[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Hybrid View

  1. #1
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    194
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Quan hệ Việt Nam– Đông Nam Á trong thế kỷ XIX MỘT VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI

    Đinh Kim Phúc

    Lời nói đầu:

    Cho đến ngày hôm nay vẫn có người còn nghi ngờ về khả năng bảo vệ chủ quyền của đất nước (về khả năng đi biển), nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của các vua đầu tiên thuộc triều đại nhà Nguyễn. Bài viết này góp phần xua tan mối nghi ngờ đó. Xin cám ơn trang mạng hoangsa.org đăng lại bài viết này.

    ----------

    Khi nhận xét về triều đình nhà Nguyễn, Lê Thành Khôi đã viết: “dửng dưng với nhịp bước của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến á phiện đã báo động,triều đình Huế,vì khinh bỉ bọn “bạch quỷ” và nghi ngại những kỹ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước ở trong một trạng huống cô lập huy hoàng”. (1)

    Nhưng trong bài viết của Frédéric Mantienne thì ngược lại:
    “Năm 1839, Việt Nam mua con tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi.
    Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên.
    Trong khu vực, đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước.”
    Đây là một trong vài ví dụ nêu ra trong bài viết của Frédéric Mantienne.(2)

    Đọc bài viết của Frédéric Mantienne và trong quá trình thu thập tài liệu về mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trước năm 1945, chúng tôi đã tình cờ phát hiện ra 1 chi tiết khá lý thú về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844 đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á. Trong bài viết này, dựa trên những tư liệu của Việt Nam và của nước ngoài, chúng tôi sẽ đưa ra 1 số thông tin nhằm thấy rõ hơn về mục đích của phái bộ Việt Nam đi Hạ Châu và một số vấn đề cần trao đổi.

    Trước hết, chúng ta cần xác định rõ vị trí của vùng Hạ Châu thuộc khu vực Đông Nam Á mà bài viết này đề cập đến.

    Về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844, trong Văn học Trung đại Việt Nam II, tác giả Nguyễn Thị Thanh Lâm, đã viết: ”Sau 3 năm bị giam, Ông được cử đi phục dịch một đoàn sứ bộ của triều đình đi công cán ở Singapore để lập công chuộc tội (gọi là đi dương trình hiệu lực)”.(3)

    Chi tiết trên trùng hợp với nhận định của tác giả Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế trong Từ điển tác gia Việt Nam và Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam.(4)

    Còn trong quyển Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX) của tác giả Nguyễn Lộc và Tự điển danh nhân Việt Nam của Mạng tin Văn hóa thông tin (5) thì khẳng định địa điểm mà Cao Bá Quát đến trong chuyến đi năm 1844 là Indonesia.

    Danh nhân đất Việt, tập 3, xuất bản năm 1999 thì giải thích cụ thể hơn: “sau gần 2 năm đày đoạ trong tù ngục (1841-1843) giữa kinh thành Huế, Cao Bá Quát được tha, phải đi dương trình hiệu lực ở Giang-Lưu-Ba (tức Gia-các-ta thủ đô Inđônêxia hiện nay. “Dương trình hiệu lực” là một hình phạt phải đi theo phục dịch cho một phái bộ đi ra nước ngoài qua đường biển, để lấy công chuộc tội của một phạm nhân được tha).(6)

    Trong giáo trình Lịch sử Bang giao Việt Nam – Đông Nam Á của Tiến sĩ Trần Thị Mai ở chương Bang giao Việt Nam – Đông Nam Á thời Cổ và Trung Đại (7) thì lại không thấy trình bày sự kiện trên.

    Giáo trình Lịch sử các nước Đông Nam Á tập 1 của tác giả Lương Ninh – Hà Bích Liên và Lịch sử các nước Đông Nam Á Cận Hiện Đại của TS Huỳnh Văn Tòng dành cho ngành Đông Nam Á học, chúng tôi không tìm được địa danh Hạ Châu trong các địa danh ở khu vực Đông Nam Á.(8)

    May mắn thay, chúng tôi tìm lại trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam do Trương Hữu Quýnh chủ biên thì thấy địa danh Hạ Châu xuất hiện: “Khác với các triều trước, nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương khá chặt và trên cơ sở đó, tổ chức các chuyến buôn và công cán ở nước ngoài. Từ năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonexia). Sau đó, từ các năm 1831 – 1932 trở đi, việc cử thuyền đi công cán, buôn bán ngày càng nhiều sang Hạ Châu, Giang Lưu Ba, Quảng Đông, Lữ Tống (Luy xông – Philippin), Boocnêô, Băng cốc… Hàng đem bán là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược. Nhân họat động này, một số thương nhân giàu có cũng lén lút chở gạo, lâm thổ sản qúy sang Hạ Châu hay Quảng Đông buôn bán”.(9)

    Theo nghiên cứu của cố học giả Trần Kinh Hoà (Ch’en Ching-ho), địa danh Hạ Châu tuỳ theo thời điểm có thể dùng để chỉ những địa điểm khác nhau. Nói một cách cụ thể, địa danh Hạ Châu nguyên vào đầu thế kỷ XIX dùng để chỉ Penang và Malacca, nhưng sau khi Tân Gia Ba trở thành nhượng địa của Anh và cảng này được khai trương vào năm 1819, cả hai danh xưng Hạ Châu và Tân Gia Ba đều được sử dụng nhằm chỉ tân cảng Singapore. Tuy nhiên, vào thời điểm 1844 khi Cao Bá Quát được phái đi công vụ, danh xưng Hạ Châu trên nguyên tắc được dùng không những để chỉ Singapore mà còn để gọi cả Penang và Malacca - tức là các thuộc địa trên eo biển Malacca mà tiếng Anh gọi chung là Straits Settlements.

    Nhằm hiểu rõ mục đích của phái bộ cùng phản ứng của Cao Bá Quát khi mục kích những biểu tượng của nền văn minh hiện đại Tây phương, chúng ta cần để ý đến thời điểm phái bộ được gửi đi Hạ Châu lần này: Đây là một trong các phái bộ đầu tiên do triều đình nhà Nguyễn gửi sang Hạ Châu ngay sau khi Thanh triều vì bị thất trận nặng nề trong chiến tranh Nha phiến (1839-1842) nên phải nuốt nhục ký kết điều ước Nam Kinh (1842) với nước Anh. Điều ước này mở đầu cho một loạt điều ước bất bình đẳng Trung Quốc phải ký kết với các liệt cường khác.

