đề nghị Nhật Bản không làm leo thang căng thẳng xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku (mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), và bảo vệ lợi ích tổng thể trong quan hệ song phương.

    Lần này cũng đích thân ông Hồng Lỗi đưa ra bình luận nhằm phản đối một nhóm nghị sĩ Nhật Bản tới thăm khu vực tranh chấp này.

    Theo ông Hồng Lỗi, phía Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối chính thức tới phía Nhật Bản, yêu cầu Tokyo chấm dứt mọi hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình.
    Quần đảo tranh chấp mà Nhật Bản gọi là Senkaku, còn Trung Quốc gọi là Điếu Ngư

    Trước đó, có thông tin cho biết 8 nghị sĩ Nhật Bản dự kiến tới thăm Senkaku vào ngày 2/7 tới. Phái bộ này được cho là có liên quan tới kế hoạch của chính quyền trung ương Tokyo nhằm mua lại quần đảo này.

    Cũng tại buổi họp báo, ông Hồng Lỗi lên tiếng kêu gọi Việt Nam tôn trọng những thỏa thuận song phương liên quan tới việc giải quyết tranh chấp trên biển và tránh có bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp vấn đề.

    Trong khi kêu gọi như vậy, ông Hồng Lỗi lại cho rằng việc Tổng Công ty Dầu khí ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tiến hành mời thầu hợp tác cùng các công ty nước ngoài thăm dò và khai thác dầu khí tại 9 lô khác nhau trên Biển Đông là hoạt động thương mại thông thường.

    Rõ ràng, lời nói và hành động của phía Trung Quốc mâu thuẫn với nhau và thể hiện thái độ hai mặt của Bắc Kinh.
    Dàn khoan 981 của Tổng công ty Dầu khí ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc trên Biển Đông, cách Hongkong 320 km về phía Đông Nam

    Dù lên tiếng kêu gọi Nhật Bản, Việt Nam không “làm phức tạp” thêm tình hình, song chính Trung Quốc vẫn một mình một kiểu.

    Chính trong ngày 26/6, Trung Quốc đã cử một nhóm tuần tra gồm 4 tàu Hải giám (CMS) tới Biển Đông. Nhóm tàu này xuất phát từ thành phố Tam Á và được cho là tới Biển Đông để tiến hành hoạt động thường kỳ với hành trình dài 4.500 km.

    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  8. Likes Bụi Đời, chembao đã thích bài viết này
  9. #2696
    Ngày gia nhập
    Jun 2010
    Bài gửi
    2.033
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Em chưa biết cái này có ai đăng lên chưa nhưng em thấy mô hình này khá hay,trung quốc có Hải nam bảo sa thì Việt Nam có hải vương 68 tuy có nhỏ hơn nhưng với giá 1tr usd/1c thì nhà ta đóng cỡ hơn mười chiếc này cũng hơn con của TQ
    Khánh Hòa lần đầu tiên xây dựng mô hình "tàu mẹ tàu con" trong khai thác khơi xa

    Khai thác thủy hải sản là một trong những ngành thế mạnh của tỉnh Khánh Hòa,tuy nhiên, trong những năm gần đây, đang gặp hết sức khó khăn, tiền lãi sau mỗi chuyến đi rất thấp, trong khi các công ty chế biến xuất khẩu vẫn phải nhập nguyên liệu về chế biến. Chất lượng thủy sản của ngư dân đạt thấp do công nghệ bảo quản lạc hậu và hoạt động khai thác của bà con không thực sự hiệu quả. Để khắc phục những tồn tại này, lần đầu tiên, Khánh Hòa đã thành lập các ngư đội khai thác khơi xa, hoạt động theo mô hình đặc biệt "tàu mẹ tàu con".
    Những con tàu đánh bắt thủy sản luôn lẻ loi trên biển, nếu có chăng chỉ một vài bạn thuyền cùng hợp tác làm ăn. Sau mỗi chuyến khai thác dài ngày tại các ngư trường xa ngư dân lại quay đầu vào bờ để tiêu thụ sản phẩm. một hải trình dài, thời gian khai thác ngắn đã làm hao tốn nhiều chi phí trong mỗi chuyến ra khơi của ngư dân. Trong khi phương tiện đánh bắt của ngư dân hầu hết là tàu nhỏ, không có hầm bảo quản đạt chuẩn, làm chất lượng thủy sản không đạt, giá trị sản phẩm chỉ còn 40%. Vì vậy, một mô hình "Cụm tàu mẹ - tàu con" đã được tỉnh Khánh Hòa xây dựng, để giải quyết những hạn chế trên.

    Ông Võ Thiên Lăng – Phó Chủ tịch Hội nghề cá Việt Namcho biết:"Theo tôi trong tổ đội liên kết dứt khoát phải có mô hình tàu mẹ tàu con. Tàu mẹ này trang bị tương đối phù hợp với túi tiền người dân như vậy thu gom nhanh chóng các sản phẩm ngư dân lên tàu mẹ. tức nhiên tàu mẹ phải có cơ chế bảo quản sau thu hoạch tốt hơn cái bảo quản bằng đá xay trên tàu ngư dân. Các tổ đội liên kết phải vì mục đích của dân của ngư dân."

    Tàu Hải Vương 68 của công ty Cổ phần Thủy sản hải Vương đã được chọn làm tàu mẹ, con tàu trị giá 1 triệu USD đóng tại nước ngoài, với khả năng chứa được 300 tấn thủy sản, được trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc bảo quản và vận chuyển thủy sản đạt chuẩn. Tàu sẽ đứng ở vị trí trung tâm, liên lạc và hỗ trợ cho 30 chiếc tàu con thuộc 6 ngư đội, thực hiện việc đánh bắt, đồng thời, tàu mẹ có nhiệm vụ thu mua, bảo quản thủy sản và cung cấp lương thực cho các tàu con bằng giá trên đất liền. Đây là một mô hình mang tính đột phá quan trọng trong khâu tổ chức sản xuất trên biển theo hướng hiện đại, tiết kiệm chi phí, công sức của ngư dân, nâng cao giá trị chất lượng của sản phẩm, mang lại lợi ích của ngư dân lẫn công ty.
    Ông Lê Thanh Hải – Giám đốc Công ty CP Thủy sản Hải Vương, Thanh Hóa cho biết: "Đây là bước tiến mạnh bạo chúng tôi muốn đem 1 cái kỹ thuật bảo quản sau khia thác, giúp bà con bám biển lâu hơn, vì khi chuyển sản phẩm sang tàu để tiếp tục khai thác, bám biển dài ngày, tăng cao giá trị sản phẩm của bà con, tốt cho cả doanh nghiệp sau khi được sản phẩm mang tính công nghiệp giá trị sản phẩm được duy trì và có lợi cho nội địa lẫn xuất khẩu."

    Trong chuyển biển đầu tiên này, Công ty Hải Vương không đặt nặng vấn đề lợi nhuận mà chỉ mong muốn làm sao các ngư dân được tiếp cận với một mô hình sản xuất mang tính chuyên nghiệp. Việc sử dụng đội ngũ khai thác, kỹ thuật bảo quản trên tàu là người Hàn Quốc – một đất nước có ngành đánh bắt phát triển cũng không ngoài mục đích đó.

    Theo ông Choe Hae Kwan – Thuyền trưởng tàu Hải Vương 68 thì "hiện nay, công nghệ khai thác của Hàn Quốc tương đối hiện đại, phát triển rồi, qua 1 chiều dài hiện đại hóa, những gì của Hàn Quốc vượt trội hơn, đặc biệt là bảo quản sau khai thác quy trình như thế nào thì với khả năng của mình thuyền trưởng sẽ đào tạo cho các thủy thủ Việt Nam, tương lai sau này việc khai thác sau khai thác của Việt Nam sẽ được nâng cao hơn."

    Ngày 16-2, Khánh Hòa sẽ làm lễ xuất quân ngư đội khai thác khơi xa, đánh dấu sự kiện ra đời của mô hình khai thác mới, mang tính ưu việt hơn với hoạt động khai thác truyền thống. Hy vọng chuyến đi biển đầu tiên của ngư dân sẽ đạt hiệu quả hơn. Nếu mô hình này thành công sẽ nâng cao nhận thức, thu hút nhiều ngư dân tham gia hơn, góp phần đưa ngành khai thác chế biến thủy sản ở Việt Nam bước sang trang mới./.
    http://ktv.org.vn/web/ktv/view/-/ass...D7737124473677

  10. Thanks anh2 đã cám ơn bài viết
  11. #2697
    Ngày gia nhập
    Jun 2009
    Bài gửi
    245
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0

    Nhận xét rằng người Trung Quốc không quan tâm

    Tổng công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc(CNOOC) đã công bố mời thầu 9 lô thăm dò dầu khí trong vùng biển Nam Trung Hoa với các công ty dầu khí nước ngoài.Ngoài ra Hải nam đã công bố bốn khu vực quần đảo tây Sa và được xem như là các khu vực được bảo vệ di sản văn hóa ,động thái trên thường được xem như " hành động kết hợp" mà Trung Quốc muốn tăng cường duy trì chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa(biển Đông)
    Những quyết định này,cùng với thành lập thành phố Tam Sa,tập trung các quần đảo,giống như sự hình thành kết hợp.Nhưng nhìn vào Việt Nam,vào các giếng khai thác dầu và khí đốt trong vùng biển tranh chấp,tôi biết rằng CNOOC được khoanh định 9 lô hợp tác với nước ngoài là còn nhiều hạn chế trong vùng biển Nam Trung Hoa(biển Đông).Trung Quốc trong khu vực biển Nam Trung Hoa(biển Đông) có một lợi thế tuyệt đối,nhưng không có nghĩa là một quốc gia hiếu chiến,Trung Quốc từ lâu đã chủ trương " gác tranh chấp,cùng khai thác",chẳng hạn như Việt Nam và Philippines đã từng bỏ qua cách biệt để có một thỏa thuân chung.Trung Quốc có khả năng thay đổi tình hình địa,chính trị trong một thời gian ngắn và Việt Nam ,Philippines ,cũng như các nước khác phải có một sự hiểu biết tỉnh táo.Hoa Kỳ là một thế lực chiến lược trong vùng biển Nam Trung Hoa,nhưng không phải là lực lượng mà Philippines có thể huy động,trò chơi của Hoa Kỳ trong vùng biển Nam Trung Hoa là thứ yếu trong mối quan hệ chiến lược giữa 2 nước,nó phụ thuộc vào tính chất tổng thể của mối quan hệ này và không phải ý muốn của Việt Nam và Philippines cho việc chuyển nhượng
    Tuy nhiên,người Trung Quốc không quan tâm đến trong sự gia tăng ngày càng cao ở biển Đông với Việt Nam và philippines,Trung Quốc là một nước lớn quan tâm trên khắp châu Á-Thái Bình Dương và ngay cả thế giới.Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc,nếu hành động khiêu khích của Việt Nam và philippines đạt đến 1 sức mạnh nào đấy thì họ phải sẵn sàng tập trung đối với đáp ứng củ Trung Quốc và sẽ là một phản ứng mạnh mẽ
    Bộ ngoại giao Trung Quốc cho biết hôm qua rằng,vị trí biển Nam Trung Hoa(biển Đông) không thay đổi,ngôn ngữ không ngoại giao.Trong thực tế,từ vài thập kỷ trước đây,cho đến ngày hôm nay,lập trường của Trung Quốc là phù hợp,thay đổi chỉ là phản ứng của Trung Quốc với nhịp điệu tùy theo tình hình. Sự kiện đảo Hoàng Nham đã chỉ ra rõ rằng: để khởi động 1 điều chắc chắn không khó khăn bằng quay trở lại lúc ban đầu và kết quả không phải là ai cũng muốn thấy.Việt nam và Philippines cho rằng họ có cách để có thể nuốt Trung Quốc,làm Trung Quốc suy nghĩ lại.Trung Quốc có câu:" thời gian chưa tới,chưa biết ai thắng", điều đó có thể áp dụng vào vùng biển Nam Trung Hoa.Theo một số nhà phân tích,Việt nam và Philippines có thể có hành động trả đũa chống lại động thái mới nhất của Trung Quốc,sau đó để cho họ yên ổn,nhưng họ phải làm cho rõ ràng rằng họ sẽ kích động một phản ứng mới.Trung Quốc yêu mến hòa bình và ổn định ở biển Nam trung Hoa(biển Đông),nhưng không phải cho một cam kết riêng biệt và các quốc gia khác phải chịu trách nhiệm.Biển Nam Trung Hoa tiếp tục một đợt căng thẳng mới
    Xã hội Trung Quốc đang tập hợp và dần mất kiên nhẫn vấn đề biển Nam Trung Hoa và ngày càng hỗ trợ chính phủ có các hoạt động kiên quyết,rõ ràng !mặc dù Internet có tiếng nói cấp tiến,nhưng hành động và thái độ của chính phủ trong một thời gian hỗ trợ thực tế rất cao
    Nguồn :www.china.com

  12. #2698
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    Thế cân bằng an ninh tại châu Á

    Những thời điểm quan trọng trong lịch sử hiếm khi được báo trước. Và khi thay đổi đó mang tính hệ thống, thì quy luật này càng đúng hơn. Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng tại Đông Á cho thấy trật tự cũ do Mỹ chế ngự có thể không còn kéo dài nữa trước thách thức ngày càng lớn của Trung Quốc và sự yếu đi tương đối của cả Mỹ và Nhật Bản.
    Một sai lầm trong chính sách ngoại giao của Mỹ khi chỉnh sửa thực tế quyền lực mới này, hoặc một sai lầm của Trung Quốc trong việc thích nghi với các lợi ích lâu nay của Mỹ và Nhật, đều có thể gây nguy hiểm cho tương lai hứa hẹn của kỷ nguyên châu Á đã được tiên liệu, và đưa Đông Á trở lại quá khứ đẫm máu và chia rẽ. Và điều gì sẽ xảy ra trong khu vực quan trọng này cũng sẽ gây hậu quả tới toàn cầu.
    Các trọng tâm quyền lực kinh tế và quân sự chắc chắn đang thay đổi từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, rõ ràng Đông Á chưa bao giờ quan trọng đến như vậy trong trật tự quốc tế. Trước đây, thế giới chưa bao giờ chứng kiến ba cường quốc ưu việt nhất - Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc - cùng nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc này khiến mọi người đều cá cược rằng Trật tự thế giới cũ sẽ sụp đổ nhanh chóng.
    Trong gần bảy thập kỷ, trật tự ấy đã gắn với sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ, kể từ thất bại của Nhật Bản sau chiến tranh Thế giới II và được củng cố 55 năm sau đó bởi sự tan rã của Liên bang Xô Viết. Trong thời Chiến tranh Lạnh, vai trò bá chủ của Mỹ ở Đông Á bị lu mờ bởi nỗi ám ảnh và thực tế về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Nhưng sau đó, trong một thời gian ngắn "đơn cực", Mỹ dường như có thể chẳng cần phải lo ngại đến việc có một đối thủ cạnh tranh nào ngang tầm hoặc liên minh nào đủ sức đối trọng.
    Nhìn lại quá khứ, nhiệm kỳ đầu của Tổng thống George W. Bush có thể được xem là thời cực thịnh của Nền hòa bình kiểu Mỹ (Pax Americana). Sau đó, nó đã hầu như tụt dốc vì nước Mỹ bị yếu đi sau 10 năm tham chiến ở khắp nơi, một hệ thống chính trị tắc nghẽn và hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Việc chính quyền Tổng thống Obama đặt trọng tâm vào châu Á, và ý định của ông "cách ly" khu vực này khỏi những cắt giảm ngân sách quốc phòng, cũng không thể che giấu thực tế rõ ràng rằng khả năng Mỹ định hình Đông Á không còn như trước nữa.
    Một thời từng được xem là cái "mỏ neo" phương Bắc đáng tin cậy của hệ thống liên minh của Mỹ tại Đông Á và được tán dương về khả năng tự chủ và năng động của mình, nay Nhật Bản sau hai mươi năm vật vã với "căn bệnh" chính trị và kinh tế lại trở thành nguyên nhân chính dẫn tới sự yếu đi của Trật tự cũ.
    Việc nhà máy điện hạt nhân Fukushima gần sụp đổ sau trận sóng thần kinh hoàng năm 2011 có thể được xem là một bằng chứng cho thấy sự ăn mòn của bộ máy chính trị ngày càng hướng nội của Nhật Bản. Nước này thiếu niềm tin và bị bủa vây bởi một loạt các vấn đề trong nước. Bế tắc lãnh đạo đã khiến Mỹ gặp khó khăn trong việc củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, cũng như muốn đảm bảo rằng đất nước Mặt trời mọc đang tiến về phía trước. Điều này được phản ánh trong việc hai nước không thể đạt thỏa thuận về tái bố chí căn cứ hải quân quan trọng của Mỹ trên đảo Okinawa của Nhật Bản.
    Trong khi Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế lớn, GDP của họ lại không tăng trưởng trong 20 năm qua, và nước này phải chịu sự nhục nhã của việc bị Trung Quốc vượt mặt, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2011. Trong khi đó, dân số Nhật Bản tiếp tục già đi và bị thu hẹp, khiến nước này phải đối mặt với tương lai bị tụt xuống vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng các nước trung lưu ở Đông Á.
    Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc là lý do chính dẫn tới sự mất khả năng từng một thời vô song của Mỹ đối với các vấn đề trong khu vực. Với dân số 1,4 tỷ người, hơn toàn bộ phần còn lại của Đông Á và Mỹ cộng lại, Trung Quốc là một nước trung tâm có tới nghìn năm chế ngự châu Á và giờ đang âm thầm muốn giành lại quy chế này. Giấc mơ của họ không hề viển vông, bởi nước Trung Quốc hiện đại có các nền tảng chiến lược để thực hiện điều đó.
    Dân số và nền kinh tế của họ vượt xa Đức Quốc xã, Phát xít Nhật và cả Liên Xô - trước đây là những đối thủ bị sức mạnh Mỹ đánh bại. Sự tái nổi lên của Trung Quốc đặt ra những thách thức chiến lược của một tình thế phức tạp và quy mô lớn chưa từng thấy đối với Mỹ, cũng như phần còn lại của Đông Á.
    Điều quan trọng còn chưa được biết rõ là con đường mà giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi theo, được đặt ra như một sự lựa chọn giữa việc là một quốc gia theo chủ nghĩa xét lại hay một cổ đông có trách nhiệm. Trên thực tế, Trung Quốc có thể là cả hai, phù hợp với các chuẩn mực của hệ thống quốc tế trừ khi các lợi ích cốt lõi của họ xung đột với các chuẩn mực này.
    Trong khi được tiên liệu từ lâu - thực tế là các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cảnh báo về các tác động chiến lược này từ giữa những năm 1990 - vai trò chế ngự mới của Trung Quốc tại Đông Á còn được thúc đẩy bởi hai sự kiện mới xảy ra gần đây, một về tài chính và một về địa chính trị.
    Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến nhiều người ở Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, kết quả của việc tiêu sài quá mức kiếm được. Niềm tin này có thể đã bị cường điệu quá, nhưng việc sở hữu hơn 1.000 tỷ USD đối với Trung Quốc rõ ràng đã đặt Mỹ vào vị trí không hề thoải mái khi bị coi là một "người ăn xin" đối thủ cạnh tranh chính của mình.
    Quan niệm về sự suy yếu tài chính của Mỹ rõ ràng đã khuyến khích giới lãnh đạo Trung Quốc tìm các lợi thế địa chính trị so với Mỹ trong các không gian cạnh tranh đặc biệt là tại Đông Á. Đáng quan tâm nhất là sự kiên quyết của Bắc Kinh trong việc bảo vệ các yêu sách của mình đối với các vùng biển đảo và tài nguyên đang tranh chấp tại biển Hoa Đông và biển Đông.
    Trong quan hệ với các nước lớn khác ở châu Á, như Nhật Bản và Ấn Độ, Trung Quốc tỏ ra ngày càng hay gắt gỏng, và nhiều quốc gia Đông Nam Á lo ngại rằng Trung Quốc sẽ chỉ hứa hão về chủ nghĩa công bằng khu vực khi họ trở nên hùng mạnh hơn về kinh tế và quân sự. Trong hai năm qua, Trung Quốc tuyên bố biển Đông là một "lợi ích cốt lõi" và nhiều lần nêu rõ rằng sẽ tiếp tục bảo vệ chính quyền của Triều Tiên bất chấp các khiêu khích liên tiếp của Bình Nhưỡng.
    Trung tâm những nỗi lo của Mỹ và khu vực về các ý định quân sự của Trung Quốc trong tương lai là các tham vọng chiến lược "bảo vệ biển xa", nhằm đẩy Hải quân Mỹ ra xa bờ biển Trung Quốc nhất có thể. Trung Quốc có "khiếu" biến ba hạm đội bảo vệ bờ biển của mình thành một lực lượng hải quân biển xa có khả năng kiểm soát Tây Thái Bình Dương và cả việc phô trương sức mạnh biển đáng kể tự Trung Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
    Mục đích chiến lược của Bắc Kinh dường như là một Học thuyết Monroe kiểu Trung Quốc, và họ đang nhanh chóng tăng cường các năng lực để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này. Từ một viễn cảnh Trung Quốc, việc này có ý nghĩa chiến lược đầy đủ. Rốt cuộc, nếu một nước Mỹ nổi lên có thể tạo ra một Học thuyết Monroe trong thế kỷ 19 thì tại sao một Trung Quốc đang lên trong thế kỷ 21 lại không tìm kiếm một kết cục giống như vậy ở Tây Thái Bình Dương? Vấn đề là quyết tâm của Bắc Kinh đẩy lùi Hải quân Mỹ ra xa lại đang làm xáo trộn cán cân quyền lực tại khu vực và leo thang căng thẳng không chỉ với Mỹ mà cả với Nhật Bản.
    Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản vốn đã đầy những căng thẳng. Chẳng bên nào có khả năng vượt qua những thù hằn trong lịch sử đang ảnh hưởng tới cách hành xử hiện tại của họ và ngăn cản mọi khả năng xích lại gần nhau, bất chấp thực tế là thương mại song phương đang "bùng nổ" và họ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
    Những căng thẳng rõ ràng này cứ đến hẹn lại lên, cho thấy những đường hướng sai lầm sâu sắc giữa hai nước và nguy cơ tính toán nhầm. Ví dụ nghiêm trọng nhất gần đây xảy ra ngày 7/9/2010, khi căng thẳng lên cao liên quan đến quyền sở hữu quần đảo đang tranh chấp mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku trên biển Hoa Đông dẫn tới một sự đối đầu nghiêm trọng sau khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản trong một vụ rượt đuổi. Vụ việc đã kéo tụt quan hệ Trung - Nhật xuống mức thấp hơn thời hậu chiến tranh Lạnh. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người dân hai nước rất không hài lòng về nhau: 87% người Nhật và 79% người Trung Quốc coi nước kia là "không đáng tin cậy"; 79% người Nhật coi Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự.
    Có thể là sai khi suy diễn từ các hành động này rằng Trung Quốc đang có ý định đối đầu quân sự với Mỹ và Nhật Bản, hay cho rằng họ sắp thay thế Mỹ là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Nhưng thái độ xác quyết mới đây của Trung Quốc cho thấy căng thẳng về thể chế tất yếu xảy ra khi một cường quốc mới nổi thách thức trật tự đang tồn tại, và như vậy, thách thức vị trí của quốc gia đang bá chủ trước đó.
    Giáo sư Richard Rosecrance (trường Đại học Harvard, Mỹ) và giáo sư Jia Qingguo (trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) phân tích rằng trong 500 năm qua, sáu trong số bảy thách thức lớn đối với trật tự đang tồn tại đã dẫn tới xung đột nghiêm trọng. Chúng ta đều biết rằng các mối liên hệ kinh tế và thương mại giữa các cường quốc muốn chế ngự và đang chế ngự không thể giảm bớt nguy cơ xung đột, như trường hợp Anh và Đức một thế kỷ trước, khi sự phụ thuộc sâu sắc vào nhau về kinh tế cũng không giúp họ tránh phải lao vào chiến tranh năm 1914. Vì vậy, sẽ là một sai lầm lớn nếu kết luận rằng quan hệ mật thiết giữa Mỹ và Trung Quốc khiến cuộc xung đột quân sự là điều không tưởng.

    (còn tiếp)
    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  13. Thanks longtt88 đã cám ơn bài viết
  14. #2699
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    "Bản đồng ca châu Á" hay "chiến tranh không-biển"

    Một số nhân vật tự do cho rằng đặc điểm duy nhất, bản sắc văn hóa và kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc khiến họ ít hiếu chiến hơn các nước khác. Theo quan điểm này, Trung Quốc là một nước đặc biệt và có chính sách đối ngoại rất khác biệt. Tuy nhiên, phân tích cho rằng Trung Quốc xét về lịch sử ít hiếu chiến hơn hay ít theo chủ nghĩa bành chướng hơn các nước phương Tây hay phương Đông cũng không thuyết phục.


    Giống như nhiều quốc gia hùng mạnh khác, và đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc có một truyền thống bành chướng lãnh thổ lâu dài, họ đã đánh bại hoặc ép buộc người dân và các quốc gia láng giềng. Dù khác về bản chất so với chủ nghĩa đô hộ của châu Âu, nhưng mục đích của hệ thống chư hầu của Trung Quốc là sự áp đặt một Trung Quốc bá chủ đối với nhân dân và xã hội láng giềng, một đặc điểm vẫn còn tồn tại tới ngày nay đối với các nước châu Á.
    Trong khi Bắc Kinh xem việc tái thống nhất đảo Đài Loan và bình định Tây Tạng là việc lập lại quyền của Trung Quốc đối với các mảnh đất của tổ tiên đã mất vào tay những người nước ngoài phản bội, thì hoàn toàn có thể đưa ra một kết luận khác: các chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan và Tây Tạng cho thấy cách hành xử tương tự của Trung Quốc đối với cả khu vực rộng lớn hơn. Chắc chắn, chính sách phục thù của Trung Quốc không giúp xây dựng niềm tin rằng một Nền hòa bình kiểu Trung Quốc (Pax Sinica) có thể tỏ ra là công bằng hơn, ổn định và hòa bình hơn Pax Americana.
    Nhưng nếu Pax Sinica hụt hơi và Pax Americana không thể kéo dài dạng thức hiện nay của nó, thì kiểu trật tự mới nào sẽ nổi lên tại Đông Á có thể giúp duy trì hòa bình và thể hiện được nguyện vọng của tất cả các nước trong khu vực?
    Một khả năng là "Bản đồng ca châu Á". Lấy cảm hứng từ thỏa thuận quyền lực hậu Napoleon, điều hành châu Âu trong đa phần thế kỷ 19, những người ủng hộ một Bản hòa đồng ca châu Á cho rằng nếu thiếu một quốc gia có thể đứng đầu, một phiên bản châu Á đương đại của sự phối hợp châu Âu có thể duy trì tốt hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên để trở nên đáng tin cậy và được đảm bảo, chỉ các nước mạnh nhất mới có quyền giành một ghế quanh chiếc bàn tròn. Năm ứng cử viên dễ thấy là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia.
    Một vấn đề rõ ràng với mô hình này là liệu các nước nhỏ hơn ở Đông Á có sẵn sàng nhất trí gắn lợi ích cá nhân hoặc tập thể của mình với các nước lớn hay không. Điều này đi ngược lại cuộc công kích chủ nghĩa khu vực Đông Á trong hai thập kỷ qua, khi mà các nước nhỏ hơn nhấn mạnh đến quyền của mình và cách xử lý tập thể đối với các vấn đề an ninh khu vực.
    Việc này cũng chưa tính đến sự phân bố quyền lực toàn cầu đi kèm với cái mà Fareed Zakaria gọi là "sự nổi lên của phần còn lại". Các nước tầm trung đòi một tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và sẽ không chấp nhận sự trở lại của bất kỳ cường quốc bá chủ nào trước đây.
    Cũng rất khó để thấy các nước lớn đạt nhất trí về một vai trò quản lý của mô hình Bản đồng ca châu Á. Nhật Bản quá yếu; Trung Quốc thì không sẵn sàng, và các giá trị chính trị của họ quá khác; Ấn Độ thì chỉ quan tâm đến các vấn đề của mình; còn các tham vọng địa chính trị của Indonesia lại gắn với Đông Nam Á; Mỹ chẳng có nguồn lực để đóng một vai trò lãnh đạo nổi bật tại châu Á.
    Còn về ý kiến cho rằng Mỹ nên chấp nhận sự tất yếu và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc như một nước bình đẳng? Song song với G-2 sẽ là một châu Á -2, cho phép Bắc Kinh và Washington chia sẻ khu vực thành các vòng ảnh hưởng giống như Mỹ và Liên Xô từng quản lý một nửa châu Âu trong thời đầu chiến tranh Lạnh.
    Dù trông bề ngoài có vẻ hấp dẫn vì cho thấy triển vọng một sự chuyển tiếp hào bình sang một trật tự quốc tế mới, nhưng cách chia sẻ quyền lực này giữa Mỹ và Trung Quốc ít khả năng xảy ra vì hai lý do. Một là không có chính quyền nào ở Mỹ, vì tính phức tạp chính trị của họ, lại sẵn lòng chia miếng bánh quyền lực với Trung Quốc, và Trung Quốc cũng vậy. Thứ hai, quy chế nước lớn mới của Trung Quốc khó mà bị cản trở. Nó cũng không được đảm bảo là sẽ kéo dài, vì đất nước này đang phải đối mặt với các thách thức lớn về môi trường, tài nguyên, kinh tế và dân số, chưa kể tới một đối thủ là Mỹ đang không có dấu hiệu nào rơi vào suy yếu bất chấp tình hình kinh tế khó khăn hiện nay của họ. Sớm hơn họ nghĩ, Bắc Kinh có thể phải đương đầu với nguy cơ một Washington trỗi dậy quyết tâm giành lại các lợi ích chiến lược của mình.
    Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào Trung Quốc và Mỹ có thể đảm bảo rằng cuộc cạnh tranh lành mạnh sẽ không dẫn tới một sự dửng dưng làm nghiêm trọng thêm sự bấp bênh vốn có và dẫn tới xung đột nghiêm trọng? Có thể Bắc Kinh sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, duy trì chiến lược chính trị và quân sự hiện nay của mình tại Tây Thái Bình Dương.
    Giống như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc tự cho mình quyền hiện đại hóa lực lượng vũ trang và bảo vệ các lợi ích an ninh chính đáng của mình. Nhưng thái độ xác quyết của Bắc Kinh trong yêu sách lãnh thổ tại biển Đông lại phản tác dụng - làm các nước láng giềng xa lánh, khiến quốc tế lo ngại về các tham vọng chiến lược của Trung Quốc và gây ra các hành động bao vây trong khu vực. Thách thức của Trung Quốc đối với sức mạnh biển của Mỹ tại Đông Á đánh vào niềm tin từ lâu của Mỹ rằng vai trò ưu việt về hải quân tại Thái Bình Dương không chỉ quan trọng đối với an ninh của Mỹ mà cả đối với vị trí cường quốc bá chủ toàn cầu của họ.
    Vấn đề ở đây là các phát biểu chính thức - thường gay gắt và không thỏa hiệp - của Bắc Kinh khi nói về các vấn đề nhạy cảm chính trị hay chủ quyền, cũng như việc chính phủ sẵn sàng chấp nhận, thậm chí đôi khi còn thúc đẩy, tình cảm dân tộc trong nước, càng làm nghiêm trọng và phức tạp thêm các cuộc tranh chấp với Mỹ và Nhật Bản. Một Trung Quốc ngày càng đa nguyên và kết nối toàn cầu đồng nghĩa với việc chính sách đối ngoại không còn là khu vực cấm của riêng Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị và nhóm nhỏ các quan chức về chính sách tại Bộ Ngoại giao và Chính phủ ủng hộ chính sách đó. Chủ nghĩa dân tộc thể hiện trên các chat rooms (diễn đàn trao đổi trên mạng internet), các trang blog và các trang mạng internet đang khiến việc quản lý các quan hệ Trung - Mỹ và Trung - Nhật trở nên phức tạp và khó lường hơn.
    Trong khi đó, thách thức của Mỹ là phát triển một chiến lược gắn kết hơn về Trung Quốc, theo đó công khai thừa nhận các lo ngại về tài nguyên của Tủng Quốc, từ đó có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ các hải trình qua Tây Thái Bình Dương. Điều còn thiếu trong nhiều cách giải thích của phương Tây về cách hành xử xác quyết hơn của Trung Quốc gần đây là sự thừa nhận tầm quan trọng kinh tế mà Bắc Kinh gắn với vùng biển mang tính sống còn này, được coi là một ống dẫn chính tới thương mại thế giới và một kho khoáng sản giàu có và nguồn hải sản phong phú. Đến năm 2030, có tới 80% nhu cầu dầu và 50% nhu cầu khí đốt của Trung Quốc sẽ phải nhập bằng đường biển, thông qua eo biển Malacca - nơi được coi là một nút thắt cổ chai trên biển từ xưa vì nó hẹp và cạn, hạn chế số lượng tàu bè qua lại hàng ngày, và vì nó dễ bị áp đặt lệnh cấm hoặc phong tỏa môi trường.
    Tỷ lệ gia tăng nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc hiếm thấy, nếu không muốn nói là chưa từng thấy trong lịch sử. Trong chưa đầy 20 năm, nước này đã chuyển từ một nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu hơn 55% nhu cầu về dầu mỏ trong nước, với việc nhập khẩu dầu thô tăng tới tận 17,5% riêng trong năm 2010.
    Tính dễ bị tổn thương về tài nguyên này tác động rất mạnh tới suy nghĩ của các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc, những người bên cạnh việc lo ngại chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và tình trạng xâu xé nguồn cung năng lượng của họ, đã ý thức rõ rằng đối thủ cạnh tranh chính của họ đang thể hiện quyền kiểm soát hải quân tại Eo biển Malacca và hầu hết vùng Tây Thái Bình Dương.
    Nêu ra thế tiến thoái lưỡng nan tại Malacca như trên, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ các lo ngại này vào năm 2005, và các quan chức dưới quyền ông đã nói rõ rằng Trung Quốc không còn muốn giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho các hải trình ở Tây Thái Bình Dương vào tay Hải quân Mỹ nữa. Như vậy, dù Mỹ và Nhật Bản có thích hay không, lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ tiến xa hơn ra Tây Thái Bình Dương, đến tận miền Nam Eo biển Malacca. Đây là một hậu quả của sức nặng kinh tế và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc, giống như sự nổi lên của Hải quân Mỹ đã báo trước sự nổi lên của Mỹ là một cường quốc lớn từ cuối thế kỷ 20.
    Một điểm nguy hiểm khác nằm ở các mâu thuẫn trong cách hành xử và cách tiếp cận của Mỹ với Trung Quốc. Trong hai thập kỷ qua, chính sách Trung Quốc của Mỹ đã là một hỗn hợp giữa cam kết, đối tác, cạnh tranh, bao vây và lên lớp về cấu trúc chính trị bên trong Trung Quốc. Khi sự oán giận và thù địch đối với một Bắc Kinh đang nổi lên, chính quyền Mỹ đối mặt với thách thức đảm bảo rằng Trung Quốc không trở thành một kẻ bung xung cho sự lơ là chính sách đối nội của Mỹ hoặc thay thế Liên Xô làm "mẹ mìn" chiến lược mới. Mọi âm mưu biến Trung Quốc thành quỷ sẽ phản tác dụng đối với lợi ích chiến lược của Mỹ tại Đông Á. Nó có thể làm giảm bớt sự ôn hòa của giới lãnh đạo Trung Quốc và khuyến khích một cách trả đũa có thể làm nghiêm trọng thêm các căng thẳng sẵn có.
    Mỹ và Trung Quốc quản lý quan hệ của mình như thế nào sẽ có ảnh hưởng chiến lược đối với toàn khu vực Đông Á. Khi cạnh tranh gia tăng, việc ngăn chặn các cuộc xung đột leo thang sẽ không hề dễ. Điều này không phải là tất yếu vì Bắc Kinh tìm cách bành chướng lãnh thổ, trở thành một cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hay có bất đồng sâu sắc với Washington về các giá trị. Có lẽ, nó có thể được quản lý. Mối nguy hiểm thực sự là tính dễ tổn thương về năng lượng của Trung Quốc, cảm giác mình được quyền làm và quyết tâm lập lại vị thế bá chủ từng có trong lịch sử tại Đông Á sẽ làm sâu sắc thêm những lo ngại trong khu vực về cách hành xử của Trung Quốc và gây ra phản ứng đáp trả của Mỹ và Nhật.
    Điều này có thể đặt ra một cách hiểu đương đại về thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh cổ điển từ nửa thế kỷ trước của nhà lý luận nổi tiếng của Mỹ về quan hệ quốc tế Kenneth Waltz: trong khi tìm cách tăng cường an ninh của mình bằng cách xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh, các nước lớn thường làm gia tăng sự bất ổn của nước khác vì sức mạnh quân sự này thường bị xem là một nguy cơ tiềm ẩn hơn là một biện pháp hợp lý và mang tính phòng vệ.
    Cũng vậy, ý định của Trung Quốc nhằm thử phản ứng của Washington tại Tây Thái Bình Dương đã dẫn tới phản ứng gay gắt có thể dự đoán của Mỹ. Hải quân và Không quân Mỹ đang nghiên cứu các kế hoạch nhằm ngăn chặn và phá hủy các năng lực tên lửa lớn của Trung Quốc bằng một chiến lược "chiến tranh không-biển" mới, chiến lược thu hút nhiều sự chú ý trong giới chính trị ở Washington. Điều này không hẳn sẽ biến thành một cuộc chạy đua vũ trang tổng lực, thể hiện bởi sự lo ngại của các nước khác trước sức mạnh quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc. Tránh kết cục tồi tệ nhất sẽ đòi hỏi một cam kết lâu dài, bền vững nhằm xây dựng lòng tin và ngoại giao đề phòng, cũng như xây dựng một hệ thống quản lý nguy cơ hiệu quả có thể tránh các tranh chấp và sự cố cục bộ leo thang thành các cuộc xung đột lớn trên toàn khu vực.

    Tóm lại, sự tan rã của Trật tự cũ tại Đông Á đã tạo ra một thế cân bằng quyền lực mỏng manh, gây ra bất ổn bởi những tham vọng khu vực (có thể hiểu được) của Trung Quốc, và sự quyết tâm có thể hiểu được của Mỹ trong việc bảo vệ vị thế bá chủ khu vực vốn có của mình nhiều nhất có thể. Liệu hai cường quốc này có thể quản lý thành công sự chuyển giao mong manh này và từ đó ổn định thế cân bằng quyền lực trong khu vực hay không vẫn là một câu hỏi trọng tâm mà châu Á - và cả thế giới - đang phải đối mặt trong thời đại của những biến động toàn cầu này./.
    Châu Giang theo nationalinterest.org

    • Thông tin tác giả: Alan Dupont, giáo sư về an ninh quốc tế, Giám đốc Viện An ninh Quốc tế và Phát triển tại Đại học New South Wales ở Sydney, Australia.
    • nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  15. Thanks longtt88 đã cám ơn bài viết
  16. #2700
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.159
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    151

    Diễn đàn ASEAN-Trung Quốc có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông?

    Theo mạng tin "Nghiên cứu toàn cầu" ngày 26/6, bế tắc giữa Philíppin và Trung Quốc xung quanh vụ tranh chấp bãi đá ngầm Scarborough (Philíppin gọi là Panatag, còn Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) không đơn giản là vấn đề song phương, mà nó đã gây ra tác động nghiêm trọng đối với hoạt động chính trị khu vực và đặc tính đang thay đổi của sức mạnh toàn cầu. Đó là lý do khiến thế giới cần thiết lập ngay một cơ sở rõ ràng cho việc giải quyết tranh chấp này. Cả Philíppin và Trung Quốc dường như đang duy trì những quan điểm cứng rắn về chủ quyền đối với hòn đảo không người ở và vùng biển xung quanh hòn đảo này.
    Philíppin tuyên bố bãi đá ngầm Scarborough, cách đảo Luzon 135 dặm, nằm trong khu vực Đặc quyền kinh tế 200 dặm của họ. Mặt khác, Trung Quốc cho rằng về lịch sử, Hoàng Nham thuộc lãnh thổ của Trung Quốc và đã xuất hiện trong một bản đồ Trung Quốc hồi thế kỷ 13. Có những luận cứ chống lại cả hai quan điểm trên khi các nhà bình luận Trung Quốc cho rằng tại sao Hiệp ước Pari năm 1898, trao cho Mỹ chủ quyền đối với Philíppin, lại không công nhận điều này?
    Trong khi các nhà phân tích Philíppin nhắc nhở rằng hàng trăm năm trước thế kỷ 13, tổ tiên của những người Philíppin - nổi tiếng về kỹ năng hàng hải - là những "con sói biển" trong toàn khu vực. Philíppin muốn giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, trên cơ sở Công ước về Luật biển của LHQ (UNCLOS). Trung Quốc hoàn toàn phản đối điều này và khăng khăng đòi giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán song phương. Tuy nhiên, điều khiến thế giới hy vọng là dường như hai bên đều quyết tâm tránh một cuộc đối đầu quân sự. Vậy giải pháp hòa bình nào sẽ khiến cả hai bên hài lòng?
    Đây chính là nơi Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có thể đóng một vai trò. ASEAN có thể đề xuất thành lập một Diễn đàn ASEAN-Trung Quốc làm nơi tiếp tục thảo luận và thương thuyết đối với tranh chấp ở bãi đá ngầm Scarborough và các xung đột khác có liên quan đến Biển Đông. Ngoài Philíppin, còn có 3 thành viên ASEAN khác là Brunây, Việt Nam và Malaixia cũng dính líu đến những tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông.
    Do có tới 4 thành viên có liên quan đến những tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, ASEAN nên tiếp cận với các tranh chấp khác nhau về chủ quyền có liên quan đến Trung Quốc trên một cơ sở tập thể. Diễn đàn ASEAN-Trung Quốc không nên bao gồm bất kỳ quốc gia hoặc thể chế nào ngoài những bên có liên quan. Trước đây, Trung Quốc đã không thích cách tiếp cận tập thể này, nhưng Bắc Kinh phải được thuyết phục để chấp nhận. Một cách tiếp cận tập thể có thể phục vụ lợi ích lớn hơn của cả ASEAN và Trung Quốc vì hai lý do sau:
    Thứ nhất, Biển Đông nổi tiếng giàu tiềm năng dầu khí. Mặc dù các ước tính rất khác nhau, nhưng khu vực này được coi là một trong những nguồn giàu tài nguyên của tương lai. Đây chắc chắn là một trong những nhân tố đằng sau sự quan tâm đến Biển Đông, không chỉ của những nước có tuyên bố chủ quyền, mà cả của những cường quốc khác bên ngoài khu vực. Vậy tại sao ASEAN và Trung Quốc không cùng khai thác sự giàu có của Biển Đông để phục vụ cho người dân của mình?
    Thứ hai, ASEAN và Trung Quốc đều nhận thức một cách sâu sắc rằng nếu tranh chấp bãi đá ngầm Scarborough tiếp tục kéo dài, và những tranh chấp tương tự khác tiếp tục nổ ra trong tương lai gần, siêu cường quân sự Mỹ - đã công khai tuyên bố sự quan tâm đối với Biển Đông - sẽ không do dự tham gia xung đột như một bên trực tiếp. Sự tham gia của Mỹ chắc chắn sẽ làm trầm trọng thêm tình hình vì nếu ASEAN được Mỹ hỗ trợ, có thể họ sẽ được khuyến khích có một quan điểm hiếu chiến hơn so với việc họ không được Mỹ ủng hộ.
    Trung Quốc dự kiến trả đũa bởi vì họ đang coi Biển Đông là "lợi ích cốt lõi". Một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với toàn bộ ASEAN. Đó là lý do khiến Trung Quốc và ASEAN nên nâng cao mối quan hệ, ngoài những quan hệ kinh tế sâu rộng trong thập kỷ qua, thông qua một diễn đàn để giải quyết một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất và có thể khiến ASEAN tan rã.

    QNCBĐ


    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  17. Thanks longtt88 đã cám ơn bài viết

Tags for this Thread

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •