[Thông báo]Giải thưởng cho các bài viết hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Quỹ NCBĐ
[Thông báo]Thông tin tiếp thị đặt quảng cáo tại website hoangsa.org(HSO)
[Thông báo] Tuyển điều hành viên quản lý box cho HSO

Liên hệ quảng cáo info@hoangsa.org

User Tag List

Trang 1 trong 4 123 ... Cuối cùngCuối cùng
Kết quả từ 1 tới 10 trên 38
  1. #1
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    252
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)

    Post Tiếng Việt - chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán (Hà Văn Thùy)

    Bài này đăng trên talawas đã lâu, tôi không tìm lại được link, chỉ có bản copy dán lại ở đây để các bạn đọc tham khảo thêm. Trong khi tranh luận các bài tôi đưa lên, thấy một số bạn có khuynh hướng sỉ nhục chữ Hán ngày nay, do thù ghét dân TQ nên tôi đưa bài này lên đây. Mong các bạn có thêm thông tin khi thảo luận các vấn đề, tránh cực đoan quá . Bình tĩnh, sáng suốt để nhận biết và tự hào về những gì có thể tổ tiên đã để lại cho chúng ta.



    ===================



    Tiếng Việt - chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán
    Hà Văn Thuỳ


    Suốt thế kỷ XX, do thiếu tư liệu và do bị chi phối bởi quan niệm Hoa tâm (lấy Trung Hoa làm trung tâm) nên giới học thuật cho rằng tổ tiên dân tộc Việt là nhóm người thiểu số từ cao nguyên Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống vùng Hoa Nam, sau bị người Hán săn đuổi đã tràn vào đất Việt, tiêu diệt người bản địa, lập nhà nuớc Văn Lang. Lịch sử dân tộc Việt là một cuộc Nam tiến. Do bị phương Bắc đô hộ suốt một thiên niên kỷ, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, cả về huyết thống cả về văn hoá. Giới ngôn ngữ học lịch sử do chịu ảnh hưởng của viện sĩ Maspero (1912) cho ngôn ngữ Thái giữ vai trò chủ đạo trong thời tiền sử Ðông Á nên khi làm những nghiên cứu so sánh ngôn ngữ học đã đem chữ Hán được điển chế hàng ngàn năm đối chiếu với chữ Việt Latinh hóa mới chừng hơn trăm tuổi và thống kê được, trong tiếng Việt có đến 70% vay mượn từ tiếng Hán! Sở dĩ có sự lầm lẫn lớn này là do tiếng Việt không còn văn tự gốc, tức không còn chữ Hỏa tự hay chữ Khoa đẩu nên các nhà phục nguyên Hán ngữ chỉ theo những văn bản chữ Hán rồi mặc nhiên coi chữ của người Hán có trước, vì thế bất cứ tiếng Việt nào cũng có trong ngôn ngữ Hán đều bị coi là mượn từ tiếng Hán!

    Theo quan niệm trên, nhiều nhà ngữ học quốc tế cũng như Việt Nam (Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim…) cho rằng, tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán.

    Những người không tán thành cùng lắm cũng chỉ có thể ấp úng nói rằng: tuy có mượn nhưng không mượn tới mức như vậy! Họ cố tìm những từ thuần Việt. Qua nhiều cuộc tranh luận chứng tỏ đó là những cố gắng vô vọng. Những người ít vốn cổ văn thường bị đánh gục bởi những học giả chữ nghĩa cùng mình, viện dẫn hàng núi sách Tây Tầu. Và cho đến nay, con em chúng ta vẫn bị nhồi nhét giáo điều đó!

    Trong chuyên luận này chúng tôi muốn chứng minh sự thật ngược lại: tiếng Việt đã góp phần hùn lớn để tạo thành ngôn ngữ Trung Hoa.

    I/ Lật ngược lịch sử

    Đã tới lúc chúng ta phải từ bỏ điều ngộ nhận để viết lại lịch sử của mình. Đây là công việc khó khăn mà chúng tôi mạo muội đề xuất trong tiểu luận Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hoá (1) và được bàn kỹ hơn trong công trình sắp xuất bản Thử tìm lại cội nguồn người Việt.

    Trong bài viết này, do yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin nêu mấy nét chung nhất.

    Những thành tựu mới nhất và đáng tin cậy của công nghệ gene xác nhận rằng, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông đã theo con đường phương nam tới Việt Nam vào khoảng 60-70.000 năm trước. Nghỉ lại đây trong vòng 10.000 năm, hai đại chủng Australoid và Mongoloid hoà huyết tạo ra dân cư Đông Nam Á, là các chủng Indonesien, Melanesia, Vedoid, Negritoid. Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa (2). Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Đông Nam Á Bách Việt có nhân số khoảng 54% nhân loại, chiếm lĩnh toàn vùng duyên hải Đông Á và xây dựng nền văn minh lúa nước tiến bộ nhất thế giới. (3) Trong khi đó, một số nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường biệt lập, (không hoà huyết với Australoid) đi lên sống du mục ở vùng Tây Bắc Trung Quốc, tạo thành nhóm Mongoloid phương Bắc.

    Người đảo Taiwan (chủng Mongoloid)
    Nguồn/Ảnh: geocities.com

    Khoảng 2600 năm TCN, những bộ lạc Mongoloid từ Tây Bắc Trung Quốc tràn qua Hoàng Hà xâm chiếm đất đai của người Bách Việt. Một bộ phận Bách Việt bị dồn xuống phía nam sông Dương Tử. Sau đó do bị lấn chiếm tiếp, đã trở lại Việt Nam và Đông Nam Á, lập nên nhà nước Văn Lang và các nước trong khu vực: Lào, Thái, Campuchea, Mianma, Mã Lai, Indonesia…

    Như vậy lịch sử dân tộc Việt trải qua hai thời kỳ: thời kỳ Bắc tiến từ Việt Nam đi lên khai phá đất nước Trung Hoa và thời kỳ thứ hai hồi hương từ Trung Hoa trở lại Việt Nam.

    Đấy là tiến trình lịch sử, còn tiến trình sinh học diễn biến như sau:

    Người Bách Việt với các chủng Indonesien, Melanesien đi lên phía Bắc. Khi người thuộc chủng Mongoloid phương Bắc từ Tây Bắc tràn xuống, đã diễn ra cuộc hoà huyết với các chủng Bách Việt bản địa, tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam. Sau khoảng 300 năm, phần lớn dân Bách Việt sống trên đất Trung Hoa tham gia vào cuộc hoà huyết này. Khi trở lại Việt Nam và Đông Nam Á, những người Bách Việt Mongoloid phương Nam mang theo nguồn gene mới, lai giống với người bản địa, khiến cho chủng Mongoloid phương Nam trở thành chủ thể trong cư dân Đông Nam Á.

    Không có tài liệu làm căn cứ nhưng chúng tôi đoán rằng, khi cuộc xâm lược xảy ra, chỉ một bộ phận dân cư Bách Việt chạy khỏi nơi sinh sống. Đó là những quý tộc, tướng lĩnh, quân nhân từng đứng lên sống mái với quân xâm lược nên không thể ở lại; là lớp trí thức không chịu sống dưới ách đô hộ của ngoại tộc… Số người này có lẽ chỉ xấp xỉ 30% nhân số. Đại bộ phận người Bách Việt không có khả năng rời bỏ ruộng đồng nhà cửa với bầu đoàn thê tử nên ở lại, chịu sống cùng quân xâm lăng.

    Tràn xuống phía nam Hoàng Hà, kẻ thắng trận là những bộ lạc thiểu số Mông Cổ với số dân ít, đời sống khó khăn, bắt gặp vùng đất mênh mông, kinh tế trù phú và số dân đông đúc nên không thể và không cần thực hiện chính sách diệt chủng hay nô lệ hoá kẻ thua trận. Người chủ mới đã thực thi chính sách chung sống khôn khéo: đảm bảo quyền lợi cao nhất cho mình đồng thời không bần cùng hoá kẻ bị trị tới mức phải nổi lên chống lại. Trên đại thể, người Hán bỏ phương thức du mục, chuyển sang làm quan cai trị, làm công nghiệp, thương nghiệp - những ngành nghề hợp với sở trường và sinh lãi cao. Họ để cho người Bách Việt làm nông nghiệp và đi lính (4). Chính vì vậy, cùng với người Hán, người Bách Việt được an cư lạc nghiệp đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng xã hội mới cả về kinh tế lẫn văn hoá. Nhờ thế, chỉ trong vòng 300 năm, từ Hoàng Đế qua Đế Cốc, Đế Chí, sang Đế Nghiêu (2356 TCN) đã là thời Hoàng Kim của xã hội Trung Hoa cổ.

    Tới đây chúng tôi trình bày về sự đóng góp của người Bách Việt trong việc hình thành ngôn ngữ Trung Hoa.
    Quy luật phổ quát của nhân loại là những bộ lạc du mục thường mạnh về vũ trang nhưng văn hoá kém phát triển. Trong khi đó dân nông nghiệp có nền văn hoá cao nhưng lại kém trong chiến trận. Là tộc người giữ vị trí lãnh đạo cộng đồng Bách Việt nông nghiệp về xã hội và ngôn ngữ, người Lạc Việt có vốn ngôn ngữ phong phú vượt trội so với người thiểu số Hán Mông Cổ (5). Ngôn ngữ học thế giới cho thấy, vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ. Trong khi đó, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino-Tibétan) chỉ tồn tại trong số ít người sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Sự vượt trội còn thể hiện ở chỗ số lượng từ vựng của người Lạc Việt nhiều, có khả năng biểu cảm cao đồng thời có nhiều từ thể hiện những khái niệm trừu tượng, đủ sức làm nên kinh Thi, kinh Dịch...

    Khi sống trong cộng đồng cư dân mới, người gốc Bách Việt – mà kẻ xâm lăng gọi là lê dân, tức dân có nước da đen – vẫn dùng tiếng nói và cách nói của mình. Cùng với thời gian, họ học thêm những từ mới của người láng giềng Hán tộc. Cũng như vậy, người Hán bổ sung từ ngữ của lê dân vào tiếng nói của mình. Dần dần toàn bộ từ vựng trở thành của chung. Điều này cũng giống như ngôn ngữ Việt hiện đại: sau năm 1975 trong giao tiếp cũng như viết lách có việc dùng trộn trạo tiếng Bắc lẫn tiếng Nam.
    Từ vựng hoà đồng khá dễ dàng nhưng người gốc Hán và gốc Việt vẫn giữ cách nói hay ngữ pháp riêng của mình. Ngữ pháp là yếu tố khá bền vững của ngôn ngữ và làm nên sự phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Cách nói của người Hán có những nét khác biệt người Việt. Do sống dưới sự thống trị của người Hán nên người Việt phải tuân theo cách nói của kẻ cầm quyền. Quá trình này là lâu dài và được chi phối bởi quy luật: Các vùng đất trong một quốc gia thường học theo cách nói của trung tâm, của kinh đô. Người Hán thống trị tập trung ở các đô thị, ra mệnh lệnh, giấy tờ theo cách nói cách viết của mình. Lê dân, dù ngày thường nói và viết theo thói quen của người Việt nhưng khi lên thủ đô, khi viết những văn bản hành chính buộc phải theo cách nói cách viết của chính quyền. Rồi trường học được mở, học trò phải nói và viết theo “chuẩn”. Cứ như vậy dần dần cách nói cách viết của người Hán trở thành thống lĩnh. Ban đầu tiếng nói được ký tự bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng chuyển sang viết bằng chữ vuông: tiếng Việt biến thành tiếng Hán cả về từ vựng cả về ngữ pháp.

    Ở trên là một phác hoạ lịch sử đồng thời là giả thuyết mang tính nguyên lý về quá trình hình thành của ngôn ngữ Trung Hoa hay quá trình hội nhập của tiếng Việt vào ngôn ngữ Hán. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là suy đoán mang tính tư biện. Vấn đề là phải chứng minh bằng chứng cứ thuyết phục.

    II/ Dấu vết ngữ pháp Việt trong thư tịch cổ Trung Hoa.

    Nếu tiếng Việt là bộ phận cấu thành ngôn ngữ Trung Hoa, thì theo luật biện chứng, tất phải có những vết tích của ngôn ngữ Việt trong thư tịch Trung Hoa.

    Ngôn ngữ gồm hai bộ phận hợp thành là từ vựng và ngữ pháp. Từ vựng là sinh ngữ nên chịu biến đổi theo thời gian và sự giao lưu giữa các tộc người trong không gian. Vì vậy việc truy tìm nguồn gốc của một từ là không dễ dàng. Với ngôn ngữ nói chung đã vậy mà riêng trong quan hệ ngôn ngữ Hán - Việt lại càng phức tạp hơn. Đi theo hướng này, chúng ta gặp những từ như Thần Nông, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế cốc, Đế Chí. Không thể chối cãi được đó là những tên Việt. Nhưng vì lý do nào những danh từ riêng đó tồn tại trong ngôn ngữ Trung Hoa là điều bí ẩn. Tham vọng tìm ra những từ thuần Việt thường vấp phải sức phản kháng rất lớn. Ít năm trước có tác giả cho rằng một số địa danh vùng đất Phú Thọ như Kẻ, Mơ… là những từ gốc Việt. Nhưng giả thuyết vừa ra đời liền bị phản bác. Người ta đưa ra những cuốn sách vĩ đại như Từ Hải, Khang Hy tự điển, Tứ khố toàn thư… để chứng minh rằng “kẻ” cũng là từ gốc Hán, là những từ “cái”, “giới”, “giái” của Hán ngữ được người Việt muợn. Khi nhập tịch Việt Nam, nó được Việt hoá thành “kẻ”. Tương tự như vậy, “mơ” cũng là con đẻ của “mai” tiếng Tàu! Một vài từ xem chừng có vẻ Việt nhất thì cũng “Trăm phần trăm Hán, đều Made in China!” Trong con mắt những học giả này, dân Việt chỉ là đám Hán lai, văn hoá Việt nghèo nàn, chỉ là sự học mót người Hán chưa đến đầu đến đũa! Bất cứ những gì cả Hán lẫn Việt cùng có thì chỉ là Việt học Hán! Đáng buồn là giới khoa bảng Việt chưa ai cãi nổi họ. Giáo sư Cao Xuân Hạo kể rằng: “Ông Vượng (Trần Quốc) nói với tôi: biết rõ Huệ Thiên nói bậy mà không có cách nào bác ông ta được!” Thật đáng thương cho tiếng Việt!

    Không đủ tài trí để tìm những từ thuần Việt, chúng tôi đi theo hướng khác: tìm dấu vết ngữ pháp Việt trong Hán ngữ. Tới đây một câu hỏi nảy sinh: cái gì là đặc trưng nhất cho ngữ pháp tiếng Việt? Dựa vào luật “CHÍNH TRƯỚC PHỤ SAU” của nhà ngữ học người Pháp Léopold Cadiere với nội dung: “Trong một câu đơn, các từ ngữ nối tiếp nhau theo một trật tự như thế nào mà mỗi từ đi sau làm rõ ý nghĩa của từ đi trước hay của một trong những từ đi trước », giáo sư Cao Xuân Hạo đưa ra nhận định: «Nhìn chung, tiếng Việt rất nhất quán trong cách xử lý trật tự từ ngữ (chính trước, phụ sau, nhất là khi so với tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán, trong đó không thể có một nhận định tổng quát nào về trật tự từ ngữ.) Trong tiếng Việt, những từ ngữ Hán-Việt làm thành một trường hợp lệ ngoại nổi bật đến mức người không có học bao nhiêu cũng biết đó là một trật tự “ngược”, nếu không kể những trường hợp lệ ngoại như những tổ hợp [vị từ tình thái+ ngữ vị từ] như các kết cấu mở đầu bằng bất hay vô vốn được xử lý như mọi tổ hợp [vị từ+ bổ ngữ] khác (chính trước phụ sau). Tuy vậy cũng không hiếm những kết cấu sai ngữ pháp Hán nhưng đã trở thành vốn văn học dân gian như cách nhại tiếng kêu của con đa đa (gà gô) là Bất thực cốc Chu gia (không thèm ăn lúa nhà Chu) được gán cho Bá Di và Thúc Tề (lẽ ra phải là Bất thực Chu gia cốc mới đúng ngữ pháp tiếng Hán).” (6)

    Từ luật “chính trước phụ sau” nêu trên, soi vào những thư tịch Hán văn, ta dễ dàng bắt gặp cấu trúc ngữ pháp dạng Trung + danh từ như “trung tâm” (trong lòng), “trung đình” (trong sân): Trung tâm rạng rạng, Trung tâm dao dao, Trung cấu chi ngôn (kinh Thi); thứ nhị, thứ tam (kinh Thư); bệ thăng thiên, thần thọ (thần cây) ở Lục độ tập kinh. Trong những kết cấu trên, đúng là trật tự chính trước phụ sau được tuân thủ. Rõ ràng đó không phải là cấu trúc cú pháp Hán mà là cấu trúc cú pháp Việt. Nếu chỉ có một vài trường hợp trong một cuốn sách nào đó thì là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng sự việc trở thành không bình thường khi phát hiện hàng loạt trường hợp tương tự trong nhiều thư tịch:

    Kinh Thi trên thẻ tre
    Nguồn/Ảnh: ivle.nus.edu.sgKinh Thi (7):

    - Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm (Thỏ ta: trong rừng)

    - Hước lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu (Chung phong: trong lòng áy náy)

    - Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sương)

    - Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)

    - Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn)

    - Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)

    - Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao)

    - Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)

    - Trung cấu chi ngôn (Tường hữu từ: lời nói trong buồng kín)

    Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên điều gì? Phải chăng là sự vô tình? Phải chăng là những người biên tập, san định, chú giải Thi vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn năm nay chưa ai giải thích điều này. Vì sao qua hàng nghìn năm phấn đấu xa đồng quỹ, thư đồng văn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những đại nho Hán tộc không sửa chữa, không lượm đi những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chưa ổn định và có khác thời Hán thời Ðường. Nhưng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn định ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên đường chuyển hóa từ cách nói của người Việt sang cách nói của người Hán.

    Không chỉ ở Thi mà chúng tôi gặp trong Kinh Thư (8):

    1. Thiên Vũ Cống câu 31: Hàm tắc tam nhưỡng, thành phú trung bang. (thuế ruộng chỉ lập thành ở trong nước - tại chính nước của thiên tử mà thôi)

    2. Thiên Hồng Phạm câu 4: Sơ nhất viết ngũ hành. Thứ nhị viết: kính dụng ngũ sự. Thứ tam viết: nông dụng bát chính. Thứ tứ viết: hiệp dụng ngũ kỷ. Thứ ngũ viết: kiến dụng hoàng cực. Thứ lục viết: nghệ dụng tam đức. Thứ thất viết: minh dụng kê nghi. Thứ bát viết: niệm dung thứ trưng. Thứ cửu viết ướng dụng ngũ phúc.

    (Trù thứ nhất gọi là ngũ hành. Trù thứ hai gọi là kinh dùng năm việc. Trù thứ ba là, trù thứ tư là…)
    Đây là lần duy nhất trong kinh Thư có cấu trúc “thứ nhị, thứ tam” theo cách nói của người Việt. Ở các thiên sau được viết “nhất viết, nhị viết” theo cách nói của người Hán.

    3. Thiên Tử Tài câu 6: hoàng thiên ký phó trung quốc dân, việt quyết cương thổ vu tiên vương. (vì rằng trời đã trao cho đấng tiên vương nhân dân bờ cõi đất đai trong nước)

    4. Thiên Thiệu Cáo câu 14: Kỳ tự thời trung nghệ. Vương quyết hữu thành mệnh (Có thể ở giữa nước cai trị nhân dân . Như thế nhà vua sẽ trọn vẹn được mệnh trời, nay được tốt đẹp cả.)

    5. Thiên Lạc Cáo câu 23 Viết: kỳ tự thời trung nghệ, vạn ban ham hưu (nhà vua ở trung tâm cả nước trị dân, muôn nước nhỏ đều được tốt đẹp)

    6. Thiên Vô Dật câu 11: Văn Vương thụ mệnh duy trung thân, quyết hưởng quốc ngũ thập niên (Vua Văn Vương chịu mệnh làm vua chư hầu suốt đời, cả thảy 50 năm)

    Kinh Dịch (9):

    Kinh Dịch
    Nguồn/Ảnh: inedragonbaguazhang.com1/ Khổng tử có câu: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân” (Thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người trong nước như người thân của mình.) Trang 64.

    2/ Đắc thượng vu trung hàng (vào trong hàng ngũ có nghĩa theo đúng đạo.) Trang 216.

    3/ Tượng viết, phiên phiên bất phú, giai thất thực dã, bất giới dĩ phú, trung tâm nguyện dã (trong lòng đã muốn sẵn vậy) Trang 221.

    4/ Tượng viết, trung hành độc phục (đi giữa bầy ác mà một mình theo đạo thiện nhân.) Trang 376

    5/ Tượng viết, trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã. Trang 377

    6/ Lục nhị, vô duy tuỵ, tại trung quỵ, trinh cát (con dâu con gái không trách nhiệm, lo việc trong nhà, tốt.) Trang 539.

    7/ Tương việt, kỳ tử hoạ chi, trung tâm nguyện dã (nghe tiếng gáy mà hoạ ngay tại trong lòng muốn vậy) trang 825

    8/ Trung tâm nghi giả, kỳ từ chi (trong lòng nghi ngờ, lời nói không chắc chắn) Trang 929

    Rất may mắn, trong cuộc truy tìm của mình, chúng tôi được sự trợ lực quý báu của học giả Lê Mạnh Thát:

    “Ngoài Kinh thi, Lễ ký cũng bốn lần xử dụng cụm “trung tâm”. Một lần ở thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 54 tờ 12a3-4, dẫn đoạn ba của bài Thấp tang của Kinh thi: (Mao thi chính nghĩa 15/2 tờ 7a12).

    Tâm hồ ái hỉ
    Hà bất vị hỉ
    Trung tâm tạng chi
    Hà nhật vong chi.


    Ba lần kia ở thiên Lễ vận và thiên Biểu ký của Lễ ký chính nghĩa 22 tờ 10a7 và tờ 4a7 và tờ 5a1 “trung tâm vô vi”, “trung tâm thảm đát” và “trung tâm an nhân giả, thiên hạ nhất nhân nhi dĩ hỹ”. Trong cả ba lần này, Trịnh Huyền không có giải thích gì thêm, còn Khổng Dĩnh Đạt vẫn giữ nguyên khi viết lời sớ của mình. Tuy nhiên, không phải Lễ ký không biết đến lối viết tiêu chuẩn “tâm trung”. Cụ thể là thiên Nhạc ký của Lễ ký chính nghĩa tờ 9b10. “Tâm trung tư tu, bất hòa bất lạc”. Đặc biệt hơn nữa, khi giải thích chữ “trung” trong câu “lễ nhạc giao thố ư trung, phát hình ư ngoại” của thiên Văn vương thế tử của Lễ ký chính nghĩa 20 tờ 7b13-8a1, Trịnh Huyền đã viết: “Tâm, trung tâm giả”. Như thế rõ ràng đến thế kỷ thứ II sdl, qui định về vị trí của chữ "trung" đối với các danh từ và đại từ được tuân thủ.

    Thực vậy, kiểm soát toàn bộ văn liệu tiếng Trung Quốc từ thế kỷ thứ nhất sdl đến thời Khổng Dĩnh Đạt viết Mao thi chính nghĩa và Lễ ký chính nghĩa vào năm 638, ta thấy cụm “trung tâm” rất ít khi dùng tới. Trong ba thế kỷ từ thế kỷ thứ I -III ngoài Dương Hùng, ta chỉ gặp ba lần dùng cụm “trung tâm”. Một là trong lá thư của Phùng Diễn (k.1-65) do Lý Hiền dẫn trong truyện của Diễn ở Hậu Hán thư 58 hạ tờ 14a4-6 viết cho Tuyên Mạnh: “Cư thất chi nghĩa, nhân chi đại luận, tư hậu hòa chi tiết, lạc định kim thạch chi cố. Hựu tư thương tiền tào bất lương, tỷ hữu khử lương phụ chi danh, sự thành bất đắc bất nhiên, khởi trung tâm chi sở hảo tại!” Hai là trong tờ chiếu cải cách lịch của Hán Chương đế viết tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ 2 (86) trong Hậu Hán thư 12 tờ 2a5, ta có câu “trung tâm nục yên”. Ba là ngày Đinh Hợi tháng giêng năm Cảnh Sơ thứ 3 (240) Minh đế Tào Duệ băng hà, Tề vương Tào Phương lên ngôi. Tháng 2, Tào Sảng nhằm giảm bớt quyền hành của Tư Mã Ý, đã sai em là Tào Hy viết biểu đề nghị phong Ý từ thái úy lên thái phó. Bài biểu này chép trong Ngụy thư, mà Bùi Tùng Chi cho dẫn trong Ngụy chí 9 tờ 13a12, trong đó có câu “trung tâm quí dịch”.

    Hà Yến và Đặng Dương cùng nhóm với Tào Sảng. Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển trung tờ 30b11-13 chép việc Yến và Dương nhờ Quản Lạc xủ quẻ. Xủ xong, Lạc dặn phải cẩn thận. Yến lại dẫn 2 câu cuối của bài thơ Thấp tang để trả lời.

    Trung tâm tạng chi
    Hà nhã vong chi


    Hai câu này, Tôn Tú cũng dùng đễ trả lời Phan Nhạc về mối hận với Thạch Sùng, như Thế thuyết tân ngữ phần hạ của quyển hạ tờ 38a8 đã ghi.

    Đến thế kỷ thứ IV, Thế thuyết tân ngữ phần thượng của quyển hạ tờ 9a2-7 chép Chi Tuần (352 - 404), sau khi người bạn đạo của mình là Pháp Kiên tịch, đã nói: “Tri kỷ đã mất, nói ra không ai thưởng thức, trong lòng dồn nén, ta cũng mất thôi”. Câu “trong lòng dồn nén” là dịch cụm “trung tâm uẩn kết”, mà sau khi viết truyện của Tuần trong Cao tăng truyện 4 ĐTK 2059 tờ 349c15-167, Huệ Hạo đã ghi lại và là một lời nhái câu “ngã tâm uẩn kết” của bài thơ Tố quan trong Mao thi chính nghĩa 7/2 tờ 4b6.
    Qua các thế kỷ V-VI không thấy dùng nữa. Đến đầu thế kỷ thứ VII, khi viết Biện chính luận 7 ĐTK 2110 tờ 541a20-22 vào năm 622, Pháp Lâm mới có dịp dùng “trung tâm” trong bài thơ Thanh sơn (Núi xanh) mà bốn câu cuối cùng đọc:

    Huyên phong bạch vân thượng
    Quải nguyệt thanh sơn hạ
    Trung tâm dục hữu ngôn
    Vị đắc vong ngôn giả.


    Như vậy cụm từ “trung tâm” từ thế kỷ thứ VI tdl, khi Khổng Tử san định kinh Thi, Thư và Lễ trở về trước, đang còn được sử dụng khá phổ biến. Nhưng từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, việc sử dụng nó cực kỳ hiếm hoi, như ta đã thấy. Trong khoảng 300 năm, nó chỉ được sử dụng ba lần, một trong lá thư của Phùng Diễn, một trong tờ chiếu viết năm 86 của Chương đế và một trong bài biểu năm 240 của Tào Sảng. Những lần do Hà Yến, Tôn Tú và Phan Nhạc dùng tới thì đều đọc lại hay nhái theo thơ của kinh Thi, nên không cần kể ra ở đây.”

    Điều thú vị là hiện tượng cấu trúc ngữ pháp Việt tồn tại trong bản văn chữ Hán còn gặp trong 3 bản kinh Phật bằng chữ Hán tồn tại từ thế kỷ II, đó là Cựu tạp thí dụ kinh, Tạp thí dụ kinh và Lục độ tập kinh. Theo học giả Lê Mạnh Thát, đó là những bản kinh do thiền sư Mâu tử và Khương Tăng Hội dịch từ những bản kinh tiếng Việt sang chữ Hán. Quá trình này như sau: Khương Tăng Hội mà trong nhiều thư tịch Trung Hoa viết là người Hồi Hồi (Pakistan) thì chính là con một người lái buôn Tây Trúc. Người này sang Giao Châu làm ăn, lấy vợ người Việt, đẻ ra Khương Tăng Hội. Hội thông thạo tiếng Việt, theo đạo Bụt rồi học chữ Hán và dịch kinh Phật ra Hán ngữ. Ban đầu do chưa thành thạo chữ Hán nên ông đã chuyển nguyên xi một số cú pháp Việt từ bản tiếng Việt sang bản chữ Hán. Cũng theo Lê Mạnh Thát:
    “Lục độ tập kinh hiện nay có cả thảy 91 truyện. Kiểm tra 91 truyện này ta thấy xuất hiện một hiện tượng ngôn ngữ khá bất bình thường, đó là những kết cấu ngôn ngữ học không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Ngược lại, những cấu trúc được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt:

    1. Truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c 13: “Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc, trung cung chính điện thượng toạ, như tiền bất dị…”

    2. Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5: “…Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vi lạc, trưởng ư trung cung…” Tờ 9b27: “…lưỡng nhi đồ chi, trung tâm đảm cụ…”

    3. Truyện 26 ĐTK 152 tờ 16b2: “… thủ thám tầm chi. tức hoạch đắc hĩ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi…”

    4. Truyện 39 ĐTK 152 tờ 21b27: “…trung tâm hoan hỉ”

    5. Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22c12: “… Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ.”

    6. Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24b21: “…trung tâm chúng uế…”

    7. truyện 44 ĐTK 152 tờ 25ầ; “… trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân.”

    8. Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38b25: “ Thần sổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai trung đình, thiếp kim cung sự.”

    9. Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã. ĐTK 152 tờ 40b5: “Vị chúng huấn đạo trung tâm hoan hỉ.”

    10. Truyện 83 ĐTK 152 tờ 44c1: “Ngô đẳng khước sát nhân súc, dĩ kỳ cốt nhục vi bệ thăng thiên.” ĐTK 152 tờ 45a19: “ Ngô đương dĩ kỳ huyết vi bệ thăng thiên.”

    11. Truyện 85 ĐTK 152 tờ 47b26: “… trung tâm gia yên.”

    Trong những trường hợp nêu trên, rõ ràng ngữ pháp tiếng Hán Trung Quốc đã không được tuân thủ. Muốn nói "trong lòng" mà nói "trung tâm" theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc là không thể chấp nhận. Như thế, những trường hợp "trung tâm" vừa dẫn phải được viết theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp "thần thọ" để diễn tả ý niệm "thần cây" và "bệ thăng thiên" để diễn tả "bệ thăng thiên" cũng thế. Chúng đã được xây dựng theo ngữ pháp tiếng Việt. Những trường hợp ngôn ngữ khá bất bình thường này chỉ cho ta điều gì? Làm sao lý giải sự có mặt của những cấu trúc ấy?” (10)

    Một câu hỏi thú vị.

    Phải chăng việc làm của Khương Tăng Hội vô hình trung lặp lại quá trình chữ Việt chuyển hóa thành chữ Hán hơn ngàn năm trước?

    Vết tích ngữ pháp Việt trong những thư tịch trên nói lên điều gì? Nó cho thấy, tới thế kỷ VI TCN, trong xã hội Trung Hoa còn tồn tại song song cả cách nói Việt lẫn cách nói Hán. Cách nói Việt không chỉ lưu hành trong tầng lớp bình dân sáng tác ca dao làm ra kinh Thi mà còn được trí thức quý tộc sử dụng. Trong bài viết trước (Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt-talawas) chúng tôi có nói đại ý trong khi san định kinh Thi, Khổng tử có ý đồ ém đi những cấu trúc ngữ pháp Việt. Nay xét kỹ, thấy không phải vậy. Sự thực là Khổng tử không chỉ dùng nhiều cấu trúc Việt để viết kinh mà còn sử dụng ngay cả trong câu nói thường: “Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân.” Hiện tượng này chứng tỏ, vào thời của ông, cả hai cách nói Hán Việt cùng tồn tại. Ta có thể ngờ rằng do mang trong mình gene Việt nên cách nói Việt đã sâu đậm trong máu huyết vì vậy khi viết, một cách vô thức Khổng tử dùng cách nói Việt?

    Những điều trình bày ở trên là bằng chứng không thể bác bỏ về sự có mặt của tiếng Việt trong quá trình hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngay cái câu “Bất thực cốc Chu gia” biết đâu cũng là cách người Việt nhại tiếng kêu chim đa đa từ thời Xuân Thu vọng tới hôm nay?

    Đến đây, tất nảy sinh câu hỏi: Nếu sự có mặt của tiếng Việt trong ngôn ngữ Hán là có thật thì về định lượng, đóng góp đó bao nhiêu? Nhà ngôn ngữ học lịch sử phải trả lời câu hỏi này. Chúng tôi chỉ có thể đoán rằng: Người Lạc Việt là nhân tố lãnh đạo cộng đồng Bách Việt về xã hội và ngôn ngữ thì tiếng Việt phải là phần chủ thể tạo thành ngôn ngữ của cộng đồng dân cư mới. Làm cuộc phiêu lưu ngược thời gian trở về 4600 năm trước, ta sẽ thấy nhóm người Mông Cổ da sáng lọt thỏm trong biển dân đen bản địa. Đám quan quân du mục với tiếng nói nghèo nàn thật vất vả khổ sở giữa rừng từ vựng quá đa dạng quá phong phú của dân nông nghiệp lúa nước. Kẻ xâm lăng phải học tiếng nói, văn hoá bản địa. Người bản địa cũng học văn hoá, tiếng nói của kẻ xâm lăng…Cùng với thời gian tất cả hoà trong một cộng đồng về máu huyết, văn hoá, tiếng nói. Cố nhiên, chủ thể ngôn ngữ của cộng đồng không ở nơi kẻ nắm quyền mà phải là của số đông có văn hoá cao. Quy luật tất yếu của lịch sử là thế. Kịch bản này được diễn lại vào thời nhà Thanh. Tộc Mãn thống trị Trung Hoa chỉ bảo lưu được bản sắc văn hoá duy nhất là cái đuôi sam. Sau vài trăm năm, triều Thanh đổ, đuôi sam bị cắt…tất cả đã trở thành Hán! Sau bốn ngàn năm trăm năm, với một đại Hán tộc có đến 1 tỷ người, khó ai hình dung nổi một cội nguồn máu huyết cũng như tiếng nói đã bắt đầu như vậy!

    III/ Kết luận

    Từ những phân tích ở trên, chúng ta có cơ sở khẳng định:

    Người đảo Melville (Australoid)
    Nguồn/Ảnh: geocities.com1/ Tổ tiên người Việt không phải từ cao nguyên Thiên Sơn xuống mà từ Trung Đông theo con đường phía nam đến Việt Nam khoảng 60 –70.000 năm trước. Từ đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết để sinh ra những chủng người Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Đông Nam Á đi lên khai phá vùng đất từ sông Dương Tử tới Hoàng Hà. Tại đây người Đông Nam Á Bách Việt xây dựng nền văn minh lúa nước phát triển. Khoảng 2600 năm TCN, người Hán Mông Cổ từ tây bắc tràn xuống, chiếm đất của người Bách Việt. Một bộ phận người Lạc Việt lui xuống phía nam sông Dương Tử và trở về Việt Nam xây dựng nhà nước Văn Lang. Những người trở về đem nguồn gene mới làm biến đổi di truyền của người Việt Indonesien, Melanesien tại chỗ đồng thời cũng du nhập những yếu tố văn hoá phương bắc trong đó có từ vựng Hán vào cộng đồng.

    2/ Một bộ phận quan trọng người Việt ở lại sống chung với lực lượng chiếm đóng, góp vật chất cũng như văn hoá vật thể và phi vật thể xây dựng văn minh Trung Hoa. Trong đó tiếng Việt góp phần quan trọng hình thành ngôn ngữ Hán. Quá trình như sau: cùng với việc người Việt và người Hán hoà huyết tạo ra chủng Mongoloid phương Nam, tiếng Việt cũng hoà nhập cùng tiếng Hán trở thành ngôn ngữ của cộng đồng cư dân mới. Ban đầu từ vựng được ký âm bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng được ghi bằng chữ vuông. Chữ Việt hoàn toàn bị biến mất trong chữ Hán. Trong quá trình hoà nhập ngôn ngữ đó, cách nói, ngữ pháp tiếng Việt tồn tại khá lâu dài, để lại nhiều bằng chứng trong thư tịch.

    3/ Từ thực tế như vậy, việc cho rằng tiếng Việt mượn đến 70% từ tiếng Hán là sai lầm về lịch sử và văn hoá cần bác bỏ. Việc dựa vào những bộ từ điển lớn của Trung Quốc để phân định chữ này gốc Hán hay gốc Việt là thiếu chuẩn mực về phương pháp luận. Nếu cần một phương pháp luận xác dịnh từ Hán hay Việt thì đó là xét theo nguồn gốc nông nghiệp hay du mục của nó. Tuy nhiên kết quả tìm được cũng chỉ tương đối. Hơn nữa, với lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa và ngôn ngữ Việt như vừa trình bày, thiết tưởng việc truy tìm những từ thuần Việt không thật có ý nghĩa nữa. Điều có thể tin chắc: tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa.

    Sài Gòn, 6-2006

    ---------------------------------------------------------------

    Tài liệu tham khảo:

    1. Hà Văn Thuỳ. Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hoá. Talawas.org
    2. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.
    3. Vũ Hữu San. Vịnh Bắc Việt. Tái bản 2004. Tripod.com.
    4. Kim Định. Việt lý tố nguyên. An Tiêm. Sài Gòn 1970
    5. Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trong The Origins 1983 – Dẫn theo Cung Đình Thanh: Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ. Dactrung. Net.
    6. Cadière R. P. Leopold (1877-1948). Souvenirs d’un vieil annamitisant, Indochine, Hanoi, No 143, 8 Juillet 1943. Theo Cao Xuân Hạo: Sự tích bốn chữ “CHÍNH TRƯỚC PHỤ SAU” trong Việt ngữ học (tài liệu riêng)
    7. Kinh Thi. NXB thành phố Hồ Chí Minh 1990
    8. Kinh Thư.Thẩm Quỳnh dịch. Trung tâm học liêu Bộ Giáo dục. Sái Gòn 1973
    9. Kinh Dịch. Phan Bội Châu, NXB Văn hoá Thông tin 1996
    10. Lê Mạnh Thát. Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam tập I. Quangduc.com
    [COLOR=Blue][B]Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm[/B][/COLOR]

  2. #2
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài gửi
    252
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt?
    (Nguồn talawas)
    Hà Văn Thùy

    (Bàn lại với ông Huệ Thiên về tiếng Việt)


    Nhiều năm nay ông Huệ Thiên giữ chân chủ xị mục Chuyện Ðông chuyện Tây của tạp chí Kiến thức ngày nay. Công bằng mà nói, ông có giúp cho độc giả những phút thư giãn bổ ích khi biết thêm những điển tích, những chữ nghĩa cổ. Người đọc nhận ra rằng, ông chịu tra cứu, phần nhiều nói có sách mách có chứng. Tuy nhiên, trong một số bài viết của ông có những kiến giải chưa thỏa đáng. Những kiến giải đó xuất hiện trên tạp chí, trên nhật trình, nguyệt trình là chuyện thoảng qua nhưng khi tập hợp lại thành sách Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm [1] thì gây không ít ngộ nhận. Ðiều khiến chúng tôi băn khoăn là ông có cái nhìn thiên lệch trước một số hiện tượng tế nhị trong ngôn ngữ Việt. Chúng tôi có vài điều xin thưa lại.

    Trong bài Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương, trang 145, khi bài bác quan điểm cho rằng yếu tố “Kẻ” và những địa danh đi liền sau nó như “Mẩy”, “Cót”, “Vòng”... (thành những “Kẻ Mẩy”, “Kẻ Cót”, “Kẻ Vòng”) là những tên Nôm làm thành một “hệ thống tên xã thôn... hoàn toàn khớp với cương vực nước Văn Lang được ghi lại trong truyền thuyết dựng nước”, ông “đã chứng minh rằng ‘kẻ’ là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ giới 界 mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là ‘giới’, âm Hán Việt hiện đại ít thông dụng hơn là ‘giái’, còn âm chính thống gọi là ‘cái’.” Và “những cái gọi là tên Nôm hoặc ‘thuần Việt’ như Mẩy, Cót, Vòng... chẳng qua chỉ là âm xưa của những chữ Hán nay đã được đọc theo âm Hán Việt hiện đại mà thôi (!)”

    Ðọc những dòng trên hẳn không ít người phải than “hỡi ôi” cho tiếng Việt, cho dân tộc Việt! Một dân tộc có 70% tiếng nói vay từ tiếng Hán mà đến một vài chữ hiếm hoi tưởng như đặc sản, đặc hữu cũng là đi mượn nốt! Dù không biết ông nói đúng hay sai nhưng chí ít cũng thêm một chút đau lòng! Một dân tộc vay mượn tới chừng đó trong ngôn ngữ thì nếu có bị nô lệ cũng đáng đời!

    Ðể minh chứng cho ý tưởng của mình, ông bắt đầu từ tên Mơ, một tên gọi phổ biến ở vùng Hà Nội: “Đó rõ ràng là một từ Việt gốc Hán có liên quan đến chữ/ từ ‘Mai’. Ðó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ và đây tất nhiên không phải là trường hợp duy nhất...”. Và ông dẫn ra hàng loạt trường hợp khác: Núc là âm xưa của Canh Nậu; Vài, của Ngọc Nhị; Gượm, của Cần Kiệm; Noi, của Cổ Nhuế; Núc, của Dị Nậu; Vòng, của Dịch Vọng; Gạch, của Ô Cách... Trong những câu tương ứng trên đây, tiếng đầu (Núc, Vài, Gượm...) là âm xưa, còn tiếng sau (Nậu, Nhị, Kiệm...) là âm nay của cùng một chữ Hán trong những địa danh hữu quan và sự tương ứng đó là hoàn toàn nhất quán trong các địa danh chỉ nhiều địa phương khác nhau, thậm chí rất xa nhau: “Núc không chỉ là Canh Nậu, Dị Nậu Hà Nội mà còn là của Dị Nâu vùng Tam Ðảo. Gạch không chỉ là Ô Cách ngoại thành Hà Nội mà còn là âm xưa của Bình Cách thuộc Ðông Quan Thái Bình...”. Từ đó ông kết luận: “Sự tương ứng nhất quán đến cao độ trên đây là một chỗ dựa chắc chắn để khẳng định rằng những cặp từ đang xét chỉ là âm xưa và âm nay của những chữ Hán hữu quan. Nếu là phiên âm thì, dù âm gốc có là một, từ địa phương này sang địa phương khác, kết quả phiên âm thế nào cũng có sai biệt, và có khi khác nhau rất xa.”

    Ðể củng cố cho lập luận của mình, ông Huệ Thiên dẫn Nguyễn Tài Cẩn, nhà ngôn ngữ hàng đầu: “Hiện ta có từ ‘mơ’ là dạng cổ Hán Việt ứng với cách đọc Hán Việt ‘mai’. ‘Mai’ là kết quả của cả một quá trình diễn biến *dj>oj>aj. ‘Mơ’ là dạng vay mượn vào lúc âm cuối -j chưa xuất hiện trong tiếng Hán; theo giới Hán ngữ học, ‘mơ’ phải được vay trong khoảng 1500 trở về trước. Mà trong thời cổ đại đó thì – cũng theo sự phục nguyên của giới Hán ngữ học - từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi” ( tr.147).

    Không có nhiều tri thức ngôn ngữ học lịch sử nhưng chúng tôi được biết thế này: đứa trẻ sinh ra, cha mẹ đặt tên cho nó. Mảnh đất khai phá xong thì chính người chặt cây đào gốc đặt tên cho nó bằng ngôn ngữ của mình. Sài Gòn là một tên gốc Phù Nam, Cần Thơ, Sóc Trăng là tên gốc Khmer. Những năm 1830, khi làm Ðịa bạ Nam Kỳ, nhiều quan chức triều Nguyễn đã phải cùng với hương chức vất vả phiên âm chữ Hán cho biết bao thửa ruộng cánh đồng từ lâu mang tên Nôm! Lập luận như ông Huệ Thiên thì phải chăng hàng vạn năm trước, đất Việt cổ không có tên vì chưa có chữ Hán mượn để đặt?!

    Chúng tôi cũng xin mạn phép nghi ngờ ý kiến của GS Nguyễn Tài Cẩn bởi lập luận của ông dựa trên sự phục nguyên của giới Hán ngữ học. Theo logic đơn giản: phục nguyên một chữ Hán hiện đại là việc xác định gốc gác cổ xưa của nó và từ đó tìm ra mối liên hệ với những ngữ gần gũi. Vậy, việc phục nguyên ở đây sao lại đưa tới kết luận một chiều là chỉ có Việt mượn Hán chứ không phải ngược lại? Phải chăng vì nước Hán bự, người Hán đông, văn hóa Hán lớn nên chỉ cho mà không cần nhận?

    Mặt khác, trong ý kiến của giáo sư Cẩn có nói: từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi. Theo thiển ý, thời Kinh Thi là một thời gian khó xác định. Nếu là ở thời điểm hình thành Kinh Thi thì chí ít là vào thời Ðế Nghiêu khoảng 5000 năm trước. Còn ở thời điểm Khổng tử san định Thi thì cách nay 2500 năm. Nhưng giả sử có chuyện vay mượn thì ai vay? Vay bằng cách nào? Muốn vay mượn tiếng nói thì phải có sự chung sống với nhau mà không thể một ông nào đó đi sứ rồi mượn tiếng về dạy!

    Còn theo chúng tôi thì ngược lại, khoảng 5000 năm trước, từ ‘mơ’ tiếng Việt đã chuyển thành từ ‘mai’ tiếng Tàu! Không phải Việt mượn của Hán mà Hán mượn của Việt! Nhận định này là có cơ sở.

    Nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, người ra suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 15-20% nhân số thế giới (Vũ Hữu San. Vịnh Bắc Việt. Tripod.com). Trong công trình khảo cứu Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ, luật sư Cung Ðình Thanh dẫn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra kết luận mới nhất của giới ngôn ngữ học: Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông và Ðông Nam Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ (Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trongThe Origins 1983 – Dẫn theo Cung Ðình Thanh. Dactrung.net.)

    Trong khi đó người Hán nói ngôn ngữ Sino-Tibétan chỉ là nhóm thiểu số sống du mục trên vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. Khoảng 2500 TCN, người Hán vượt sông Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Một bộ phận Bách Việt chạy xuống phía Nam tụ lại ở vùng Ngũ Lĩnh. Phần lớn (khoảng 70%) người Bách Việt ở lại sống cùng quân chiếm đóng. Người Bách Việt do số dân đông áp đảo và văn hóa cao đã đồng hóa kẻ xâm lược cả về huyết thống cả về văn hóa. Cùng với việc tiếp nhận Kinh Thi, Kinh Dịch của người Việt, người Hán đã tiếp thu tiếng Việt vào trong vốn từ vựng của mình. Chính lúc này của Việt chuyển thành mai của Tàu. Bao tiếng khác cũng được chuyển hóa như vậy làm phong phú vốn từ vựng Trung Hoa.

    Bị người Hán đuổi tiếp, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Việt Nam góp phần xây dựng nước Văn Lang. Chính những người Việt trở lại mái nhà xưa này đã mang về những yếu tố ngôn ngữ từng để lại bên sông Hoàng Hà: cả từ vựng, cả những địa danh. Ðiều này cắt nghĩa vì sao bên ta có nhiều địa danh giống bên Tàu. Chính là do ông bà ta đặt cho vùng đất mình mới khai phá những cái tên thân thuộc phải bỏ lại ở phía Bắc. Ðó cũng chính là điều trả lời cho thắc mắc của ông Huệ Thiên vì sao có sự phiên âm thống nhất một số địa danh trên địa bàn rộng.

    Trong cuốn sách của mình, tác giả Huệ Thiên còn nhiều bài viết: Chung quanh từ nguyên của từ “gạo”; Chữ “vằn” liền với chữ “văn” một vần; Những bài về tên các con giáp trong thập nhị chi... Ở đó, cũng theo cách tư duy trên, ông có vẻ hào hứng cho tất cả là Hán, là của Tàu, là “trăm phần trăm made in China”! Không có điều kiện bàn từng trường hợp cụ thể, chúng tôi chỉ xin nói rằng, ông đã quá tin vào sách Tàu nên sai lạc, trái ngược với thực tế lịch sử diễn ra từ bờ sông Hoàng Hà đến sông Hồng sông Mã.

    Thực tế lịch sử này từ lâu bị khuất lấp, và chúng ta được dạy rằng: Người Việt là đám Tàu lai bị người Tàu xua đuổi trôi dạt xuống, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Việt. Văn hóa Việt là thứ văn hóa Tàu dần dần được bản địa hóa! Chúng ta cứ hồn nhiên tin thế cho tới 30 năm trước mới có một người Việt là học giả Kim Ðịnh dám nghi ngờ tín điều trên, đòi lại Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư... cho người Việt. Tiếp đó là nhiều học giả khác như GS Lê Văn Sửu với Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phươngHọc thuyết âm dương ngũ hành, GS Bùi Văn Nguyên với Kinh Dịch Phục Hy rồi Nguyễn Tiến Lãng với Kinh Dịch - sản phẩm sáng tạo của người Việt... cùng chung ý hướng trên.

    Sự hồn nhiên của tác giả Huệ Thiên chẳng những dội gáo nước lạnh vào tâm huyết của những người cố công quẫy đạp ngược thời gian tìm lại cội nguồn mà còn gây ngộ nhận cho người đọc, nhất là bạn trẻ, những người có lúc thích thú theo dõi chuyện Ðông chuyện Tây của ông.

    Nói rằng ngôn ngữ Hán đã mượn nhiều từ vựng tiếng Việt không phải chuyện hoang tưởng mà là dựa vào tiến trình lịch sử dài lâu của người Việt. Chí ít, người Việt đã sống 30.000 năm từ lưu vực sông Hoàng Hà tới sông Dương tử. Một ngôn ngữ lớn từng giữ vai trò lãnh đạo cộng đồng Bách Việt đông đảo chiếm đến 20% nhân loại bỗng dưng biến mất không để lại dấu tích gì sao? Rõ ràng là, cùng với sự tiếp thu nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Việt, người Hán đã học nhiều tiếng Việt từ cộng đồng lê dân Miêu tộc đông đảo. Tiếng Việt từ trước thời Hoàng đế đã được ghi bằng chữ Hỏa tự, chữ Khoa đẩu. Loại chữ này đã viết nên Kinh Thư được giấu trong vách nhà của Khổng tử. Khi phát minh ra chữ vuông, người Hán đã dùng chữ vuông ký tự những chữ Việt đó rồi đương nhiên coi là tiếng Hán, chữ Hán. Người Việt không giữ được đất đai, không giữ đựơc chữ hình ngọn lửa nên để mất luôn chữ viết của mình! Tiếp thu vốn từ vựng của người Việt nhưng vì giữ vai trò lãnh đạo xã hội nên người Hán ép buộc ngườI Việt nói theo cách nói của người Hán. Như vậy, cùng với việc người Việt hòa tan vào cộng đồng Hán tộc thì tiếng Việt cũng nhập vào ngôn ngữ Hán, trong một cơ cấu ngữ pháp mới. Sau này các tác giả tự điển, các công trình phục nguyên Hán ngữ không có điều kiện tìm đến gốc gác xa xưa hơn của những từ mà họ tra cứu. Ðã từng xảy ra câu chuyện thế này: Vào những năm 70 thế kỷ trước, để chứng minh cho sự độc lập của Ðài Loan với Hoa Lục, chính quyền Tưởng Giới Thạch lệnh cho nghiên cứu lịch sử hòn đảo này. Nhưng khi thấy trước thời Khổng tử, đất này của người Bách Việt, việc nghiên cứu bị dừng lại! Nhưng dù che giấu kỹ thế nào, ta vẫn có thể tìm thấy trong Hán ngữ những từ thuần Việt như Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Cốc... Và trong Kinh Thi cũng bắt gặp khá nhiều trường hợp in dấu ấn cách nói của người Việt như:

    Hồ vi trung lộ (Thức vi: trong sương)
    Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)
    Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn )
    Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)

    Tại sao hàng nghìn năm thực hiện nghiêm cẩn xa đồng quỹ thư đồng văn mà trong quyển kinh quan trọng bậc nhất của văn hóa Trung Hoa vẫn giữ cách nói của người Việt trung lộ, trung tâm, trung cốc... mà không chuyển sang cách nói của người Hán lộ trung, tâm trung, cốc trung...? Ðấy chính là những hóa thạch ngôn ngữ mách bảo cho người biết nghe những điều thầm kín: những câu ca của người Miêu Việt!

    Thiết tưởng, ông Huệ Thiên với sở học sở đọc của mình, nếu không hồn nhiên tận tín những sách của thày Tàu mà tìm đọc giữa những hàng chữ Hán có thể sẽ cống hiến những phát hiện quý giá.
    [COLOR=Blue][B]Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm[/B][/COLOR]

  3. #3
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    Góc phố rêu phong
    Bài gửi
    943
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)

    Lỗi chính tả trong Tiếng Việt

    Đọc các bài viết của các bạn trong HSO mình thấy có rất nhiều lỗi chính tả (mình cũng vậy), vì vậy hôm nay mình mạo muội post lên đây các lỗi thường gặp nhất khi hành văn để chúng ta cùng nghiên cứu và khắc phục.
    Hãy giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt các bạn nhé!

    1/ Hỏi - ngã:
    Bạn huyền mang nặng ngã đau
    Bạn sắc mới hỏi bạn sầu hay không?

    - bả (bà ấy)
    - bã: buồn bã, cặn bã...

    * bổng: bay bổng, trầm bổng
    * bỗng nhiên, bỗng chốc

    - cải tà quy chánh (chính), cải lương
    - cải bẹ xanh, cải ngọt, cải bách thảo... (các loại rau)
    - cãi nhau, cãi cọ, cãi vã, bàn cãi...

    * cỏi: cứng cỏi
    * cõi (nơi): cõi trần gian, cõi lòng

    * củ: củ khoai, củ ... chi (Ðến Củ Chi, chỉ ..., hỏi: "củ chi?")
    * cũ: đồ cũ, bồ cũ, người tình cũ, xe cũ

    - cử nhân, cử tạ
    - cữ (chu kỳ): mỗi ngày hắn phải có vài ba cữ thuốc mới yên thân; kiêng cữ

    * dải (mảnh): dải lụa, dải đất
    * dãi: dễ dãi

    - dở dang, dở tay, dở thậm tệ
    - bốc dỡ, tháo dỡ (gỡ)

    * đổi thay, trao đổi
    * đỗi: ngạc nhiên quá đỗi, một đỗi (một lúc)

    * gả (hôn nhân): gả con cho ai
    * gã (nhân vật thứ ba): kẻ ấy, hắn, y thị

    * giả (không thật): đồ giả mạo, giả vờ
    * giã (nện): giã gạo
    * giã biệt, từ giã

    - gở: điềm gở, quái gở
    - gỡ rối, tháo gỡ, gỡ gạc

    * khẻ (gõ, đánh): bị lấy thước khẻ tay
    * khẽ (nhẹ nhàng): rồi hắn khẽ gọi cô ra sau hè...

    - lể: lể giác (châm cứu), kể lể
    - lễ: lễ hội, tuần lễ, lễ mễ

    - lở: sụp lở, sạt lở, ghẻ lở (sụp đổ, hư hại)
    - lỡ: lầm lỡ, lỡ làng, lỡ dại (điều gì sai)

    * mẫu: làm mẫu, kiểu mẫu, người mẫu
    * mẫu (mẹ): thân mẫu, mẫu hệ
    * mẩu (mảnh nhỏ):


    Hôm nay trời nắng chang chang, mèo con đi học chẳng mang cái gì,
    Chỉ mang một chiếc bút chì, và mang một mẩu bánh mì con con...


    - ngả nghiêng, bóng ngả đường chiều, ngả đầu, ngả nghiêng, ngả ngớn (tks HocTro)
    - ngã rẽ, ngã ba lòng, té ngã, nghiệt ngã ...


    Khi xưa chị ngã em nâng, ngày nay chị ngã em... bưng miệng cười (hí hí hí)

    * nghĩ ngợi, suy nghĩ ... (làm việc với trí óc)
    * nghỉ ngơi, nghỉ hè, nghỉ phép


    - ngủ = khò khò
    - ngũ lục (năm sáu), hàng ngũ, đội ngũ (chỉ một nhóm người)

    - nhắc nhở
    - nhỡ tay, ngộ nhỡ

    - nổi: ba chìm bảy nổi, chịu nổi, kham nổi việc gì
    - nỗi lòng, nỗi nhớ

    * nửa: (1/2) một nửa trái tim
    * nữa: (more) lần nữa, xích lại gần em tí nữa đi anh...

    * sinh nở, hoa nở
    * nỡ lòng

    - quỷ quái, ma quỷ
    - quỹ từ thiện, công quỹ

    - sửa (thuộc về hành động: dâú hỏi): sửa soạn, sửa sang, sửa sắc đẹp, sửa chữa...
    - sữa (thức uống: dấu ngã): sữa bò, sữa dê, sữa hộp...

    - tỉnh táo, tỉnh Sa Ðéc
    - tĩnh vật, bình tĩnh, tĩnh tâm... (trạng thái không lay động)

    - trải: trang trải, trống trải, trải rộng, trải dài
    - Nguyễn Trãi: danh từ riêng, chưa tìm được chữ trãi nào khác

    * vẻ: vẻ vang, tỏ vẻ, có vẻ, dáng vẻ
    * vẽ tranh, tô vẽ, vẽ vời

    a/ Chỉ dùng dấu hỏi mà thôi:
    - biển
    - cửa
    - để
    - đỡ buồn, nâng đỡ
    - hẳn: chưa hẳn là như thế, khỏi hẳn bệnh, mưa tạnh hẳn
    - hỏi: cưới hỏi, học hỏi, dấu hỏi
    - khỏi: khỏi cần, khỏi nói, khỏi dây dưa, khỏi quen, khỏi biết, khỏi vừa lòng nhau...
    - lửa
    - thở: hơi thở, thở than
    - trở: trăn trở, trở lạnh, trở nên, trở thành
    - xảy ra

    b/ Chỉ dùng dấu ngã: (chữ và nghĩa)
    - chữ: chữ viết, kiểu dáng của một loại phông chữ (Ngoại lệ: "Chử Đồng Tử" là danh từ riêng)
    - cỡ : mắc cỡ, dài cỡ một gang...
    - dẫn dắt, dẫn dụ, hướng dẫn
    - dễ dàng, khó dễ, dễ thương
    - dõi: dòng dõi, theo dõi
    - dỗi hờn, giận dỗi
    - dữ: hung dữ
    - đỡ : đỡ bệnh, nâng đỡ, giúp đỡ
    - hãy
    - hẵng: ăn xong rồi hẵng làm
    - lỗi phải, lầm lỗi, tội lỗi
    - lưỡng lự, tiến thoái lưỡng nan
    - mỗi
    - muỗi
    - nghĩa: có ý nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa đen
    - ngỡ: cứ ngỡ, ngỡ ngàng, bỡ ngỡ
    - nữ giới, nữ nhi, phụ nữ
    - rỗng: trống rỗng
    * tiễn đưa, tống tiễn, đưa tiễn, hỏa tiễn
    - vũ: khiêu vũ, vũ trụ

  4. #4
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    Góc phố rêu phong
    Bài gửi
    943
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    2/ "Xê" hay "Tê" (c / t) ?
    Con sâu ngúc ngoắc anh đâu có dám bắt,
    Con sâu chết ngắt anh bắt cho em xem...!


    * bạc: 1. kim ngân: tiền bạc, vàng bạc. Thì giờ là vàng bạc. "Em hay ghé qua tiệm nữ trang cũng để ngắm... thì giờ mà thôi!"
    2. phai nhạt, thay đổi: tóc đã bạc màu, bạc tình, phụ bạc
    * bạt: văng ra, thay đổi hướng đi: lang bạt, phiêu bạt

    - ngắt (bẻ)
    - ngắc: cứng ngắc
    Mời bạn giúp giùm: chết ngắt hay chết ngắc ?

    * đặt: đặt cái gì lên bàn (để), đặt hàng, đặt cọc
    * đặc: đông đặc

    - ngạt: thơm ngào ngạt, hơi ngạt
    - ngạc: ngạc nhiên, kinh ngạc


    a/ Chỉ dùng "Xê":
    - ngúc ngoắc (cái gì ngọ nguậy), ngoắc (vẫy)
    - được

    b/ Chỉ xài "Tê":
    - quay ngoắt, thấm thoắt

  5. #5
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    Góc phố rêu phong
    Bài gửi
    943
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    3/ Có "Dzê" hay không "Dzê" ? ("...n" hay "...ng")

    * gắn bó, hàn gắn
    * gắng sức, cố gắng

    - lãng mạn (lãng: sóng, mạn: thuyền), ngạo mạn (xấc xược)
    - tính / tánh mạng, sanh mạng, số mạng (mạng: cuộc sống)... cách mạng...

    * con ngan (ngỗng)
    * ngang như cua

    - rán : (chiên)
    - ráng: (cố gắng)

    * vàn (nhiều): muôn vàn, vô vàn
    * vàng bạc, vàng óng, vàng vọt, màu vàng

    + cái nghiên mực
    + nghiêng ngả

    a/ không dzê:
    - cần: cần câu, cần kiệm, Cần Giờ... (trai Cần Giờ, giơ cần, hỏi: "cần giờ?")
    - ngút ngàn, ngân nga...

    b/ dzê thì g:
    - ngang (như cua), nghiêng

    c/ Dùng "d...." hay "gi....": "giòng sông" hay "dòng sông" ?

    - dạ thưa
    - một giạ lúa (đơn vị đo lường)

    * giặt giũ, tắm giặt

    - dàn: dàn trận, dàn xếp, nhậu thả dàn ?
    - giàn: giàn bông lý
    - Giàng = Trời (tiếng Gia Rai, Ê Đê ...?)

  6. #6
    kimlong008 Guest
    dạy từ vựng hả

  7. #7
    Cà Lăm Guest
    Trong dđ nhiều người viết sai chính tả, nguyên nhân là do viết nhanh ẩu, sai do kém hiểu biết(ít thôi), sai do thói quen chát chít ngôn từ nhăng cuội.Đơn cử nhiều lỗi nhất là sai "ch" và "tr", sai "l" và "n", sai "d", "r" và "gi", sai về nghiã của từ cũng nhiều. Trong câu sử dụng cặp "cho...nên" chứ không phải "lên" , câu chuyện chứ không phải câu truyện,bàng quang chứ không phải bàng quan, lãng mạn chứ không phải lãng mạng, đặc biệt nhầm lẫn giữa "sử" (trong từ lịch sử)và "xử"(trong từ xử lí) Mong các bạn chú ý rút kinh nghiệm. Thân !

  8. #8
    Ngày gia nhập
    Mar 2009
    Nơi cư ngụ
    Góc phố rêu phong
    Bài gửi
    943
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    1 Thread(s)
    4/ Sờ hay Xờ:
    Xời ơi, cứ thử sờ em thử xem, biết liền!

    * sẽ: (động từ: sắp xảy ra): nàng sẽ đến
    * sẽ: (trạng từ: nhẹ nhàng): chị se sẽ thơm vào trán con...
    * chim se sẻ
    * san sẻ (động từ, danh từ: giúp đỡ)
    * xẻ: (động từ, danh từ có tính cách action: tách, làm phân chia ra nhiều phần): cắt xẻ, chia xẻ, xẻ dọc xẻ ngang, vết xẻ...

    a) Sờ tí đi: Những từ chỉ dùng S:
    * sai: đúng sai, sai vặt, tay sai
    * san sẻ, san bằng
    * sang ngang, cao sang
    * sung sức, sung sướng, sung túc

    b)Những từ chỉ dùng X:
    - xoa bóp, xoa dịu
    - xích đu, dây xích
    - xuân

    5/ Các từ ngữ khác:

    * suất ăn (khẩu phần)
    * xuất xứ, xác xuất, sản xuất, xuất nhập khẩu



    P/S: Bạn nào biết còn lỗi nào nữa thì post lên đây luôn nhé!


  9. #9
    Ngày gia nhập
    Jul 2009
    Nơi cư ngụ
    64 tỉnh thành trừ Hoàng Sa
    Bài gửi
    1.881
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Công nhận là đúng , nhưng có một số người thích chơi chữ nữa
    Nói đến Tri Thức người ta nói đến Đầu Óc , nhưng trên thực tế có những cái đầu thực sự có Óc và một số thì không biết nó là cái gì nữa !

  10. #10
    Ngày gia nhập
    Apr 2009
    Bài gửi
    253
    Post Thanks / Like
    Tủ sách biển Đông
    0
    Uploads
    0
    Mentioned
    0 Post(s)
    Tagged
    0 Thread(s)
    Với vần "ung" không chỉ dùng "S" mà có cả "X". Ví dụ như trong câu "Nộ khí xung thiên" hay "Tả xung hữu đột".
    Lỡ nước hai xe đành bỏ phí
    Gặp thời một tốt cũng thành công
    ---------------Hồ Chí Minh--------------

Trang 1 trong 4 123 ... Cuối cùngCuối cùng

Chủ đề tương tự

  1. [Tin tức] 105 nhà báo bị giết trong khi tác nghiệp trong năm 2010 .
    By donjuan_vn in forum [Lưu trữ]Thời sự quốc tế 2010
    Trả lời: 13
    Bài mới gửi: 01-02-2011, 12:27 AM
  2. Trả lời: 2
    Bài mới gửi: 05-09-2010, 10:30 PM
  3. Trong 10 Huynh Trưởng Hướng Đạo trong ảnh; đã có 4 Trưởng là ĐVĐCSVN
    By Củ khoai in forum Tuổi trẻ : Giáo dục & Cuộc sống
    Trả lời: 4
    Bài mới gửi: 19-06-2010, 06:49 PM
  4. Trả lời: 5
    Bài mới gửi: 26-04-2010, 11:14 AM

Bookmarks

Quyền hạn Gửi bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài của mình
  •