    Trên thực tế, theo điều ước Nam Kinh, Trung Quốc phải cắt nhường Hongkong cho Anh trong 150 năm, mở 5 cảng Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải cho người Anh đến buôn bán và cư trú, đồng thời phải bồi thường cho nước Anh 21 triệu đồng bạc Mễ Tây Cơ. Đối với các nước có quan hệ triều cống với Trung Quốc như Việt Nam hay Triều Tiên, điều ước này còn mang một ý nghĩa quan trọng khác: vị trí “Thiên triều” của Trung Quốc ở Đông Á không còn như trước. Theo ghi chép của một người Anh đến Việt Nam vài năm sau đó, “từ khi chiến tranh Nha phiến bùng nổ, Trung Quốc đã có thái độ mềm mỏng và hoà hoãn đối với Việt Nam và thậm chí đã miễn việc triều cống,... điều ước Nam Kinh đã mang lại lợi ích cho vua nước An Nam, vì sau đó mậu dịch không còn giới hạn ở Quảng Đông và Hạ Môn như trước, mà có thể khuếch đại sang 3 cảng mới được mở thêm do điều ước Nam Kinh ”.

    Phái bộ đi Hạ Châu năm 1844 có mục đích gì? Nhằm trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần thu thập một số thông tin cơ bản. Người dẫn đầu phái bộ (chánh biện) là Đào Trí Phú (nguyên Tả tham tri Bộ Hộ); phó biện là Trần Tú Dĩnh (Viên ngoại lang Nội bộ phủ), quan viên tháp tùng còn có thừa biện Lê Bá Đĩnh, tư vụ Nguyễn Văn Bàn và Nguyễn Công Dao, thị vệ Trần Văn Quý, cùng hai người đi “hiệu lực” là Cao Bá Quát và Hà Văn Trung. Phái bộ đi trên tàu Phấn Bằng- một loại tàu buồm giăng ngang (square-rigged ship) mà triều đình Huế dùng làm tàu buôn lúc bấy giờ - khởi hành vào tháng 1-1844 và về lại vào tháng 7 năm đó.

    Đại Nam thực lục (sẽ ghi tắt là Thực lục)(10) cho biết là “ trước kia, dưới triều Minh Mệnh chắc hẳn là chuyến đi vào tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 21, tức 1840”, Trí Phú đã được phái đi mua tàu hơi nước, đó là các tàu Yên Phi, Vụ Phi, và Hương Phi, … Nhưng những tàu này chỉ thuộc loại cỡ nhỏ. Trong cùng mục tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Thực lục cho biết: “Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền...”.

    Tàu mua lần này là loại tàu lớn, mang tên là “Điện Phi hoả cơ đại thuyền”. Điện Phi là “tên do vua Thiệu Trị đặt”, bởi lẽ tàu “chạy nhanh như bay ”, còn “hoả cơ đại thuyền ” nói nôm na là tàu hơi nước cỡ lớn. Sau đó, Thực lục đã dành đến vài trang nhằm miêu tả tàu Điện Phi, trong đó có đoạn nói về tốc độ kinh dị của chiếc tàu này như sau: “Từ đồn Cần Giờ tỉnh Gia Định ra kinh [Thuận Hoá] lệ thường đi hoả tốc bằng ngựa mất 4 ngày 6 giờ 5 khắc, tàu Điện Phi chạy chỉ cần 3 ngày 6 giờ, tức là nhanh hơn ngựa phóng nước đại trên đất liền đến 1 ngày 5 khắc ”.

    Phải chăng một trong những mục tiêu chính của phái bộ đi Hạ Châu năm 1844 là để mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước cỡ lớn này? Có lẽ đúng thế. Mặc dù Thực lục chỉ cho biết một cách tổng quát là “trước đây Trí Phú đã được phái đi Giang-lưu-ba, làm việc phần nhiều chưa xong, cho nên lại sai đi”. Chúng ta biết rằng trước đó, Trí Phú đã được phái đi vào năm 1840, và công việc “phần nhiều chưa xong (đa vị thanh)” trong chuyến đi đó chắc hẳn hàm ý việc mua chiếc tàu lớn chạy bằng hơi nước mà sau này được mang tên là Điện Phi.

    Cần nói thêm là chuyến công cán mà Cao Bá Quát tháp tùng chỉ đi trong vòng 7 tháng và câu “Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu chạy bằng hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền” trong Thực lục khiến người ta có thể hiểu nhầm là chỉ trong thời gian 7 tháng mà Trí Phú đi sang Tây phương và đã mua được tàu Điện Phi mang về. Sự thật thì như ta đã biết là phái bộ này không đi sang Tây phương. Vậy danh từ Tây dương trong Thực lục có nghĩa gì?

    Vào nửa đầu thế kỷ XIX, kiến thức địa lý thế giới ở Trung Quốc và Việt Nam hãy còn hết sức hạn chế và tạp nhạp, ngay tờ quan báo do tỉnh Quảng Đông phát hành từ năm 1819 đến năm 1822 còn giải thích Bồ Đào Nha ở cạnh Malacca, mà Pháp và Bồ Đào Nha chỉ là một, hay nói một cách khác Pháp nằm kế cận eo biển Malacca!

    Do đó, “sang Tây dương” trong trường hợp này không nhất thiết là phải đi sang các nước Âu Châu. Vì vô tình nhầm tưởng rằng “sang Tây dương” phải là sang Âu Châu, mà nếu đi bằng thuyền buồm thì không thể nào sang Âu Châu rồi về lại trong một khoảng thời gian 7 tháng, nên học giả Trần Kinh Hoà đã gợi ý là phải chăng Đào Trí Phú đã đi Gianglưu-ba (Jakarta) bằng tàu Phấn Bằng, “rồi từ Jakarta đổi sang tàu khác để đi Tây dương (Pháp), và cuối cùng nhận tàu Điện Phi ở Pháp rồi lên tàu đó để đi thẳng về Thuận Hoá”. Sự thật thì không phải như vậy, vì như chúng ta đã biết, phái bộ có Cao Bá Quát tháp tùng đã không sang Âu Châu, mà chỉ đi các vùng thuộc địa của người Tây phương dọc theo eo biển Malacca. Nhưng căn cứ vào đâu mà chúng ta có thể đoán định được là tàu Điện Phi đã được mua ở Đông Nam Á? Thông tin sau đây từ các nguồn tư liệu tiếng Anh mà chúng tôi tình cờ tìm thấy đã xác nhận điều đó.

    Trước hết, cần nói rằng các nguồn tư liệu tiếng Anh mà chúng tôi đã xem đều nhấn mạnh vào thời điểm đó Xiêm (Siam) và An Nam là hai nước láng giềng có quan hệ rất xấu. Khi chiến tranh Nha phiến vừa bùng nổ, vì nghe tin đồn là các chiến hạm Anh ở Trung Quốc sẽ tiện đường “ghé viếng thăm [!] nước Xiêm” một khi chiến tranh kết thúc, vua Xiêm lo sợ nên đã đặt mua nhiều súng ống và một chiếc tàu chạy bằng hơi nước qua công ty của ông Robert Hunter lo về việc mậu dịch giữa Bangkok với các nước Âu Châu. Vì các mặt hàng vua Xiêm đặt mua đến chậm, đến lúc sắp sửa giao hàng thì chiến tranh Nha phiến đã kết thúc và nỗi lo sợ của người Xiêm bị vạ lây với Trung Quốc cũng đã nguôi lắng. Bởi thế, vua Xiêm làm khó, không chịu mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước theo giá hai bên đã thoả thuận lúc ban đầu. Hunter do đó mới đề nghị bán cho người An Nam – “địch thủ của người Xiêm”. Kết quả là Hunter bị trục xuất ra khỏi Bangkok, tuy sau đó có được phép trở về Xiêm để thu hồi tài sản. “Trong thời gian ở Singapore, ông ta đã hoàn tất thủ tục bán chiếc tàu chạy bằng hơi nước cho người An Nam”. Tóm lại, căn cứ vào thời điểm cùng những chi tiết của chứng từ trên, chúng ta có thể suy luận là: 1) chiếc tàu chạy bằng hơi nước mà thương nhân người Anh Robert Hunter bán cho An Nam chắc hẳn là tàu Điện Phi. 2) Quá trình mua bán tàu Điện Phi đã diễn ra ở Singapore chứ không phải ở Châu Âu.

    Cũng theo các nguồn tài liệu tiếng Anh, mậu dịch giữa Việt Nam với các thuộc địa Anh thuộc vùng Hạ Châu chỉ bắt đầu sau khi tân cảng Singapore trở thành thuộc địa của người Anh (1819). Trước đó hầu như “không có dấu vết gì về mậu dịch giữa Campuchia và Cochin-China với các thuộc địa Anh ở trên eo biển”.

    Năm 1821, số thuyền mành đến Singapore từ hai nước này và Xiêm là 21 chiếc, và 3 năm sau (1824) số thuyền đến Singapore tăng lên thành 70 chiếc mỗi năm. “Mậu dịch với Singapore rất bị hạn chế vào thập niên 1820, bởi lẽ phần lớn những sản phẩm của Cochin-China chỉ thích hợp với thị trường Trung Quốc, và chỉ có giai cấp thượng lưu ở Cochin-China và quân đội của nhà vua mới có nhu cầu về những hàng bông và hàng nỉ của Anh. Hàng nỉ của Anh dùng may trang phục cho quân đội của nhà vua hầu hết được đặt mua từ Quảng Đông”. Mậu dịch giữa An Nam và Singapore do “thần dân người Hoa trong nước đảm nhiệm”.

    Báo cáo của toàn quyền Anh ở Singapore, John Crawfurd, về Luân Đôn cho biết là năm 1825 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc mậu dịch giữa Cochin-China và Singapore. Vào năm ấy, “nhà vua [vua Minh Mạng] gửi hai thuyền mành có trang bị vũ khí cùng quan viên sang Singapore để mua hàng nỉ và hàng thuỷ tinh”. Sau đó, nhà đương cuộc Anh đã “khám phá là những quan viên này đến Singapore có nhiệm vụ nghiên cứu nhằm báo cáo về tình hình trên những thuộc địa của người Âu Châu ở eo biển Malacca”. Tuy người ta không biết trong báo cáo đó đã ghi những gì, nhưng sau lần thăm viếng đó, triều đình “đã giành độc quyền mậu dịch với Singapore”.(11)

    Từ những cứ liệu trên chúng tôi thống nhất với tác giả Yoshiharu Tsuboi không chia sẻ lối khẳng định phiến diện của Lê Thành Khôi khi ông viết về triều Nguyễn.

    Và nó hoàn toàn phù hợp với nhận định của Frédéric Mantienne: “Thời kì 1790-1802 đánh dấu sự chuyển đổi trong thái độ của người Việt đối với đại dương và các nước khác. Trong vòng 12 năm, dân tộc Việt Nam, những người trước đó bị cho là không hợp với các chuyến hải hành đường dài, đã học được các kỹ thuật nước ngoài, áp dụng chúng trong hoàn cảnh địa phương để xây dựng một hạm đội mạnh. Một ví dụ mang tính biểu tượng cho sự mở cửa của Việt Nam ra với biển: đoàn sứ thần do nhà Nguyễn gửi đến Trung Quốc để xin hoàng đế nhà Thanh công nhận triều Nguyễn đã đi bằng đường biển thay vì đi qua biên giới phía Bắc như hàng thế kỷ trước đó.

    Trong thời hậu chiến, các con tàu kiểu châu Âu cũng được dùng cho việc buôn bán. Chúng không chỉ chở gạo từ miền Nam ra miền Trung Việt Nam, mà còn dùng cho các hành trình ra nước ngoài. Gia Long năm 1802 chấm dứt việc gửi phái đoàn thương mại ra nước ngoài để mua súng đạn, nhưng Minh Mạng sau đó lặp lại lề thói này. Các chuyến hải hành thương mại cũng đem lại cơ hội cho thủy thủ đoàn Việt Nam tập ra biển lớn, và sử dụng kỹ thuật phương Tây. Năm 1823, Minh Mạng ra lệnh cho thủy thủ đoàn học sử dụng các dụng cụ đi biển, học xác định phương hướng. Năm 1835, các chỉ thị tương tự ban hành xoay quay việc nhập khẩu các kỹ thuật hải trình; năm 1842, đến lượt người kế vị Minh Mạng, Thiệu Trị, ra các chỉ thị như vậy.

    Ý chí chính trị học hỏi các kỹ thuật nước ngoài đạt đỉnh cao trong cuối thập niên 1830 khi Minh Mạng ra lệnh mua tàu chạy bằng hơi nước. Phan Huy Chú năm 1833 lần đầu tiên nhìn thấy tàu hơi nước ở Batavia, và Lý Văn Phức mô tả một tàu khác trong chuyến đi đến Calcutta. Năm 1839, Việt Nam mua con tàu hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi. Năm 1844, một con tàu lớn hơn được mua, với tên Diễn Phi.

    Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên. Tại châu Á, người Hà Lan đặt hàng con tàu hơi nước đầu tiên cho hạm đội của họ năm 1837, và một hai năm sau mới có con tàu thương mại đầu tiên.

    Trong khi đó mãi đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước. Có vẻ như trong nửa đầu thế kỷ 19, tại châu Á, Việt Nam thuộc một vài nước đầu tiên quan tâm kỹ thuật hàng hải châu Âu”.(12)

    CHÚ THÍCH

    (1) Yoshiharu Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa.Ban KHXH Thành ủy Tp. HCM 1990.
    (2) Xem “ The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn”. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á. Đại học quốc gia Singapore, số tháng 10 năm 2003.
    (3) Xem – website : www.ctu.edu.vn ( KhoaSư phạm-đề cương bài giảng )
    (4) Xem : -Nguyễn Q Thắng. Từ điển tác gia Việt Nam . NXB VHTT ,năm 1999- Nguyễn Q Thắng – Nguyễn Bá Thế Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam . NXB Văn Hóa, năm 1993.
    (5) Nguyễn Lộc. Văn học Việt Nam(nửa cuối thế kỷ XVIII-hết thế kỷ XIXû). NXB Giáo Dục, 1999 - Tự điển Danh nhân Việt Nam. Mạng tin Văn hoá thông tin. Bộ Văn hóa thông tin.
    (6) Văn Lang-Quỳnh Cư-Nguyễn Anh. Danh nhân đất Việt. Tập 3. NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999
    (7) TS Trần thị Mai. Lịch sử Bang giao Việt Nam – Đông Nam Á. BXB Đại học Mở-Bán công Tp.HCM,2001
    (8) Lương Ninh- Hà Bích Liên. Lịch sử Các nước Đông Nam Á. Tập 1. Khoa Đông Nam Á học ĐHM-BC Tp.HCM, 1998
    (9) Trương Hữu Quýnh chủ biên. Đại cương Lịch sử Việt Nam. Tập 1. NXB Giáo dục, 1998.
    (10) Quốc Sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục (nhiều tập).Bản dịch tiếng Việt của Trịnh Đình Rư-Trần Duy Hân(Hoa Bằng hiệu đính).NXB KHXH,HN, 1971.
    (11) Vĩnh Sính.Thử tìm hiểu thêm về chuyến đi công vụ ở Hạ Châu của Cao Bá Quát. Tạp chí DĐĐT Paris 2004.
    (12) Xem “The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn” Sđd.

  2. Thanks anh2, champions thanked for this post
  3. #2
    Ngày gia nhập
    Sep 2009
    Nơi cư ngụ
    Song va lam viec tai warszawa
    Bài gửi
    73
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Cục diện sức mạnh quân sự của các nước ASEAN năm 2009

    Cục diện sức mạnh quân sự của các nước ASEAN năm 2009
    Trước nhiều yếu tố tác động cả về vị trí địa lý, tôn giáo, sắc tộc, kinh tế-xã hội và thể chế chính trị-quân sự. Năm 2009, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều có những nỗ lực riêng nhằm đạt được một sức mạnh quân sự nhất định đủ khả năng phòng thủ quốc gia. Các hoạt động hiện đại hoá này đã diễn ra khá sôi động và có thể thấy nó như một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Các hoạt động tăng cường sức mạnh quân sự này ngoài những tác động khách quan, đặc điểm tình hình hay vị trí địa lý của từng quốc gia, thì vấn đề nổi cộm nhất của từng quốc gia trong khu vực là nhiệm lo ngại trước sự tham vọng và chiến lược phát triển hướng nam của Trung Quốc. Đây cũng là một lý do lớn để các nước trong khu vực hiện đại hoá quân sự cho mình.

    Theo cục diện của bức tranh chính trị-quân sự thế giới, tình trạng tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Nam Á mà gần đây còn được gọi là "chạy đua vũ trang" khu vực hay là kết quả của sự chuyển hướng tư duy về sức mạnh quân sự thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Bên cạnh đó, quá trình hiện đại hóa quân sự ở khu vực Đông Nam Á còn chịu tác động không nhỏ từ một hiện tượng mới hình thành trong thế giới đương đại. Đó là, cuộc cách mạng mới trong quân sự, diễn ra mạnh mẽ sau Chiến tranh Lạnh, khởi nguồn từ Liên Xô trước đây và Mỹ. Tuy nhiên, nó diễn ra không đồng đều ở tất cả các nước mà diễn ra sớm hay muộn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và thể chế chính trị-quân sự của từng quốc gia. Quá trình hiện đại hoá quân đội, tăng cường sức mạnh quân sự của các nước Đông Nam Á đều có tính đến cuộc cách mạng mới trong quân sự. Các quốc gia có hợp tác quân sự với Mỹ như Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan, đang nỗ lực bắt kịp với cuộc cách mạng mới trong quân sự để có thể tác chiến liên hợp với Mỹ khi cần thiết, còn các nước khác trong khu vực cũng vì thế mà càng đón nhận cuộc cách mạng quân sự để không rơi vào tình trạng lạc hậu.

    Có thể nói, dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, Đông Nam Á đang phải đối mặt với quá trình tăng cường sức mạnh quân sự. Bởi, nếu nói chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, còn chiến tranh là sự kế tục của chính trị, thì một khi kinh tế còn là "mặt trận", không ai dám lơ là chuyện củng cố quốc phòng. Xu hướng chủ yếu trong các chương trình hiện đại hóa quân đội một số nước trong khu vực là vừa tranh thủ thị trường vũ khí trang bị giá rẻ sau Chiến tranh Lạnh, vừa tiếp cận các thành tựu của cuộc cách mạng mới trong quân sự, đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí trang bị. Một số nước trong khu vực (Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philippinnes) hiện đại hóa quân đội để có thể hợp tác với Mỹ trong khi tham gia các cuộc diễn tập quân sự chung. Có thể thấy, nguồn cung cấp vũ khí trang bị hiện đại cho một số nước ASEAN khá đa dạng như Mỹ (máy bay F-16, F-18, F-4, F-5E/F); Trung Quốc; Ấn Độ; Pháp; Nga (MiG-29, MiG-27, Su-30, Su-35, tên lửa phòng không, tàu chiến).


    Thông tin tham khảo:

    Quân đội Malaysia

    Ngoài việc gia tăng mua sắm vũ khí trang bị chiến tranh hiện đại, bên cạnh đó Malaysia cũng luôn có những nỗ lực muốn xây dựng mình trở thành một trung tâm kỹ thuật quân sự của khu vực Đông Nam Á. Theo một thông báo của Bộ trưởng quốc phòng Malaysia hôm 07/7/2009 cho biết, Malaysia sẽ đề xuất thành lập một Hội đồng Công nghiệp Quốc phòng ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng của khối ASEAN sẽ diễn ra vào tháng 11/2009 tới.

    Từ đầu năm 2003, Bộ Quốc phòng Malaysia cũng đã xúc tiến một số dự án mua sắm trang bị như: dự án mua 18 máy bay chiến đấu Su-30MKM mà Malaysia đã ký với Nga tháng 8/2003 với tổng trị giá 900 triệu USD. Trong đó, 06 chiếc đã nhận hồi tháng 09/2007, tiếp đó nhận 06 chiếc vào tháng 11/2008 và 06 chiếc còn lại sẽ nhận vào cuối năm 2009; dự án mua 12 máy bay trực thăng EC-725 của hãng Eurocopter trước năm 2011 để thay thế số máy bay trực thăng loại Nuri S61A-4 đã hết hạn sử dụng; từ năm 2013-2014, Không quân Malaysia sẽ tiếp nhận 04 máy bay A-400M của hãng Airbus và một số dự án máy bay khác như: mua 08 máy bay cảnh báo sớm và Chỉ huy trên không (AEWAC), dự án nâng cấp máy bay F/A-18D.

    Mới đây hôm 09/7, Bộ trưởng quốc phòng Malaysia cho biết “Toàn bộ vũ khí và các phương tiện chiến đấu của quân đội đều đã rất cũ. Lực lượng Hải quân hiện vẫn đang phải sử dụng cả những tàu chiến đã 32 năm tuổi và một số lớn các tàu khác đã 25 năm tuổi để bảo vệ chủ quyền cho quốc gia. Đối với lực lượng Không quân, mặc dù đã nhận một số máy bay chiến đấu thế hệ mới, nhưng vẫn chưa đủ để nâng được sức mạnh cho Không quân, còn lại một số lượng lớn các máy bay chiến đấu khác đều đã quá lỗi thời về công nghệ”.

    Tháng 8/2008, Không quân Hoàng gia Malaysia đã ký kết với Hãng Eurocopter hợp đồng mua 12 trực thăng. Hiện tại, Hàng không quân sự Malaysia có 11 chiếc trực thăng A109H nên chi phí nâng cấp ước tính khoảng 14 triệu USD.

    Điều đặc biệt và đáng lưu ý nhất là dự án mua 02 tàu ngầm lớp “Scorpene” chạy bằng động cơ diesel. Ngày 03/9, chiếc tàu ngầm đầu tiên đã chính thức về tới Malaysia, đến ngày 17/9 tàu này sẽ về tới căn cứ tàu ngầm tại vịnh Sepanggar. Chiếc tàu ngầm thứ hai thuộc lớp này, theo một tuyên bố hôm 05/9 tại căn cứ hải quân Lumut, Đô đốc Tan Sri Abdul Aziz Jaafar, Tư lệnh Hải quân Malaysia cho biết, chiếc tàu ngầm thứ hai có tên “KD Tun Razak” hiện đang được tiến hành thử nghiệm giai đoạn hai tại biển Cartagena thuộc Tây Ban Nha, do xưởng đóng tàu Navantia thực hiện. Ngày 25/10/2009, Hải quân Malaysia sẽ chính thức tiếp nhận chiếc tàu ngầm thứ hai, theo đó ngày 26/01/2010 tàu sẽ xuất phát để trở về Malaysia. Phát biểu trong lễ đón nhận chiếc tàu ngầm lớp Scorpene đầu tiên tại cảng Klang hôm 03/9, Bộ trưởng quốc phòng Malaysia Ahmad Zahid đã nhấn mạnh, Malaysia sẽ đề xuất đóng thêm các tàu ngầm mới trong tương lai nếu cần thiết và tài chính cho phép. Điều này chứng tỏ rằng, việc phát triển một hạm đội tàu ngầm đã và đang được Malaysia tiến hành.

    Đối với tàu chiến, hiện nay Malaysia đang sở hữu một lực lượng tàu chiến khá lớn. Nhưng Malaysia đã tiếp tục đề ra những chủ trương phát triển mới mẻ hơn. Phát biểu trong lễ đặt tên cho chiếc tàu cuối cùng trong dự án đóng 06 tuần tra hôm 23/7, Đô đốc Tan Sri Abdul Aziz Jaafar, Tư lệnh Hải quân hoàng gia Malaysia tuyên bố, lực lượng hải quân sẽ tiếp tục đề xuất đóng thêm 06 tàu tiếp theo để tăng cường cho hải quân.

    Ngoài những dự án quan trọng trên, Malaysia đã tiếp tục nghiên cứu và tự chế tạo các máy bay không người lái, với mục đích tăng cường khả năng hoạt động tình báo, trinh sát, do thám và chiến đấu cho quân đội. Ngày 03/8, Hãng thông tấn (Bernama) của Malaysia cho biết, đầu năm 2010, quân đội nước này sẽ thực hiện chuyến bay đầu tiên của máy bay không người lái (UAV) loại Aludra. Mà quân đội Malaysia đã triển khai tại khu vực bờ biển Pandanan và Sipadan.

    Ngày 28/10, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Datuk Seri Dr Ahmad Zahid Hamidi cho biết, các máy bay chiến đấu MiG-29 của Không quân Hoàng gia Malaisya (RMAF) sẽ dần dần được loại bỏ và thay thế bằng các máy bay chiến đấu đánh chặn mới trước ngày 31/12/2010 do chi phí vận hành và bảo dưỡng những máy bay này tăng cao.

    Quân đội Indonesia

    Ngày 25/5, Tổng thống Indonesia Susilo BambangYudhoyono cho biết, ngân sách chi cho quốc phòng phải được tăng lên để đáp ứng nhu cầu sẵn sàng hoạt động của quân đội. Theo đó năm 2010, Indonesia tăng thêm ngân sách quốc phòng lên khoảng 21% khoảng 04 tỷ USD. Trong năm 2009 Indonesia đã có một số dự án mua một số máy bay chiến đấu Su-30MK2 của Nga, xe chiến đấu bộ binh BMP-3F, trực thăng Mi-17 và Mi-35. Ngoài ra sẽ mua 2 tàu ngầm lớp Kilo của Nga và dự kiến triển khai hoạt động vào năm 2015. Đối với quân đội Indonesia, ngân sách để duy trì các hệ thống vũ khí chính hiện có chỉ chiếm dưới 10% ngân sách quốc phòng của Indonesia, đây là ngân sách lý tưởng để duy trì phải chiếm từ 20 đến 25% ngân sách được phân bổ

    Ngày 30/5, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Juwono Sudarsono tiết lộ, hiện Indonesia đang hội đàm với Mỹ về kế hoạch mua 04 máy bay vận tải C-130 Hercules do Lockheed Martin chế tạo và có thể cân nhắc mua các máy bay chiến đấu và 02 tàu ngầm trong 2-3 năm tới.

    Ngày 11/4, Hải quân Indonesia đã tiếp nhận tàu hộ tống hạng nhẹ lớp Sigma cuối cùng trong tổng số 4 chiếc trong hợp đồng đã ký với Công ty Damen Schelde Naval Shipbuilding (Hà Lan) năm 2005. Sigma thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên biển dài ngày và đảm bảo an ninh chính trị trên biển thuộc vùng đặc khu kinh tế của Indonesia.

    Ngày 18/9, Công ty đóng tàu quốc gia Indonesia (PT PAL) có kế hoạch kí hợp đồng với chính phủ nước này về việc đóng chiến hạm 2400 tấn trang bị cho Lực lượng Hải quân trước cuối năm 2009.Theo kế hoạch ban đầu, công ty sẽ đóng 2 chiếc, tuy nhiên do không đủ chi phí nên sẽ cắt giảm xuống còn 1 chiếc. Chi phí đề xuất đóng 1 chiếc tàu là 240 triệu USD. Trong trường hợp chính phủ nước này tán thành thì PT PAL có kế hoạch bắt đầu đóng tàu trong năm nay.

    Ngày 22/9, Tuần báo Quốc phòng Jane’s đưa tin, nhằm mục đích hoàn thiện khả năng của hệ thống phòng không thuộc Lực lượng Không quân, Indonesia có ý định mua hệ thống pháo binh tầm xa của Thụy Sĩ và tên lửa phòng không tại Trung Quốc trong thời gian tới.Theo lời một vị tướng đã về hưu, Indonesia có kế hoạch mua pháo phòng không 35mm do công ty Oerlikon Contraves của Thụy Sĩ sản xuất và 3 tổ hợp QianWei-3 của Trung Quốc. Theo tuyên bố của Bộ Quốc phòng Indonesia, những hệ thống của Thụy Sĩ dùng để thay thế những vũ khí đang vận hành hiện nay vốn được sản xuất vào thập niên 50. Tổ hợp QianWei-3 do tập đoàn xuất-nhập khẩu – chế tạo máy chính xác (CPMIEC) dự kiến được triển khai tại Jarkatar và căn cứ không quân tại Madiun, tỉnh phía Đông Java.

    Ngày 17/10, tờ báo điện tử Kompas.com dẫn lời một bộ trưởng Indonesia cho hay, cơ quan nghiên cứu và phát triển công nghệ của nước này sẽ đưa vào vận hành máy bay mini không người lái “Puna” để hỗ trợ quốc phòng và an ninh cũng như theo dõi các hoạt động khủng bố.

    Quân đội Thái Lan

    Việc tăng cao ngân sách quốc phòng được bằng sự cần thiết phải duy trì thế cân bằng lực lượng trong khu vực song song với việc tăng chi phí quốc phòng của các quốc gia láng giềng cũng như nhằm chống lại chủ nghĩa phân lập ở phía Nam đất nước; năm 2008, ngân sách quốc phòng tăng lên gần 5,1 tỷ USD (tháng 09/2008 chính phủ chi bổ sung cho quốc phòng 6,2 tỷ bath do đồng tiền trong nước bị mất giá.); năm 2009, ngân sách quốc phòng là 169 tỷ bạt cao hơn 2008 là 17,8%, lực lượng Bộ binh Thái Lan nhận 83,5 tỷ bath. Bộ quốc phòng đã đề nghị tăng chi phí ngân sách quốc phòng lên gần 1,8% GDP trong giai đoạn (từ 2009-2014) và lên gần 2% trong giai đoạn (2015-2019).

    Ngày 17/2/2009, Đại sứ Nga tại Thái Lan cho biết, họ “quan tâm đến việc sở hữu vũ khí và trang thiết bị quân sự Nga nói chung và trực thăng Mi-17 nói riêng”.“Chúng tôi đang tiến hành thảo luận với các bạn đối tác Thái Lan về việc xác định những nội dung của hợp đồng tiềm năng này. Theo đó,Thái Lan sẽ tiến tới ký kết hợp đồng mua từ 3 đến 6 máy bay Mi-17B-5.

    Ngày 15/9 Nội các Thái Lan đã tán thành đề xuất của Bộ Quốc phòng nước này về việc mua một lô lớn súng trường tiến công Tavor của Israel gồm 13868 khẩu với tổng trị giá 27,77 triệu USD. Phát ngôn viên chính thức của chính phủ Thái Lan, Supachai Jaisamut, nói với các nhà báo rằng thương vụ trên sẽ được thực hiện trong khuôn khổ thỏa thuận giữa 2 nước Thái Lan và Israel. Đồng thời, Thái Lan sẽ trả tiền mua vũ khí do Israel sản xuất theo ba đợt – 2009, 2010 và 2011. Trước đó, Thái Lan đã từng mua loại vũ khí này.

    Ngày 22/9, các phương tiện thông tin Thái Lan cho biết, nội các Thái Lan đã thông qua khoản ngân sách mua sắm quốc phòng trị giá hơn 10 tỷ bạt (297 triệu USD), cho khoảng thời gian từ nay đến năm 2012. Theo kế hoạch, Bộ Quốc phòng Thái Lan sẽ sử dụng 4,9 tỷ bạt (145,6 triệu USD) cho việc mua sắm các phương tiện phục vụ ngành hậu cần quân sự, 03 tỷ bạt (89 triệu USD) sẽ được Lục quân Hoàng gia Thái Lan sử dụng để thay thế các phương tiện và máy móc đã cũ không còn hoạt động được, và hải quân sẽ nhận 989 triệu bạt (29 triệu USD) để mua trực thăng Seahawk thực hiện nhiệm vụ tác chiến chống ngầm. Một khoản ngân sách 1,6 tỷ bạt (48 triệu USD) sẽ được sử dụng để mua 3 chiếc tàu tuần tra duyên hải.

    Tháng 10/2009, Hải quân Hoàng gia Thái Lan đã kí kết hợp đồng với Embraer - công ty hàng không vũ trụ của Brazil - mua máy bay ERJ 135 thứ hai. Ngoài hai đơn đặt hàng khác do quân đội Thái Lan đưa ra, đây là máy bay thứ tư do chính phủ Thái Lan đặt mua trong vòng chưa đầy hai năm. Tất cả những máy bay này đều là phiên bản máy bay tầm xa.

    Chính phủ Thụy Điển đã chính thức tán thành thỏa thuận bán 6 máy bay chiến đấu JAS-39 Gripen cùng hệ thống do thám radar Erieye và các hệ thống kết nối dữ liệu kèm theo cho Không quân Thái Lan. Một quan chức Bộ Quốc phòng Thụy Điển cho biết, thỏa thuận mua bán này trị giá 593 triệu USD và dự kiến số vũ khí trên sẽ được giao vào năm 2011.

    Kế hoạch từ 5-10 năm tới sẽ mua tàu ngầm, giá trị ban đầu của một chiếc tàu ngầm khoảng 1,2 tỷ USD, nhằm thực hiện các nhiệm vụ tuần tra khu vực biển Andamans và eo biển Malacca.

    Quân đội Campuchia

    Camphuchia có kế hoạch tăng chi phí quốc phòng và an ninh từ 223 triệu USD năm 2009 lên 274 triệu USD trong năm 2010 (tăng 23%). Tổng ngân sách nhà nước cho tài khóa 2010 là 1,97 tỷ USD. Điều này cho thấy quân đội Campuchia đã được phân bổ khoảng 14% tổng số chi tiêu ngân sách nhà nước.

    Quân đội Brunei

    Ngày 12/10, Quốc vương Brunei, Hassanal Bolkiah, đã có chuyến thăm chính thức Nga và đã có các cuộc gặp với các quan chức của Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport để đàm phán về khả năng mua vũ khí của Nga trong tương lai. Rosoboronexport hy vọng, các cuộc gặp tới đây giữa Nga và Brunei sẽ đánh dấu sự khởi đầu các cuộc đối thoại hai bên cùng có lợi và mang tính xây dựng trong lĩnh vực hợp tác công nghệ quân sự giữa hai quốc gia. Quốc vương Hassanal Bolkiah đã được giới thiệu các hệ thống vũ khí phòng không do Nga sản xuất và đã được xem một máy bay trực thăng tấn công Ka-52 trình diễn. Ông cũng đã đến thăm một trung tâm huấn luyện các đơn vị lực lượng đặc biệt của Nga.

    “Quốc vương Hassanal Bolkiah đã bày tỏ sự quan tâm thực sự đến vũ khí Nga và bày tỏ sự hài lòng về các cuộc đàm phán và giới thiệu này,” Thông cáo báo chí của Tập đoàn Rosoboronexport cho hay.

    Tháng 6/2009, các cuộc thử nghiệm trên biển của tàu tuần tra đầu tiên lớp mới dùng cho Hải quân Brunei đã được bắt đầu. Tính đến thời điểm này, chưa có bất kỳ công ty nào cũng như lãnh đạo Brunei khẳng định chính thức việc kí kết hợp đồng đóng tàu, tuy nhiên các nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Đức cho rằng xưởng đóng tàu của Đức đã nhận được đơn đặt hàng đóng một vài tàu tuần tra từ quốc vương Brunei.

    Quân đội Singapore

    Năm 2009 quân đội Singapore quan tâm tới việc tăng cường sức chiến đấu tại khu vực đô thị bằng xe thiết giáp chở quân mới mang tên Terrex, loại xe này có thể cho phép lính không quân và đổ bộ liên lạc hiệu quả trên chiến trường. Terrex được trang bị hệ thống quản lí chiến trường, do đó cho phép binh lính mặt đất liên lạc với các chỉ huy của họ tại các sở chỉ huy, đồng thời nó có khả năng liên kết với các thiết bị chiến đấu khác của quân đội. Ngoài ra có thể thực hiện nhiệm vụ do thám trên không và mặt đất, chẳng hạn như định vị mục tiêu của kẻ thù, thông qua thiết bị camera và hệ thống điều hướng. Theo kế hoạch Singapore sẽ mua 150 xe Terrex và sẽ bắt đầu huấn luyện các tiểu đoàn bảo vệ và bộ binh sử dụng xe Terrex từ tháng 02/2010.

    Tháng 02/2009, Không quân Singapore đã tiếp nhận 04 máy bay G550-AEW trị giá khoảng 01 tỉ USD với Hãng Elta của Israel, nhằm thay thế cho thế hệ E-2C Hawkeye đã hết hạn sử dụng. Loại máy bay này có khả năng phát hiện, nhận dạng mục tiêu ở phạm vi xa hơn.

    Quân đội Philippines

    Tổng thống Gloria Arroyo đã chỉ đạo tìm cách đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Hải quân, không những để tăng cường bảo vệ an ninh chủ quyền biển, đảo mà còn để gìn giữ môi trường an ninh đại dương.

    Theo chương trình hiện đại hóa quân đội Philippines, Hải quân có thể được tăng cường thêm các tàu mới vào năm 2017. Tuy nhiên, theo Bộ Quốc phòng Philippines thì sẽ phải mất thêm 2-3 năm để các thiết bị này về tới Philippines và đây là lý do tại sao Tổng thống Arroyo muốn tìm cách để có được các thiết bị phục vụ cho Hải quân trước năm 2017.

    Từ 21-29/5, tại Cebu, diễn ra cuộc diễn tập Hải quân chung hàng năm giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Philippines với tên gọi CARAT 2009. Mục đích của cuộc tập trận này là giúp quân đội Philippines chống khủng bố và giúp Hải quân nước này làm quen với các công nghệ mới nhất đang được Mỹ sử dụng.


    Từ khóa:Tong hop



  4. #3
    Avatar của sanleo
    sanleo đang Offline Vì một HSO không troll, không cãi lộn, không võ mồm manh động, không tổ lái...
    Ngày gia nhập
    Jan 2008
    Nơi cư ngụ
    Thủ đô
    Bài gửi
    2.394
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    255
    Uploads
    82
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    3 Thread(s)

    Sách về Việt Nam thế kỷ 17, 18, 19

    Em thấy ở trang web này có nhiều sách miễn phí có thể download, có nhiều sách viết về Đàng Trong thế kỷ 17,18,19.
    http://www.archive.org/search.php?query=cochinchina

    các sách về Đàng Ngoài, hoặc cả Việt Nam
    http://www.archive.org/search.php?query=annam
    Em nghĩ những cuốn sách đó có thể cho thêm thông tin về các quan hệ của Việt Nam trong thời kỳ này.

    Em không rõ các cuốn sách đó có gì đáng lưu ý không, nhưng NNC Đinh Kim Phúc hãy thử tìm các tài liệu đó xem liệu có thể bổ xung cho nghiên cứu về quan hệ Việt Nam-Đông Nam Á thế kỷ 19 hay không
    Sửa bởi sanleo : 10-11-2009 lúc 06:37 AM
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------
    ...Mảnh đất quê ta giữa đại dươ­ng mang tình thươ­ng quê nhà...
    ...Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa. Quần đảo đứng hiên ngang thiên hùng ca ngời sáng...


    ...Ở đảo xa khơi nơi đây quân cướp kia đã nhiều lần định âm mưu lấn tới. Tay súng trên đảo tôi đã đánh tan giặc kia bảo vệ nước non biển trời...

    Sen tàn, cúc lại nở hoa
    Tan mây, rạng nắng, Hoàng Sa sẽ về!

  5. #4
    Ngày gia nhập
    Nov 2009
    Bài gửi
    54
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    asean - tổ chức yếu nhất thế giới về mọi mặt,

  6. #5
    Ngày gia nhập
    Feb 2009
    Bài gửi
    1.346
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi Việt Linh Xem Bài gửi
    asean - tổ chức yếu nhất thế giới về mọi mặt,
    Cái này khỏi pải bàn.
    Liên kết lỏng lẻo mâu thuẫn đầy rẫy,sự chênh lệch về trình độ PT,tiềm lực QP,kinh tế quá yếu kém.
    Thằng mạnh nhất về KT là Singapore thuộc hàng các QG phát triển trong khi myanmar lại thuộc dạng cùng đinh nghèo kiết xác.

  7. #6
    Ngày gia nhập
    Oct 2009
    Bài gửi
    194
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    2
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Cám ơn bạn sanleo rất nhiều.

  8. #7
    Ngày gia nhập
    Apr 2011
    Bài gửi
    344
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    cái đáng buồn của Việt Nam là phải gia nhập vào tổ chức này. Tôi thấy việc đó làm đánh thấp giá trị của nước VN, con người VN. Tôi cứ có cảm giác nó như một vũng lầy khiến VIệt Nam cứ mãi quẩn quanh trong khu vực, không thể vươn lên sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới.

  9. Dislikes vietnam.hy, hallom disliked this post
  10. #8
    Ngày gia nhập
    Apr 2011
    Bài gửi
    143
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Trích dẫn Nguyên văn bởi nguoithuckhuya Xem Bài gửi
    cái đáng buồn của Việt Nam là phải gia nhập vào tổ chức này. Tôi thấy việc đó làm đánh thấp giá trị của nước VN, con người VN. Tôi cứ có cảm giác nó như một vũng lầy khiến VIệt Nam cứ mãi quẩn quanh trong khu vực, không thể vươn lên sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới.
    Thế bác nghĩ giờ VN nên gia nhập vào tổ chức nào? và gia nhập được vào tổ chức nào?
    Nói như bác thì Singapore kể bỏ àh? bác bảo VN gia nhập Asian làm hạ thấp giá trị của VN, thế VN đã hơn gì Singapore ngoài cái đất rộng hơn, dân đông hơn mà đi so sánh như thế?
    Một nửa sự thật vẫn không phải là sự thật. Một sự thật được nói ra khi đã muộn cũng có nghĩa là sự dối lừa.

  11. Thanks condandatviet thanked for this post
  12. #9
    Ngày gia nhập
    Dec 2010
    Bài gửi
    219
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Mới đây thằng Brunie nó bắt 11 ngư dân mình, tình hình biển Đông quá lộn xộn.
    NHÂN NHƯỢNG LÀ TỰ SÁT, ĐỘC ÁC LÀ HUY HOÀNG

  13. #10
    Ngày gia nhập
    Sep 2010
    Bài gửi
    633
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    22
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    cái đáng buồn của Việt Nam là phải gia nhập vào tổ chức này. Tôi thấy việc đó làm đánh thấp giá trị của nước VN, con người VN. Tôi cứ có cảm giác nó như một vũng lầy khiến VIệt Nam cứ mãi quẩn quanh trong khu vực, không thể vươn lên sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới.
    chừng nào leo lên đầu người ta đi rồi hãy than vãn, nhìn lại VN giờ trong cái khối này hơn được ai?

    trên được 4 em: Lào, Cam, Myanma và Đông Tymor ( Tymor chưa gia nhập Asean). Trong đó:
    - Cam vừa kết thúc nội chiến trong thập kỷ 90, đang tích cực mong làm đàn em TQ ( cám ơn trò hề đem chữ Hán qua giáo hóa - Hán hóa nước người ta dùm thằng Tàu cơ đấy - và đập phá di tích Khmer của bố Minh Mạng đời Nguyễn đi)
    - Đông Tymor mới lập quốc vào đầu thế kỷ 21
    - Myanmar đang nội chiến và bị cấm vận, ngày ngày nhận viện trợ súng ống TQ.
    - Lào là nước duy nhất bình thường mà VN đứng trên.

    --------------

    muốn được như châu Âu thì Asean phải củng cố ý thức đoàn kết khu vực, dìm dần chủ nghĩa dân tộc xuống. Chứ ko thì anh nào cũng chỉ tìm cách làm no mình đã, láng giềng sao thây kệ, thế nào Tàu nó cũng bẻ đũa từng chiếc thôi. Hiện trong Asean:

    Cam, Myanma theo TQ
    Lào ngày càng bị lôi kéo về phía TQ
    Thái gió chiều nào theo chiều đó
    VN chơi với ai cũng được miễn là giữ được mình, nhưng ngày nào mấy cụ cũng đi rao những câu dạng " VN và Cuba thay nhau canh gác hòa bình thế giới." với "cái đáng buồn của Việt Nam là phải gia nhập vào tổ chức này".
    Sing, Philip theo Mỹ.
    Malay, Brunei, Indo ko rõ

    về xung đột nội bộ:
    Thái - Cam
    Indo - Đông Tymor
    nguội hơn có Malay - Sing ( thảm sát người Hoa thời WW2), Malay - Indo ( trong lịch sử), Malay-Brunei- Philip ( Philip ngăn Brunei nhập vào Malay).

    đấu đá nhau như vậy thì còn lâu lắm mới thành lập lại SEATO ( Southeast AsianTreaty Organization) được.
    Sửa bởi Hổ Phách : 02-08-2011 lúc 08:48 PM
    Thành Cát Tư Hãn đánh chiếm 1 lèo cả Âu - Á, dù không giữ được, vẫn xứng đáng là tấm gương oai hùng để noi theo.

    = > 100 năm bành trướng để kết quả anh Đại Minh là người hưởng lợi. Thật là 1 "tấm gương siêu sáng" để Việt Nam noi theo nếu muốn tự xóa tên gấp khỏi bản đồ.

  14. Likes Tanhoang.vn liked this post

Chủ đề tương tự

  1. Trao đổi trong quá trình làm các ebook
    By phongtran46 in forum Phòng đọc, Dự án E-book, Dịch Thuật
    Trả lời: 23
    Bài mới gửi: 02-08-2011, 06:33 PM
  2. Trả lời: 1
    Bài mới gửi: 05-10-2010, 08:14 AM
  3. [Thảo luận] “Những bí mật LX trong chiến tranh Việt Nam”
    By lamborghirni20 in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 30
    Bài mới gửi: 04-10-2010, 03:19 PM
  4. 2010 là năm quan trọng trong quan hệ Việt - Trung
    By nhatnguyen0104 in forum Kinh tế-Xã hội
    Trả lời: 5
    Bài mới gửi: 06-01-2010, 10:41 PM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •