[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 267 trong 308 Đầu tiênĐầu tiên ... 167217257265266267268269277 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 2.661 tới 2.670 trên 3072
  1. #2661
    Ngày gia nhập
    Jun 2010
    Nơi cư ngụ
    Vũng Tàu & Tp. Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    8.893
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    118
    Uploads
    1090
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Mang hơi ấm đến Trường Sa

    Vượt qua hơn 1.000 hải lý, đến thăm 12 đảo và 2 nhà giàn DK1, đoàn công tác Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm, tặng quà cán bộ, chiến sĩ, nhân dân quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) sau 12 ngày. Một chuyến đi để lại nhiều dấu ấn đẹp, nhưng hơn cả là tình cảm của Tập đoàn Dầu khí hướng về những chiến sĩ nơi đầu sóng ngọn gió, bất chấp hiểm nguy, hy sinh quyền lợi cá nhân đang chắc tay súng bảo vệ toàn vẹn biển đảo Tổ quốc.

    1. Với tinh thần “Cả nước hướng về Trường Sa”, sau chuyến đi năm 2011, đây là chuyến đi lần thứ 5 của đoàn đại biểu PVN và chuyến đi thứ 15 cũng là cuối cùng của năm 2012 của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp các tỉnh, thành, tổ chức trên cả nước.

    Chuyến đi Trường Sa cũng là cơ hội cho các thành viên đại diện trong đại gia đình với hơn 50.000 CBCNV lao động được hiểu nhau hơn, cũng là dịp hiếm hoi để các đơn vị thắt chặt thêm tình đoàn kết, giao lưu cùng nhau sát cánh hướng về nơi vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là các thành viên đến từ Công ty Mẹ; Vietsovpetro; PVEP; PV Power; PV EIC; PV Gas; PV Oil; DMC; PVC; BSR; DQS; PTSC, đông đảo nhất là các thành viên PVFCCo (15 đồng chí).


    Đoàn công tác Tập đoàn Dầu khí đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm tại quần đảo Trường Sa

    Giãi bày cảm xúc trước chuyến đi, Trưởng đoàn Trần Thị Phương Thảo, Chủ tịch Công đoàn PVFCCo tâm sự: “Đây là chuyến đi mang nhiều ý nghĩa, bởi đây là dịp ngành Dầu khí tổ chức đoàn công tác ra thăm quần đảo Trường Sa với số lượng đông nhất. Vinh dự thay mặt lãnh đạo Tập đoàn và đơn vị, chúng tôi mang đến những món ăn tinh thần động viên các chiến sĩ hoàn thành tốt nhiệm vụ và những món quà có giá trị thiết thực đến với quân, dân trên đảo. Tất cả dựa trên tinh thần cả nước cùng hướng về Trường Sa, mong các cán bộ giữ vững tay súng, bảo vệ biển đảo quê hương, thể hiện mối tình thâm sâu không có khoảng cách giữa đất liền và đảo xa”.

    Trường Sa! Tên gọi linh thiêng trong mỗi trái tim người Việt, chúng tôi được nghe kể về sự can trường, gan dạ, cùng những khó khăn gian khổ của quân và dân đã nhiều. Nhưng với tất cả 35 thành viên, đây là lần đầu tiên chúng tôi thực sự được đến với Trường Sa. Khó có thể diễn tả hết tâm trạng náo nức cho một chuyến đi, trong mỗi người đều cảm thấy vinh dự, tự hào được đại diện cho gần 50.000 CBCNV của PVN tham gia hành trình “Vì biển đảo quê hương năm 2012”.


    Trồng rau xanh trên đảo

    2.
    Kỷ niệm đầu tiên của chúng tôi là được tham gia các hoạt động giao lưu văn nghệ trên tàu, một điểm nhấn không thể thiếu trên hành trình hướng đến Trường Sa. Các đoàn được phân bổ thành 8 trung đội, đoàn PVN quy tụ thành trung đội số 6, mỗi trung đội đều phải thể hiện được bản sắc riêng, vừa là giao lưu giữa các đoàn, vừa là dịp chuẩn bị những tiết mục đặc sắc gửi tâm tư, tình cảm qua lời ca đến với quân, dân huyện đảo Trường Sa trong những ngày tới.

    Ban Tổ chức đã thật khéo khi chọn người dẫn chương trình là một miền Nam, một miền Bắc, gợi lên hình ảnh Bắc Nam hội tụ, một lòng hướng về Trường Sa. Từ sáng kiến của một thành viên, ngay ngày đầu tiên của hải trình, đoàn đã phát động các thành viên tham gia cuộc thi viết “Cảm xúc Trường Sa” và nhiều cuộc thi được các thành viên tham gia tích cực như Giới thiệu trung đội, Gala cười HQ571, Miss tàu HQ571, thi viết “Ấn tượng Trường Sa”… được diễn ra lần lượt trong chuyến hải trình, việc xét và trao giải sẽ được thực hiện trước khi hải trình kết thúc. Ngay trên tàu HQ571, các thành viên trong đoàn cũng chủ động tạo ra những hoạt động tuyên truyền sáng tạo như chương trình phát thanh HQ571.


    Hạnh phúc giản dị

    Theo Trưởng đoàn PVN Trần Thị Phương Thảo, đoàn văn nghệ xung kích Tập đoàn Dầu khí có số lượng khá “áp đảo” các đoàn khác với trên 30 thành viên, nhiều cá nhân có khả năng biểu diễn đa dạng như đồng chí Nguyễn Văn Đức (đoàn viên DMC) có thể sáng tác, ca hát và chơi nhạc cụ, Trương Thị Thùy Trang (đoàn viên PVFCCo) có khả năng ca hát và dẫn chương trình… Ngoài ra, đội văn nghệ xung kích Trung ương Đoàn dịp này còn có sự góp mặt của 2 ca sĩ khá nổi tiếng là Lê Cát Trọng Lý và Duy Khoa.

    3.
    Sau 2 ngày đêm lênh đênh trên sóng nước từ cảng Cát Lái TP Hồ Chí Minh chúng tôi đã đến đảo chìm Đá Lát – điểm dừng chân đầu tiên trên hải trình thăm huyện đảo Trường Sa và nhà dàn DK1. 7 giờ sáng, đảo chìm Đá Lát hiện lên giữa muôn trùng sóng nước hiện lên chào đón chúng tôi, xuồng máy chở đoàn được neo chặt bằng những đôi tay đen sạm, vạm vỡ của các chiến sĩ. Sau những cái siết tay thật chặt, nụ cười nồng hậu, Thiếu tá Trương Văn Núi, Đảo trưởng đảo Đá Lát đã nhận ngay ra chúng tôi qua “màu cờ sắc áo”: “Xin chào các bạn dầu khí, rất vui được gặp lại”.

    Trong buổi làm việc cùng đoàn công tác, Thiếu tá Trương Văn Núi đã báo cáo với đoàn công tác về nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Theo tâm tình của Đảo trưởng Trương Văn Núi, mặc dù còn một số khó khăn nhưng chiến sĩ của các đảo đều đoàn kết, yên tâm công tác, vững vàng trong mọi tình huống xây dựng đảo mạnh về phòng thủ, tốt về lối sống, đẹp về tình quân dân.


    Bí thư Đoàn Thanh niên PVFCCo Lê Anh Quốc trao ảnh lưu niệm tại Lễ kết nghĩa với Đoàn Thanh niên Đảo Phan Vinh

    Đặt chân lên đảo mới thấu hiểu được cuộc sống của lính đảo như thế nào, nhìn cơ sở vật chất của các anh đang ngày đêm canh gác ai nấy đều cảm phục và xúc động. Thấy rõ đời sống tinh thần, vật chất của các anh được nâng lên rõ rệt, gia súc gia cầm được chăn thả xung quanh đảo rồi những luống rau xanh lá được che phủ dưới dàn pin năng lượng mặt trời. Tất cả tạo nên một bức tranh gần gũi, sống động làm chúng tôi quên đi cảm giác nơi biển đảo xa xôi. Dành thời gian chia sẻ với các thành viên trong đoàn, Thiếu tá Trương Văn Núi cho biết thêm, chính những tình cảm từ đất liền gửi ra đảo xa đã làm ấm lòng các chiến sĩ nơi biển đảo tiền tiêu của Tổ quốc. Xúc động tại buổi gặp mặt, Trưởng đoàn Dầu khí Trần Thị Phương Thảo tâm sự: “Các chiến sĩ ở đảo Đá Lát là những tấm gương xúc động trong cuộc sống, rèn luyện, chiến đấu. Chính từ những tấm gương đó mà chúng tôi những người bạn dầu khí luôn đặt ý thức trách nhiệm tốt hơn, nhiều hơn nữa với đảo, với các chiến sĩ”. Thay mặt cho lãnh đạo Tập đoàn, trưởng đoàn công tác dầu khí đã trao tặng cho đảo 1 xe tập thể lực và 1 bộ dây kéo tay để cán bộ, chiến sĩ rèn luyện nâng cao thể lực.

    Điểm đến thứ 2, chúng tôi đặt chân đến nơi được xem là “Thủ đô của quần đảo Trường Sa”. Giữa bốn bề đại dương đảo Trường Sa lớn hiện lên đúng với tầm vóc vốn được mệnh danh nổi lên như một pháo đài sừng sững kiên trung giữa Biển Đông. Có mặt tại đảo Trường Sa lớn, cả đoàn ai cũng háo hức, hồi hộp xen lẫn cảm giác khó diễn tả khi sắp được gặp những người lính đảo. Được biết, ngay từ sáng sớm, quân dân trên đảo đã có mặt đông đủ chào đón đoàn công tác mặc dù tàu cập bến cũng đã quá trưa.

    Sau nghi lễ chào cờ và hát Quốc ca thể hiện tinh thần yêu nước giữa trưa nắng gay gắt trên Quảng trường của đảo Trường Sa lớn, đoàn chúng tôi đã tới thắp hương tưởng niệm tại Tượng đài Liệt sĩ, báo công dâng Bác tại Nhà tưởng niệm Bác Hồ trên đảo và thăm viếng chùa Trường Sa. Cũng tại đây, đoàn công tác Tập đoàn đã dự giao lưu và trao quà cho các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo. Tại đây, đoàn đã tổ chức gặp mặt, trao quà và thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ; tổ chức tặng quà cho các cháu thiếu nhi trên đảo nhân ngày 1/6 và tham gia hưởng ứng đêm văn nghệ cùng các chiến sĩ.

    Sáng ngày 8/6, tại vùng đảo Ba Kè – Nhà giàn DK1, thuộc thềm lục địa phía nam của Tổ quốc, trong không khí trang nghiêm, thành kính, đoàn công tác tỉnh đã cùng các đoàn và thành viên tàu HQ 571 tham dự lễ Tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh tại khu vực DK1. Các thành viên trong đoàn đã thắp hương, thả vòng hoa trên biển. Vòng hoa mang dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng, liệt sĩ”.

    Đến Trường Sa, tôi cảm nhận rõ một điều nơi đây là tuyến phòng thủ quan trọng án ngữ trên Biển Đông ngày càng được củng cố vững chắc về mọi mặt, nhớ lại đêm trước xem một đoạn tài liệu trên tàu HQ571 mới thấy hết công lao của các lớp cha anh đi trước. Đó là những công trình được xây dựng trên các điểm đảo chìm, đảo nổi hôm nay, bộ phim đã giúp tôi hiểu hơn rằng, một nơi chỉ có cát, nước biển mặn, mưa gió và giông bão đã đánh đổi biết bao mồ hôi, xương máu khó có thể nói hết bằng lời. Để có được nơi canh gác giữa thiên nhiên khắc nghiệt, các chiến sĩ đã phải chuyển từng viên đá, từng cân xi măng, từng lít nước ngọt để đảo vươn cao trên sóng dữ trở thành cột mốc vững vàng nơi tiền tiêu mà chúng tôi đang đặt chân lên đây. Sống trên những đảo nổi, đảo chìm giữa biển cả mênh mông các chiến sĩ phải chắt chiu từng giọt nước ngọt từ đất liền để chăm chút vun trồng từng mầm rau xanh, từng cây bóng mát có sức chịu đựng mưa gió đến lạ kỳ như bàng vuông, phong ba, bão táp làm dịu đi những ngày mưa gió trên đảo nhỏ san hô. Đứng gác đảo trong hòa bình nhưng vùng biển Trường Sa vẫn còn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, vì nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ từng giọt nước, từng tấc đất hải đảo của Tổ quốc.

    Những năm gần đây cuộc sống đã bớt vất vả hơn, hầu hết các điểm đảo đã có nguồn điện mặt trời, điện gió do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư, ủng hộ, có sóng điện thoại Viettel. Thời gian đến thăm các đảo dù chỉ có nửa ngày nhưng chúng tôi được chứng kiến cuộc sống sinh động của người chiến sĩ, ngoài giờ sinh hoạt vật chất và tinh thần đọc báo, nghe đài, xem tivi là những giờ trồng rau, chăn nuôi gia súc, gia cầm góp phần cải thiện đời sống. Bên cạnh đó là những giờ phút đi tuần kiểm tra đảo không một phút lơ là, chủ quan bởi đó là mệnh lệnh và nhiệm vụ của các chiến sĩ nơi hải đảo xa xôi và rất nhạy cảm này bởi khu vực là nơi tiềm ẩn tranh chấp của 6 nước và 1 bên.

    4.
    Đặc biệt, vào ngày 4-6 một sự kiện hết sức quan trọng và ý nghĩa đã được diễn ra. Đó là sự kiện Đoàn Thanh NiênTổng công ty Phân bón và hóa chất dầu khí (PVFCCo) đã tổ chức lễ kết nghĩa với đảo Phan Vinh. Lễ kết nghĩa là sự kiện nằm trong “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương” do Trung ương Đoàn TNCS HCM và Bộ tư lệnh Hải quân phối hợp trong suốt hành trình chuyến đi.


    Bắt tay nhận đồng hương giữa một sĩ quan trên đảo Thuyền Chài và một thành viên của Đoàn Thanh niên Dầu khí

    Đồng chí Lê Anh Quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên PVFCCo cho biết, Việc kết nghĩa giữa Đoàn Thanh niên của 2 đơn vị là một hoạt động chính trị có ý nghĩa sâu sắc, thiết thực thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, thực hiện phong trào “Vì Trường Sa thân yêu”. Tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc thông qua việc thực hiện các phong trào hành động thiết thực, cụ thể nhằm góp phần khẳng định, bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng, tình cảm, sự gắn bó của tuổi trẻ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nói chung, Tổng Công ty Phân bón và hóa chất Dầu khí nói riêng với những đóng góp, hy sinh của các chiến sĩ Trường Sa và Đảo Phan Vinh.

    Nhân dịp này, Đoàn Thanh niên PVFCCo cũng đã trao tặng Đoàn thanh niên đảo Phan Vinh nhiều món quà ý nghĩa, thiết thực. Qua đó, vào những dịp lễ, tết đoàn Thanh niên PVFCCo sẽ thường xuyên thăm hỏi, tặng quà các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách là hậu phương cũng như cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên Thanh niên đang ngày đêm canh giữ Đảo Phan Vinh.

    Trong 12 ngày hành trình, đoàn công tác Tập đoàn Dầu khí đã lên thăm, tặng quà, hạt giống rau, sách báo và giao lưu, động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân các đảo: Đá Lát, Trường Sa lớn, Trường Sa đông, điểm đảo Đá đông B, C , đảo Phan Vinh A, đảo Tốc Tan B, đảo Núi Le, đảo Tiên Nữ, đảo Thuyền Chài, đảo An Bang và bãi Ba Kè – Nhà giàn DK1-20, DK1-21. Tại các đảo, điểm đảo và nhà giàn DK1, thay mặt đoàn công tác ngành Dầu khí, Trưởng đoàn Trần Thị Phương Thảo đã gửi tặng 500 triệu đồng đến quân dân huyện đảo Trường Sa và tặng quà, ân cần thăm hỏi các cán bộ, chiến sĩ, trong đó có các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ, thể hiện lòng biết ơn của đất liền với những cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm chắc tay súng canh giữ biển đảo của Tổ quốc, mong muốn các anh tiếp tục vững niềm tin làm nhiệm vụ trong sự chung tay của cả nước nói chung, ngành Dầu khí nói riêng thêm nhiều hoạt động thiết thực hơn nữa hướng về biển đảo thân yêu.

    Trường Sa, tháng 6 năm 2012.
    Mạnh Kiên

    (Năng lượng Mới số 128, ra thứ Sáu ngày 15/6/2012)

    Nguồn: Petro Times
    I have a dream

  2. Thanks anh2 thanked for this post
  3. #2662
    Ngày gia nhập
    Oct 2011
    Bài gửi
    115
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Chùm ảnh đặc biệt về Lá cờ gắn gốm lớn nhất ở Trường Sa

    http://biendong.vntime.vn/News.aspx?...3-86762d1725f2
    Như đã đưa tin, tại đảo Trường Sa Lớn vừa khánh thành Lá cờ Tổ quốc gắn gốm lớn nhất VN và 4 bức tranh gốm với chủ đề Trường Sa - Biển đảo VN mến yêu. Lá cờ gắn gốm nằm trên nóc tòa nhà hội trường ở trung tâm đảo Trường Sa, cạnh đường băng sân bay, có kích thước 12.40m x 25m, được ghép từ 310.000 viên gốm mosaic.


    Tại Lễ khánh thành, Tổ chức Kỷ lục VN trao bằng chứng nhận Lá cờ Tổ quốc bằng gốm Lớn nhất VN.

    Xin giới thiệu hình ảnh về Lá cờ đặc biệt này:




    Từ trên không trung (từ vệ tinh, Google Earth hay máy bay) mọi người đều có thể nhìn thấy lá cờ sao vàng đỏ thắm tại đảo Trường Sa Lớn.






    Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy- tác giả ý tưởng công trình đang gắn những viên gốm nhỏ để hoàn thiện Lá cờ. Chị Thủy chính là người đã khởi xướng và tổ chức thực hiện Con đường gốm sứ ven Sông Hồng, người được trao giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội năm 2008 và danh hiệu Công dân ưu tú Thủ đô 2010.




    Chị Thủy gắn Lá cờ cùng với các thành viên Công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội





    Công đoạn cuối hoàn thiện lá cờ của các nghệ sĩ



    Nữ họa sĩ hoàn thiện cộng đoạn cuối cùng






    Lá cờ gắn gốm khổng lồ giữa biển đảo mênh mông





    Các thành viên hoàn thiện Lá cờ chụp ảnh cùng với các chiến sĩ hải quân




    Các bạn trẻ mặc áo có in hình bức tranh gốm Trường Sa- Biển đảo Việt Nam mến yêu trong buổi lễ khánh thành Lá cờ.






    Quang cảnh Lễ khánh thành





    Không khí trang nghiêm




    Các vị đại biểu, nhân dân và các lực lượng vũ trang trên đảo Trường Sa Lớn tại Lễ khánh thành






    Máy bay trực thăng của quân đội trong Lễ khánh thành




    Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy phát biểu tại Lễ khánh thành




    Hoạ sỹ Thu Thủy, Ngân hàng VP Bank, Cty Nghệ thuật Tân Hà Nội nhận bằng khen của Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân.





    Đai diện Tổ chức Kỷ lục VN trao bằng chứng nhận Lá cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam cho họa sĩ Nguyễn Thu Thủy, Ngân hàng VP Bank và Cty Nghệ thuật Tân Hà Nội.




    Ngoài Lá cờ kỷ lục, trên hai bức tường mới xây đối xứng hai bên cột mốc chủ quyền ở trung tâm đảo Trường Sa Lớn, các nghệ sĩ còn thể hiện 4 bức tranh gốm.





    Tác phẩm tranh gốm Mùa xuân quê hương do họa sĩ Phạm Viết Hồng Lam vẽ phác thảo.



    Họa sĩ Nguyễn Thu Thủy giới thiệu tranh gốm vẽ các chiến sĩ Trường Sa.



    Bức tranh gốm Trường Sa- Biển đảo Việt Nam mến yêu do hoạ sỹ Doãn Sơn vẽ phác thảo





    Bức tranh gốm Trường Sa trong trái tim cả nước do họa sĩ Nguyễn Thu Thuỷ và Doãn Sơn vẽ phác thảo.




    Những viên gốm mosaic màu đỏ tươi để ghép cờ Tổ quốc được sản xuất từ lò gốm Bát Tràng, Hà Nội.




    Trước khi vận chuyển ra Trường Sa, cờ Tổ quốc và các bức tranh gốm đã được ghép sẵn tại Hà Nội.





    Hoạ sỹ Thu Thủy và các bạn trẻ ngân hàng VP Bank chuẩn bị mang các kiện gốm ra Trường Sa.




    Và miệt mài gắn từng mảnh gốm nhỏ để hoàn thiện các bức tranh ghép gốm.


    Hình ảnh anh chiến sĩ Hải quân khi chuyển thể từ phác thảo sang nghệ thuật ghép mosaic.




    Họa sĩ Nguyễn Thuy Thủy tâm sự rằng: "Công trình này có lẽ là một kỷ lục trong đời tôi. Trong năm 2012, tôi đã 3 lần ra Trường Sa để hoàn thiện Lá cờ Tổ quốc và tranh gốm. Tình yêu Trường Sa đã ngấm vào máu thịt tôi..."




    Họa sĩ chia sẻ: "Về Hà Nội tôi thấy nhớ Trường Sa da diết. Trường Sa giúp tôi thấu hiểu hơn bao giờ hết thế nào là tình yêu Tổ quốc!".




    Khi ở Trường Sa, họa sĩ Thu Thủy đã có nhiều ký họa về con người và cảnh vật nơi đây.





    Chị còn giữ lời hứa chuyển thể tranh vẽ của các em thành tranh gốm trang trí ở trường học






    Về đến Hà Nội chị đã sáng tác một bài thơ gửi nỗi nhớ đến Trường Sa:




    Nhớ Trường Sa

    Sông Hồng ơi, đem nước ra biển lớn
    Chở giùm tôi thương nhớ tới Trường Sa

    Ở nơi ấy, những tháng ngày trọn vẹn

    Tôi đã coi hòn đảo nhỏ là nhà


    Bao tự hào mỗi phút ở Trường Sa
    Núm ruột xa của Mẹ hiền Tổ quốc
    Bao là nhớ những phút giây hạnh phúc

    Trước mũi tàu, khi đảo bỗng hiện ra


    Nhớ xiết bao giữa trời biển bao la
    Những vồng sóng ạt ào xô bờ cát
    Nhớ xiết bao hoa bàng vuông e ấp

    Tiếng chuông chùa từng nhịp gióng ngân nga


    Nhớ những chiều vàng nắng gió Trường Sa

    Trong sáng lắm là ánh nhìn chiến sỹ

    Giòn khanh khách là tiếng cười lũ trẻ
    Bao mến thương, nơi ấy sống chan hòa


    Tôi gửi hồn vào lá cờ Tổ quốc
    Giữa Trường Sa lấp lánh ánh bình minh

    Yêu Trường Sa, tôi càng yêu đất nước

    Nhớ Trường Sa! Từng mạch đập, tim mình!


    Sông Hồng ơi, hãy chở ra biển lớn
    Nỗi lòng tôi đang thương nhớ
    Trường Sa Tôi lại mơ một ngày không xa lắm

    Về Trường Sa, tôi về lại Trường Sa







  4. #2663
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    3.114
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    3
    Uploads
    0
    Mentioned
    1 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Post Công ước luật Biển năm 1982: Hiến chương của thế giới về biển và đại dương

    Công ước luật Biển năm 1982: Hiến chương của thế giới về biển và đại dương
    18/06/2012 3:00

    Ngày 8.6.2012, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc (LHQ) ở New York, lễ kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS 1982) đã diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên công ước này. Nhân dịp này, Thanh Niên xin giới thiệu bài viết của tác giả Hạnh Duy, chuyên gia luật pháp quốc tế, về những nội dung cơ bản của Công ước luật Biển năm 1982.

    Kể từ khi được thành lập cho đến nay, LHQ đã dành sự ưu tiên đặc biệt cho hoạt động pháp điển hóa và phát triển tiến bộ các quy phạm và nguyên tắc của ngành luật biển quốc tế. Bằng chứng là LHQ đã tổ chức 3 hội nghị lớn và quan trọng về luật biển. Hội nghị luật Biển lần thứ I được tổ chức tại Geneva vào năm 1958 và thông qua 4 công ước, cụ thể là Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp, Công ước về biển cả, Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả và Công ước về thềm lục địa.

    Tiếp đó, Hội nghị luật Biển lần thứ II cũng được tổ chức tại Geneva vào năm 1960 với mục đích thống nhất về chiều rộng của lãnh hải. Do lập trường của các nhóm nước khác nhau, nên hội nghị đã không đạt được mục tiêu đề ra. Hội nghị luật Biển lần thứ III chủ yếu được tổ chức tại New York và Geneva với hai giai đoạn khác nhau: giai đoạn trù bị từ năm 1967 đến năm 1973 và giai đoạn chính thức từ năm 1973 đến năm 1982.

    Thành công lớn của Hội nghị luật Biển lần thứ III là đã thông qua Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ với 320 điều và 9 phụ lục. Công ước được mở ra cho các quốc gia ký vào ngày 10.12.1982. Cũng ngay trong ngày đó, Fiji trở thành thành viên đầu tiên của công ước. Tính đến ngày 5.6.2012, công ước có 162 thành viên từ khắp châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và châu Đại dương. Trong số các nước ven biển Đông đã có 8 nước tham gia Công ước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei và Thái Lan.


    Khu dịch vụ hậu cần nghề cá ở đảo Đá Tây, Trường Sa, phục vụ cho ngư dân đánh bắt cá trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền Việt Nam - Ảnh: Đình Phú
    Công ước luật Biển năm 1982 được coi là hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương bởi vì đã xác định một cách toàn diện quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển cũng như quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Đồng thời công ước cũng quy định thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến hoạt động ở biển và đại dương như Tòa án quốc tế về luật Biển, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và Hội nghị các quốc gia thành viên công ước. Đặc biệt liên quan đến các tranh chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, Công ước luật Biển năm 1982 đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương LHQ, đồng thời nêu rõ các cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính triệt để.

    Đáng chú ý là công ước được thông qua như là một giải pháp cả gói, cho nên các quốc gia không được phép bảo lưu khi tham gia công ước.

    1. Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển theo Công ước luật Biển năm 1982

    Theo Công ước luật Biển năm 1982, quốc gia ven biển có các vùng biển là nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển này được tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của quốc gia ven biển.

    Nội thủy là toàn bộ vùng biển tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở của quốc gia ven biển. Trong vùng nội thủy của mình, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình.

    Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở của quốc gia ven biển. Theo luật biển vào những năm 50 của thế kỷ 20 trở về trước, lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ rộng 3 hải lý, tức khoảng 5,7 km. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ II của LHQ, một số nước tiếp tục ủng hộ quan điểm lãnh hải 3 hải lý, nhưng một số nước khác chủ trương mở rộng lãnh hải đến 12 hải lý. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ III các nước đã đạt nhận thức chung, do đó Công ước luật Biển năm 1982 đã xác định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời ở trên lãnh hải, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

    Tuy nhiên, tính chủ quyền ở đây không được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì trong lãnh hải của quốc gia ven biển tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền đi qua không gây hại (tàu bay bay trên vùng trời vẫn phải xin phép). Công ước cũng đề ra những quy định rất cụ thể đối với việc đi qua không gây hại như không được đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hoặc dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương LHQ; hoặc tuyên truyền, thu thập thông tin gây hại cho quốc phòng, an ninh của quốc gia ven biển…

    Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc đi qua trong lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, xuất, nhập cảnh, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua.

    Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển đặc thù nằm ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển. Vùng này cũng có chiều rộng 12 hải lý kể từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Có thể nói, vùng này như là một vùng đệm mà ở đó, các quốc gia ven biển có quyền thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm mục đich ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm xảy ra trong lãnh hải của quốc gia đó. Ngoài khía cạnh này ra, quy chế của vùng này hoàn toàn như phần còn lại của vùng đặc quyền kinh tế.

    Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý). Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý hoàn toàn mới. Mãi cho đến những năm 50 của thế kỷ 20 hoàn toàn không có chế định này. Lúc đó các quốc gia ven biển chỉ có lãnh hải 3 hải lý. Ngoài lãnh hải 3 hải lý là vùng biển quốc tế. Với việc ra đời của vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng và vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể.

    Khác với nội thủy và lãnh hải, quốc gia ven biển không có chủ quyền mà chỉ có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó cũng như đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió. Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên chính trong vùng đặc quyền kinh tế mà các quốc gia ven biển đang quan tâm và đẩy mạnh thăm dò, khai thác là tôm, cá. Đối với số lượng tôm, cá mà quốc gia ven biển không đánh bắt hết thì có thể cho phép các quốc gia khác đánh bắt (nhưng họ phải trả lệ phí và tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển). Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.

    Bên cạnh đó, Công ước luật Biển năm 1982 cũng quy định rõ ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, các quốc gia khác có một số quyền như quyền tự do hàng hải và quyền tự do hàng không ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển.
    Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển với chiều rộng tối thiểu là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Theo công ước, quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý kể từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m (đường nối liền các điểm có độ sâu 2.500 m).

    Điều kiện để có thể mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý là quốc gia ven biển phải trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Thực hiện quyền này, các quốc gia ven biển đã trình lên LHQ 60 báo cáo quốc gia khác nhau, trong đó có 5 báo cáo chung - do 2 hoặc 3, 4 nước cùng làm báo cáo đối với một khu vực cụ thể. Ngày 6.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ cùng với Đại diện thường trực Malaysia trình LHQ báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia về xác định ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở nam biển Đông. Tiếp đó, ngày 7.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ đã trình tiếp báo cáo riêng của Việt Nam về xác định thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở khu vực phía Bắc.

    Công ước luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó. Hiện nay, các nước ven biển tập trung thăm dò, khai thác nguồn lợi dầu khí để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong tương lai, ngoài dầu và khí, các nước sẽ thăm dò và khai thác các tài nguyên khác như quặng sắt, đồng, chì, thiếc… Đặc biệt, khoản 2, điều 77 của công ước nhấn mạnh quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây, nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.

    Như vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 về phạm vi cũng như quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển rất rõ ràng và minh bạch. Phù hợp với quy định của Công ước, các quốc gia ven biển có các quyền hợp pháp và chính đáng đối với mỗi vùng biển của mình. Khi thực hiện các quyền đó của mình, mỗi quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng các quyền tương tự của các quốc gia ven biển khác. Đó là yêu cầu khách quan của trật tự pháp lý trên biển mà cộng đồng quốc tế đã cùng nhau xây dựng nên. Các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết quốc tế luôn luôn phải song hành.

    2. Quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế theo Công ước luật Biển năm 1982

    Vùng biển quốc tế: Theo luật biển quốc tế trước đây thì vùng biển quốc tế rất rộng, tức là toàn bộ các khu vực biển nằm ngoài lãnh hải 3 hải lý của quốc gia ven biển. Với sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, phạm vi vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể. Theo Công ước luật Biển năm 1982, vùng biển quốc tế là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển. Ở vùng biển quốc tế, mọi quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống ngầm, tự do đánh bắt cá và tự do nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền tự do này, các quốc gia phải tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như phải tuân thủ các quy định liên quan của Công ước luật Biển năm 1982 như bảo vệ môi trường biển, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, an toàn hàng hải, hợp tác trấn áp cướp biển... Công ước quy định vùng biển quốc tế được sử dụng vì mục đích hòa bình và không nước nào được phép đòi một khu vực nào đó của vùng biển quốc tế thuộc chủ quyền của mình.

    Đáy biển quốc tế (hay còn gọi là đáy đại dương) là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài thềm lục địa của quốc gia ven biển. Công ước luật Biển năm 1982 quy định đáy biển quốc tế là di sản chung của nhân loại và không một quốc gia nào có quyền đòi hỏi chủ quyền hay các quyền chủ quyền ở đáy biển quốc tế, kể cả tài nguyên ở đó. Đây cũng là những quy định mới trong luật biển quốc tế hiện đại. Công ước luật Biển năm 1982 quy định: khác với vùng biển quốc tế, ở đáy biển quốc tế các quốc gia không có quyền tự do khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến đáy biển quốc tế, Công ước luật Biển năm 1982 đã quy định thành lập một tổ chức quốc tế mới là Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương.

    Quy chế nói trên về đáy biển quốc tế là kết quả đấu tranh kiên trì của các nước đang phát triển. Theo luật biển quốc tế trước đây quy chế pháp lý của đáy biển cũng là quy chế tự do, tương tự như vùng biển quốc tế. Vào những năm 60 của thế kỷ 20, các nước đang phát triển đã nỗ lực để cộng đồng quốc tế đi tới quy chế pháp lý này. Trong khi đó, một số nước nước công nghiệp phát triển, hoàn toàn không ủng hộ việc có một quy chế pháp lý như vậy. Do đó, vào những năm 90 của thế kỷ 20, trong khuôn khổ tham khảo không chính thức dưới sự chủ trì của Tổng thư ký LHQ, các nước đã tiến hành thương lượng về nội dung của phần XI. Kết quả thương lượng đó dẫn đến sự ra đời của Hiệp định năm 1994 về thực hiện phần XI của công ước. Theo đó, một số điều khoản của Công ước luật Biển năm 1982 liên quan quy chế pháp lý của đáy biển quốc tế đã có thay đổi nhất định để đáp ứng yêu cầu của các nước phát triển.

    3. Các cơ chế quốc tế để thực thi các quy định của Công ước luật Biển năm 1982

    a) Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 họp thường niên để thảo luận việc thực hiện công ước, bầu các cơ chế liên quan như Tòa án quốc tế về luật Biển, Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, xem xét và đánh giá hoạt động của các cơ chế đó. Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 được tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York vào khoảng tháng 6 hằng năm. Các quyết định được hội nghị thông qua bằng đa số phiếu.

    b) Tòa án quốc tế về luật Biển có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan giải thích và thực hiện Công ước luật Biển năm 1982. Trụ sở của tòa án đặt tại Hamburg (Đức). Tòa có 21 thẩm phán với nhiệm kỳ 9 năm (có thể được bầu lại). Các thẩm phán của tòa án được Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 bầu bằng bỏ phiếu kín. Cho đến nay các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 đã trình 19 vụ việc lên Tòa án quốc tế về luật Biển, trong đó 18 vụ liên quan tranh chấp giữa các quốc gia và 1 vụ Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương xin ý kiến tư vấn của tòa. Dư luận cho rằng về lâu về dài các quốc gia sẽ đưa nhiều vụ việc tranh chấp ra tòa nhiều hơn vì tòa án này có một số ưu thế nhất định so với các cơ chế tư pháp quốc tế khác.

    c) Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương có chức năng thay mặt toàn thể cộng đồng quốc tế quản lý đáy biển quốc tế (cấp phép thăm dò tài nguyên ở đó, định ra các chính sách thăm dò khai thác, phân chia thu nhập từ việc khai thác tài nguyên ở đáy biển quốc tế cho cộng đồng quốc tế…). Các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 là thành viên đương nhiên của Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương đóng tại Kingston (Jamaica). Các cơ quan chính của Cơ quan Quyền lực bao gồm Đại hội đồng với đại diện tất cả các quốc gia thành viên (tương tự như Đại hội đồng LHQ), Hội đồng với 36 thành viên (nhiệm kỳ 4 năm) và Ban Thư ký do Tổng thư ký đứng đầu.

    d) Ủy ban Ranh giới thềm lục địa được trao chức năng xem xét các báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa quá 200 hải lý, sau đó ra khuyến nghị đối với các báo cáo. Ủy ban có 21 thành viên được Hội nghị các thành viên công ước bầu với nhiệm kỳ 5 năm. Sau khi Ủy ban có khuyến nghị, các quốc gia ven biển ấn định ranh giới thềm lục địa ngoài phạm vi 200 hải lý của mình. Tính đến ngày 5.6.2012, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa đã nhận được 60 báo cáo quốc gia về thềm lục địa quá 200 hải lý, trong đó có Báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia về khu vực thềm lục địa phía nam biển Đông và Báo cáo riêng của nước ta về thềm lục địa phía Bắc. Hằng năm Ủy ban tiến hành các kỳ họp tại trụ sở LHQ ở New York. Do nội dung các báo cáo phức tạp và công việc xem xét các báo cáo thuộc dạng mới, nên đến nay mặc dù đã rất cố gắng, nhưng Ủy ban mới ra khuyến nghị đối với 17 báo cáo. Với tiến độ như vậy, dự kiến phải khoảng hai chục năm nữa Ủy ban mới ra được kết luận về tất cả các báo cáo quốc gia. Vì thế, trong mấy năm gần đây các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 đang cố gắng thương lượng để tìm các biện pháp thúc đẩy tiến độ công việc của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa.

    4. Việt Nam và Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ

    a. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng về dự thảo Công ước luật Biển năm 1982. Việt Nam đánh giá cao việc hội nghị lần thứ III của LHQ về luật Biển thông qua Công ước luật Biển năm 1982. Trong quá trình thương lượng tại hội nghị, sự tập hợp lực lượng và sự đấu tranh về nội dung của dự thảo công ước diễn ra từ góc độ các nhóm nước khác nhau: nhóm nước ven biển và nhóm nước không có biển, nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển, nhóm nước nghèo và nhóm nước có tiềm lực hải quân hùng mạnh… Lợi ích và quan tâm của các nhóm nước đối với quy chế pháp lý các vùng biển rất khác nhau và nhiều lúc rất mâu thuẫn. Vì vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 không thể thỏa mãn tất cả các yêu sách mà các nhóm nước đặt ra, nhưng về tổng thể đã dung hòa yêu cầu và quan tâm của các nhóm.

    Sau khi Công ước luật Biển năm 1982 được thông qua, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký công ước và ngày 23.6.1994, Quốc hội nước ta đã quyết định phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Từ khi trở thành thành viên của Công ước luật Biển năm 1982, nước ta đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế theo công ước. Việt Nam đã được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương và thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực. Tại các diễn đàn liên quan, Nhà nước ta luôn khẳng định trong hoạt động sử dụng biển các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định trong công ước, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo công ước. Là một quốc gia ven biển Đông, Nhà nước ta triển khai nhiều hoạt động khai thác các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của mình để xây dựng và phát triển đất nước. Trong khi tiến hành các hoạt động ở biển Đông, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của công ước, tôn trọng quyền của các quốc gia khác ven biển Đông cũng như các quốc gia khác theo đúng các quy định của công ước. Đồng thời Nhà nước ta cũng yêu cầu các quốc gia ven biển Đông và các quốc gia khác tôn trọng các quyền lợi chính đáng của Việt Nam ở biển Đông. Trong thực tế, có lúc đã xảy ra một số vụ việc xâm hại nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh ở các cấp qua đường ngoại giao và dư luận cũng như trên thực địa để bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

    b.Việt Nam nhận thức rõ ràng rằng trong việc sử dụng biển và áp dụng Công ước luật Biển năm 1982 việc nảy sinh các bất đồng và tranh chấp giữa các quốc gia là điều khó tránh. Cách thức duy nhất để giải quyết những sự khác biệt và các tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến giải thích và thực hiện các quy định của công ước chính là sử dụng các biện pháp hòa bình theo pháp luật quốc tế quy định. Giải quyết các tranh chấp biển bằng các biện pháp hòa bình vừa là nghĩa vụ của các thành viên LHQ theo quy định của Hiến chương và vừa là nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982.

    Chính vì vậy, Nghị quyết của Quốc hội nước ta về việc phê chuẩn Công ước luật Biển năm 1982 tuyên bố rõ Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Đông đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

    Với chủ trương nhất quán và xuyên suốt đó, Nhà nước ta đã căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 tiến hành đàm phán với các nước láng giềng về các vấn đề liên quan biển Đông. Thời gian qua ta và một số nước láng giềng liên quan như Thái Lan, Trung Quốc và Indonesia đã giải quyết một số tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Năm 1997, ta và Thái Lan ký Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Thái Lan. Năm 2000, ta và Trung Quốc ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc bộ. Năm 2003, ta và Indonesia ký Hiệp định phân định thềm lục địa của hai nước ở phía nam biển Đông. Sau khi có hiệu lực, các hiệp định này đã được lưu chiểu tại LHQ theo đúng quy định của Hiến chương LHQ. Phù hợp với nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982 và các cam kết theo Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở biển Đông, Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo chủ trương tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Công ước luật Biển năm 1982; đồng thời yêu cầu kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này. Lập trường đó của Nhà nước Việt Nam đang nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

    Luật gia Hạnh Duy

    Theo TNO

  5. Thanks anh2, lovevn thanked for this post
  6. #2664
    Thị nở Guest

    Việt Nam giải quyết bất đồng trên biển Đông bằng hòa bình

    Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.

    Ngày 8/6/2012, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York (Mỹ), lễ kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Công ước luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS 1982) đã diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên công ước này. Dưới đây là bài viết của tác giả Hạnh Duy, chuyên gia luật pháp quốc tế, về những nội dung cơ bản của Công ước luật Biển năm 1982.

    Kể từ khi được thành lập cho đến nay, Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã dành sự ưu tiên đặc biệt cho hoạt động pháp điển hóa và phát triển tiến bộ các quy phạm và nguyên tắc của ngành luật biển quốc tế. Bằng chứng là LHQ đã tổ chức 3 hội nghị lớn và quan trọng về luật biển. Hội nghị luật Biển lần thứ I được tổ chức tại Geneva vào năm 1958 và thông qua 4 công ước, cụ thể là Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp, Công ước về biển cả, Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả và Công ước về thềm lục địa.

    Tiếp đó, Hội nghị luật Biển lần thứ II cũng được tổ chức tại Geneva năm 1960 với mục đích thống nhất về chiều rộng của lãnh hải. Do lập trường của các nhóm nước khác nhau nên hội nghị không đạt được mục tiêu đề ra. Hội nghị luật Biển lần thứ III chủ yếu được tổ chức tại New York và Geneva với hai giai đoạn khác nhau: giai đoạn trù bị (năm 1967-1973) và giai đoạn chính thức (năm 1973-1982).

    Đảo chìm Đá Đông B - quần đảo Trường Sa. Ảnh: Phan Văn Toàn.

    Thành công lớn của Hội nghị luật Biển lần thứ III là đã thông qua Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ với 320 điều và 9 phụ lục. Công ước được mở ra cho các quốc gia ký vào ngày 10/12/1982. Cũng ngay trong ngày đó, Fiji trở thành thành viên đầu tiên của công ước. Đến ngày 5/6/2012, công ước có 162 thành viên từ khắp châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và châu Đại dương. Trong số các nước ven biển Đông đã có 8 nước tham gia Công ước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei và Thái Lan.

    Công ước luật Biển năm 1982 được coi là hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương bởi vì đã xác định một cách toàn diện quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển cũng như quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Đồng thời công ước cũng quy định thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến hoạt động ở biển và đại dương như Tòa án quốc tế về luật Biển, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và Hội nghị các quốc gia thành viên công ước.

    Đặc biệt liên quan đến các tranh chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, Công ước luật Biển năm 1982 đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương LHQ, đồng thời nêu rõ các cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính triệt để. Đáng chú ý, công ước được thông qua như một giải pháp cả gói, cho nên các quốc gia không được phép bảo lưu khi tham gia công ước.

    1. Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển theo Công ước luật Biển năm 1982

    Theo Công ước luật Biển năm 1982, quốc gia ven biển có các vùng biển là nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển này được tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của quốc gia ven biển. Nội thủy là toàn bộ vùng biển tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở của quốc gia ven biển. Trong vùng nội thủy của mình, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình.

    Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở của quốc gia ven biển. Theo luật biển vào những năm 50 của thế kỷ 20 trở về trước, lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ rộng 3 hải lý, tức khoảng 5,7 km. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ II của LHQ, một số nước tiếp tục ủng hộ quan điểm lãnh hải 3 hải lý, nhưng một số nước khác chủ trương mở rộng lãnh hải đến 12 hải lý. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ III các nước đã đạt nhận thức chung, do đó Công ước luật Biển năm 1982 đã xác định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời ở trên lãnh hải, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

    Tuy nhiên, tính chủ quyền ở đây không được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì trong lãnh hải của quốc gia ven biển tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền đi qua không gây hại (tàu bay bay trên vùng trời vẫn phải xin phép). Công ước cũng đề ra những quy định rất cụ thể đối với việc đi qua không gây hại như không được đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hoặc dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương LHQ; hoặc tuyên truyền, thu thập thông tin gây hại cho quốc phòng, an ninh của quốc gia ven biển…

    Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc đi qua trong lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, xuất, nhập cảnh, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua.

    Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển đặc thù nằm ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển. Vùng này cũng có chiều rộng 12 hải lý kể từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Có thể nói, vùng này như là một vùng đệm mà ở đó, các quốc gia ven biển có quyền thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm mục đich ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm xảy ra trong lãnh hải của quốc gia đó. Ngoài khía cạnh này ra, quy chế của vùng này hoàn toàn như phần còn lại của vùng đặc quyền kinh tế.

    Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý). Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý hoàn toàn mới. Mãi cho đến những năm 50 của thế kỷ 20 hoàn toàn không có chế định này. Lúc đó các quốc gia ven biển chỉ có lãnh hải 3 hải lý. Ngoài lãnh hải 3 hải lý là vùng biển quốc tế. Với việc ra đời của vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng và vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể.

    Khác với nội thủy và lãnh hải, quốc gia ven biển không có chủ quyền mà chỉ có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó cũng như đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió. Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên chính trong vùng đặc quyền kinh tế mà các quốc gia ven biển đang quan tâm và đẩy mạnh thăm dò, khai thác là tôm, cá. Đối với số lượng tôm, cá mà quốc gia ven biển không đánh bắt hết thì có thể cho phép các quốc gia khác đánh bắt (nhưng họ phải trả lệ phí và tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển). Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.

    Bên cạnh đó, Công ước luật Biển năm 1982 cũng quy định rõ ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, các quốc gia khác có một số quyền như quyền tự do hàng hải và quyền tự do hàng không ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển.

    Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển với chiều rộng tối thiểu là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Theo công ước, quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý kể từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m (đường nối liền các điểm có độ sâu 2.500 m). Điều kiện để có thể mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý là quốc gia ven biển phải trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Thực hiện quyền này, các quốc gia ven biển đã trình lên LHQ 60 báo cáo quốc gia khác nhau, trong đó có 5 báo cáo chung - do 2 hoặc 3, 4 nước cùng làm báo cáo đối với một khu vực cụ thể. Ngày 6.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ cùng với Đại diện thường trực Malaysia trình LHQ báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia về xác định ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở nam biển Đông. Tiếp đó, ngày 7.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ đã trình tiếp báo cáo riêng của Việt Nam về xác định thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở khu vực phía Bắc.

    Công ước luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó. Hiện nay, các nước ven biển tập trung thăm dò, khai thác nguồn lợi dầu khí để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong tương lai, ngoài dầu và khí, các nước sẽ thăm dò và khai thác các tài nguyên khác như quặng sắt, đồng, chì, thiếc… Đặc biệt, khoản 2, điều 77 của công ước nhấn mạnh quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây, nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.

    Như vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 về phạm vi cũng như quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển rất rõ ràng và minh bạch. Phù hợp với quy định của Công ước, các quốc gia ven biển có các quyền hợp pháp và chính đáng đối với mỗi vùng biển của mình. Khi thực hiện các quyền đó của mình, mỗi quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng các quyền tương tự của các quốc gia ven biển khác. Đó là yêu cầu khách quan của trật tự pháp lý trên biển mà cộng đồng quốc tế đã cùng nhau xây dựng nên. Các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết quốc tế luôn luôn phải song hành.

    2. Quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế theo Công ước luật Biển năm 1982

    Vùng biển quốc tế: Theo luật biển quốc tế trước đây thì vùng biển quốc tế rất rộng, tức là toàn bộ các khu vực biển nằm ngoài lãnh hải 3 hải lý của quốc gia ven biển. Với sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, phạm vi vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể. Theo Công ước luật Biển năm 1982, vùng biển quốc tế là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển. Ở vùng biển quốc tế, mọi quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống ngầm, tự do đánh bắt cá và tự do nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền tự do này, các quốc gia phải tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như phải tuân thủ các quy định liên quan của Công ước luật Biển năm 1982 như bảo vệ môi trường biển, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, an toàn hàng hải, hợp tác trấn áp cướp biển... Công ước quy định vùng biển quốc tế được sử dụng vì mục đích hòa bình và không nước nào được phép đòi một khu vực nào đó của vùng biển quốc tế thuộc chủ quyền của mình.

    Đáy biển quốc tế (hay còn gọi là đáy đại dương) là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài thềm lục địa của quốc gia ven biển. Công ước luật Biển năm 1982 quy định đáy biển quốc tế là di sản chung của nhân loại và không một quốc gia nào có quyền đòi hỏi chủ quyền hay các quyền chủ quyền ở đáy biển quốc tế, kể cả tài nguyên ở đó. Đây cũng là những quy định mới trong luật biển quốc tế hiện đại. Công ước luật Biển năm 1982 quy định: khác với vùng biển quốc tế, ở đáy biển quốc tế các quốc gia không có quyền tự do khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến đáy biển quốc tế, Công ước luật Biển năm 1982 đã quy định thành lập một tổ chức quốc tế mới là Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương.

    Quy chế nói trên về đáy biển quốc tế là kết quả đấu tranh kiên trì của các nước đang phát triển. Theo luật biển quốc tế trước đây quy chế pháp lý của đáy biển cũng là quy chế tự do, tương tự như vùng biển quốc tế. Vào những năm 60 của thế kỷ 20, các nước đang phát triển đã nỗ lực để cộng đồng quốc tế đi tới quy chế pháp lý này. Trong khi đó, một số nước nước công nghiệp phát triển, hoàn toàn không ủng hộ việc có một quy chế pháp lý như vậy. Do đó, vào những năm 90 của thế kỷ 20, trong khuôn khổ tham khảo không chính thức dưới sự chủ trì của Tổng thư ký LHQ, các nước đã tiến hành thương lượng về nội dung của phần XI. Kết quả thương lượng đó dẫn đến sự ra đời của Hiệp định năm 1994 về thực hiện phần XI của công ước. Theo đó, một số điều khoản của Công ước luật Biển năm 1982 liên quan quy chế pháp lý của đáy biển quốc tế đã có thay đổi nhất định để đáp ứng yêu cầu của các nước phát triển.

    3. Các cơ chế quốc tế để thực thi các quy định của Công ước luật Biển năm 1982

    a) Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 họp thường niên để thảo luận việc thực hiện công ước, bầu các cơ chế liên quan như Tòa án quốc tế về luật Biển, Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa, xem xét và đánh giá hoạt động của các cơ chế đó. Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 được tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York vào khoảng tháng 6 hằng năm. Các quyết định được hội nghị thông qua bằng đa số phiếu.

    b) Tòa án quốc tế về luật Biển có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan giải thích và thực hiện Công ước luật Biển năm 1982. Trụ sở của tòa án đặt tại Hamburg (Đức). Tòa có 21 thẩm phán với nhiệm kỳ 9 năm (có thể được bầu lại). Các thẩm phán của tòa án được Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 bầu bằng bỏ phiếu kín. Cho đến nay các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 đã trình 19 vụ việc lên Tòa án quốc tế về luật Biển, trong đó 18 vụ liên quan tranh chấp giữa các quốc gia và 1 vụ Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương xin ý kiến tư vấn của tòa. Dư luận cho rằng về lâu về dài các quốc gia sẽ đưa nhiều vụ việc tranh chấp ra tòa nhiều hơn vì tòa án này có một số ưu thế nhất định so với các cơ chế tư pháp quốc tế khác.

    c) Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương có chức năng thay mặt toàn thể cộng đồng quốc tế quản lý đáy biển quốc tế (cấp phép thăm dò tài nguyên ở đó, định ra các chính sách thăm dò khai thác, phân chia thu nhập từ việc khai thác tài nguyên ở đáy biển quốc tế cho cộng đồng quốc tế…). Các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 là thành viên đương nhiên của Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương đóng tại Kingston (Jamaica). Các cơ quan chính của Cơ quan Quyền lực bao gồm Đại hội đồng với đại diện tất cả các quốc gia thành viên (tương tự như Đại hội đồng LHQ), Hội đồng với 36 thành viên (nhiệm kỳ 4 năm) và Ban Thư ký do Tổng thư ký đứng đầu.

    d) Ủy ban Ranh giới thềm lục địa được trao chức năng xem xét các báo cáo quốc gia về ranh giới ngoài thềm lục địa quá 200 hải lý, sau đó ra khuyến nghị đối với các báo cáo. Ủy ban có 21 thành viên được Hội nghị các thành viên công ước bầu với nhiệm kỳ 5 năm. Sau khi Ủy ban có khuyến nghị, các quốc gia ven biển ấn định ranh giới thềm lục địa ngoài phạm vi 200 hải lý của mình. Tính đến ngày 5.6.2012, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa đã nhận được 60 báo cáo quốc gia về thềm lục địa quá 200 hải lý, trong đó có Báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia về khu vực thềm lục địa phía nam biển Đông và Báo cáo riêng của Việt Nam về thềm lục địa phía Bắc. Hằng năm Ủy ban tiến hành các kỳ họp tại trụ sở LHQ ở New York. Do nội dung các báo cáo phức tạp và công việc xem xét các báo cáo thuộc dạng mới, nên đến nay mặc dù đã rất cố gắng, nhưng Ủy ban mới ra khuyến nghị đối với 17 báo cáo. Với tiến độ như vậy, dự kiến phải khoảng hai chục năm nữa Ủy ban mới ra được kết luận về tất cả các báo cáo quốc gia. Vì thế, trong mấy năm gần đây các quốc gia thành viên Công ước luật Biển năm 1982 đang cố gắng thương lượng để tìm các biện pháp thúc đẩy tiến độ công việc của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa.

    4. Việt Nam và Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ

    a. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng về dự thảo Công ước luật Biển năm 1982. Việt Nam đánh giá cao việc hội nghị lần thứ III của LHQ về luật Biển thông qua Công ước luật Biển năm 1982. Trong quá trình thương lượng tại hội nghị, sự tập hợp lực lượng và sự đấu tranh về nội dung của dự thảo công ước diễn ra từ góc độ các nhóm nước khác nhau: nhóm nước ven biển và nhóm nước không có biển, nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển, nhóm nước nghèo và nhóm nước có tiềm lực hải quân hùng mạnh… Lợi ích và quan tâm của các nhóm nước đối với quy chế pháp lý các vùng biển rất khác nhau và nhiều lúc rất mâu thuẫn. Vì vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 không thể thỏa mãn tất cả các yêu sách mà các nhóm nước đặt ra, nhưng về tổng thể đã dung hòa yêu cầu và quan tâm của các nhóm.

    Sau khi Công ước luật Biển năm 1982 được thông qua, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký công ước và ngày 23.6.1994, Quốc hội nước ta đã quyết định phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Từ khi trở thành thành viên của Công ước luật Biển năm 1982, nước ta đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế theo công ước. Việt Nam đã được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương và thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực. Tại các diễn đàn liên quan, Nhà nước ta luôn khẳng định trong hoạt động sử dụng biển các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định trong công ước, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo công ước. Là một quốc gia ven biển Đông, Nhà nước ta triển khai nhiều hoạt động khai thác các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của mình để xây dựng và phát triển đất nước. Trong khi tiến hành các hoạt động ở biển Đông, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của công ước, tôn trọng quyền của các quốc gia khác ven biển Đông cũng như các quốc gia khác theo đúng các quy định của công ước. Đồng thời Nhà nước ta cũng yêu cầu các quốc gia ven biển Đông và các quốc gia khác tôn trọng các quyền lợi chính đáng của Việt Nam ở biển Đông. Trong thực tế, có lúc đã xảy ra một số vụ việc xâm hại nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh ở các cấp qua đường ngoại giao và dư luận cũng như trên thực địa để bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

    b.Việt Nam nhận thức rõ ràng rằng trong việc sử dụng biển và áp dụng Công ước luật Biển năm 1982 việc nảy sinh các bất đồng và tranh chấp giữa các quốc gia là điều khó tránh. Cách thức duy nhất để giải quyết những sự khác biệt và các tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến giải thích và thực hiện các quy định của công ước chính là sử dụng các biện pháp hòa bình theo pháp luật quốc tế quy định. Giải quyết các tranh chấp biển bằng các biện pháp hòa bình vừa là nghĩa vụ của các thành viên LHQ theo quy định của Hiến chương và vừa là nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982.

    Chính vì vậy, Nghị quyết của Quốc hội nước ta về việc phê chuẩn Công ước luật Biển năm 1982 tuyên bố rõ Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Đông đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

    Với chủ trương nhất quán và xuyên suốt đó, Nhà nước ta đã căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 tiến hành đàm phán với các nước láng giềng về các vấn đề liên quan biển Đông. Thời gian qua ta và một số nước láng giềng liên quan như Thái Lan, Trung Quốc và Indonesia đã giải quyết một số tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Năm 1997, ta và Thái Lan ký Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Thái Lan. Năm 2000, ta và Trung Quốc ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc bộ. Năm 2003, ta và Indonesia ký Hiệp định phân định thềm lục địa của hai nước ở phía nam biển Đông. Sau khi có hiệu lực, các hiệp định này đã được lưu chiểu tại LHQ theo đúng quy định của Hiến chương LHQ. Phù hợp với nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982 và các cam kết theo Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở biển Đông, Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo chủ trương tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Công ước luật Biển năm 1982; đồng thời yêu cầu kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này. Lập trường đó của Nhà nước Việt Nam đang nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

    Luật gia Hạnh Duy

    Theo Vnexpress (Link

  7. Thanks lovevn thanked for this post
  8. #2665
    daovietnam Guest

    “gẮp lỬa bỎ tay ngƯỜi”

    “GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI”
    Đĩnh Chi
    Thành ngữ Việt Nam có câu” Gắp lửa bỏ tay người”. Cùng một ý nghĩa như vậy còn có câu:” Ngậm máu phun người”. Cả hai thành ngữ trên đều hàm nghĩa, để che đậy một âm mưu thâm độc, kẻ xấu đã tìm cớ vu vạ cho chính người bị hại.
    Gần đây trang mạng tờ Hoàn Cầu- vừa cho đăng bài “Cảnh giác với Việt Nam mượn vấn đề Biển Đông lôi kéo ASEAN”. Với 3 nội dung: “ Thứ nhất là, lôi kéo ASEAN, hình thành cục diện 10 đấu 1 nhằm gây áp lực với Trung Quốc; thứ hai là, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông; thứ ba là tranh giành địa vị làm chủ ASEAN” (tác giả Thái Bằng Hồng Ải).
    Trước hết Hoàn Cầu là ai ?
    Theo Christina Larson, tạp chí Foreign Policy với tựa đề “Kênh Fox News của Trung Quốc” thì HC là trang mạng được xem như kênh “Fox News” ở Hoa Kỳ với nghĩa là một “kênh diều hâu” của Trung Quốc. Cơ sở tư tưởng của HC là chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Người ta không lấy gì làm ngạc nhiên tư tưởng cổ hủ, phản phát triển này đang tồn tại ở nhiều quốc gia không chỉ ở Mỹ mà còn ở nhiều nước Tây Âu, Nga… Ở những quốc gia“ đa đảng”, những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ích kỷ không chỉ được sự ủng hộ của một vài nhóm xã hội nào đó mà còn hình thành chính đảng chính trị với những” chính trị gia”, “chính khách” của mình. Điều đáng ngạc nhiên là ở chỗ một tờ báo “ diều hâu “ như vậy lại vẫn tồn tại ở một quốc gia “ độc đảng” do Cộng sản lãnh đạo.
    Tạm gác lại vấn đề này, chúng ta hãy xem lý lẽ của Thái Bằng Hồng Ải như thế nào và ai phải cảnh giác với ai trong quan hệ với ASEAN nói chung hay vấn đề Biển Đông nói riêng?
    Có lẽ chỉ có tâm lý “ Cường quyền”, hoặc có vấn đề về “IC” người ta mới cho rằng một thành viên trong ASEAN lại phải lôi kéo tổ chức của chính mình. Trong vấn đề Biển Đông, tổ chức khu vực này, ngoại trừ những tuyên bố về chủ quyền “ chồng lấn”, đã thống nhất trên hầu hết các vấn đề chung, nhất là trong cơ chế sử lý, trong đó có sự thừa nhận “ Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982”. Trung Quốc cùng như các thành viên của ASEAN không thể né tránh được một thực tế là, vấn đề Biển Đông đang tồn tại những bất đồng song phương ( trong các quốc gia ASEAN) và vấn đề đa phương- giưa ASEAN với Trung Quốc. Chính Trung Quốc đã thừa nhận trong thực tế quan hệ đa phương này trong việc ký kết “Tuyên bố của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC), năm 2002 với ASEAN. DOC khẳng định mục tiêu củng cố hòa bình, ổn định và tin cậy lẫn nhau, và bảo đảm một giải pháp hòa bình cho vấn đề tranh chấp biển Đông. Gần đây Trung Quốc và ASEAN lại một lần nữa khẳng định quan hệ này trong việc thông qua “Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”. Trong đó hai bên tái khẳng định “ Các bên tham gia DOC tiếp tục tăng cường đối thoại và tham vấn, phù hợp với tinh thần của DOC”.
    Nhân đây cũng phải làm rõ thêm rằng, vấn đề Biển Đông không chỉ là vấn đề của các quốc gia trong khu vực, mà còn là một vấn đề quốc tế xét về pháp lý cũng như thực tế. Trong đó có quyền tự do và an ninh hàng hải ở vùng biển quốc tế này. Chính vì vậy vấn đề Biển Đông đã được nhiều quốc gia quan tâm như là vấn đề của chính mình. Bởi vậy Hoàn Cầu nói “ quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông với nghĩa các bên tôn trọng, bảo đảm an ninh hàng hải ở đây thì hoàn toàn hoàn toàn vô nghĩa. Chỉ những kẻ muốn biến Biển Đông thành “ Ao nhà”, với nghĩa tước đoạt chủ quyền của quốc gia khác và độc chiếm vùng biển quốc tế mới dùng khái niệm “ quốc tế hóa” một vấn đề quốc tế hiển nhiên ở đây.
    Vậy ai phải cảnh giác với ai trong vấn đề Biển Đông? Câu trả lời cho dù đây là một vấn đề tế nhị nhưng thực tế đã chỉ rõ. Đó là những kẻ đã cướp Hoàng Sa của Việt Nam, 1974; đã cướp bãi “ Gạc Ma” trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, 1988… và đang gây hấn hàng ngày với nhiều quốc gia trong ASEAN. Và đương nhiên không được quên cảnh giác với “Hoàn Cầu”.

  9. #2666
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    [TNO] Đấu tranh chủ quyền hiệu quả

    Vào ngày 27 và 28.6 tới, Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ dự kiến tổ chức Hội nghị “Biển Đông và châu Á - Thái Bình Dương trong chuyển đổi: Khám phá những chọn lựa quản lý tranh chấp” tại Washington.

    Hội nghị này sẽ có sự tham gia của chuyên gia đến từ nhiều nước và có cả Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương Kurt Campbell, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á - Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ Jim Webb. Vì thế, đây là một sự kiện lớn liên quan đến tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, khi đọc được bản kế hoạch nội dung chương trình thì người viết không khỏi lấy làm lạ vì không thấy tên đại diện Việt Nam nào trong số thành viên chính tham gia phần thảo luận “Vai trò của luật và quy tắc quốc tế trong giải quyết và quản lý tranh chấp”, dù Việt Nam có đại diện tham gia các nội dung khác của hội nghị. Trong khi phía Trung Quốc có 1 đại diện là thành viên chính trong phần thảo luận trên.
    Trong khi đó, thời gian qua, chúng ta vẫn khẳng định sẽ đấu tranh chủ quyền dựa trên những chứng lý và luật pháp quốc tế. Vì thế, lẽ ra chúng ta cần tận dụng triệt để những cơ hội viện dẫn luật pháp quốc tế bảo vệ chủ quyền quốc gia trong các sự kiện đa phương như hội nghị trên.
    Cũng liên quan đến tranh chấp biển Đông, hiện có nhiều nhóm chuyên gia Việt Nam đang nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề này như luật biển quốc tế, quan hệ quốc tế, kỹ thuật bản đồ, tuyên truyền chủ quyền… Với sự đầu tư nhiệt huyết và tri thức sâu rộng, các nhóm nghiên cứu đạt được không ít thành tựu góp phần quan trọng vào việc chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, thành tựu sẽ càng lớn hơn khi kết nối và xây dựng tính hệ thống cho các nghiên cứu trên. Thiết nghĩ, Việt Nam cần nhanh chóng triển khai việc hình thành một tổ chức phụ trách kết nối các nhóm nghiên cứu lại để tránh trùng lắp và có thể tận dụng thành quả nghiên cứu, bổ khuyết cho nhau.
    Trong một lần trả lời phỏng vấn người viết, ông Swee Lean Collin Koh, Trường nghiên cứu quốc tế Rajaratnam (Singapore) từng khuyến nghị Việt Nam cần “chính thức thiết lập một cơ quan trực thuộc chính phủ chuyên trách biển Đông, tập hợp nhân sự từ giới ngoại giao, quân đội và những nhà nghiên cứu. Cơ quan này phụ trách hoạch định chính sách toàn diện về biển Đông và kết nối có tính hệ thống giữa những đơn vị khác”. Ngoài ra, cơ quan này sẽ lưu trữ thông tin, nghiên cứu và hợp tác nghiên cứu cùng các nước khác để bác bỏ những luận điểm sai trái của Trung Quốc. Với cách làm này, chúng ta sẽ từng bước hình thành một hệ thống nghiên cứu, chứng lý phong phú và toàn diện để tạo tiền đề vững chắc cho những nỗ lực đấu tranh dựa trên luật pháp quốc tế. Khi đó, chiến lược đấu tranh chủ quyền biển đảo của Việt Nam sẽ càng hiệu quả hơn.

    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  10. Thanks CoDaiNhaTrang_VietNam thanked for this post
    Likes CoDaiNhaTrang_VietNam liked this post
  11. #2667
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc chuyển từ kiềm chế sang phòng ngự

    Tại Đối thoại Shangri-La ở Xinhgapo vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta đã trình bày về sự chuyển dịch chiến lược sang phía Đông của Mỹ, theo đó 60% chiến hạm Mỹ sẽ được bố trí tại châu Á-Thái Bình Dương. Trước động thái này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tỏ thái độ phản đối rõ ràng rằng sự tăng cường bố trí binh lực Mỹ tại khu vực là “không hợp thời”, trong khi phía quân đội Trung Quốc lại phản ứng khá ôn hòa, thể hiện rõ đã định liệu trước tình hình. Về vấn đề này, mạng “Bình luận Trung Quốc” ngày 18/6 cho rằng chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc đang chuyển từ kiềm chế sang phòng ngự.
    Trên thực tế, việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á-Thái Bình Dương đã được xác định trong quốc sách của Mỹ từ vài năm trước, không phải là việc làm mới mẻ gì. Lần này, Mỹ tuyên bố điều chỉnh lớn bố trí lực lượng trên biển, chỉ là thực thi chiến lược đã được định sẵn mà thôi, do đó phía Trung Quốc, cụ thể là phía quân đội, rõ ràng không cảm thấy có gì là lạ.
    Tuy nhiên, xét về động cơ, hành động lần này của Mỹ có ý nhằm vào hiện thực rằng Trung Quốc đang trỗi dậy và tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc với bên ngoài ngày càng quyết liệt. Mỹ đương nhiên còn có tính toán khác như ứng phó với nguy cơ trên bán đảo Triều Tiên, song nếu chỉ như vậy thì định hướng chiến lược của Mỹ không đến mức phải điều chỉnh mang tính kết cấu như vậy. Việc Panetta nói rằng sự điều chỉnh này không nhằm vào Trung Quốc chẳng qua chỉ là ngôn từ dùng cho ngoại giao. Đối với cách nói hai bên ở vào trạng thái bang giao hòa bình, chỉ cần không khơi lên chạy đua vũ trang, hoặc khơi lên xung đột thì cũng không có ai công khai thừa nhận việc điều chỉnh bố trí quân sự là nhằm vào nước bang giao. Tóm lại, cách nói của Panetta không thể phản ánh động cơ chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc.
    Tuy nhiên, điều cần phải chỉ ra là chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc hiện nay đang tiến hành bước điều chỉnh mang tính thực chất, nếu như nói rằng mấy năm trước quan điểm chủ đạo là kiềm chế thì hiện nay chủ yếu là phòng ngừa. Hai điều này có sự khác biệt khá lớn, kiềm chế là tấn công chủ động, phòng ngừa lại là phòng thủ tiêu cực. Nói một cách cụ thể, kiềm chế là áp dụng phương thức chủ động ra tay, trấn áp sự phát triển của Trung Quốc, ngăn cản sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là sự trỗi dậy về quân sự; còn phòng ngừa là trong bối cảnh thấy rõ sự trỗi dậy của Trung Quốc là thực tế không thể né tránh, Mỹ chuyển sang thừa nhận hiện thực, đồng thời ngăn ngừa hiện thực này chuyển thành cục diện bất lợi cho mình. So với kiềm chế, đặc điểm lớn nhất của phòng ngừa nằm ở chỗ chỉ cần sự phát triển của Trung Quốc không xuất hiện nguy cơ đối với lợi ích hạt nhân của Mỹ, Mỹ sẽ không đối địch với Trung Quốc.
    Nguyên nhân của sự chuyển biến này nằm ở chỗ Mỹ cho rằng chiến lược kiềm chế không chỉ không thể đạt được mục đích kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc, mà có thể kích động Trung Quốc gia tăng tiến trình hiện đại hóa quân sự, làm xấu đi quan hệ Trung-Mỹ, dẫn đến xuất hiện một cục diện bất lợi cho lợi ích chiến lược của Mỹ. Rõ ràng, đây là nguyên nhân cơ bản của việc Mỹ thực hiện điều chỉnh chiến lược.
    Do đó, tuy Mỹ hiện đang gia tăng mức độ trở lại châu Á, đồng thời lôi kéo các nước xung quanh Trung Quốc, tăng cường quan hệ đồng minh vốn có hoặc quan hệ giống như đồng minh mới xuất hiện, trong các vấn đề liên quan lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, Mỹ sẽ không công khai hoặc trực tiếp đối đầu với Trung Quốc. Thái độ của Mỹ trong vụ đối đầu giữa Philíppin và Trung Quốc tại đảo Hoàng Nham vừa qua là một ví dụ đầy sức thuyết phục. Trung tướng Nhiệm Hải Tuyền, sau khi tham dự Đối thoại Shangri-La, cũng thừa nhận rằng trong bài phát biểu của Panetta, không khí đối thoại và hợp tác khá đậm.
    Do đó, đối với việc tập trung lực lượng trên biển về khu vực Thái Bình Dương, Trung Quốc không quá nhạy cảm và căng thẳng. Sự bố trí này của Mỹ chủ yếu nhằm uy hiếp, ra sức tránh Trung Quốc “bí quá hóa liều”, dùng biện pháp quân sự giải quyết tranh chấp trên biển. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc có đầy đủ lý do để dụng binh, Mỹ cũng sẽ không thể vì lợi ích nước khác mà đối đầu với binh lực Trung Quốc, bởi làm vậy thì cái giá phải trả sẽ rất lớn, Mỹ không thể gánh nổi.
    Tổng thống Philíppin mới có chuyến thăm Mỹ 3 ngày. Trước chuyến thăm, người Philíppin đã hy vọng có thể mượn chuyến thăm này có được sự đảm bảo của Mỹ đối với an ninh Philíppin. Song thái độ của Mỹ đã khiến Philíppin hết sức thất vọng. Tại cuộc họp báo sau cuộc hội đàm giữa Obama và Aquino, cả hai bên không hề nhắc tới Trung Quốc; trong buổi chiêu đãi, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng nói rõ “Mỹ không có lập trường trong vấn đề tranh chấp Biển Đông”. Các động thái này có ý nghĩa lớn trong việc giải thích lập trường của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương và các vấn đề liên quan.

    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  12. #2668
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Cách thức Trung Quốc đối phó với chiến lược hướng Đông của Mỹ

    Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta đã trình bày việc dịch chuyển chiến lược sang phía Đông của Mỹ tại Đối thoại An ninh châu Á-Thái Bình Dương, sự điều chỉnh này lại một nữa thu hút sự tranh luận mạnh mẽ trong các nước ở khu vực, trong đó nổi lên câu hỏi: sự điều chỉnh này có phải là nhằm vào Trung Quốc? Trong bài viết trên tờ “Đại Công báo” (Hồng Công) ngày 17/6, nghiên cứu viên Đào Văn Chiêu thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng kiềm chế Trung Quốc thực sự là một nhân tố quan trọng, nhưng vẫn còn nhân tố khác.
    Trong 10 năm vừa qua, Mỹ nhận thấy ảnh hưởng của mình tại châu Á đang giảm sút, ảnh hưởng của Trung Quốc đang tăng lên. Trung Quốc với 10 năm hoàng kim sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thực hiện một cách có hiệu quả rõ rệt chính sách “lấy láng giềng làm bạn”, sự tăng trưởng thực lực của Trung Quốc cũng giúp cho sự phát triển của nó và quan hệ kinh tế với các nước láng giềng có được những “trụ cột” có lực. Năm 2010, Trung Quốc và ASEAN xây dựng khu mậu dịch tự do và Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của ASEAN. Ở Đông Bắc Á, Trung Quốc đã thay Mỹ trở thành bạn hàng lớn nhất của Hàn Quốc và Nhật Bản, trong khi (dưới thời kỳ Kim Tê Chung, Rô Mu Hiên) quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn suy yếu; Mỹ và Nhật Bản không ngừng tranh luận về vấn đề di dời căn cứ Okinawa, đặc biệt là trong thời kỳ Thủ tướng Hatoyama thuộc đảng Dân chủ... Tóm lại, trong các nước đồng minh của Mỹ đã xuất hiện khuynh hướng “trung lập hóa”, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc ngày một xích lại gần nhau, còn đối với Mỹ thì lại xuất hiện khuynh hướng rời xa. Đây là điều Mỹ đương nhiên không thể cho phép. Sau khi Obama nhậm chức tổng thống đã tiến hành nghiên cứu kiểm tra lại tình hình châu Á-Thái Bình Dương, cho rằng so sánh lực lượng tại đây đã “mất cân bằng”. Cũng có thể nói, địa vị chủ đạo của Mỹ tại đây đã bị sự trỗi dậy của Trung Quốc thách thức. Không chỉ như vậy, đối với địa vị lãnh đạo toàn cầu và ý kiến chủ lưu của Mỹ, sự thách thức chủ yếu xuất phát từ Trung Quốc. Hiện nay, Mỹ muốn tăng cường đầu tư lớn vào khu vực này để xây dựng lại địa vị chủ đạo của Mỹ trong khu vực. Có thể thấy, chiến lược mới này của Chính quyền Obama mang đậm nhân tố trói buộc và cân bằng Trung Quốc.
    Đối với sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ, tác giả cho rằng trước hết Trung Quốc có thể điềm tĩnh ứng phó, theo dõi sát sao, không cần phải “ăn miếng trả miếng”. Trong giai đoạn gần đây, có học giả thảo luận vấn đề Trung Quốc có nên thay đổi chính sách “không kết đồng minh” hay không? Tác giả cho rằng “không kết đồng minh” là một nguyên tắc quan trọng của chính sách ngoại giao tự chủ độc lập của Trung Quốc trong thời kỳ mới xây dựng hiện đại hóa, phù hợp với lợi ích căn bản của Trung Quốc. Một số sự việc nảy sinh xung quanh Trung Quốc không lay động về bản chất nguyên tắc này.
    Thứ hai, tiếp tục nỗ lực xây dựng quan hệ đối tác hợp tác tôn trọng lẫn nhau, song thắng, cùng có lợi. Đây là nhận thức chung giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Obama trong chuyến thăm Mỹ tháng 1/2011. Tháng 2/2012 khi Phó Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Mỹ, hai bên cùng nhắc lại điều này, không thay đổi vì sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trung Quốc hoan nghênh Mỹ phát huy vai trò mang tính xây dịch tích cực tại châu Á-Thái Bình Dương, nhưng các nghị trình an ninh, các cuộc diễn tập quân sự quá nhiều, quá dày đặc, quy mô quá lớn rõ ràng không có lợi cho sự ổn định của khu vực, chỉ có thể dẫn tới sự gia tăng căng thẳng khu vực, bao trùm bóng đen lên quan hệ hai nước.
    Thứ ba, tiếp tục thực hiện chính sách “láng giềng hòa thuận”. Trong 30 năm qua, Trung Quốc thực hiện chính sách này, tạo môi trường xung quanh tốt đẹp cho xây dựng hiện đại hóa, cần khẳng định đầy đủ hơn nữa vấn đề này. Nhìn ra thế giới, giữa nhiều nước láng giềng đều có vấn đề biên giới, đều có tranh chấp lãnh thổ. Trong tình trạng tranh chấp lãnh thổ vẫn có thể phát triển quan hệ hai nước, bao gồm mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế. Vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không phải là toàn bộ quan hệ láng giềng của Trung Quốc, cũng không phải là toàn bộ quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á, thậm chí không phải là toàn bộ quan hệ giữa Trung Quốc với các nước đòi chủ quyền. Tranh chấp lãnh thổ cần được đặt vào vị trí thích đáng.

    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  13. #2669
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Bế tắc tại bãi cạn Scarborough

    Cả Trung Quốc và Philippines, khi bị cuốn vào cuộc đối đầu này đã thực hiện những hành động mà hậu quả là làm cản trở phương án giải quyết bằng con đường ngoại giao. Bế tắc tại Bãi cạn Scarborough cho thấy mặt hạn chế của sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.


    Cụm từ “quan hệ sóng gió” mang một ý nghĩa mới sau khi tàu chấp pháp hàng hải dân sự của Trung Quốc đối đầu với tàu khu trục của Hải quân Philippines tại một bãi cạn tranh chấp ở Biển Đông. Bãi cạn Scarborough đặc trưng bởi năm bãi đá, bãi đá cao nhất trong số này nhô cách mặt biển 3 mét khi thủy triều lên cao. Các ngư trường đánh bắt và, quan trọng hơn, những quy tắc pháp lý quyết định quyền sở hữu và quyền khai thác đang là vấn đề tranh cãi.
    Tranh chấp này được giải quyết như thế nào sẽ tác động lớn hơn đối với khu vực đang cảnh giác trước một Trung Quốc đang trỗi dậy.
    Các đảo, đá ở Biển Đông là vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong nhiều thập kỷ qua. Bãi cạn Scarborough – một chuỗi đảo và đá hình tam giác, bao quanh một khu vực rộng 150 ki-lô-mét vuông – nổi lên như một điểm bùng phát mới trong tháng Tư vừa qua. Bãi cạn, cách Vịnh Subic khoảng 200 ki-lô-mét về phía tây, nằm ở phía bắc của Quần đảo Trường Sa, khu vực Việt Nam và Trung Quốc đang tranh chấp.
    Cuộc đối đầu nổ ra hôm mùng 8 tháng Tư khi một máy bay trinh sát của Philippines phát hiện năm tàu cá Trung Quốc ở khu vực đầm phá. Hải quân Philippines điều đến một tàu khu trục nhỏ để kiểm tra tàu cá Trung Quốc và hai ngày sau đó phát hiện một số lượng Trai tai tượng, san hô và cá mập, những loài được bảo vệ theo luật pháp Philippines và Công ước Buôn bán Quốc tế những Loài Động Thực vật có Nguy cơ bị Đe dọa.
    Hai tàu Hải giám Trung Quốc đã sớm xuất hiện, tiến vào án ngữ giữa tàu khu trục của Philippines và tàu cá Trung Quốc. Trung Quốc và Philippines đều chính thức phản đối hành động của bên kia.
    Trong một nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng, Philippines đã rút tàu khu trục hải quân và thay thế bằng một tàu Bảo vệ Bờ biển. Philippines sau đó điều thêm một tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản đến hiện trường. Trung Quốc tăng cường sự hiện diện của nước này bằng việc triển khai tàu Ngư chính hiện đại nhất, Yuzheng tới khu vực tranh chấp. Cuộc đối đầu tiếp tục đến tận hôm nay.
    Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố Bãi cạn Scarborough là một phần lãnh thổ không thể tách rời. Trung Quốc gọi Bãi cạn Scarborough là Đảo Hoàng Nham và tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với đảo và vùng biển liền kề trên cơ sở quyền khám phá lịch sử.
    Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, UNCLOS, đảo được định nghĩa là một thực thể hình thành tự nhiên, có thể duy trì sự cư trú của con người hoặc có hoạt động kinh tế, được quyền có 200 hải lý Vùng Đặc quyền Kinh tế, hay EEZ. Nếu một thực thể không đáp ứng những tiêu chuẩn này, nó chỉ được xếp loại là đá, được quyền có vùng lãnh hải 12 hải lý, nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế. Yêu sách của Trung Quốc liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền ở vùng biển được tạo ra từ vùng lãnh thổ này. Nếu Bãi cạn Scarborough đáp ứng điều kiện pháp lý đối với một đảo, nó sẽ tạo ra một vùng rộng 200 hải lý. Nếu không đáp ứng những điều kiện này, mỗi trong năm bãi đã sẽ được quyền có vùng lãnh hải 12 hải lý.
    Philippines gọi Bãi cạn Scarborough là Bãi Panatag, lập luận rằng nó nằm bên trong vùng EEZ 200 hải lý của mình. Yêu sách căn cứ vào quyền chủ quyền đối với tài nguyên bên trong EEZ và thềm lục địa.
    UNCLOS không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể đất liền. Luật áp dụng chỉ trong những trường hợp tranh chấp nảy sinh từ quyền tài pháp hàng hải.
    Trung Quốc và Philippines có thể giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương hoặc có thể đồng ý để tòa án quốc tế phân xử, chẳng hạn như Tòa án Công lý Quốc tế. Trung Quốc lập luận rằng tranh chấp nên được giải quyết song phương; Philippines muốn đưa tranh chấp này ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển, được thành lập bởi UNCLOS.
    Cả hai bên đều sử dụng vị thế chính trị cùng với phương thức ngoại giao song phương nhằm củng cố yêu sách của mình. Philippines đã tiến hành chiến thuật ba mũi giáp công – pháp lý, chính trị và ngoại giao – dọa sẽ đơn phương đưa tranh chấp này ra tòa án quốc tế; tìm kiếm sự ủng hộ từ những thành viên khác của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế; tiếp tục đàm phán với Trung Quốc.
    Trung Quốc đã phải sử dụng đến một loạt các biện pháp để gây áp lực lên phía Phi-líp-pin: ví dụ như để đối phó với các cuộc biểu tình qui mô nhỏ chống Trung Quốc tại Manila cũng như các nơi khác trên thế giới, Trung Quốc đã ban hành một chỉ thị hướng dẫn du lịch dẫn tới việc hủy bỏ 80 tua du lịch cũng như các chuyến bay đã được lên lịch trước của nước này tới Philipines; tạm thời dừng nhập khẩu mặt hàng chuối của Philipines với lí do mặt hàng này không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; và thực hiện một chiến dịch báo chí mang hơi hướng thù địch. Trong năm 2011, xuất khẩu chuối từ Philipines sang Trung Quốc đạt doanh số 60 triệu USD, và Trung Quốc cũng là thị trường xuất khẩu chuối lớn thứ 3 của Philippines. Thiệt hại do xuất khẩu chuối trong tháng 5 ước tính khoàng 34 triệu USD. Trung Quốc cũng là nước có lượng khách du lịch lớn thứ 4 đến Philippines. Trung bình mỗi du khách Trung Quốc sẽ ở lại Philippines trong 3 ngày và chi tiêu khoàng 200 USD trong mỗi ngày tại đây. Trong tháng 5, 1500 du khách Trung Quốc đã hủy bỏ các chuyến du lịch tới Philippines, gây ra thiệt hại gần 1 triệu USD cho ngành công nghiệp du lịch của nước này.
    Trung Quốc cũng thông báo việc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trong Biển Đông, bao gồm cả khu vực Bãi cạn Scarborough, cảnh báo rằng sẽ có những hành động cụ thể đối với những tàu cá nước ngoài vi phạm lệnh cấm trên, với mục đích bề ngoài là để bảo vệ nguồn cá trong mùa sinh sản.
    Phía Philippines cũng đáp lại bằng việc từ chối công nhận tính hợp lệ của lệnh cấm từ phía Trung Quốc, nhưng nước này cũng ban hành lệnh cấm đánh bắt cá của riêng họ trong khu vực Bãi cạn Scarborough.
    Nhiều nhà quan sát đã xem lệnh cấm đánh bắt cá của hai bên như một dấu hiệu tích cực, mở đường cho một cách thức để làm dịu bớt căng thẳng. Tuy nhiên những kì vọng này không tồn tại được lâu. Theo nguồn tin từ phía Philippines, vào cuối tháng 5, Trung Quốc đã cử thêm ba tàu chấp pháp dân sự đi cùng với 10 tàu cá của nước này tới Bãi cạn Scarborough. Trung Quốc thừa nhận rằng đã có 20 tàu cá đang ở khu vực bãi cạn. Phía Philippines tuyên bố rằng, nếu tính cả các tàu đánh cá đang hoạt động tại vùng đánh bắt cá được bổ sung thêm, Trung Quốc có gần 100 tàu tại khu vực bãi cạn. Chính quyền dân sự Trung Quốc đã không thực hiện các biện pháp để ngăn chặn những tàu cá này thực hiện hoạt động đánh bắt cá trong khu vực mà lệnh cấm của Trung Quốc có hiệu lực.
    Các tác động an ninh của vụ bế tắc cũng không thể xem nhẹ. Trong giai đoạn bế tắc ở mức độ căng thẳng nhất, Philippines và Mỹ đã tiến hành cuộc tập trận quân sự hàng năm mang tên Balikatan (vai kề vai). Một chương trình liên quan đến việc các lực lượng Philippines và Hoa Kỳ tiến hành các cuộc tấn công chống khủng bố tại một giàn khoan ngoài khơi bờ biển phía Tây của đảo Palawan hướng về phía Biển Đông. Trung Quốc cáo buộc rằng sự trợ giúp của Mỹ cho phía Philippines sẽ chỉ khuyến khích nước này hành động vội vã hơn và kêu gọi Mỹ kiềm chế Philippines, nước đồng minh của họ.
    Vào tháng 5, trong một động thái nhằm nhấn mạnh quyết tâm của mình trong việc theo đuổi các yêu sách khu vực, Trung Quốc đã thông báo rằng giàn khoan dầu khí nước sâu đầu tiên do chính họ thiết kế và chế tạo sẽ đã bắt đầu hoạt động tại Biển Đông, dẫn đến các cuộc biểu tình tại Philippines. Thực tế, giàn khoan này nằm ở ngoài khu vực cửa biển Pearl, phía Nam Hồng Kông, nằm hoàn toàn trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc. Đây là nơi mà giàn khoan của Trung Quốc sẽ hoạt động trong nhiều năm tới.
    Philippines có vẻ đã kì vọng quá mức về việc nhận được sự hỗ trợ từ các nước thành viên ASEAN và đồng minh Mỹ. Một số thành viên ASEAN và ngay cả các nhà hoạt động Philippines đã bày tỏ mối nghi ngại về cách mà Manila đối đầu với Bắc Kinh. Như theo lời của một thượng nghị sĩ Philippines, thì Philippines càm thấy họ như là một “đứa trẻ mồ côi”.
    Cả Trung Quốc và Philippines, khi bị cuốn vào cuộc đối đầu này đã ngay lập tức thực hiện những hành động mà đã làm cản trở phương án giải quyết nhanh chóng bằng con đường ngoại giao. Cách hành xử mang tính hình thức sau đó lại là nguyên nhân để gia cố các lập trường đối nghịch, kích động chủ nghĩa dân tộc ở cả hai quốc gia. Bế tắc tại Bãi cạn Scarborough đã cho chúng ta thấy được mặt hạn chế của sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.
    Hoa Kỳ cần phải xác định rõ mức độ các phản ứng của nước này và tránh việc bị cuốn vào cuộc tranh trấp một vùng lãnh thổ mà không thuộc sở hữu của họ với Trung Quốc. Cùng với đó, Mỹ cần phải ngăn chặn việc Hiệp ước Quốc phòng chung với Philippines bị giảm giá trị do thiếu những sự hỗ trợ rõ ràng từ phía Hoa Kỳ.
    Các hành động của Trung Quốc – từ chối nhượng bộ ngoại giao, triển khai các tàu chấp pháp dân sự và sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế - được sử dụng như là một bài học rõ ràng cho các quốc gia khác trong khu vực về cái giá sẽ phải trả khi đối đầu với Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông. Bế tắc trong tranh chấp tại Bãi cạn Scarborough cũng nhắc nhở Washington về việc cần thiết phải có các chiến lược ngoại giao thận trọng để một mặt làm yên lòng các đồng minh của mình nhưng mặt khác cũng không để bản thân bị cuốn vào một cuộc xung đột ở một nơi xa nước Mỹ.
    Carlyle A. Thayer là Giáo sư Danh dự Đại học New South Wales, Học viện Quân sự Quốc phòng Úc.
    Theo Yale Global
    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

  14. #2670
    Ngày gia nhập
    Mar 2008
    Nơi cư ngụ
    Tp.Hồ Chí Minh
    Bài gửi
    4.459
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    189
    Uploads
    153
    Mentioned
    2 Post(s)
    Tagged
    5 Thread(s)

    Asean chưa là một khối để lựa chọn

    - Tại hội nghị An ninh châu Á vừa qua, cả Indonesia lẫn Singapore đều tuyên bố: điều làm họ lo sợ là buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc hay Mỹ.Lâu nay ASEAN vẫn muốn là trung tâm trong mọi vấn đề của vùng. Nhưng qua vụ Scarborough và vụ cấm đánh bắt cá, do ASEAN phản ứng rất yếu, nên cái gọi là “vai trò trung tâm của ASEAN”, dù đã có một số tiến triển, vẫn chưa đạt tới tầm mong đợi chung.


    Chính quyền Tổng thống Aquino sẵn sàng thực hiện dự án hiện đại hoá quân sự đầy tham vọng trị giá 40 tỉ peso cho lực lượng vũ trang Philippines (AFP) trong vòng năm năm tới, bắt đầu từ năm 2012, nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước này tại Biển Đông.
    Ảnh: TL
    Ngày 12.6, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho biết, bà sẽ tham dự hội nghị quy tụ các quốc gia Đông Nam Á và các cường quốc khu vực vào tháng 7 tới ở Campuchia. Bà Clinton đưa ra tuyên bố này sau cuộc gặp với ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong trong lúc nước này đang chuẩn bị cho các cuộc họp của ARF tại Phnom Penh. Ngoại trưởng Hor Namhong cho biết ông cũng mời Tổng thống Barack Obama tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN sẽ diễn ra ở Phnom Penh vào tháng 11 năm nay, ngay khi kết thúc cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.
    Như vậy đây là lần thứ ba, ngoại giao hai ông lớn sẽ “tái ngộ” xung quanh vấn đề Biển Đông. Nếu ASEAN vẫn tiếp tục “đứng giữa đôi dòng nước”, cái giá phải trả lần này chắc sẽ khác lần ở Hà Nội hay Jakarta. ASEAN nhìn chung đều không muốn Trung Quốc lấn lướt ở Biển Đông, nhưng khi cần phải tỏ thái độ như một tổ chức thì mỗi thành viên lại đắn đo theo quyền lợi của quốc gia mình. Vì vậy, ASEAN khó hành động như một khối. Dưới cái gậy chỉ huy của Campuchia lần này, nếu ASEAN vẫn tiếp tục rón rén thì rõ ràng xu hướng “bẻ từng chiếc đũa một” sẽ thắng thế!
    Thực ra, cả Mỹ và Trung đều đang đi vào “một cuộc trường chinh” mới mà cốt lõi là sự bất đồng quan điểm về hệ thống quốc tế nói chung, chứ không chỉ riêng vấn đề Biển Đông. Biển Đông chỉ là một phép thử trong đại chiến lược của mỗi nước. Phép thử này dĩ nhiên có liên quan đến hình thái tập hợp lực lượng trong không gian chiến lược mới, khi mà Trung Quốc tuyên bố trỗi dậy, còn Mỹ thì khẳng định quá trình tái cân bằng. Châu Á có thể đủ lớn cho mọi cường quốc, nhưng có đủ lớn cho hai đại chiến lược này thi thố tài năng hay không thì còn là vấn đề phía trước.
    Không gian cho chiến lược mới
    Cũng trong ngày 12.6 vừa qua, Mỹ đã công khai sức lực cho một trận chiến quan trọng hơn: giữ các tuyến đường biển huyết mạch được tự do lưu thông mà không bị quấy nhiễu. Theo tuyên bố của người phát ngôn Lầu năm góc, Mỹ vừa khởi động giúp Philippines xây dựng một trung tâm giám sát bờ biển, cung cấp toàn cảnh những gì xảy ra trong vùng hải phận Philippines.Mặc dù Tổng thống Obama không giữ vai trò trọng tài trong các tuyên bố chủ quyền, mà chỉ khuyến cáo việc giải quyết trong hoà bình, bằng con đường ngoại giao, câu chuyện bãi cạn Scarborough cho thấy, các tranh chấp như thế không có nghĩa là Trung Quốc không phải trả giá.
    Sau cuộc họp với Tổng thống Philippines, Tổng thống Obama đã tuyên bố, Mỹ sẽ tăng cường lực lượng hải quân trong khu vực và sẽ giúp Manila tăng cường khả năng phòng thủ và hiện đại hoá quân đội.
    Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta chưa thấy có dấu hiệu gì là vấn đề Biển Đông có thể được giải quyết tận gốc. Nếu bộ quy tắc ứng xử (COC) giữa ASEAN với Trung Quốc đạt được trong năm nay thì hy vọng tạo ra một nguyên trạng nào đó. Nhưng rất tiếc là cho đến nay, Trung Quốc không muốn duy trì một nguyên trạng như vậy, mà đang tìm mọi cách để thách thức nguyên trạng này.
    Theo giáo sư Donald Weatherbee từ đại học South Carolina: “Mỹ sẽ không gửi hạm đội 7 đến để giải quyết các vấn đề về thuỷ sản hay san hô ở Biển Đông, đó không phải là lợi ích cốt lõi của nước Mỹ. Lợi ích cốt lõi quốc gia của Mỹ là tự do hàng hải. Trung Quốc chưa làm gì chứng tỏ họ sẽ đóng các tuyến đường biển qua lại của các tàu Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, hoặc nước nào khác. Thời điểm mà Trung Quốc thách thức chúng ta bằng cách đó, thì vấn đề không còn là lợi ích quốc gia của Philippines hay Indonesia, mà sẽ là vấn đề lợi ích quốc gia của Mỹ”.Xem thế để thấy ASEAN không nên sợ phải lựa chọn!

    nguồn

    Đem Đại Nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Trí Nhân để thay Cường bạo!

Tags for this Thread

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •