<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>

<rss version="2.0" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/">
	<channel>
		<title>Diễn đàn Hoàng Sa - Ngược dòng lịch sử</title>
		<link>http://hoangsa.org/forum/</link>
		<description>Thảo luận về các vấn đề,sự kiện lịch sử của nước ta (không liên quan đến vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa)</description>
		<language>vn</language>
		<lastBuildDate>Wed, 22 May 2013 22:21:22 GMT</lastBuildDate>
		<generator>vBulletin</generator>
		<ttl>60</ttl>
		<image>
			<url>http://hoangsa.org/forum/images/misc/rss.png</url>
			<title>Diễn đàn Hoàng Sa - Ngược dòng lịch sử</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/</link>
		</image>
		<item>
			<title>Xem: Cuộc phỏng vấn Bác Hồ của hãng NDN Nhật Bản</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81471&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Tue, 21 May 2013 10:45:48 GMT</pubDate>
			<description>http://www.youtube.com/watch?v=PNDeEY5by10</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<iframe class="restrain" title="YouTube video player" width="640" height="390" src="//www.youtube.com/embed/PNDeEY5by10?wmode=opaque" frameborder="0"></iframe>
</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>Sniper Kitten</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81471</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Vài nét về hình ảnh Việt Nam trong sử sách cổ Trung Quốc</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81470&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Tue, 21 May 2013 10:24:40 GMT</pubDate>
			<description>Image: http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/bandochienquoc.png  
* 
Dương Bảo Quân (Yang Baoyun)* 
*Học viện Quan hệ...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><div style="text-align: center;"><img src="http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/bandochienquoc.png" border="0" alt="" /></div><div style="text-align: right;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><b><i><br />
Dương Bảo Quân (Yang Baoyun)</i></b></font><br />
<font color="#000000"><b><i>Học viện Quan hệ Quốc tế</i></b></font><br />
<font color="#000000"><b><i>Đại học Bắc Kinh<br />
<br />
</i></b></font></font></span></font></div><div style="margin-left:40px"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000">Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng gần gũi, do vậy giữa hai nước đã tồn tại quan hệ lịch sử lâu dài. Trải qua quá trình tiếp xúc lịch sử, rất nhiều tư liệu lịch sử về hai quốc gia đã ra đời và tồn tại cho đến ngày nay. Bài viết này giới thiệu vắn tắt về các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến các dữ liệu lịch sử của Việt Nam. Nội dung của các tư liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến địa lý, thể chế chính trị, kinh tế, thói quen và tập quán xã hội của người Việt Nam… Các tác giả cũng đã thể hiện các quan điểm và tình cảm cá nhân về đất nước này. Do vậy, các tác phẩm đã trở thành nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quan trọng giúp người Trung Quốc hiểu biết về Việt Nam. Bài viết cũng cố gắng chỉ ra các đặc điểm và hình ảnh của Việt Nam mô tả trong các tư liệu lịch sử Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và các nguyên nhân cũng được phân tích. Bài viết còn chỉ ra cho các học giả thấy rằng các nghiên cứu về tư liệu lịch sử của Trung Quốc để hiểu được sự phát triển của hình ảnh Việt Nam trong con mắt của người Trung Quốc sẽ là một công trình nghiên cứu khoa học vô cùng ý nghĩa.<br />
<br />
</font><br />
</span></font></div><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><b>1. Vài nét về sử liệu Trung Quốc có liên quan đến Việt Nam<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng gần gũi, núi liền núi, sông liền sông, như môi với răng, có quan hệ lịch sử lâu đời và khăng khít. Trong quá trình giao lưu lâu dài giữa hai nước, sử sách của hai nước đã ghi chép lại rất nhiều tư liệu về đất nước bạn của mình. Đặc </font><font color="#000000">biệt là do mối quan hệ mật thiết giữa hai bên, hai nước đã thường xuyên trao đổi sứ thần và </font><font color="#000000">luôn liên hệ với nhau. Các vị sứ thần đó trong quá trình đảm nhiệm sứ mệnh ngoại giao của </font><font color="#000000">mình thường ghi lại những điều tai nghe mắt thấy về mọi mặt ở nước bạn trong thời gian đi sứ, từ những con đường núi non hiểm trở, cảnh vật và con người, đến những bài thơ phú ngâm vịnh để diễn tả những suy nghĩ và đánh giá của mình trước những điều đã nghe đã gặp, những tác phẩm đó cũng trở thành những sử liệu quan trọng nhằm tìm hiểu nước bạn của mình. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nước Việt Nam từ khi tự chủ (năm 968), một chế độ mới ra đời đã chấm dứt thời kỳ quận huyện (hay còn gọi là thời kỳ Bắc thuộc) của Việt Nam, dù hai bên thiết lập một quan hệ nước lớn và nước nhỏ, nhưng vẫn giao lưu với tư cách cơ bản bình đẳng với nhau. Vì vậy </font><font color="#000000">nhiều triều dại phong kiến Trung Quốc luôn luôn cử đại sứ sang Việt Nam. Những trước </font><font color="#000000">tác của các sứ thần Trung Quốc đã cung cấp rất nhiều sử liệu cơ bản giúp người Trung Quốc hiểu về Việt Nam. Thí dụ: Một sứ thầnđời Nguyên tên là Trần Phù(1) , đã đi làm phó sứ ở Việt Nam từ đầu đời Nguyên đến năm 29 triều Nguyên (1292), đã viết cuốn sách Giai Châu cảo (bàn thảo về Giao Châu) sau đó đã biên soạn thành hai cuốn Trần Cương Trung An Nam lục và Trần Cương Trung xuất sứ thi. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong Nguyên thi tuyển (Thơ chọn lọc đời Nguyên) phần tiểu truyện đã đánh giá hai cuốn đó là “những bài thơ trên những nẻo đường lui tới Việt Nam, đó là những hình ảnh kỳ lạ của núi sông non nước, thảo mộc, sinh vật và con người Việt Nam, không thể không ghi chép lại, hoặc cũng giống như một bức tranh xưa đã phủ bụi thời gian, chuyện hay, dở, xa gần không thể kể hết”.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Qua đó có thể thấy những bài thơ đó có ích biết bao cho người xưa và nay trong việc tìm hiểu địa lý và cảnh vật Việt Nam. Ngoài ra đời nhà Minh còn có các tác phẩm của Từ Minh Thiện An Nam hành ký hoặc Thiên Nam hành ký, tác phẩm của Tiêu Phương Nhai Sứ giao lục, tác phẩm của sứ thần Văn Tử Phương An Nam hành ký và tác phẩm khuyết danh nguyên trinh sứ giao lục…(2)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Từ đời Minh trở xuống, do mối quan hệ Trung Việt được tăng cường, triều đình nhà Minh nhiều lần phái sứ thần sang Việt Nam, nên các tác phẩm viết về Việt Nam cũng tăng lên nhiều. Trong số đó có Phụng sứ An Nam thủy trình nhật ký (Nhật ký đi sứ Việt Nam bằng đường thủy) của Hoàng Phúc, Bình định giao Nam lục của Nhạc Tiềm, hoặc còn gọi là Định Hưng Vương bình định giao Nam lục, An Nam đồ chí của Đặng Trung, Sứ giao lục của Tiền Bạc và Sứ giao lục của Ngô Bá Tông…<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cùng trong thời gian ấy còn xuất hiện một số lượng lớn các tác phẩm viết về lịch sử và địa lý Việt Nam. Trong số đó có tác phẩm của Lý Văn Phượng viết vào những năm Gia Tĩnh đời Minh Việt kiểu lục, gồm 20 tập, là một tác phẩm sử học viết về Việt Nam trong sách xưa của Trung Quốc được viết tương đối hệ thống và độ dày đáng kể. Trong Lời tựa của cuốn sách, tác giả đã viết rõ bối cảnh sáng tác của mình: Khi họ Mạc đoạt ngôi nhà Lý, triều đình muốn cất quân đi đánh, nhưng trong triều bàn tán xôn xao, tác giả bèn viết cuốn sách này để khảo sát phong tục, núi sông và lịch sử Việt Nam. Cuốn sách được chia nhiều mục như đường biên giới, núi sông, chế độ thuế khóa tạp dịch, sản vật, phong tục tập quán, thư chiếu, biểu hương, chế độ, thơ ca… <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Các học giả Trung Quốc đều nhận định rằng, những sự việc của Việt Nam được ghi trong sách, về nội dung rất giống với cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc, cuốn sách dựa vào cuốn </font><font color="#000000">Chí lược họ Lê, có bổ sung thêm một số sự kiện từ đầu đời nhà Minh đến năm Gia Tĩnh, </font><font color="#000000">cuốn sách đó cũng đã đổi đầu đề là An Nam chí lược bổ. Nhưng nội dung cuốn sách này rất </font><font color="#000000">phong phú, những sử liệu được thu thập về An Nam dưới thời nhà Minh rất cặn kẽ, có thể bổ sung những chỗ bất cập của cuốn Minh sử – An Nam truyện.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những sắc dụ cơ mật được ban hành dưới thời Vĩnh Lạc phần lớn chưa đưa vào Minh Thái Tông thực lục cũng là những tư liệu vô cùng quý giá, đã trở thành sách tham khảo quan trọng nhất nghiên cứu về lịch sử An Nam, cho nên được những người đời sau đánh giá “vừa mạch lạc vừa ngắn gọn, nói về ghi chép lịch sử nước láng giềng có thể coi là hay vậy” [2].<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngoài ra còn có An Nam lai uy đồ sách gồm 3 tập của Phùng Thời Dương, Lương Thiên Tích và An Nam lai uy tập lược gồm 3 tập. An Nam lai uy đồ tập có rất nhiều tranh, nội dung ngắn gọn; còn Tập lược thì một số nội dung tỉ mỉ, thu thập rất nhiều chiếu dụ của An Nam và biểu tấu của họ Mạc và Kỳ mục địa phương. Ngoài ra còn có An Nam truyện của Vương Thế Trinh, An Nam chí của Tô Tiềm Soạn, An Nam cung dịch kỷ sự của Chu Chi Du (tức Thuấn Thuỷ) một di dân cuối đời nhà Minh, … đều là những tư liệu tham khảo quan trọng về tình hình Việt Nam thời bấy giờ. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đời nhà Thanh là thời kỳ sự giao lưu Trung Việt được tăng cường, quan hệ giữa hai nước có những thay đổi quan trọng, vì vậy thư tịch lịch sử của Trung Quốc viết về Việt Nam cũng tương đối phong phú. Trong Tứ khố đề yếu còn ghi lại An Nam sử sự ký của Lý Tiên Căn, An Nam kỷ du của Phan Đỉnh Quê và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán. Các tác giả đó đều đã đến Việt Nam, ghi lại những điều bản thân mình tai nghe mắt thấy.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngoài ra còn có An Nam kỷ lược của Nhiệm Đống và Khâm Định An Nam kỷ lược gồm 32 </font><font color="#000000">quyển được biên soạn theo lệnh của Càn Long năm thứ 56 (tức năm 1791). Số lượng các sách truyện ký và lịch sử địa lý Việt Nam dưới thời Thanh tăng lên nhiều, về nội dung càng ngày càng phong phú. Thí dụ như cuốn Tòng nhung Việt Nam ký của Âu Dương Văn Tĩnh, Việt Nam Tân Văn lục của Vương Nghĩa Phất, An Nam quân doanh kỷ lược của Trần Nguyên Nhiếp, An Nam chí của Dương Trọng Hưng (kèm theo phụ bản An Nam quốc bình thế khảo lược), Sứ giao kỷ sự của Ô Hắc, Sứ giao ngâm của Châu Xán,Việt Nam cương vực khảo của Nguỵ Nguyên, Việt Nam thế hệ diên cách lược của Từ Diên Húc, Việt Nam khảo lục của Cung Sài, Tiếp hộ Việt Nam cống sử lược của Giả Trăn và Việt Nam kỷ lược của Thẩm Lâm Nhất…<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cần nói rằng những ghi chép của các sứ thần của nhiều triều đại Trung Quốc về Việt Nam đã tạo nên nền tảng quan trọng trong sử sách Trung Quốc về Việt Nam. Những ghi chép về Việt Nam trong sử sách chính thống của Trung Quốc và trong nhiều thư tịch cổ của Trung Quốc phần nhiều được trích dẫn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ các tác phẩm của các sứ thần Trung Quốc đó, có sự gia công và nâng cao thêm để nội dung được tập trung và tinh xác hơn, đóng góp những cứ liệu quan trọng cho các học giả nhân văn cũng như người dân bình thường Trung Quốc tìm hiểu thêm về Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về ý nghĩa, trong một chừng mực nào đó có thể nói, đó là nguồn thông tin chủ yếu đem lại những nhận thức của người Trung Quốc thời ấy về hình ảnh của đất nước Việt Nam. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Do nhiều nguyên nhân, người viết bài này chưa thể tra cứu và đọc hết các tác phẩm của nhiều sứ thần của các triều đại viết về Việt Nam. Tuy nhiên tôi cho rằng, rất nhiều những ghi chép về Việt Nam trong thư tịch cổ Trung Quốc, trong thực tế chính là những ghi chép, những điều tai nghe mắt thấy của các sứ thần ở các triều đại hoặc của các nhà buôn, khách du lịch đã từng đặt chân tới Việt Nam, những ghi chép đó đều phản ánh tương đối tập trung hình ảnh của đất nước Việt Nam lúc bấy giờ trong con mắt của người Trung Quốc, đặc biệt là trong con mắt của các văn nhân Trung Quốc. Chính vì vậy, khi viết bài này, người viết không câu nệ rằng đó là trước tác của các sứ thần mà có ý mong muốn rằng thông qua những ghi chép trong nhiều loại thư tịch cổ Trung Quốc về Việt Nam có nội dung rất phong phú đó để quan sát và phân tích hình ảnh Việt Nam trong lòng người Trung Quốc.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những dẫn chứng trong bài này phần lớn được trích dẫn từ những ghi chép về Việt Nam trong cuốn Thù vực châu tư lục do Nghiêm Tòng Giản đời nhà Minh viết, bởi vì tác giả cuốn sách đó đã có một thời gian dài làm việc ở “Ty Hành nhân” được lập trong cung đình nhà Minh chuyên theo dõi việc ngoại giao. Ông đã có điều kiện tiếp cận với nhiều tư liệu có liên quan đến nước ngoài, đương nhiên bao gồm cả các tư liệu về Việt Nam, ông đã gặp gỡ và đượcnghe các sứ thần trở về báo cáo hoặc những tin tức các sứ thần đã viết. Vì vậy trong những tư liệu đó, những nội dung liên quan đến Việt Nam không những tương đối phong phú và toàn diện, hơn thế trong thực tế đã phản ánh rất nhiều hiểu biết và nhận định của các sứ thần đã từng đến Việt Nam. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>2. Việt Nam trong sử liệu Trung Quốc<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tuy Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi sông liền sông, nhưng thời cổ đại với giao thông lạc hậu, nên đường đi đến hai nước, nhất là thủ đô là trung tâm chính trị của hai nước vẫn xa lắc xa lơ, không thuận tiện chút nào. Thí dụ, sử sách đời nhà Minh đã ghi lại:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Kinh đô Việt Nam ở triều Hậu Lê, tức là vị trí Hà Nội ngày nay “phía Đông giáp biển Đông </font><font color="#000000">(320 dặm), phía Tây giáp Vân Nam và Lào (567 dặm) cho đến ranh giới Chiêm Thành </font><font color="#000000">(1900 dặm), phía Bắc giáp huyện Bằng Tường, phủ Tư Minh, Quảng Tây (400 dặm), đến Nam Kinh (7700 dặm), đến Bắc Kinh (hơn 11000 dặm) mọi người đi lại đều phải quan Trấn Nam Quan, châu Bằng Tường”(3).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Thời đó Lê Lợi “xây dựng hai kinh đô Đông đô và Tây đô, chia đất nước thành 13 đạo là: <br />
</font><br />
<font color="#000000">Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Bang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Minh Quang, </font><font color="#000000">Lạng Hoá, Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Quảng Nam. Ở mỗi đạo lập 3 ty, giống như 3 </font><font color="#000000">ty của Trung Quốc: Ty thừa chính, Ty hiến sát, Ty tổng binh sứ. Đông đô ở phủ Giao Châu, Tây đô ở phủ Thanh Hoá”(4).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Do núi non và biển cả cách trở, đường đi lại giữa hai nước Trung Việt vô cùng gian nan vất cả. Đối với các sứ thần, đi sứ nước Việt không khác nào bước vào đường gian truân. Vào năm thứ hai đời Minh Hồng Vũ (tức năm 1369), vua Minh cử Trương Dĩ Ninh, một viên quan hàn lâm có chức tri chế và Điển Bạc Ngưu Lượng đi sứ An Nam, ông “nghĩ rằng An Nam là đất nước xa xôi hẻo lánh, nơi sơn lâm chướng khí nặng nề, người xưa coi đó là đất hoang dã, nơi quái nhân không ở, người hiền không đến, chỉ lo chướng khí hại đến thân”, khi ông biết các sứthần đã đến đó bình an và làm xong sứ mệnh, chẳng những vui mừng khôn xiết mà còn làm thơ mừng, trong đó có đoạn: <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>Sứ giả vãng hoàn đa nghị thuyết, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Chướng vân mai thụ nhược đôi yên. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Khanh sơ phụng mệnh tiện tiền bôn, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Đạo lộ kỳ khu thực thảm hồn. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Thiên tầm thụ mạo viên phi tẩu, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Vạn hác phong sinh chướng khí hôn. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Nhật mộ điểu đề nhân bất đáo, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Nguyệt thâm tượng hống dạ hoàn ôn</i>(5).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Dịch nghĩa:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>Các sứ giả đi về bàn tán nhiều, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Chướng khí ùn ùn quấn chặt lấy cây. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Xưa khanh vâng lệnh bôn ba hải ngoại, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Đường sá ghập ghềnh não nuột lòng. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Đàn vượn bay nhảy trên ngọn cây cao, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Chướng khí dập dờn trên những ao đầm. </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Sớm chiều chim hót mà người chẳng đến, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Tiếng voi gầm đem lại hơi ấm trong đêm.<br />
</i></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những câu thơ trên đã phản ánh đầy đủ cảm nhận của tầng lớp quan lại đời nhà Minh về hoàn cảnh địa lý của Việt Nam lúc bấy giờ.<br />
<br />
</font></font><font color="#707070"><font color="#000000">Về khí hậu, ấn tượng sâu sắc nhất của người Trung Quốc đối với Việt Nam là nóng nực. Các sách lịch sử đời nhà Tống đã ghi rõ:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>“Đất này nóng nhiều, không có không khí lạnh, kể cả mùa đông cũng phải ôm áo mà phe phẩy quạt”(6)</i>. </font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Qua ghi chép trong sử sách Trung Quốc thì Việt Nam “khí hậu thường là ấm, sản vật của xứ sở này chỉ có lúa, không có lúa mì”(7), “một năm ba vụ lúa, tám vụ tằm tơ”(8). Qua đó có thể thấy trồng lúa nước và trồng dâu nuôi tằm là hoạt động nông nghiệp quan trọng của Việt Nam. “Đất nước này cũng có các loại vải nhẹ, có hàng dệt bông và tơ và lụa, như lụa trắng rộng trên hai thước ta”(9), có thể nói chất lượng rất tốt. Ngoài ra, Việt Nam “có lợi thế về cá và muối”(10), “dân đã chưng nước biển để lấy muối, cất rượu bằng gạo”(11), xung quanh nhà dân “trồng nhiều tre, mía, dừa, mùa nào cũng có quả”(12), qua đó có thể thấy người dân ở đây đã tận dụng yếu tố thiên thời địa lợi như thế nào. Đồng thời Việt Nam cũng là xứ sở rất phong phú vềsản vật quý và lạ, như vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, ngà voi, lông chim, quế, cau(13), ngọc trai, đồi mồi, chu sa, trầm hương, hương trầm, dầu thực vật, hồ tiêu, sừng linh dương, tê giác, hươi nai, tinh tinh, ngọc phỉ thuý, rắn trăn, kiến dầm muối, quả am-la, quả mít, ô mộc, tô mộc (14)… <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sử sách Trung Quốc cũng có ghi chép nhiều về hoạt động buôn bán của Việt Nam, “hàng hoá trao đổi gồm tơ lụa vải vóc đủ màu, vải đen, lược ngà, giấy má, đồng thau, sắt…”(15). Trong sử sách đời nhà Tống, khi nhắc đến Việt Nam “chưa đúc được tiền, toàn dùng tiền nhỏ của Trung Quốc, đều là do các nhà buôn bỏ ra cả”(16). Những ghi chép trong sử sách đời nhà Nguyên đã nói rõ hơn “sử dụng tiền đồng trong lưu thông mua bán. Trong dân gian cứ 67 đồng thì ngang một lạng bạc, các quan thì quy định 70 đồng”(17). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lúc bấy giờ “các thuyền nhân không mua bán đất, chỉ buôn bán ngấm ngầm ngang tắt, không muốn qua cửa quan, chỉ lo người Trung Quốc thấy được thực trạng của đất nước mình”(17).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vì các sứ thần đều là những người gánh trọng trách của chính quyền quốc gia nên họ đều ghi chép tương đối tỉ mỉ những nhận định về chế độ chính trị của Việt Nam. Thí dụ về chế độ quan chức từ Trung ương đến địa phương và các cấp quan lại, họ đã ghi như sau: “Sáu bộ (lục bộ) đều có Thượng thư, Tả thị lang, Hữu thị lang; Sáu phòng (lục khoa) đều có các quan Đô cấp sự trung và Cấp sự trung; Lục tự (tự là tên một cấp quan) có các quan tự khanh, thiếu khanh, tự thừa; Ty thông chính có Thông chính sứ, Thông chính phó sứ; tại Ngự sử đài có Đô ngự sử, Phó đô ngự sử, Thiên đô ngự sử, Đề hình, Thập tam đạo giám sát; Ở Viễn Đông các có Đông các đại học sĩ, Đông các học sĩ; Viện Hàn lâm có Chưởng viện, Thừa chỉ, Thị giảng, Thị độc, Biên tu, Hiệu thư, Kiểm thảo; Ở Trung thư giám có Trung thư xá nhân, Chính tự, Hoa văn; các Ty trực thuộc 6 bộ thì có Lang trung, Viên ngoại lang; tại Ty ngoại thừa chính thì có Thừa chính sứ, Tham chính, Tham nghị; tại Ty Hiến sát thì có Hiến sát sứ, Hiến sát phó sứ; các quan thủ lĩnh thì có Kinh lịch, Lục sự, Tri bạc, Suy quan, Chủ sự; quan trực tiếp cai trị dân (xưa gọi là mục dân quan, ví dân như súc vật, quan là người chăn giắt) thì có Tri phủ, Đồng tri phủ, Tri huyện, Huyện chưởng, Tri châu, Đồng tri châu; tại các phủ huyện trực thuộc (trực lệ) thì có Phủ doãn, Thiếu doãn, Trị trung, Huyện úy, Thông phán. Các chức danh quan võ Ngũ phủ,… có Sở phủ đô đốc, Tả đô đốc, Hữu đô đốc, Đồng tri, Thiên sự; tại Điện Trực Kim Quang có hai đội (còn gọi là vệ) Cẩm y, Kim Ngô thì có Chưởng vệ Đô chi huy sứ, Đồng tri; Thiên sự; Tại 3 Ty của Điện Thần Vũ Hiệu Lập thì có có Đề đốc, Tham đốc, Đô kiểm điểm, Tả và Hữu kiểm điểm; Các đội (vệ) ở phiên trấn thì có Tổng binh, Sứ tổng binh, Đồng tri, Thiên sự; tại Ty thị vệ trong nội các thì có Chỉ huy sứ, Đồng tri, Thiên sự; Các đội thị vệ tại ngoại thì có Thiên hộ, Bá hộ, Thống chế; tại ngoại thì có Quản lãnh vũ úy; các sở ở vùng biên giới thì có Kinh lược sứ, Kinh lược đồng tri, Thiên sự. Lại còn đặt ra 5 tước: công, hầu, bá, tử, nam. Đó là chế độ quan văn võ. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Các quan chức khác ở các ty, các giám và các chức quan nhỏ khác còn nhiều lắm, không thể nào ghi chép hết được”(18). Trong sách sử đời nhà Minh còn ghi rõ: “Phong tục của họ trọng võ, vượt tước vị gọi là quận công, có  đến hơn 100 người, dưới tước hầu thì không tính, còn quan văn chỉ nắm văn thư cố sự mà thôi”(19).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cũng có những sách ghi chép rằng: Việt Nam “gọi quý nhân là ông trà, ông trà có nghĩa là quan to”(20). Cũng có sách viết “phẩm trật trong quan chế Việt Nam giống như người Hán, áo mũ cũng vậy”(21). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong lựa chọn và đề bạt các quan “đều đặt lệ thi cử, định các hệ quan văn võ”, “chế độ khoa cử thì có thi Hương, thi Hội. Thi Hương được tổ chức vào mùa thu các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, đỗ tam trường gọi là sinh đồ, đỗ tứ trường gọi là cống sinh. Còn thi Hội được tổ chức vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi vào mùa xuân, đỗ tứ trường được phong Đồng tiến sĩ xuất thân, đỗ ngũ trường được phong Tiến sĩ cập đệ.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lại còn có tam khôi: Đệ nhất danh, Đệ nhị danh, Đệ tam danh(22)”. Về nội dung thi “chọn người theo hai khoa kinh nghĩa và thi phú”(23) trong đó “đệ nhất trường dùng văn của cửu kinh; đệ nhị trường thi văn chiếu, tế, biểu; tam trường thi văn thơ phú; tứ trường thi loại văn đối sách; ngũ trường phải vào cung thi trước mặt nhà vua và phải dùng văn đối sách”(24).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Có sách còn ghi “Dùng khoa cử để chọn người tài, cũng không khác gì giáo dục của Trung Quốc xưa vậy”(25), điều đó đã nói lên mối liên hệ giữa khoa cử Việt Nam với khoa cử Trung Quốc. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về chế độ quân đội của Việt Nam, trong sử sách Trung Quốc cũng ghi chép rất tỉ mỉ. Thời nhà Tống, các đô thành Việt Nam đều “trong thành không có dân, chỉ có hàng trăm khu trại lính được dựng nhà tranh. Các phủ, sở cũng chật hẹp, trên cửa đề Minh Đức Môn, chỉ huy và binh lính gần 3000 người, trên trán có xăm 3 chữ “Thiên tử quân”. Lương thực được cấp thóc hàng ngày, họ phải tự giã để ăn. Binh khí thì có cung nỏ, mộc bài, súng gỗ, súng tre, người yếu không thể sử dụng được”(26).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đến đời Minh “các ty và vệ nội và vệ ngoại, mỗi vệ, ty có 6 sở: trung, tiền, hữu, tả, hậu, sủng, mỗi sở có 15 đội, mỗi đội 55 người, thường 6 năm một lần chọn các tráng đinh, những người khỏe mạnh để sung vào quân ngũ, những người yếu thì về với dân. Những người sức khỏe thật tốt thì sung vào đội “Kiêu dũng quân” thuộc các vệ, là đội quân chiến đấu khi đất nước hữu sự; sức khỏe loại 2 thì sung vào Kỳ quân ngũ, đó là đội quân vận chuyển lương thực. Lính đã ở lâu trong quân ngũ có thể trở về quê cày cấy làm ăn, lo nghiệp nhà. Mỗi lần thiết triều, các vệ phải điểm danh, Kiêu dũng quân phải trực ở vệ sở, sức khỏe loại 2 thì nộp tiền được trở về nhà, nhưng lúc hữu sự thì lại bị điều động sử dụng. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một vệ được gọi là một doanh, một sở được gọi là một kỳ, đó là theo binh chế cũ. Khi đất nước loạn lạc thì quân đội phân tán ra các thôn ấp, điều động rất chậm chạp, khó lòng ứng biến, lại tạm thời áp dụng chế độ quân ngũ nông thôn kiểu cha con (phụ tử binh). Mỗi một ty hành chính bố trí một viên quan cai quản, mỗi phủ một phó đô tướng, mỗi huyện, châu bố trí một phó tướng, bao gồm cả số dự bị bổ sung. Các châu, huyện lớn được chọn một nghìn lính tinh nhuệ; huyện vừa thì chọn 800; huyện và châu nhỏ thì chọn 600 hoặc 500. Thêm vào đó một lính và hai người vận chuyển lương thực, số người còn lại phải nộp lương thảo. Khi một nơi nào đó có đánh nhau thì điều động đến mức cao nhất, nếu không có việc gì thì trả tất cả về. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Khi có giặc tiến gần biên giới thì tự bảo vệ nhau. Những vùng đất thuộc huyện, châu mình, nếu là nơi xung yếu cần tăng thêm quân để trấn giữ, với binh lính trấn giữ đô thành, cũng có chế độ đối với mới và cũ.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Quân thường trực và các võ sĩ dũng mãnh đều hưởng lương quan lại và chuyên được giữ lại làm túc vệ (quân ở doanh trại). Về sau do sự phân chia Nam Bắc nên hai bên đều tuân theo chế độ ấy. Binh lính phải dũng cảm nhanh nhẹn, phải thiện chiến. Đánh nhau nếu thuận lợi thì thừa thắng truy đuổi, nếu không thuận lợi thì rút về căn cứ hiểm yếu. Lính giữ thành và lính cơ động đều như vậy cả”(27).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một số ghi chép dưới thời nhà Minh lại cho rằng Việt Nam “không có thành quách, quây pháo làm tường thành, quân đội và dân ở xen lẫn với nhau”. “Quân chế không có định mức, khí giới chỉ dùng pháo hỏa, đao kiếm là thứ yếu”. “Quốc gia coi nhiều voi nhiều lính là mạnh, lấy số lượng đánh giá, voi mỗi con không quá 3000, lính thường giữ số 10 vạn, tương truyền do Phục Ba tướng quân đặt ra lệ ấy. Đi dọc sông quanh thành khoảng 50-60 dặm, các chiến thuyền lúc gặp tình thế hiểm nguy thì giấu thuyền vào bờ. Những thuyền đó sơn đỏ sơn vàng, chuẩn bị người đầy đủ, có lẽ nước ấy muốn khoa trương sức mạnh”(28). Lính mặc một hoặc hai áo màu xanh tay rộng, trời nóng thì cởi trần, không có mũ sắt. Binh khí thì có súng hỏa mai, khiên, đao… lúc cần không đủ dùng”(29). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lúc chiêu mộ binh lính, “biên chế đội ngũ dựa vào luật lệ thu thuế nghề nông, cho nên phong tục của họ sinh con gái thì mừng, sinh con trai thì lo. Nam xếp vào là đinh, đến mức </font><font color="#000000">quy định phải vào quân ngũ và phải cạo tóc ở trán khoảng một tấc đê phân biệt với thường </font><font color="#000000">dân”(30).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhưng ghi chép trong sử sách Trung Quốc về mặt văn hóa giáo dục cũng rất phong phú. Rất nhiều sử liệu đều đề cập đến vấn đề sử dụng chữ Hán ở Việt Nam, có tài liệu viết: Nước này “đều dùng chữ Hán của Trung Hoa, không quen dùng chữ của các nước khác”(31), “ngâm thơ đọc sách, đàm đạo triết lý, sáng tác văn chương đều gần giống Trung Quốc, chỉ có lời phát âm hơi khác, lạtai”(32).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Có tài liệu ghi rằng “văn tự giống như Trung Quốc. Họ còn sáng tạo thêm một số chữ, phần lớn thêm bộ thổ ở bên trái, nhưng trên các văn thư trao đổi với sứ thần thì không dùng những chữ đó”(33), điều đó rõ ràng là nói tới chữ Nôm của Việt Nam. Sử sách đời Tống còn ghi “Việt Nam chưa làm được giấy và bút, thường phải tìm ở đất khác”(34). Điều đó nói rõ rằng thời ấy, Việt Nam thường phải qua đất Quảng Tây, Quảng Đông để mua giấy, bút và các đồ dùng văn phòng khác. Nhưng, nghệ thuật thư pháp Việt Nam cũng có những nét đặc sắc của nó. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Theo ghi chép của Phan Đỉnh Quê, một người đã từng đến Việt Nam thì nước này “thư pháp theo kiểu tống thể, cách viết của mọi người đều giống nhau, rất khó phân biệt đẹp xấu. Tôi đã từng đàm đạo với các sĩ phu đểtìm nguyên do, phần lớn đều nói người nước tôi học chữ đều học cách ghép thành một chữ, cách khác tách nét từng chữ, làm cho nét chữ không có gì khác nhau, sau đó ghép thành một chữ, đó cũng là một cách vậy. Khi viết học ngồi bệt xuống chiếu, hai cổ tay không tì xuống chiếu, tay trái giữ giấy, tay phải cầm bút, tuy lúc thi xạ sách ở triều đình (xạ sách là một môn thi, chủ khảo nêu vấn đề, thí sinh viết đáp án – ND) phải viết kiểu chữ Khải (kiểu chữ chân phương – ND), rõ ràng, nếu không thì rất khó mà vượt trội vậy”(35).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về chế độ trường học của Việt Nam, ở kinh đô có Quốc tử giám, tất phải có Tế tửu, Tư nghiệp, Tiến sĩ thông thạo ngũ kinh, Giáo thụ để dạy các cống sĩ (Tú tài và Cử nhân). Lại còn có Sùng văn quán, Tú lâm cục, ở đây tất phải có Hàn lâm việc kiêm Chưởng quan để dạy các hạng nho sinh con em các quan ở Viện Sùng văn, Tú lâm. Tại các phủ thiết lập trường học Văn miếu, có các quan Huấn đạo nho học để dạy các sinh đồ”(36). “Hễ là con em của dân thường, cứ đủ 8 tuổi là vào tiểu học, 15 tuổi vào đại học”(37). Về nội dung học tập “kẻ sĩ đi học, phần lớn vẫn là “cương giám” (lịch sử) và “tính lý” (học thuyết nói về tính cách con người và sự vật đều do trời sinh ra cả – ND)(38), “tam cương, ngũ thường cùng với chính tâm tu thân là gốc của tề gia, trị quốc, văn chương lễ nhạc, tất cả đều phải học đủ”(39). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về tình hình đời sống của xã hội Việt Nam thời cổ, những ghi chép của đồ nhà Minh đã viết: “Họ sống chung chạ, ít hiểu biết về lễ nghi, tính nết thô bạo, thích đánh nhau, trọng giàu, khinh nghèo”(40), “Phong tục sống chung chạ. Có người cắt tóc, có người búi tóc, môi đỏ răng đen, đi chân đất, xăm vẽ đầy mình. Ưa tắm lúc nóng nực nên giỏi hơi thuyền lội nước”(41). Về mặt trang phục, Minh Thái Tổ đã có bài thơ miêu tả như sau: “Người dân coi việc đi chân đất là lệ làng, cạo tóc áo quần như thầy tu nơi hoang dã”(42).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những ghi chép đời nhà Thanh còn nói rõ: “Tóc họ để đuôi dài sau lưng, được chải bằng sáp nên không bị tơi xõa. Chân đi đất, họ coi đất như là cát sạch vậy. Áo của con trai, con gái, đàn ông, đàn bà đều không có cổ đứng, khó phân biệt, không có quần váy, con gái mặc váy thùng, không gấp nếp, vua và quan thì đi tất che đến đầu gối nhưng họ vẫn không ưa lắm. Các phu kiệu cầm lọng quạt của nhà vua chỉ được quấn vải từ mông đến rốn, mùa đông cũng không có áo”(43).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về mặt kiến trúc, “chỉ có nhà vua mới được dùng ngói màu vàng, quan và dân không dám dùng ngói, chỉ được lợp bằng cỏ, cột, kèo bằng tre, mái hiên nhà chỉ cho phép cao 4 thước ta, cửa cao không được quá 3 thước ta, phải cúi đầu khom lưng mới vào được, ngay cả cửa ở cung vua cũng không được cao quá mười thước ta”(43).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về các đồ dùng trong nhà của Việt Nam thì “nhà sang mới có giường và đệm, còn dân thường không có. Những người sang trọng thì đi cáng, hai người khiêng. Hạng đại quý tộc thì có kiệu giống như xe, lên kiệu rồi thì ngồi xếp bằng, có 4 người hoặc 8 người khiêng”(43), “họ không có bàn ghế. Riêng với các sứ thần, họ làm ghế ngồi vừa cao vừa rộng. Bàn yến tiệc của họ hình tròn, sơn son thiếp vàng, được phép cao khoảng một thước ta, viền xung quanh như cánh hoa”(43). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về phong tục tập quán Việt Nam, có người cho rằng “phong tục của họ dâm đãng, không biết xấu hổ, khi tắm ngâm mình xuống nước, đàn ông đàn bà đều tắm truồng, đi lại, đứng ngồi không né tránh nhau, kể cả nhà quyền quý cũng thế”. Tập quán ăn trầu của người Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc: “Lúc nào cũng nhai trầu, chỉ có lúc ngủ là dừng mà thôi. Răng thì nhuộm đen bóng, thấy người có răng trắng lại còn cười lại họ”(43).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Về phong tục cưới xin, “đến ngày đã định con trai con gái tụ tập thành hàng thành lối, kết những quả cầu ngũ sắc, vừa hát hò vừa tung cầu, họ gọi trò chơi đó là “tung còn”, con gái nhận còn coi như việc hôn nhân của nhà trai đã được quyết định”(44). Xem ra cách ấy cũng giống như cách tung quả tú cầu đểđịnh đoạt hôn sự vậy.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Theo một số ghi chép trong sử sách Trung Quốc thì địa vị xã hội của người phụ nữ Việt Nam trong thời cổ đại tương đối cao. Thí dụ trong quan hệ hôn nhân, nam phải được người nữ lấy, nữ giới chính là lấy người. Nữ giới lấy chồng nếu không có của hồi môn cho nhà trai thì bị coi là hèn hạ, vô tích sự. Trong lúc đó có thổ dân lấy được vợ đẻ con trai mới được về nhà chồng, đẻ con gái thì không được về, vì thế con gái quý hơn con trai”(45). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong buôn bán phụ nữ cũng chiếm một địa vị rất cao. Dù con trai nhà quan cũng không </font><font color="#000000">kiêng kỵ ra chợ mua bán con gái. Không phải phiên, hàng nghìn con gái cũng được mang </font><font color="#000000">ra bán(45).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngoài ra, tục ngũ có câu: “Đất bao nhiêu thì nuôi người bấy nhiêu”. Những người Trung Quốc đã đến Việt Nam còn nhận xét rằng “Hai châu Hoan và Diễn (tức là đất Nghệ An ngày nay – ND) văn học phát triển, hai châu Giao và Ái (tức là đồng bằng Bắc Bộvà Thanh Hóa – ND) thì nhiều người hào phóng, so với các nơi khác cũng hơi đặc biệt”(46). Qua đó có thể thấy người Trung Quốc nhận xét rất tỉ mỉ.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một điều đáng nói nữa là, trong quá trình giao lưu giữa Trung Quốc và Việt từ rất sớm đã có hiện tượng người Trung Quốc di cư sang Việt Nam và do nhiều nguyên nhân, một số định cư lại Việt Nam. Thí dụ những tài liệu từ đời nhà Tống ghi rõ sau khi đất nước Việt Nam giành được độc lập tự chủ không lâu, do “người bản xứ ở đây không thạo về văn tự, nên những nhà buôn từ Phúc Kiến đến, tất phải tiếp xúc, vì các quan muốn giải quyết công việc, các văn bản đều do khách đề xuất. Tương truyền rằng ông Lý Công Uẩn vốn người Mân (tức là Phúc Kiến – ND). Lại có cả những người có tài năng, những nhà sư, đạo sĩ, các nhà kỹ thuật và tôi tớ của họ trốn sang đây rất nhiều”. Có thể thấy rõ những người đó được các nhà đương cục Việt Nam trọng đãi họ đã lưu lại định cư và phục vụ cho chính quyền thời ấy. Nhưng cũng có một số ít là bị cướp sang Việt Nam làm nô tì: “Thổ dân ở nước này rất ít, một nửa là dân thành phố. Một số lữ khách ở vùng Nam Châu dụ dỗ người đi làm nô tì, tôi tớ nhưng đến Châu Động thì trói lại và đem bán, giao người ở Châu Động, lấy hai lạng vàng, người có tài nghệ thì được bù thêm, người giỏi văn chương chữ nghĩa cũng được bù thêm. Bị trói tay và bị đuổi đi, những người này không biết đường về. Đến địa điểm thì người bị bán được giao cho người    mua và làm tôi tớ suốt đời, bị xăm chữ lên trán, phụ nữ thì bị xăm vào vú, bị quản thúc chặt chẽ để đề phòng họ trốn”(47).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Từ đó người Trung Quốc di cư sang Việt Nam ngày càng nhiều, cho nên có tài liệu lịch sử đã chép “vào thời loạn lạc đời nhà Minh, số người lưu lạc sang ngụ cư ở đất nước láng giềng có đến hàng triệu”(48). <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>3. Một số nhận định về những ghi chép có liên quan đến Việt Nam trong sử sách Trung Quốc<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trước hết, cần nói rằng những ghi chép xa xưa của Trung Quốc về Việt Nam là phong phú, về đại thể là tương đối khách quan. Nhưng do tư cách cá nhân và quá trình từng trải của các tác giả có khác nhau, những nơi họ đặt chân đến cũng khác nhau, góc độ quan sát của họ cũng khác nhau, thậm chí có thể do nguyên nhân những người khác đã sửa chữa trong quá trình xử lý những sử liệu đó, nên đã xuất hiện những điểm không thống nhất về sử liệu ở một số mặt nào đó, thậm chí có những điểm mâu thuẫn với nhau. Thí dụ, một số ghi chép dưới đời nhà Thanh cho rằng “ngà voi, dược liệu thơm, bông, hồ tiêu, hoa hồi, dấm là từ nước ngoài nhập vào”(49). Mà đoạn trên khi trích những ghi chép về sản vật Việt Nam, chúng ta có thể thấy rõ rằng ớ đấy có ngà voi, và các sản vật quý hiếm như hương liệu. Hoặc, trong một số ghi chép dưới thời nhà Nguyên nói rằng “phong tục lễ nghi mang phong cách Trung Quốc”(50) nhưng những ghi chép dưới thời nhà Minh lại nói rằng “tính nết thô bạo”(51). Vì vậy cần có sựđối chiếu và phân tích các nguồn sử liệu đương thời mới có thể tìm hiểu và đánh giá một cách toàn diện, khách quan trình độ nhận thức của người Trung Quốc cổ xưa về Việt Nam. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Thứ hai, từ ngày nước Việt Nam giành được độc lập (năm 968), do vẫn duy trì mối quan hệ nước thiên triều và nước chư hầu với các triều đại phong kiến Trung Quốc, cho nên các tác giả của sử sách Trung Quốc viết vềViệt Nam, bao gồm các vị đế vương, sứ thần, nhà buôn, khách du lịch cùng các học giả, văn nhân đều hoặc ít nhiều chịu ảnh hưởng và sự chi phối của quan niệm đó. Thí dụ trong một bài thơ của Minh Thái Tổ có câu:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>Lĩnh Nam nam, hựu Hải Nam biên, </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Duy hữu An Nam phụng ngã thiên</i>(52).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Có nghĩa là:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>Phía nam Lĩnh nam, lại bên cạnh Hải Nam </i></font><br />
<font color="#000000"><i>Chỉ có nước An Nam là tôn sùng trời của ta</i>.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sử liệu đời nhà Tống cũng đã từng viết:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>“Khi sứ giả của ta đến, tù trưởng tất phải dắt ngựa ra khỏi thành, triển khai nghi lễ đón tiếp nước lân bang, nét mặt phải nghiêm trang, phải cúi lưng, vấn an hoàng thượng. Họ bá cổ nhau cùng đi, thỉnh thoảng dẫm chân giơ thẳng sào, lặn xuống nước đâm cá, mỗi lần đâm trúng cá, mọi người hò reo ầm ĩcoi đó là niềm vui”</i>(53).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Triều đình nhà Nguyên tỏ ra bất mãn khi vua An Nam không chịu quỳ để nhận chiếu thư, “người đi sứ sau một năm đi về phải tâu, quốc vương mỗi lần nhận chiếu chỉ của thiên tử chỉ phải khoanh tay không phải lạy, khi tiếp hoặc mở tiệc đãi sứ giả thì được ngồi trên sứ giả một  bậc… Chiếu chỉ của thiên tử các thần đều phải cúi lạy tiếp nhận, đó là đạo nghĩa từ cổ chí kim, không có ngoại lệ”(54).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cho đến đời Minh lệ đó vẫn tiếp tục, chẳng hạn “năm Canh Ngọ đời Cảnh Thái (tức năm 1450), sứ thần Biên Vĩnh ban chiếu cho An Nam, vua quan của nước ấy đều đến Toà của sứ thần nghênh tiếp, cúi lạy trên thềm – Vĩnh Chính Sắc đã trách rằng: “An Nam vốn là nước láng giềng nổi tiếng về lễ nghĩa, không hiểu sao nay lại ngạo mạn như thế! Mọi người hoảng sự cúi lạy trên thềm(55).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đời nhà Thanh các sách còn viết: “tôn nước Trung Hoa ta là thiên triều, coi người Trung Hoa ta là người của thiên triều, vẫn như thể chế ngày xưa vậy”(56).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ảnh hưởng của quan niệm nước lớn nước nhỏ ấy, có lúc đã ảnh hưởng nhất định đến tính khách quan trong quan sát và ghi chép của các tác giả đối với xã hội Việt Nam. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Thêm vào đó do tập tục xã hội của hai nước Trung Quốc và Việt Nam cũng có những điểm khác nhau nên các sứ thần Trung Quốc cũng như những người Trung Quốc khác đã từng đến Việt Nam thường quan sát và đánh giá Việt Nam về nhiều mặt theo quan niệm truyền thống của Trung Quốc để từ đó có những kết luận riêng của mình. Trong đó có những miêu tả và đánh giá về phong tục tập quán Việt Nam có thể đem lại cho người khác ấn tượng không đẹp. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Song chúng ta cũng nên nhận thấy rằng trong thời xa xưa giao thông khó khăn và thiếu thông tin ấy, những ghi chép về Việt Nam trong sử sách cổ Trung Quốc vẫn là nguồn chủ yếu để người đương thời tìm hiểu về Việt Nam và những ghi chép đó quả thật đã có ảnh hưởng vô cùng quan trọng trong lòng người Trung Quốc (chủ yếu là các văn nhân học giả) về hình ảnh Việt Nam. Ngày nay chúng ta nghiên cứu những nhận định và ấn tượng của người Trung Quốc xưa về Việt Nam, chính là để hiểu thêm nguyên nhân đã nảy sinh ra những nhận định đó và hậu quả của những nguyên nhân đó.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhìn chung cách nhìn của các văn nhân học giả Trung Quốc về Việt Nam đều muốn hướng tới sự khách quan, chính xác, song do ảnh hưởng của quan niệm phong kiến và nguồn thông tin khó khăn này nên đã nảy sinh một số vấn đề và sai lạc. Qua việc phân tích một số tác phẩm ởnhiều thời kỳ khác nhau và của các tác giả cương vị khác nhau để chắp nối lại sự hình   thành những nhận định của người Trung Quốc về hình ảnh Việt Nam cùng những thay đổi, sẽ là công việc nghiên cứu khoa học đầy ý nghĩa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>Tài liệu tham khảo<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">[1] Hà Thiên Niên, “Lược thuật về thư tịch cổ Trung Quốc qua các thời đại viết về Việt Nam”, </font><br />
<font color="#000000">in trong “Học báo nhân học Đại học sư phạm Tây Nam”, Khoa học Xã hội nhân văn, số 11/2002, tr. 129-133. </font><br />
<font color="#000000">[2] Trương Tú Dân, “An Nam thư mục đề yếu”, Tập san Thư viện Bắc Kinh, số 1/1996.</font><br />
<font color="#000000">(3) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thư vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”[2]. </font><br />
<font color="#000000">(4) Minh sử, quyển 321 “Liệt truyện” thứ 209, phần 2 “Ngoại quốc” – “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(5) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thi vực châu tư lục”, quyển 5, “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(6) Trịnh Tủng (đời Tống), “An Nam kỷ lược” (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.58]). “Tống sử”, quyển 488, Liệt truyện thứ 247, “ngoại quốc” 4: Giao Chỉ có viết: “Địa vô hàn khí, </font><br />
<font color="#000000">tháng 11 giáp y huy phiến”.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(7) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(8) La Viết Quýnh, “Hàm Tân Lục” Nam Di Chí, quyển 6, “An Nam” nhưng căn cứ vào “Minh sử” quyền 321, “Liệt truyện” thứ 209, “Ngoại quốc” 2, phần ghi chép về An Nam </font><br />
<font color="#000000">thì “An Nam đất nghèo, khí hậu nóng, một năm chỉ hai mùa lúa”. </font><br />
<font color="#000000">(9) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(10) La Viết Quýnh (đời Minh), “Hàm Tân Lục” Nam Di Chí, quyển 6, “An Nam” nhưng căn cứ vào “Minh sử” quyền 321, truyện 209 trong “Liệt truyện”, “Ngoại quốc” 2, ghi chép về An Nam thì “An Nam đất nghèo, khí hậu nóng, một năm chỉ hai mùa lúa”. </font><br />
<font color="#000000">(11) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược”, đoạn nói về “Giao Chỉ”.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(12) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(13) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược”, đoạn nói về “Giao Chỉ”.</font><br />
<font color="#000000">(14) Nghiêm Tùng Giản (đời Minh), “Thư vực châu tư lục”, quyển 6 “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(15) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược”, đoạn nói về “Giao Chỉ”. </font><br />
<font color="#000000">(16) Trịnh Tủng (đời Tống), “An Nam kỷ lược” (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.59]. Tuy nhiên, qua bài viết Trương Tú Dân cho rằng ghi chép về vấn đề “chưa đúc được tiền” là </font><br />
<font color="#000000">không đúng. Từ năm 981 đến năm 988, Lê Hoàn đã đúc đồng tiền “Thiên phúc chấn bảo”, mặt sau có chữ LÊ, đó là đồng tiền xưa nhất của Việt Nam. Đời nhà Lý chưa chắc đã </font><br />
<font color="#000000">không đúc được tiền, nhưng vì trong nước thiếu đồng, nên đúc một số lượng ít mà thôi. </font><br />
<font color="#000000">(17) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược”, đoạn nói về “Giao Chỉ”.</font><br />
<font color="#000000">(18) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”, theo sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của nhà sử học Việt Nam Phan Huy Chú, phần viết về</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">“Quan chức’ ghi rõ năm thứ nhất đời Lê Hồng Đức (1470), mùa thu “đã đặt ra quan chế trong triều… có lục bộ, lục tự, lục khoa, ngự sử đài, Hàn lâm viện, Đông các, Quốc tử</font><br />
<font color="#000000">giám, Quốc sử viện, Phủ doãn, Phủ cung sư (tức quan Đông Cung), Tư Thiên giám, Thái y viện, Bí thư gián, Trung thư gián, Hoa văn gián đều thuộc các chức cơ vụ nội bộ. Thừa </font><br />
<font color="#000000">tuyên, Phủ huyện, các nha môn ở châu là những chức quan gần dân (các quan khuyến nông, đê điều)”. Có thể thấy sửsách Trung Quốc ghi chép khá đúng và tỉ mỉ. </font><br />
<font color="#000000">(19) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ dư”. </font><br />
<font color="#000000">(20) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(21) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ dư”. Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng viết “Phẩm phục thời Lý, Trần ở nước Việt phần lớn giống thời Tống, thời Lê cũng áp dụng như vậy”. </font><br />
<font color="#000000">(22) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(23) “Minh sử”, quyển 321, “Liệt truyện” số 289, “Ngoại quốc” 2: “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(24) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(25) Trương Nhiếp, “Đông Tây dương khảo”, quyển 1: “Giao Chỉ”. </font><br />
<font color="#000000">(26) “Tổng sử” quyển 488, Liệt truyện số 247, “Ngoại quốc’ 4: “Giao Chỉ’, Trịnh Lạp (đời Tống), Trong “An Nam ký lược” cũng có đoạn ghi tương tự: “Trong thành nơi không có dân </font><br />
<font color="#000000">cư, có mấy trăm khu nhà bằng tre trúc dùng làm doanh trại của lính. Cửa phủ có ghi “Minh Đức”… Binh khí thì có cung, nỏ, mộc bài, súng tre” (dẫn theo Trương Tú Dân[2]).</font><br />
<font color="#000000">(27) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(28) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ du”.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(29) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(30) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ dư”. </font><br />
<font color="#000000">(31) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(32) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược’, phần “Giao Chỉ”. </font><br />
<font color="#000000">(33) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(34) Trịnh Lạp (đời Tống), “An Nam ký lược’ (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.59]). </font><br />
<font color="#000000">(35) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh): “An Nam kỷ du”. </font><br />
<font color="#000000">(36) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”. </font><br />
<font color="#000000">(37) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược’, phần “Giao Chỉ”.</font><br />
<font color="#000000">(38) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ du”. </font><br />
<font color="#000000">(39) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(40) La Viết Cánh (đời Minh), “Hàm tân lục’, Nam di chí, quyển 6, “An Nam” (đề tựa năm 1591). </font><br />
<font color="#000000">(41) Trương Nhiếp (đời Minh), “Đông Tây dương khảo, quyển 1 “Giao Chỉ” (bản khắc năm 1617). </font><br />
<font color="#000000">(42) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 6, “An Nam”.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(43) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(44) Trịnh Lạp (đời Tống), “An Nam ký lược’, dẫn theo Trương Tú Dân.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(45) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ du”. </font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">(46) “Minh sử”, quyển 321, “Liệt truyện” truyện 289, “Ngoại quốc” 2: “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(47) Trịnh Lạp (đời Tống), “An Nam ký lược” (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.58]. </font><br />
<font color="#000000">(48) Dư Tấn (đời Thanh), “Đại quan đường văn tập”, quyển 2 “Thuộc quốc hiệu thuận thư”.</font><br />
<font color="#000000">(53) Trịnh Lạp (đời Tống), “An Nam ký lược” (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.58]. </font><br />
<font color="#000000">(54) “Nguyên sử”, quyển 209, truyện thứ 96 “Liệt truyện”, “Ngoại di” 2: “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(55) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 5, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(56) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ du”.</font><br />
<font color="#000000">(49) Lý Tiên Căn (đời Thanh), “An Nam tạp ký”. </font><br />
<font color="#000000">(50) Uông Đại Uyên (đời Nguyên), “Đảo di chí lược’, phần “Giao Chỉ” 1349. </font><br />
<font color="#000000">(51) “Minh sử”, quyển 321, “Liệt truyện” thứ 209, “Ngoại quốc” 2: “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(52) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 5, “An Nam”.</font><br />
<font color="#000000">(53) Trịnh Lạp (đời Tống), “An Nam ký lược” (dẫn theo Trương Tú Dân [2, tr.58]. </font><br />
<font color="#000000">(54) “Nguyên sử”, quyển 209, truyện thứ 96 “Liệt truyện”, “Ngoại di” 2: “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(55) Nghiêm Tòng Giản (đời Minh), “Thù vực châu tư lục”, quyển 5, “An Nam”. </font><br />
<font color="#000000">(56) Phan Đỉnh Quê (đời Thanh), “An Nam kỷ du”.</font></font></span></font></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>daibang_9x</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81470</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Lịch sử mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Việt Nam (1009-1847)</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81431&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Sun, 19 May 2013 16:51:23 GMT</pubDate>
			<description>Image: http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/nam_tien.png  
* 
GS.TS. Song Jung Nam 
Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><div style="text-align: center;"><img src="http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/nam_tien.png" border="0" alt="" /></div><div style="text-align: right;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><i><b><br />
GS.TS. Song Jung Nam<br />
Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc</b></i></font></font></span></font></div><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><b>I. MỞ ĐẦU</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành chủ yếu về phía Nam bởi hai nguyên nhân chính là dùng triết lý sức mạnh và do yếu tố địa chính học. Nguyên nhân thứ nhất cụ thể là sự hùng mạnh của Trung Quốc, nguyên nhân thứ hai là dãy Trường Sơn.<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><font color="#000000"><span style="font-family: inherit"><font size="3"><span style="font-family: arial">Với mục đích chính trị – kinh tế, khi tiến hành quá trình mở mang lãnh thổ và tăng cường sức mạnh của mình, Việt Nam đã không thể tiến lên phía Bắc vì có Trung Quốc mạnh hơn mình. Vô hình trung, Việt Nam không còn cách nào khác là phải chống lại quá trình mở mang lãnh thổ về phía Nam của Trung Quốc và kết quả là Việt Nam đã phải trải qua một quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/van-lang-au-lac.jpg" border="0" alt="" /></div><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Mặt khác, Việt Nam cũng đã mấy lần thử tiến về phía Tây là nước Lào với mục đích và nguyên nhân như đã nêu trên nhưng giữa hai nước có dãy núi dài hiểm trở nên không được như mong muốn. Kết quả là Việt Nam và Lào tiếp tục duy trì mối quan hệ hữu nghị truyền thống bất chấp quy luật lịch sử “<i>giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt</i>”.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Dù thế, trong lịch sử, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Lào không hẳn đều tốt đẹp. Dưới triều đại Hậu Lê hay triều đại nhà Nguyễn, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ ở phía Đông Bắc Lào với vùng biên giới của mình. Tuy nhiên, mức độ và số lần căng thẳng về chính trị không nhiều và sâu sắc, đất chiếm lĩnh thì chưa được khai thác, dân số của Lào ít nên sau khi chiếm lĩnh được cũng không đủ lực lượng lao động tại chỗ để khai thác. Hơn nữa, có nhiều lý do nên không thu hút được dân nước mình khai thác vùng đất đó nên việc tiến sang Lào của Việt Nam không dễ dàng. Tương tự, triều Nguyễn đã lấy đất của Lào và nhập vào lãnh thổ của mình 6 trấn là Trấn Man, Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Lạc Biên và rồi trả lại cho Lào khi Pháp tiến vào (2).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vì khó tiến lên phía Tây Bắc nên Việt Nam tiến về phía Nam là một kết quả tất yếu. Ở đây, so với các nước ở phía Nam, Việt Nam chiếm ưu thế về sức mạnh, so với phía Tây Bắc thì không tồn tại trở ngại nào, sau khi chiếm lĩnh có thể khai thác mở rộng bằng lực lượng lao động phong phú tại chỗ. Không những thế, về mặt địa lý, phía Nam nối liền với đường biển rất thuận tiện nên dễ tiến hơn đường bộ. Việc chinh phục được Champa hiếu chiến là đỉnh cao của vị thế và sự phát triển của Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cũng như lịch sử trường kỳ của Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ mất thời gian dài. Trong thời gian đó, việc mở rộng lãnh thổ bắt đầu từ triều nhà Lý. Bài nghiên cứu này xem xét việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam của triều đại hậu Lê, thời kỳ mà công cuộc mở mang lãnh thổ được tiến hành sâu rộng và mạnh mẽ nhất trong lịch sử Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhà Lý là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, ngoại trừ 100 năm hưng thịnh, còn lại đều là thời kỳ bất ổn. Việc mở rộng lãnh thổ dưới triều đại Lý được hoàn thành trong 260 năm, thời kỳ bất ổn định bởi Trịnh – Nguyễn phân tranh, tức là thời kỳ đối lập và phân chia Nam Bắc.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tài liệu tham khảo của bài nghiên cứu này là <i>Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại của Nguyễn Đình Đầu, Khảo sát chế độ đất đai và mở rộng lãnh thổ phía Nam Việt Nam và Quốc hiệu và lãnh thổ của Việt Nam</i> <i>của Song Jung Nam</i> (3).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Khác với các bài nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này mang tính phức hợp và xem xét đến các vấn đề lịch sử trong giới hạn một thời đại và một chủ đề, đồng thời có mục đích phân tích tính chất thời đại trong việc mở rộng lãnh thổ – vấn đề chưa được đề cập trong các bài nghiên cứu trước. Để thực hiện mục đích này, bài viết phân chia thời kỳ trước và sau khi chúa Trịnh và chúa Nguyễn – 2 nhà quyền lực dưới 1 triều đại trong 1 quốc gia – phân tranh quyền lực và xem xét bối cảnh, quá trình triển khai, tính chất của việc mở rộng lãnh thổ trong từng thời kỳ. Ở thời kỳ trước khi Trịnh Nguyễn phân tranh, trong mối liên hệ với thời kỳ sau, chúng tôi xem xét đến thời điểm việc mở rộng lãnh thổ được triển khai; Thời kỳ sau Trịnh Nguyễn phân tranh, bài viết sẽ xem xét đến khi Pháp tiến vào ngăn chặn việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>II. THỜI KỲ TRƯỚC KHI PHÂN CHIA NAM BẮC<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngay sau thời kỳ Bắc thuộc tức là sau thời kỳ thuộc địa của Trung Quốc thì ranh giới phía Nam của Việt Nam là Hà Tĩnh. Lợi dụng lúc nước Đường khó giữ được An Nam bởi tình hình hỗn loạn nghiêm trọng cuối thời Đường như sự xâm chiếm Java, Chiêm Thành, Nam Triều, Campuchia và sự nổi dậy của An Nam… cũng là lúc mà Chiêm Thành đang ở trong thời kỳ hưng thịnh mở rộng lãnh thổ từ Ai Vân (còn gọi là Hải Vân) đến Hoành Sơn, nay được phỏng đoán là đã quyết định Indrapura của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam làm thủ đô (4).<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/05/lanhtho02.jpg" border="0" alt="" /></div><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam có vương triều độc lập. Nhưng vì thời gian tồn tại của Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn và chưa được vững vàng, thiếu chuẩn bị nên lãnh thổ không có thay đổi gì kể cả phía Nam. Trong 3 triều đại kể trên thì triều đại Tiền Lê đã viễn chinh đến thủ đô của Chiêm Thành nhưng không thể mở rộng được lãnh thổ. Nhưng kể từ đấy, Chiêm Thành đã trở thành nước triều cống của Việt Nam (5).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong lịch sử Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ năm 1069 dưới triều đại Lý – triều đại đầu tiên có thời gian tồn tại lâu nhất. Kết quả là Chiêm Thành đã nhường 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (6). Căn cứ vùng đất thuộc Địa Lý ở huyện Lê Ninh, tỉnh Quảng Bình, Ma Linh ở huyện Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, Bố Chính ở huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình thì có thể nói là triều đại Lý đã mở rộng lãnh thổ phía Nam đến tỉnh Quảng Trị ngày nay. Năm 1075, Địa Lý và Ma Linh đã đổi tên thành châu Lâm Bình và Minh Linh (7). Năm 1104, với sự xâm lược của Chiêm Thành 3 châu này bị chiếm mất nhưng ngay sau đó với sự tấn công của Lý Thường Kiệt, Việt Nam đã giành lại được (8).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Năm 1307, thông qua cuộc hôn nhân với Chế Mân –vua của Chiêm Thành, Trần Nhân Tông đã nhận được châu Ô, Lý. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi “<i>Trước đây vua Chiêm Thành là Chế Mân đem đất đó làm lễ vật dẫn cưới, dân các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không phục, vua bèn sai Đoàn Nhữ Hài đến đó để tuyên thị đức ý của triều đình, chọn dân ở đấy ban cho chức quan, cấp cho ruộng vườn, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”</i> (9).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong lịch sử chinh phục Chiêm Thành của Việt Nam, việc nhận được lãnh thổ do nhà trai cho nhà gái là việc lấy lãnh thổ thông qua quan hệ hữu nghị (10). Chúng tôi sẽ đề cập sau, trong lịch sử cũng có sự kiện tương tự như thế nhưng lại kết thúc bởi sự di trú của người dân thông qua quan hệ hôn nhân. Năm sau đó, triều đại nhà Trần đã đổi vùng đất này thành Thuận Châu (bây giờ là Quảng Trị), Hóa Châu (bây giờ là Thừa Thiên Huế) (11). Triều đại nhà Trần vì phải đương đầu với 3 cuộc xâm lược kéo dài và quyết liệt của quân Mông Cổ nên cũng như các triều đại trước và sau đó, ngoài trường hợp trên, Việt Nam không nhận được một tất đất nào từ Champa. Ngược lại, do bị tổn thất nặng nề trong thời kỳ chiến tranh chống Mông Cổ và sự mạnh lên của Chiêm Thành, Thăng Long đã vài lần phải lâm vào thế tự vệ và thậm chí năm 1368 còn bị Chiêm Thành yêu cầu trả lại châu Hóa – một phần trong lãnh thổ là lễ vật hôn thú trước đây.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">“<i>Tháng 2 năm 1368, Chiêm Thành sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu</i>” (12).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Với yêu cầu này của Chiêm Thành, trước hết nhờ sức mạnh sẵn có nhưng Việt Nam còn có tư cách đòi phạt hay bồi thường đối với một phần lễ hôn thú bị mất. Kết hôn chưa được một năm thì vua Chiêm Thành mất, theo phong tục Suttee của Ấn Độ, công chúa phải chết cùng với vua, phía Việt Nam đã dùng mưu lược phục thù nhằm cứu công chúa (13).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam cũng được tiếp tục với triều Hồ. Năm 1402, nhà Hồ xâm chiếm Chiêm Thành và nhận được Chiêm Động chia thành hai châu Thăng và Hóa; đồng thời nhận được Cổ Lũy chia thành 2 châu Tư và Nghĩa 14. Châu Thăng và Hóa ngày nay thuộc huyện Duy Sơn, Quế Sơn, Tam Kỳ Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, Châu Tư và Nghĩa nay thuộc huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này có nghĩa là lãnh thổ phía Nam Việt Nam được mở rộng đến Quảng Nam và Quảng Ngãi.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhưng khi nhà Minh cai trị thì khu vực này bị Chiêm Thành chiếm lại. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi <i>“Minh Vĩnh Lạc thứ 12, Phủ Thăng Hoa tuy có đặt quan, nhưng Chiêm Thành vẫn có trưởng lộ chiếm giữ, nên nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi (15). Đào Duy Anh đã lấy ở Hoàng Minh thực lực và đưa ra bằng chứng về điều này “Năm Vĩnh Lạc thứ 13, tháng 11, vua nước Chiêm Thành là Chiêm Ba Dịch Lai… lại xâm đoạt đất 4 châu 11 huyện thuộc phủ Thăng Hoa đuổi cướp nhân dân</i>” (16).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong lịch sử Việt Nam, triều đại hậu Lê là triều đại có được nhiều lãnh thổ nhất. Kết quả là Việt Nam có lãnh thổ gồm phần phía Nam ngày nay. Việc mở rộng lãnh thổ của triều đại hậu Lê có thể chia thành 100 năm hưng thịnh và 260 năm suy vong. Ở chương này chủ yếu tập trung vào thời kỳ hưng thịnh.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 26 vạn đại quân chiếm Chiêm Thành và năm 1471 đã lấy lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị mất trong thời gian cai trị của nhà Minh đặt tên gọi là Quãng Nam thừa tuyên (17). Ngoài ra, qua cuộc viễn chinh này, vua Lê Thánh Tông đã chiếm được vùng đất từ Hoài Nhân đến đèo Cù Mông (18). Do đó, Việt Nam đã mở rộng lãnh thổ đến Bình Định ngày nay, và năm 1490 đưa Quảng Nam và Thăng Hoa nhập vào lãnh thổ đã chiếm được (19).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cuộc viễn chinh lớn vào năm 1470 đã giúp cho Việt Nam sau này có bàn đạp để có thể dễ dàng hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài lãnh thổ chiếm được, Việt Nam chia Chiêm Thành thành 3 khu vực Nam Bàn, Hoa Anh, Phiên Lung vốn đã chịu nhiều thất bại nặng nề (20) để có thể dễ dàng hợp nhất khu vực này vào bất cứ lúc nào. Cụ thể là Việt Nam cho Nam Bàn nhập vào Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc; Hòa Anh vào Phú Yên, Khánh Hòa; Phiên Luân vào Ninh Thuận thuộc Phan Rang. Việt Nam đã phân ly Chiêm Thành thành 3 vùng ban sắc phong cho 3 vua và đặt nền móng cho việc hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài ra, trong thời kỳ hưng thịnh triều đại hậu Lê cũng đã mở rộng lãnh thổ về phía Tây. Khác với cách xâm lược và hợp nhất như khi mở rộng lãnh thổ ở phía Nam, ở đây có tính chất lệ thuộc và hợp nhất nhiều hơn.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vào năm 1353, Angcowat độc lập, ở vương quốc Lan Xang của Lào có bộ lạc Bồn Man ở khu vực trung tâm Quảng Bình thuộc Sơn La – vùng tiếp giáp với biên giới Việt Nam. Tộc họ Câm cai trị khu vực này nhiều đời và có quan hệ đối ngoại với Việt Nam từ thế kỷ 15. Năm 1447, theo đề nghị quy phục của Bồn Man, Việt Nam đã tiếp thu điều này và đổi thành châu Quy Hợp (21) nhập vào phủ Lâm An (22). Cho dù bị quy phục Việt Nam nhưng cũng như lúc quy phục Lan Xang, vùng này vẫn được công nhận là tự trị như trước (23). Đất này bị hợp nhất cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm chiếm.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau vương triều độc lập, đến thời kỳ hưng thịnh của triều đại hậu Lê, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành trong điều kiện năng lực quốc gia yếu kém. Cho dù là triều đại độc lập, nhưng thời kỳ Ngô, Đinh, tiền Lê ở trong tình thế bị đóng khung trong một quốc gia, thời nhà Trần thì tuy là một đất nước có một không hai trên thế giới có khả năng đẩy lùi quân Mông Cổ 3 lần nhưng vì hậu quả chiến tranh, gặp phải nhiều khó khăn nên không thể tiến hành mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ có tính cách hợp nhất vĩnh viễn đã đẩy mạnh sự phát triển của Việt Nam thông qua sự di trú của người Việt và chính sách phái quan lại người Việt làm quản lý và tiến hành Việt Nam hóa người bản địa. Với sự lệ thuộc của Bồn Man, lãnh thổ của Lào được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và tuy chính sách phát triển thông qua sự di trú của người dân như ở phía Nam cho dù không được thực hiện nhưng Việt Nam phái người quản lý tới địa phương để trực tiếp quản lý đã cho thấy tính chất chiếm lĩnh vĩnh viễn ở đây. Để dàn xếp sự chống đối của Bồn Man, từ năm 1460 Lê Thánh Tông đã nhiều lần gửi quân đội đến trấn áp, thậm chí tháng 8 năm 1479 đã điều động 18 vạn đại quân bình định đến Luang Prahang (24). Năm 1474, chính sách di trú người Việt tới khu vực Chiêm Thành ra sắc chỉ rằng: Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, ở châu gần thì sung làm quân vệ Hoài Nhân, những kẻ được tha tội cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân (25).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đặc trưng của việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này có khác với thời kỳ suy thoái là đối tượng mở rộng lãnh thổ là ngoài một phần của Lào ra chỉ giới hạn trong khu vực Chiêm Thành. Kết quả là Chiêm Thành ở vùng đệm nên có thể duy trì quan hệ đối ngoại giữa Thái Lan, Campuchia với Việt Nam. Nhưng thời kỳ sau, đối tượng mở rộng lãnh thổ đến cả Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia hay Việt Nam – Thái Lan trở thành mối quan hệ đối lập sâu sắc, thậm chí Campuchia là trục chiến lược trong sự cạnh tranh của Việt Nam và Thái Lan.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>III. THỜI KỲ SAU PHÂN CHIA NAM BẮC<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ trong lịch sử Việt Nam được thực hiện sôi động, nhanh và trong phạm vi rộng lớn nhất là vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ này hay được triển khai với mục đích cơ bản vốn có nhưng có thể thấy được sự khác nhau với thời kỳ trước ở chỗ được tiến hành trong sự chia rẽ và đối lập sâu sắc về quyền lực. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này không được triển khai qua thời gian lâu dài như thời kỳ trước mà được thực hiện trong thời gian ngắn khoảng 250 năm. Dĩ nhiên có khả năng là vì đã chuẩn bị bàn đạp trong thời kỳ trước. Giống như khi xem xét thời gian tồn tại dài hay ngắn của một vương quốc, thông qua việc mở rộng lãnh thổ cũng có thể nhìn thấy được sức mạnh của quốc gia và tổn thất của Chiêm Thành.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một mặt, việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia đã kéo theo sự căng thẳng sâu sắc trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia và dĩ nhiên ảnh hưởng tới cả quan hệ Campuchia và Thái Lan. Kết quả là ngày nay, đối ngoại giữa 3 nước, đặc biệt Việt Nam – Campuchia hay Thái Lan – Campuchia vẫn còn chịu ảnh hưởng không nhỏ (26).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Để thoát khỏi sự uy hiếp của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đi xuống phía Nam thúc đẩy chính sách một cách năng động như chính sách đối ngoại thông thương, chính sách mở rộng lãnh thổ để xây dựng sức mạnh nhằm khôi phục quyền lực đã mất(27).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Do đó, việc mở rộng lãnh thổ của chúa Nguyễn tiếp tục được thúc đẩy không quan tâm đến thời gian 7 lần phân tranh với chúa Trịnh như trích đoạn dưới đây.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">“<i>Năm 1611, quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được đất ấy, bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy</i> (28).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sự kiện năm 1611 đã chứng minh rằng khác với thời kỳ đầu, đặc trưng của thời kỳ sau là chiếm lĩnh đồng thời sát nhập và hợp nhất lãnh thổ. Đặc trưng này cũng có thể thấy được qua sự kiện xảy ra vào năm 1653. <i>“Vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm quấy rối đất Phú Yên. Sai cai cơ Hùng Lộc hầu làm tổng binh và xá sai Minh võ làm tham mưu đem 3000 quân đi đánh. Đến phủ Phú Yên, ngày 3 tháng 4, nhân đêm qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, ruổi thẳng đến trại của Bà Tấm, phóng lửa đánh gấp, phá tan, đuổi dài đến sông Phan Lang. Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng. Phúc Tần cho, bắt chia đại giới, lấy đất tự phía đông sông ấy đến Phú Yên đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, đặt dinh trấn thủ Thái Khang, phía Tây sông vẫn là nước Chiêm Thành, khiến giữ bờ cõi mà nộp cống</i>”. (29) Thái Khang và Diên Ninh bây giờ là Ninh Hòa và Diên Khánh, lúc này lãnh thổ của Việt Nam được mở rộng đến Khánh Hòa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tháng 8 năm 1692, chúa Nguyễn chiếm Chiêm Thành và nhân cơ hội chiếm Diên Ninh của Chiêm Thành và tháng 3 năm sau đã bắt được vua Chiêm Thành là Bà Tranh. Lúc này, chúa Nguyễn đã đổi tên Chiêm Thành là Thuận Thành. Chúa Nguyễn đã sai cai đội Nguyễn Trí Thắng, cai cơ Nguyễn Tân Lễ, cai đội Chu Kiêm Thắng đến Phố Hài, Phan Rí, Phan Rang thuộc Bình Thuận ngày này để phòng ngự tàn đảng của Thuận Thành (30).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đất nước Chiêm Thành đến bây giờ đã hoàn toàn bị biến mất trên bản đồ. Chiêm Thành đã bị hợp nhất hoàn toàn vào Việt Nam năm 1697 nhưng trên thực tế, với tư cách là một quốc gia thì đã bị xóa bỏ vào năm 1693.<br />
<br />
<font color="#707070"><font color="#000000">“<i>Tháng 8 năm 1693, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, lấy tả trà viên Kế Bà Tử làm khám lý, ba người con Bà Ân làm đề đốc, đề lãnh và cai phủ, bắt mặc quần áo theo lối người kinh và sai về để vỗ yên lòng dâ</i>n” (31) Việc lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành thế này là hình thức mà lịch sử Việt Nam đã đối xử với tất cả các dân tộc thiểu số từ trước đến nay. Công nhận sự tự trị nhưng có nghĩa là tự trị dưới cơ cấu cai trị dạng piramid trong quốc gia. Do đó, kể từ bây giờ Chiêm Thành đã trở thành một dân tộc thiểu số của Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhưng việc loại trừ hoàn toàn Chiêm Thành làm chúa Nguyễn gặp nhiều khó khăn và trở thành gánh nặng. Từ tháng 12 năm 1693 đến tháng 2 năm sau, người Thanh A Ban và người Chiêm Thành Oc Nha That liên kết với nhau gây ra phản loạn ở Thuận Thành; Tháng 9 năm 1695 người lái buôn Lính đã liên kết Quy Ninh và Quảng Phú ở Quảng Ngãi gây phản loạn; tháng 3 năm 1697, 5 sách huyện Phú Vang nổi dậy… là những ví dụ có thật gây khó khăn cho chúa Nguyễn (32).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau khi chiếm Chiêm Thành vào năm 1693, chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách để giảm thiểu gánh nặng và những mối lo lắng đó. Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn đất chiếm lĩnh Thuận Thành vào lãnh thổ của mình, đặt theo hình thức trấn hơn là đơn vị hành chính. Cho dù đã đặt lãnh, phủ, huyện, tổng, tư là đơn vị hành chính địa phương đối với khu vực đồng bằng của chúa Nguyễn lúc đó nhưng chúa Nguyễn đã không áp đặt mà đặt Thuận Thành là trấn. Đây cũng là hình thức cai trị dân tộc thiểu số trong quá khứ. Do đó, ngoài việc dùng phương pháp cực đoan là đàn áp phản loạn, vào tháng 8 năm 1693, chúa Nguyễn đã đổi trấn Thuận Thành thành phủ Bình Thuận rồi tháng năm năm sau lại đổi thành trấn Thuận Thành (33).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Thứ hai, như đã viết ở trên, chúa Nguyễn đã thi hành chính sách đồng hóa hay lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành. Với phương pháp cụ thể hơn đối với điều này chúa Nguyễn đã dùng Kế Ba Tư làm tả đô đốc của phủ Thuận Thành và tiếp tục cai trị nơi này, đã nộp cống ông ta bởi phiên vương của trấn Thuận Thành và thu thập quân dân nộp cống hằng năm, và đã trả lại những vật lấy được trong cuộc chiến như ấn, gươm, yên, ngựa và những người bị bắt trước đây. Lúc này chúa Nguyễn đã chỉ định những danh sách nộp cống cho Việt Nam là voi đức 2 thớt, bò vàng 20 con, ngà voi 6 cái, sừng tê 10 tòa, khăn vải trắng 500 bức, sáp ong 50 cân, da cá 20 tấm, cát sủi 400 thúng, chiếu tre trắng 500 lá, gỗ mun 200 cây, thuyền dài 1 chiếc (34).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc quy định đối với các vật nộp cống và dâng phiên vương có thể nói là một điển hình trong việc nâng cao vị thế so với các nước nhỏ xung quanh của Việt Nam. Cho đến bây giờ khi xem xét đến thông lệ ban sắc phong cho các tù trưởng các dân tộc thiểu số thì có thể thấy đó là mắt xích trong chính sách hợp nhất Chiêm Thành như đã nêu. Khi so sánh thời gian tồn tại hay diện tích lãnh thổ, chính sách thôn tính một quốc gia có thế lực không thua kém mình là một sách lược chính trị khổ nhục.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nhưng vào năm 1697, Việt Nam đổi trấn Thuận Thành thành Bình Thuận và sát nhập vào một đơn vị hành chính của Việt Nam đồng thời hợp nhất lãnh thổ còn lại của Chiêm Thành từ Phan Rang đến Phan Rí đổi thành 2 huyện An Phuc và Hoa Da rồi sát nhập vào Bình Thuận nên dấu tích của Chiêm Thành hoàn toàn đã bị xóa bỏ trên bản đồ (35).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành thể hiện sự vững vàng của một quốc gia thống trị nhưng cũng cho thấy đây là một mắt xích trong việc thực hiện ý định hợp nhất Campuchia có chung đường biên giới. Kể từ trước đó rất lâu, khi trấn Thuận Thành và Phan Rang, Phan Rí vẫn còn là khu vực tự trị của Chiêm Thành, sự tiến vào Campuchia của Việt Nam đã được thúc đẩy qua việc lợi dụng những người di cư của nước Minh để phát triển lãnh thổ Campuchia nhưng lúc này thì Việt Nam không còn lý do gì để tiếp tục giữ chế độ tự trị ở khu vực này. Việc chia rẽ mục đích chính sách này mất cân bằng đối với nhiều dân tộc thiểu số và dân tộc Khơme của Campuchia.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tham vọng mở rộng lãnh thổ của Chúa Nguyễn không dừng lại ở Chiêm Thành. Điều đó có thể nhìn thấy được vào năm 1621, chúa Nguyễn đã có quan hệ hôn thú với đời thứ 2 Chey Chettha của Campuchia (36). Lúc đó, chúa Nguyễn đã yêu cầu vua Campuchia cho người Việt Nam di trú tự nhiên, di trú Thủy Chấn Lạp với những hình thức miễn thuế, thương mại, phát triển. Kết quả là việc di trú đến Campuchia của người Việt Nam được bắt đầu từ tỉnh Đồng Nai và Mỗi Xoài thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu bây giờ (37).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lúc đó Campuchia lệ thuộc vào vương quốc Ayuthaya của Thái Lan đã mượn sức mạnh của Việt Nam để thoát khỏi sự cai trị của Thái, Việt Nam đã có được cơ hội tiến vào Campuchia một cách hợp pháp và đồng thời trên cơ sở đó, đã có được cơ hội tuyệt vời để có thể cản trở sự tiến vào Campuchia của Thái và xâm chiếm lãnh thổ Campuchia (38). Sau đó, dưới chính sách ngoại giao cận Việt viễn Thái của Campuchia (chữ Hán), năm 1658, lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội gửi quân đội theo yêu cầu của Campuchia để giải quyết phân tranh vương vị và kết quả là nhận được sự cư trú hợp pháp ở Mỗi Xoài, Đồng Nai và nộp cống, thần phục từ Campuchia (39).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vào năm 1674, Việt Nam đã gửi quân đội đến Campuchia lần thứ hai để giải quyết tranh chấp vương vị và có thể bước một bước sâu hơn vào việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia bằng cách đặt ra chế độ chính vương và phó vương (chữ Hán). Lúc này, phó vương sống ở Sài Gòn. Trên cơ sở này, vào tháng 1 năm 1679 Việt Nam đã đem 50 chiến thuyền với hơn 3 nghìn quân, lợi dụng những người quản lý của nước Minh Trung Quốc đầu hàng như Dương Ngan Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình … tiến hành thực hiện việc phát triển Mỹ Tho và Biên Hòa (40). Những khu vực này là kết quả chiến thắng trong cuộc phân tranh vũ lực với Thái trên lãnh thổ Campuchia của Việt Nam, vì một phần thuộc khu vực mà Nạc Ông Nộn được bổ nhiệm cai trị, nên Việt Nam có thể định cư ở đó. Năm 1679, do chính vương và phó vương của Campuchia xung đột, Việt Nam và Thái đều gửi quân đội can thiệp nên chiến tranh đã xảy ra, Việt Nam đã hoàn toàn không thể đưa ra các giải quyết vấn đề này.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những người có thế lực khai phá đất, xây dựng thành Đông Phố và biến nơi đây thành nơi thương mại quốc tế đông đúc với những chiếc thuyền của nhà Thanh – phương Tây – Nhật – Java. Thời điểm này, có thể nói ngoài người Việt Nam ra, người Trung Quốc cũng phát triển Thủy Chân Lạp. Vào năm 1680, việc phát triển Thủy Chân Lạp dựa vào Mạc Cửu người Quảng Đông Trung Quốc. Ông ta được bổ nhiệm làm quản lý của Campuchia và đã phát triển Phú Quốc, Cần Bọt, Gia Khê, Luỗng Cây, Hương Úc, Cà Mau (41). Ở đây, vào năm 1810 đã đổi thành trấn Hà Tiên rồi năm 1831 đổi thành tỉnh Hà Tiên.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Năm 1688, với cuộc phản loạn của Hoàng Tiến đã trở thành cơ hội cho Việt Nam thực hiện hợp nhất lãnh thổ Campuchia. Hoàng Tiến gây ra phản loạn, quốc vương của Campuchia Nặc Ông Thu đã từ chối thần phục và nộp cống cho Việt Nam và dương ngọn cờ phản loạn. Việt Nam đã gửi quân vào Sài Gòn để bình định việc này nhưng không thành công. Tuy nhiên, trong trong một thời gian dài nắm giữ, Việt Nam thực sự đã có ảnh hưởng ở khu vực này. Tiếp đó, năm 1691, người có thực quyền ở đây là phó vương Nặc Ông Nộn tử vong đã tạo ra một khoảng trống quyền lực đã xúc tiến quá trình hợp nhất của Việt Nam ở khu vực này. Trên cơ sở đó, từ năm 1698, bắt đầu hợp nhất khu vực Gia Định khai thác được dựa vào người Trung Quốc và người bản xứ trước đây.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Năm 1698 là năm sau khi Việt Nam hoàn toàn hợp nhất Chiêm Thành. Điều này rất quan trọng vì thể hiện được tính quan hệ tương hỗ trong việc hợp nhất Chiêm Thành và Campuchia của Việt Nam. Tức là, trước năm 1698, Việt Nam có thể lợi dụng khoảng trống cai trị của Campuchia trên mảnh đất do người Trung Quốc và người bản xứ khai phát và hợp nhất nhưng trong khi chưa hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nên có thể gặp nhiều khó khăn; hoặc trong trường hợp đã hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nhưng có khả năng xảy ra phản loạn và chống đối nên có thể cho rằng sức lực sẽ bị phân tán nên đã không thực hiện và chuẩn bị cho đến năm 1698 mới tiến hành hợp nhất Campuchia.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">“<i>Bắt đầu đặt phủ Gia Định. Sai thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về nam cho đến ở cho đông. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế to dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ của ta</i>” (42).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nội dung trên cho thấy việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia của Việt Nam khác với phương pháp hợp nhất Chiêm Thành trong thời kỳ trước. Khi hợp nhất lãnh thổ của Chiêm Thành, đa số dùng phương pháp chiếm bằng vũ lực nhưng khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên. Không những thế, ở đây còn cho thấy sự ưu tiên phương pháp nhận lãnh thổ bằng cách hỗ trợ giải quyết nội chiến của Campuchia hơn là dùng vũ lực trực tiếp.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vào năm 1708, Mạc Cửu cảm thấy bất an với nội tình của Campuchia, nhờ thần phục Việt Nam mới có được đường biên giới của Campuchia bây giờ còn Việt Nam thì có được khu vực ở phía cực nam bao gồm đảo Phú Quốc, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu (43). Khu vực này là một trong 6 tỉnh thuộc tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn. Điều này cũng như đã đề cập ở trên cho thấy hình thức hợp nhất không liên quan đến vũ lực của Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Do đó, trong 6 tỉnh, Việt Nam đã hợp nhất 3 tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên. Ba tỉnh còn lại vẫn trong tình trạng chưa hợp nhất được là Định Tường, Vĩnh Long, An Giang. Ba tỉnh này ở trong địa thế hình răng cưa, nằm xem kẽ giữa hai tỉnh Biên Hòa – Gia Định và tỉnh Hà Tiên. Vì thế, để bảo tồn tỉnh Hà Tiên ở vị trí xa nên việc hợp nhất 3 tỉnh còn lại là một việc cần thiết. Do đó qua 3 lần liên tiếp thực hiện hợp nhất, khu vực này được hợp nhất với phương pháp khác với trước đây là bằng vũ lực.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lần thứ 1, năm 1732, Việt Nam đã gửi quân đội tới, lấy Mỹ Tho, Sa Đéc ở phía Tây Gia Định, và đặt châu Định Viễn, lĩnh Long Hồ (44). Những khu vực này thuộc tỉnh Định Tường. Những khu vực này bây giờ thuộc tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp. Với cơ hội này, vào năm 1744 chúa Nguyễn đã xác lập khu vực hành chính với cơ cấu 12 lĩnh và 1 trấn (45).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lần thứ 2 cũng dành được thành quả bằng vũ lực. Chúa Nguyễn đã hai lần viễn chinh Campuchia vào năm 1753 và 1755 do hiệp ước quan hệ của chúa Trịnh và YuRin Côn Man của Nạc Ông Nguyên là vua Campuchia. Lúc này Nạc Ông Nguyên tị nạn ở Hà Tiên và năm 1756, đưa Mạc Thiên Tứ đề nghị thần phục và nộp cống cho chúa Nguyễn và đã dâng 2 phủ Tam Bon, Loi Lap (46). Nơi này giáp với tỉnh Định Tường thuộc tỉnh Vĩnh Long.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lần cuối cùng, năm 1757, trong quá trình lên ngôi, vua Cao Miên nhận sự giúp đỡ đã nhận từ Nạc Ông Tôn 2 phủ Trà Vinh, Ba Thắc và Tầm Phong Long (47). Trong 6 tỉnh, những khu vực này thuộc tỉnh An Giang. Do đó, Việt Nam đã xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đối với sự kiện của năm 1757, khi xem xét biên giới lãnh thổ Việt Nam qua ghi chép là “<i>Năm 1757, Nạc Ông Nguyên nước Chân Lạp chết. Người chú họ là Nạc Nhuân Tạm coi việc nước. Biên thần tâu xin nhân đó lập Nhuận để tỏ ân nghĩa, cho vững biên cương. Chúa bắt phải hiến hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, rồi sau mới y cho</i> …” (48) chúng ta có thể thấy rõ hơn. Nói cách khác, cho dù đã hợp nhất Định Tường và Vĩnh Long nhưng dưới thời chúa Nguyễn, không có tỉnh An Giang nên Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng có địa thế như răng rụng nên Việt Nam cần có được vùng này với cái giá là phải can thiệp chính trị.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngoài ra, cùng năm 1757, Việt Nam đã được vua Camphuchia Nạc Ông Tôn dâng 5 phủ Hương Úc, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh (49). Khu vực này tiếp giáp với Hà Tiên nhưng trong thời gian vua Tự Đức tại vị đã trả lại cho Campuchia (50).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ phía Nam của chúa Nguyễn đã gặp phải một số yếu tố nên phải tạm dừng ở đây. Thứ nhất, do sức lực quốc gia của chúa Nguyễn bị yếu đi nên không đủ nội lực để mở rộng lãnh thổ hơn nữa. Thứ hai, trong thời gian ngắn không đủ năng lực để khai thác quản lý lãnh thổ tăng nhiều (51).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ về phía nam của Việt Nam cũng được tiếp tục dưới triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam là triều đại nhà Nguyễn. Như đã đề cập ở trên, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ của Lào tiếp giáp với khu vực từ Quảng Bình tới Lạng Sơn, đã gửi quân đi 6 phủ và bổ nhiệm làm tộc trưởng ở đây theo hình thức cai trị gián tiếp. Khi xem xét đến nhiều điều kiện như chính trị – kinh tế – địa chính học, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp nhất Cao Miên để dành lợi cho quốc gia, và kết quả là năm 1835, Chân Lạp – quốc hiệu của Cao Miên đã đổi thành Chân Tây Thành và lập 2 huyện, 32 phủ (52). Nhưng cuộc xung đột dành quyền cai trị Campuchia giữa Việt Nam và Thái kéo dài, cộng với việc phản đối sự cai trị của Việt Nam trên toàn Campuchia và các cuộc phản loạn trong nước nên đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Cho nên, năm 1847, Việt Nam đã ký hiệp định với Thái và rút quân. Do đó, cho đến khi Việt Nam và Campuchia đều trở thành thuộc địa của Pháp thì Campuchia chỉ duy trì mối quan hệ nộp cống cho Việt Nam (53). Qua đây, có thể thấy việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được điều khiển bởi Thái và Pháp. Nếu giả định trường hợp Pháp không tiến hành xâm lược hay không có mâu thuẫn với Thái thì Việt Nam đã có được một vùng rộng lớn trong lãnh thổ của Lào và Campuchia.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://ongvove.files.wordpress.com/2012/03/lanhtho04.jpg" border="0" alt="" /></div><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>IV. KẾT LUẬN<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là <i>cá lớn nuốt cá bé</i>. Việt Nam đã không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn. Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong việc sản xuất ngũ cốc. Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa và lượng nắng nhiều thì vùng này còn có tài nguyên phong phú và đất đai màu mỡ và rộng lớn.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ở đây cũng không thể bỏ qua sự đóng góp của người dân di trú Trung Quốc. Trong khi không đủ nhân lực phát triển thì việc tham gia của người dân Trung Quốc đã giảm bớt đi gánh nặng cho người dân Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển thương mại của phía Nam và đã tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Liên quan đến việc tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam không thể loại trừ vai trò của Campuchia. Việc hợp nhất Thủy Chân Lạp tức 6 tỉnh phía Nam dành được ngoài mảnh đất màu mỡ và rộng lớn còn có được dân tộc Khơme đông nhất trong 54 dân tộc đã biến Việt Nam từ một nước có văn hóa Phật giáo Đại thừa sang một nước văn hóa Phật giáo Tiểu thừa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Đồng thời, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng là một trường hợp điển hình minh chứng cho quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt ”. Nếu như quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc mới được tái lập vào năm 1991 thì quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia cũng không được mặn mà khi 20 vạn quân Việt Nam rút lui khỏi Campuchia dưới áp lực của chủ nghĩa tư bản đứng đầu là Mỹ vào năm 1989. Quan hệ giữa Việt Nam và Thái cũng đối lập sâu sắc trong việc gây ảnh hưởng trên đất Campuchia. Xét trên quan điểm địa chính học, quan hệ giữa Việt Nam và Lào có thể là một dị biệt nhưng xét cho cùng thì có thể cũng không khác với những mối quan hệ nước láng giềng đã nêu trên.<br />
<br />
</font></font></font></font></font></font></font></font></span></font></span></font></span></font><span style="font-family: arial"><font size="3"><font color="#707070"><font color="#000000"><i><b>Tài liệu<br />
</b></i></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><i>2 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Nxb Giáo dục, H.1961, p.484.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>3 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa, H.2006; Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb BT, 2003; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHPS T 36, 1999; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>4 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.227.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>5 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb KHXH, H.1998, p.228 tham khảo; Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, H.1997, p.174 tham khảo; Song Jung Nam, Lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHPS, 2001, p.134.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>6 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, pp.274 – 275; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.238; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Nxb KHXH, H.1977, p.32; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb VHTT, H.1999, p.107; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.106.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>7 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.278; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.32.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>8 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.284; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>9 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Nxb KHXH, H.1998, p.91; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.407; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>10 Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.107.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>11 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.91; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>12 Đại Việt sử ký toàn th,ư T.II, Nxb KHXH, 1998, p.145; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.458 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>13 Đại Việt sử ký toàn thư,T.II, Sđd, p.91; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sđd, p.170.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>14 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.202 – 203; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.512; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.127; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.35.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>15 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.235; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục ,T.I, Sđd, pp.37 – 38 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>16 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.168.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>17 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.441 – 452; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.43.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>18 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong keiens Việt Nam, T.II, Nxb GD, 1960, p.182; Đại Việt sử ký toàn thư T.II, Sđd, p.464.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>19 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.507.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>20 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.450; Việt sử thông giám cương mục, T.XI, Nxb Văn Sử Địa, 1959, pp.68 – 69; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.43.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>21 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.363 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>22 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.199.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>23 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.II, Sđd, p.174 – 177.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>24 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.477.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>25 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.464.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>26 Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Hội thảo khoa học 2007 của hội Việt Nam học Hàn Quốc, 2007, p.44.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>27 Song Jung Nam, A Study on the Development Factor of Trade in Dang Trong in 16th – 18th centuries NCĐNÁ 14 – 1, 2004, p.133.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>28 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Nxb Sử học, 1962, pp.43 – 44.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>29 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.83; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.56 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>30 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.147; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, nhà sách Khai Trí, 1969, pp.217 – 218.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>31 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.148.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>32 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.148 – 153.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>33 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.150.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>34 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.150 – 151; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.217 – 218.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>35 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.153.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>36 Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt qua bút ký của người nước ngoài, Nxb VN TP HCM, 2004, p.174; Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.105; Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Bđd, p.43.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>37 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, pp.105 – 106; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.400 – 402.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>38 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, p.105; Yu In Sun, Lịch sử Việt Nam viết mới, Nxb Y San, 2002, 219 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>39 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giaos dục, H.1998, pp.74 – 75; Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.98 tham khảo; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Nxb Thuận Hóa, 1993, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.58 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>40 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.125; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.62 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>41 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>42 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.153 – 154; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542 tham khảo.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>43 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.57.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>44 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.195; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; p.241; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.241; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.232.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>45 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.208.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>46 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.224; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.69; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.242.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>47 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, pp.79 – 80; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, p.242; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.58.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>48 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.225 – 226; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79; Đại Việt sử ký tục biên 1676 – 1789, Nxb KHXH, 1991, pp.257 – 258.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>49 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79, p.80.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>50 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.243.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>51 Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007, p.110.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>52 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.479.</i></font><br />
<font color="#000000"><i>53 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.481.</i></font></font></font></span></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>daibang_9x</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81431</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Sự thật về trận chiến trên cao điểm 1509 ở Hà Giang 1984</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81311&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Mon, 13 May 2013 17:36:08 GMT</pubDate>
			<description><![CDATA[*Trên mạng có thể các bạn sẽ gặp các tài liệu của "nhà văn" Phạm  Viết Đào về "bí mật trận chiến Núi Đất",...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>Trên mạng có thể các bạn sẽ gặp các tài liệu của &quot;nhà văn&quot; Phạm  Viết Đào về &quot;bí mật trận chiến Núi Đất&quot;, được ngụy tạo khá tinh vi để  đưa ra những thông tin bịa đặt về trận chiến trên cao điểm 1509 ở Hà  Giang.<br />
</b><img src="http://i1150.photobucket.com/albums/o617/redsvn/slide/slide-hagiang2.jpg" border="0" alt="" /><br />
<b>Về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày những thông tin có được như sau: </b><b>1. Lịch sử:</b><br />
 Điểm cao 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây  là vị trí có khả năng khống chế khu vực bờ bắc suối Thanh Thủy cho đến  cửa khẩu Thanh Thủy phía đông sông Lô. Đỉnh 1509 gồm 2 mỏm, đường biên  giới Việt-Trung chạy qua giữa 2 mỏm này.<br />
  Sau chiến tranh biên giới tháng 2  năm 1979, ta đưa bộ đội lên chốt giữ cả 2 mỏm của 1509 (nghĩa là cả phần  nằm trong lãnh thổ Trung Quốc).<br />
 Ngày 28-4-1984, sau hơn 3 tuần pháo kích, quân Trung Quốc mở cuộc  tiến công vào khu vực Thanh Thủy ở bờ đông sông Lô. Lực lượng chốt giữ  của ta yếu hơn địch, bị thương vong nên không giữ được trận địa. Đỉnh  1509 cùng một số điểm cao thấp hơn như 772, 685, bình độ 300-400... bị  quân Trung Quốc chiếm đóng (khu điểm cao này được Trung Quốc gọi chung  là núi Lão Sơn).<br />
 Sau này, ta mở nhiều chiến dịch nhằm giành lại các vị trí bị lấn  chiếm, nhưng do tương quan lực lượng chênh lệch nên không thể lấy lại  toàn bộ (trong đó có 1509). Đến tháng 9-1989, sau khi chiến sự 2 bên  chấm dứt, quân Trung Quốc đã rút khỏi các điểm bị chiếm đóng này.<br />
<img src="http://i1150.photobucket.com/albums/o617/redsvn/2013/05/Tran-chien-1509.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<br />
<i>Ảnh: Sơ đồ trận tiến công của Trung Quốc vào khu vực Thanh Thủy ngày  28-29/4/1984 (nguồn: quansuViệt Nam.net/Việt Nammilitaryhistory.net)<br />
</i><b>2. Hiện trạng:</b><br />
 Điểm cao 1509 hiện nay được khôi phục đúng như trạng thái vốn có  trước năm 1979, nghĩa là mỗi bên giữ 1 mỏm. Theo thông tin từ bộ đội  biên phòng tỉnh Hà Giang, phần 1509 nằm bên phía Trung Quốc thì công  binh Trung Quốc xây công sự kiên cố, còn phần nằm bên ta thì không xây.  Hiện nay chúng ta vẫn đang tiếp tục khắc phục mìn còn lại trên 1509 và  nhiều điểm cao khác.<br />
 <b>3. Sự thật về cuộc chiến:</b><br />
 Trên mạng có thể các bạn sẽ gặp nhiều tài liệu về &quot;bí mật trận chiến  Núi Đất&quot;, một số được ngụy tạo khá tinh vi dưới danh nghĩa &quot;tài liệu  giảng dạy của cục phòng vệ Nhật Bản&quot;, hồi ức cựu binh XYZ của Trung Quốc  hay Việt Nam v..v đưa ra những thông tin bịa đặt về trận chiến trên cao  điểm 1509, chúng tôi xin giải thích ngắn gọn.<br />
 (a) Bản thân cái tên &quot;Núi Đất&quot; cũng vốn cũng không có thật, vì khu  vực 1509 không có tên riêng, chỉ có số hiệu điểm cao (phía Trung Quốc  thì đặt tên là &quot;Lão Sơn&quot;).<br />
 (b) Có thông tin cho là Việt Nam mất 1509, Trung Quốc xây cả đài  tưởng niệm trên đỉnh. Điều này các bạn đọc lại phần 2 ở trên. Thực tế  thì Trung Quốc không xây trên đỉnh 1509 mà ở phía sau, mà cho dù có xây  trên mỏm 1509 nằm bên đất Trung Quốc thì đấy cũng là việc của họ, không  ảnh hưởng đến ta.<br />
 (c) Nhiều tài liệu cố tình cổ súy cho &quot;chiến công&quot; của Trung Quốc  giết hơn 3.700 chiến sĩ Việt Nam trong trận đánh 12-7-1984, ngụy tạo  việc 3000 tù binh, thương binh, tử sĩ Việt Nam bị thiêu và chôn tập thể.  Đây là thông tin bịa đặt. Thực tế trận 12-7 ta chỉ có vài tiểu đoàn  trực tiếp đánh, có thương vong nặng nhưng không đến con số nghìn. Nội  việc ở vùng núi đá, giữa chiến sự mà đi đào hố, thu gom để chôn 3000 xác  đã là quá vô lý rồi (thực tế các cựu chiến binh Việt Nam cho biết là  vẫn quay lại trận địa gần 1 tuần để đưa các tử sĩ về mà không gặp trở  ngại, thấy súng đạn của tử sĩ còn nguyên chứng tỏ quân Trung Quốc cũng  không dám ra ngoài thu vũ khí).<br />
 (d) Tài liệu ngụy tạo &quot;của cục phòng vệ Nhật Bản&quot; nói rằng từ 1509  Trung Quốc có thể khống chế miền Bắc Việt Nam. Đây là chiêu trò nhằm dẫn  dắt người đọc tới suy nghĩ rằng &quot;chính phủ Việt Nam sợ Trung Quốc nên  vị trí chiến lược như vậy cũng để mất&quot;. Thực tế thì phía nam suối Thanh  Thủy, đối diện và cách 1509 chỉ 2-3km là dãy núi Tây Côn Lĩnh với độ cao  trên dưới 2000m (cao nhất 2500m), không khác gì tấm lá chắn của Hà  Giang. Với vị trí như vậy dù Trung Quốc có mang gì lên 1509 cũng không  có cửa với hà Giang chứ đừng nói tới cả miền Bắc.<br />
 <i><b>Theo FB GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG</b></i></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>kenvin007</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81311</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Học hỏi cách điều quân của tướng nhà Trần trong kháng Mông Nguyên lần 2</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81182&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Sun, 05 May 2013 12:08:32 GMT</pubDate>
			<description>Việt Nam tự hào là trong số rất ít các dân tộc đã đánh bại một trong những đội quân mạnh nhất trong lịch sử...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><font size="3">Việt Nam tự hào là trong số rất ít các dân tộc đã đánh bại một trong những đội quân mạnh nhất trong lịch sử loài người – quân Mông Nguyên. Trong 3 cuộc giao tranh, thử thách lần thứ 2 là cam go nhất. Địch đột ngột điều động một lực lượng khổng lồ với 50 vạn quân tràn xuống từ hướng Bắc với cớ là mượn đường đánh Chiêm Thành, và gần 10 vạn quân Toa Đô từ Chiêm Thành đánh lên. Quân số lần xâm lược này gấp hơn 15 lần cuộc xâm lược thứ nhất. Quy mô cuộc chiến này khác hẳn lần trước trong khi quân dân ta vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm chiến trận như lần thứ 3. Để có được chiến thắng oanh liệt trước quân Mông Nguyên, hội tụ rất nhiều yếu tố.  Một trong những yếu tố quyết định là cách điều động quân đội, với hành loạt cuộc hành quân tài tình trong cuộc chiến mà giá trị về kiến thức quân sự vẫn rất đáng cho nhiều tướng lĩnh hiện đại học tập.<br />
<br />
<b>1. Các cuộc hành quân chính yếu trong cuộc chiến và bài học về cách thức, phương tiện hành quân :<br />
</b><br />
Đối đầu đội quân mạnh về kỵ bộ như quân Nguyên, quân đội nhà Trần đã tận dụng tối đa sở trường thủy chiến của mình. Mở màn cuộc chiến vào đầu năm 1285, khi các cánh quân do Thoát Hoan chỉ huy bắt đầu tràn xuống từ các ải Chi Lăng, Khâu Cấp, Khả Ly, Lộc Châu theo hướng Lạng Sơn, Bắc Giang, Yên Bái đánh xuống. Quân chủ lực tinh nhuệ của triều đình với sự chỉ huy của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật và Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn đã có những trận giao chiến đầu tiên với giặc. Trong khi cánh quân của Trần Nhật Duật ở hướng lộ Tuyên Quang chỉ đánh thăm dò rồi chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, các cánh quân giữ ải khác lần lượt bị đánh bại, cánh quân của Trần Quốc Tuấn phải chịu tổn thất khá lớn khi giao chiến tại ải Nội Bàng ( ngày 2-2-1285 ), thủy binh tan chạy. Lúc đó, trước sự truy kích gấp rút của giặc Trần Quốc Tuấn dự định rút theo đường núi nhưng gia nô Dã Tượng khuyên rút theo đường thủy. Cuộc rút lui an toàn bằng thuyền về tới Vạn Kiếp. Qua trận chiến này, vai trò của hành quân theo đường thủy đã được khẳng định trong suốt cuộc chiến bởi ưu thế về tốc độ di chuyển, tận dụng sự ngăn cách bởi hệ thống sông ngòi để gây khó khăn cho giặc. Tuy nhiên, nhiều lúc để đảm bảo bí mật quân ta cũng hành quân theo đường bộ. <br />
<br />
- Trận Vạn Kiếp ( từ ngày 11 đến 14-2-1285 ) quân ta chủ động rút lui bằng thuyền về Thăng Long sau khi đã cầm chân và gây cho địch nhiều thiệt hại. <br />
<br />
- Trận Thu Vật Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chủ động bỏ thuyền đi bộ, đánh lừa được tướng giặc và về Thăng Long an toàn.<br />
<br />
- Cuộc rút lui từ Thăng Long về Thiên Trường bằng đường thủy với tấm gương chặn giặc tới cùng của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng.<br />
<br />
- Trận chiếm lại Vạn Kiếp tướng Phạm Ngũ Lão cùng Hưng Đạo vương đem 1000 chiến thuyền từ Long Hưng ngược sông Thái Bình về Vạn Kiếp.<br />
<br />
- Các hành quân chặn đánh và rút lui của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở mặt trận phía Nam trước sức tiến công của Toa Đô và phản thần Trần Kiện.<br />
<br />
- Cuộc tiến quân bằng thuyền của Trần Quốc Tuấn đánh vào Thăng Long tháng 3 – 1285.<br />
<br />
- Hành quân rút lại về Vạn Kiếp,  từ Vạn Kiếp rút về Thiên Trường của Trần Quốc Tuấn..<br />
<br />
- Cuộc rút lui bảo toàn đầu não triều đình của Trần Quốc Tuấn, Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đánh một vòng ra cửa biển Giao Hải về Tam Trĩ, đi bộ từ Tam Trĩ đến bến Thủy Chú rồi ra cửa Nam Triệu theo đường biển vào Ái Châu ( Thanh Hóa ) hội quân.<br />
<br />
- Cuộc hành quân lớn tổng phản công của toàn quân nhà Trần từ Ái Châu ra Bắc với nhiều hướng khác nhau.<br />
<br />
Có thể thấy là trong suốt giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, quân Đại Việt liên tiếp bị thua trận hay buộc phải rút lui nhưng cuối cùng lực lượng vẫn được bảo toàn khá tốt. Nhìn vào đó, có nhiều vấn đề được đặt ra. <br />
<br />
Vấn đề đầu tiên là sự <b>chuẩn bị kho tàng</b>. Sau các trận giao tranh đầu tiên với giặc ở phía Bắc, quân ta hội quân ở Vạn Kiếp với số lượng là 20 vạn quân. Sau đó số quân này phải vận động liên tục để tránh mũi nhọn của giặc nên việc nuôi quân là không hề đơn giản. Quân ta đã biết dựa vào các kho tàng được cất giấu trước đó ở trong dân để nuôi quân. Chính điều đó đã làm cho cán cân sức mạnh dần nghiêng về ta theo thời gian. Phe đuổi bắt có thể mang theo lương thực dễ dàng nhưng không thể cướp phá được thêm, dần dần lâm vào cảnh cạn kiệt lương thực, phải đóng quân trên diện rộng, phân tán đi cướp bóc. Phe rút lui có thể bị bức bách mà không thể mang theo kho tàng nhưng đã có chuẩn bị trước nên có thể vận động trên diện rộng một cách tùy ý, dựa vào dân mà bảo toàn thế lực, dần dần nắm thế chủ động, quân no đánh quân đói. Quân ta lại có kế nhờ dân chúng cất dấu chiến thuyền dưới đất, trong bãi lau lách hay trong khe núi và điều động thuyền bè trong dân nên dù hành quân thủy hay bộ thì khi cần vẫn có thể dùng thủy chiến hay dùng thuyền vượt sông.<br />
<br />
Vấn đề thứ hai là <b>tính bí mật</b>. Đó là vừa là lợi thế của chiến tranh nhân dân, vừa là một cuộc cân não thật sự giữa các tướng lĩnh. Nói một cánh đơn giản thì nếu để lộ dấu vết trong lúc rút lui tất bị giặc bắt. Còn khi tấn công mà không để tính bí mật tất giặc sẽ tập trung lực lượng để đối phó. Quân tướng nhà Trần trong cuộc chiến ít khi giong cờ gióng trống khi hành quân trên bộ mà men theo đường nhỏ, âm thầm lặng lẽ mà đi. Trần Nhật Duật đánh Toa Đô ở Hàm Tử Quan đã giữ được bí mật đánh phút cuối. Trần Hưng Đạo tháp tùng hai vua tránh giặc rồi chạy vào Ái Châu phải dùng đủ chiêu trò ém quân, đánh lạc hướng bằng thuyển rồng không có vua, bỏ thuyền lên bộ rồi lại xuống thuyền ở bến khác. Khi giặc bại trận rút lui thì đến đâu cũng gặp phục binh của quân ta chờ sẵn, chúng không thể nào chỉnh đốn lực lượng để phản công.<br />
<br />
 Vấn đề thứ ba là <b>khích lệ tinh thần</b> quân sĩ và dân chúng. Hiếm có triều đại nào mà trong 3 cuộc chiến tranh, 3 lần để mất kinh đô mà cuối cùng đều chiến thắng vẻ vang. Chẳng những vậy, trong thời gian chơi trò rượt đuổi, đánh cú nhầy với Thoát Hoan ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thì tin bại trận, rút lui của Thượng tướng Trần Quang Khải trước sức tấn công của tướng Toa Đô với sự chỉ điểm của Trần Kiện liên tục báo về. Trong lúc khó khăn nhất của cuộc chiến, có những nơi cả làng đều hàng giặc như Bàng Hà, Ba Điểm và cả hoàng thân quốc thích thân tính như Trần Ích Tắc, lão Trần Kiện còn dẫn đường cho giặc. Ở nhiều nước trên thế giới thì việc kinh đô thất thủ xem như thất bại đã cầm chắc 90% bởi sĩ khí sẽ tụt dốc thê thảm. Thêm vào đó là xa giá phải chạy khắp nơi, giặc dữ đuổi sau lưng. Quân đội thời Trần Thánh Tông vốn đã được xác định là để phòng bị quân Mông Nguyên và Chiêm Thành xâm lược nên họ được huấn luyện khác kỹ lưỡng, kỷ luật cao và tình thần chiến đấu cao. Khi Thoát Hoan được lệnh sang đánh nước ta, nhà Trần tổ chức duyệt binh lớn lớn Đông Bộ Đầu, các vương hầu người mang quân bản bộ ra chiến đấu, người ra sức tuyển mộ binh lính. Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để khích lệ tinh thần. Quân sĩ có phong trào khắc chữ Sát Thát để tỏ lòng quyết chiến. Trần Quốc Toản mới 15 tuổi cầm lá cờ Phá Cường Địch – Báo Hoàng Ân với khoảng ngàn quân sĩ. Trần Nhật Duật trên đường rút lui đã cho dừng quân bên bờ sông cắt tóc ăn thề. Trần Bình Trọng quyết chiến chặn giặc tới người cuối cùng và cảm khái “<i>Thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương nước Bắc</i>” khi bị bắt. Cả việc đưa công chúa An Tư sang trại Thoát Hoan cũng là ngầm làm tăng thêm sự căm thù giặc của tướng sĩ. Trong lúc toàn quân phải vượt biển vào Ái Châu để thoát khỏi gọng kìm của địch, vua Trần Nhân Tông viết lên đuôi thuyền rồng 2 câu thơ thần :<br />
<br />
</font><div style="text-align: center;"><font size="3">Cối Kê cựu sự quân tu kí<br />
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh</font></div><font size="3"><i>Dịch nghĩa :</i></font><div style="text-align: center;"><font size="3">Chuyện cũ Cối Kê người nên nhớ<br />
Hoan Châu, Diễn Châu vẫn còn mười vạn quân<br />
<br />
</font></div><font size="3">Đó là những biện pháp giữ cho tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt luôn ở mức cao nhất. Điều đó tạo nên sức mạnh rất to lớn để thắng giặc.<br />
<br />
Vấn đề thứ tư là <b>tốc độ</b> : Hành quân dù là rút lui hay tiến công đều nhanh chóng là mấu chốt của chiến thuật tốc chiến. <br />
<br />
<b>2. Triết lý quân sự và mục tiêu của những cuộc hành quân :<br />
</b><br />
Quân Mông Nguyên lập kế hoạch cho cuộc xâm lược lần thứ 2 rất rõ ràng : <br />
Gọng kìm thứ 1 do Thoát Hoan theo đường Lạng Sơn, Bắc Giang tiến xuống ; <br />
Gọng kìm thứ 2 do Naxirut Đin tiến theo hướng lộ Tuyên Quang dồn sang vùng phía Đông ;<br />
Gọng kìm thứ 3 do Toa Đô từ Chiêm Thành đánh lên với sự hỗ trợ của thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy. <br />
Chúng dự định bao vây quân chủ lực từ mọi hướng, bắt gọn đầu não một cách nhanh chóng để phá tan mọi sức kháng cự của Đại Việt. Đó là cách đánh khá thành công của quân Mông Cổ khi thôn tính các quốc gia giàu mạnh ở Trung Á, Nam Á. Khá hẳn với lần xâm lược trước chúng nghĩ rằng có thể dễ dàng cướp được lương thực trong nước ta để nuôi quân, lần này quân địch có mang theo quân lương dự trữ nhiều hơn và có sự tham gia của thủy quân ( dù có phần hạn chế ). <br />
<br />
Để đối phó với ý đồ đó, Hưng Đạo vương đã có một loạt những hành động nhằm vào các mục tiêu chiến lược sau : <br />
<br />
- Kéo giãn thời gian cuộc chiến làm cho quân địch dần cạn kiệt lương thực và không quên thủy thổ<br />
- Làm cho 3 gọng kìm không bao vây được chủ lực quân ta mà trái lại bị dồn ứa lại một cách vô nghĩa<br />
- Làm cho quân địch phải vận động nhiều mà chẳng giao chiến trực diện được bao nhiêu khiến quân tướng nản lòng và mệt mỏi.<br />
- Buộc địch phải phân tán lực lượng đóng giữ nhiều nơi, mất đi lợi thế về quân số khi giao chiến. <br />
- Dụ địch đóng quân ở vùng chúng nghĩ là giàu có, đông dân và là trung tâm Đại Việt để dễ cướp bóc  nhưng thực tế lại không cướp được gì bởi chính sách vườn không nhà trống và sự chống trả quyết liệt của xóm làng. Trái lại, những vùng sông ngòi dày đặc như Thăng Long, Khoái Châu, Hải Dương … giúp quân ta phát huy tối đa ưu thế thủy quân, hạn chế tối đa ưu thế kỵ binh của địch.<br />
- Khi giặc muốn chủ động bao vây ta thì ta làm cho chúng dồn lại một khối không làm gì được, khi ta tấn công thì lại chia chúng ra thành những mảnh nhỏ không liên lạc được với nhau. Từ đó, quân ta dùng gần như toàn bộ sức mạnh mà bao vây, tiêu diệt từng nhánh quân địch.<br />
<br />
Triết lý quân sự của Napoleon có nói đến vấn đề quân số như sau : Có thể nhìn tổng thể trong một trận chiến quân số của ông ít hơn đối phương nhưng lúc giao tranh thì quân của ông sẽ đông hơn. Điều đó là do cách điều quân làm cho đội hình đối phương bị kéo giãn ra trong thời điểm cao trào, còn lực lượng của mình lại được tập hợp đúng lúc. Tôn Tử nước Ngô dùng 3 vạn quân đánh bại 25 vạn quân nước Sở, quân Sparta với khoảng vài trăm quân có thể chặn đứng được gần cả triệu quân Ba Tư là do cách đóng quân, điều quân và chọn nơi giao chiến sao cho quân địch không thể phát huy được ưu thế về quân số được. Có chăng chỉ là quân đông thì có quyền thất bại nhiều trận nhỏ hơn mà thôi.<br />
Quân Mông Cổ dễ dàng đánh bại các nước khu vực Trung Đông và Châu Âu vì một điểm mấu chốt là những nước đó không hề biết đến cách đánh mà hầu như nước Đông Á nào bấy giờ cũng thuộc nằm lòng là Dĩ Dật Đãi Lao ( lấy sức nhàn chống địch mệt mỏi ). Theo kế này thì khi giặc từ xa đến, chỉ cần làm cho cái sự mệt mỏi vốn có của chúng ( xa hậu phương, hành quân đường dài, không quen thủy thổ … ) tăng lên và nuôi dưỡng cái sự nhàn hạ của ta ( hậu cần tại chỗ, thông thạo địa hình, thích nghi khí hậu, địa thế … ) thì sẽ chiến thắng. Cách để làm điều đó là kéo dài thời gian, kéo giãn đội ngũ, tập kích tuyệt nguồn hậu cần.<br />
<br />
<b>3. Tóm tắt những diễn biến chính của cuộc chiến :<br />
</b><br />
- Đầu năm 1285 50 vạn quân Thoát Hoan, Naxirut Đin chia làm nhiều hướng tiến xuống nước ta, tháng 2/1285 10 vạn quân Toa Đô từ Chiêm Thành đánh thẳng ra Bắc, Ô Mã Nhi mang thủy quân từ mặt biển hợp quân với Thoát Hoan, sau đó chia thủy quân vào Nam yểm trợ cho Toa Đô.<br />
<br />
- Trong tháng 2 : quân ta liên tục thất thủ các cửa ải, trận Nội Bàng quân ta bị thiệt hại lớn, Trần Hưng Đạo rút quân về Vạn Kiếp hội quân. Quân các vương hầu và quân mới tuyển từ các nơi kéo về đông đến 20 vạn. Địch đánh vào Vạn Kiếp, quân ta cầm chân giặc rồi chủ động rút lui về Thăng Long khi thủy binh giặc kéo tới yểm trợ. Quân Nguyên đuổi đến thành Thăng Long, quân Đại Việt lại vừa cho một số lực lượng chặn hậu vừa cho chủ lực và đầu não rút về Thiên Trường. Trần Bình Trọng và nhiều tử sĩ hy sinh trong cuộc chiến chặn bước tiến quân thù. Quân ta tái chiếm được Vạn Kiếp nhưng rồi lại phải lui quân. Cánh quân Trần Nhật Duật từ sau khi thấy thế không chặn nổi giặc chủ động rút quân từ Thu Vật về Bạch Hạc, rồi từ Bạch Hạc về Thiên Trường hội quân. Cuối tháng 2, Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản được lệnh dẫn quân vào Hoan Châu ( Nghệ An ) chặn đường tiến ra của Toa Đô nhưng lại bại trận buộc phải rút lui.<br />
<br />
- Trong tháng 3 : Trần Quang Khải mang quân vào tiếp viện cho mặt trận phía Nam nhưng không chống nổi sức tấn công của Toa Đô với sự yểm trợ của thủy quân Ô Mã Nhi và sự chỉ điểm của Trần Kiện. Trần Quang Khải buộc phải rút về Ái Châu dựa vào núi cố thủ, nhường đường lớn ven biển cho giặc tiến ra Bắc. Đại quân của Trần Hưng Đạo đem quân về Thăng Long giao chiến vài trận nhỏ bất lợi bèn rút lại về các lộ ven biển, ém quân chủ lực, cho quân đánh lạ hướng và cầm cự, quấy nhiễu giặc ở khắp nơi.<br />
<br />
- Trong tháng 4 : đại quân cùng triều đình vượt biển vào lại Ái Châu khi Toa Đô đã tiến ra Bắc để lại cả vùng trống phía Nam. Các cánh quân Nguyên gặp nhau ở đồng bằng Bắc Bộ, còn các cánh quân chủ lực triều đình cũng họp lại ở Ái Châu ( Thanh Hóa ). Quân Nguyên bắt đầu hết lương thực, phải chia quân đi cướp bóc khắp nơi. Thoát Hoan lệnh cho Toa Đô quay trở lại phía Nam truy kích bắt vua Trần, quân sĩ ốm đói hành quân chạm chạp. Cuối tháng 4, mưa nắng bắt đầu ảnh hưởng đến quân Nguyên, bệnh dịch hoàn hành.<br />
<br />
- Trong tháng 5, tháng 6 : Quân Nguyên hộ tống Trần Kiện về nước bị quân của Nguyễn Thế Lộc chặn đường giết chết. Quân Đại Việt kéo ra Bắc phản công. Trần Hưng Đạo đích thân chỉ huy hạ được đồn A Lỗ. Trần Quốc Toản, Chiêu Thành vương, Nguyễn Khoái đánh hạ được đồn Tây Kết, Trần Nhật Duật đại phá quân Toa Đô ở Hàm Tử quan, Toa Đô rút tàn quân về đóng ở Thiên Trường. Trần Quang Khải cùng các lộ quân và hàng loạt đại tướng tấn công dữ dội và diệt gọn quân địch tại bến Chương Dương. Sau đó, các cánh quân lớn đồng loạt bao vây thành Thăng Long, Thoát Hoan phải mở đường máu chạy lên mạn Bắc. Quân ta truy kích và phục kích toàn tuyến. Quân Nguyên liên tục phơi thây tại các trận Vạn Kiếp, Như Nguyệt, Vĩnh Bình, Phù Ninh … Cuối tháng 6 Toa Đô đem binh thuyền cố gắng tìm cách bắt liên lạc lại với cánh quân Thoát Hoan nhưng biết được Thoát Hoan đã rút chạy đành đóng quân ở Tây Kết. Quân Trần dồn lực lượng thủy bộ bao vây Tây Kết, quân Nguyên thảm bại. Ô Mã Nhi lên thuyền nhỏ chạy thoát, Toa Đô trúng tên rồi bị chém đầu. Cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần 2 thắng lợi hoàn toàn.<br />
<br />
<img src="http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LSQSVNT4-CuockhangchienchongMongNgu.jpg?t=1241795495" border="0" alt="" /><br />
<br />
 <br />
<b>Tài liệu tham khảo :</b><br />
<i>- Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên</i><br />
<i>- Đại cương Lịch sử Việt Nam tập 1- NXB Giáo dục</i><br />
<i>- Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim</i><br />
<i>- Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Sử quán triều Nguyễn</i><br />
<i>- Wikipedia</i><br />
<i>…</i></font></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>nguoilytuong90</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81182</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Chiến thắng 30-04 và bài học cho Trung Quốc</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81114&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Mon, 29 Apr 2013 18:15:41 GMT</pubDate>
			<description><![CDATA[http://www.youtube.com/watch?v=GMr-HUkeroY&amp;feature=share 
 
- Nhìn lại chiến thắng vẻ vang 30-04-1975 của dân tộc, với ý chí...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><div style="text-align: center;">
<iframe class="restrain" title="YouTube video player" width="640" height="390" src="//www.youtube.com/embed/GMr-HUkeroY?wmode=opaque" frameborder="0"></iframe>
<font size="3"><span style="font-family: arial"><br />
</span></font></div><font size="3"><span style="font-family: arial"><br />
- Nhìn lại chiến thắng vẻ vang 30-04-1975 của dân tộc, với ý chí thống nhất hai miền Nam-Bắc mãnh liệt của hàng triệu trái tim yêu nước quật cường đã đập tan âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch với tên đầu xỏ là Đế quốc Mỹ, và trong đó không thể không nhắc đến những kẻ “chờ thời”, mưu mô, xảo quyệt đó là bọn bành trướng Bắc Kinh.<br />
<br />
- Trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Pháp với Bác Hồ năm 1964, Bác đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình, đối với bọn “chủ nghĩa cơ hội” Bắc Kinh:<br />
<br />
PV: “Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Liên Xô và Trung Quốc?<br />
<br />
- Không! Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.<br />
<br />
PV: Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc? (thành vệ tinh của Trung Quốc)<br />
<br />
PV: Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?<br />
<br />
- JAMAIS! Không bao giờ”<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://i1272.photobucket.com/albums/y389/Kjttj/1_zpsc3126907.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<b>Gương mặt khắc khổ và câu trả lời quyết đoán của Bác</b></div><br />
- Ngay cả những nhân vật ở bên kia chiến tuyến, cũng “đi guốc trong bụng” bẽ lũ phản động Bắc Kinh:<br />
<br />
Dương Văn Minh: “Tôi cảm ơn thiện chí của các ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc!”<br />
<br />
<b>ÂM MƯU CỦA TRUNG QUỐC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC<br />
<br />
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP</b><br />
<br />
Từ sau cuộc chiến Triều Tiên, giới chóp bu Trung Quốc quá hài lòng với kết cục “tốt đẹp” mà họ đã tạo dựng cho đất nước này, với những gì đẫm máu và khốc liệt nhất mà dân Triều Tiên chịu đựng, và sau đó “kịch bản” này lại được những “đạo diễn” trong bộ sậu Trung Quốc tái hiện lại ở Việt Nam. Nhưng khác với Triều Tiên dân tộc Việt Nam quá hiểu rõ bản chất thâm độc của chúng!<br />
<br />
Cần phải biết rõ rằng, từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam có khả năng hoàn toàn giải phóng đất nước. Trong một lần tranh luận quyết liệt với Chu Ân Lai, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chia sẻ:<br />
<br />
“Đồng chí có biết, năm 1954, khi cảm nhận được rằng, Việt Nam đã bị ép ký hiệp định Genève, tôi đã khóc ròng trên đường từ miền Bắc quay trở lại miền Nam vì biết rất rõ rằng, rồi đây máu của đồng bào tôi sẽ đổ hàng chục năm trời? Và sau đó thì các đồng chí đã thấy đó, sau hai năm theo như thỏa thuận là “hoà bình sẽ được lập lại”, máu của đồng bào tôi đã đổ cho tới bây giờ…”.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://images1.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/962/188962.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<b>Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn báo cáo tình hình cách mạng miền Nam với Bác năm 1957</b><br />
</div><br />
Ngay từ cái hiệp định “oan nghiệt” đối với dân tộc Việt Nam ấy. Lập trường của Trung Quốc đã khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại “theo chiều” với lập trường của Pháp. Đến đây thì rõ rành rành là họ đã hoàn toàn phản bội chúng ta.<br />
<br />
Mao Trạch Động và Đặng Tiểu Bình đã thay nhau tung đòn mù gây sức ép để Việt Nam chấp nhận “kịch bản trường kỳ mai phục” mà họ đã “dày công” gài sẵn, với những lý lẽ ma mị.  Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:<br />
<br />
“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”.<br />
<br />
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:<br />
<br />
“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”.<br />
<br />
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:<br />
<br />
“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”<br />
<br />
Nhưng chỉ với những cái lý lẽ trẻ con mà không dám nói là “ngu xuẩn” ấy thì họ cứ việc giữ lấy mà nghiên cứu trong quá trình “chờ sung rụng”. Và dân tộc ta thì quyết tâm dành độc lập theo ý chí thống nhất của riêng mình.<br />
<br />
<b>KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ</b><br />
<br />
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, phần nào đó Trung Quốc đã vỡ mộng với cái “lưới rách” đã dàn sẵng, chứ không hoàn toàn quá đắc chí như trước, khi nhận thấy hậu phương Miền Bắc có những hành động quyết luyệt đáp trả Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, chứ không ngồi chờ “kịch bản” từ Phương Bắc gởi sang.<br />
<br />
Nhận thấy gió đã không thổi theo chiều, chúng “vội vã” phá hoại phong trào đấu tranh vũ trang của đồng bào Miền Nam. Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền Nam Việt Nam như sau:<br />
<br />
“ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu để như vậy đâu…”<br />
<br />
Quả thật nực cười với những quan điểm chính trị “biến thái”, “nửa vời” mà chúng moi ra trong cái hệ tư tưởng ô hợp sặc mùi thủ đoạn, để đem đi dạy cho một dân tộc quá ư thấu hiểu về hai chữ Độc Lập.<br />
<br />
Hành động phản bội và bộ mặt phản động của chúng lại càng lộ rõ hơn, khi chúng đã ngồi chung mâm với Mỹ. Chúng đã không ngại ngần bật đèn xanh cho Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam. Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn:<br />
<br />
“Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.”[1]<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://img2.news.zing.vn/2012/06/28/1-7.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<b>Mao Trạch Đông và Richard Mixon tháng 2 năm 1972</b></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><br />
Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A. Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn:<br />
<br />
“Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam càng tốt”[2]<br />
<br />
Trung Quốc không từ mọi thủ đoạn, mà còn tích cực giúp Mỹ phá hoại luôn cả mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Khi trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1956. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế hòng gây rối phong trào phản chiến nhân rộng khắp thế giới của ta:<br />
<br />
“Cần phải thành lập Mặt trận thống nhất thế giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…”<br />
<br />
Điệu đặc biệt khi cuộc kháng chiến của dân tộc ta lên đến cao điểm, thì Trung Quốc chẳng ngại chơi bài ngửa, với những hành động giả giả, thật thật, hòng đạt được mưu đồ của mình. <br />
<br />
Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừa nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về việc đàm phán với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng:<br />
<br />
“Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”.<br />
<br />
Trắng trợn hơn, ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt Nam “nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”.<br />
<br />
Và khi không đạt được ý muốn, chúng đã dùng chiêu bài mặc cả. Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt Nam lựa chọn:<br />
<br />
“Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”.<br />
<br />
Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ:<br />
<br />
“Lần này nếu các đồng chí chấp nhận bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”.<br />
<br />
Đe doạ cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.<br />
<br />
Đi đôi với việc đe doạ bằng lời lẽ thô bạo là việc đe doạ bằng hành động thực sự. Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa, tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói:<br />
<br />
“Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?”<br />
<br />
Và câu trả lời thẳng từ phía ta dành cho họ:<br />
<br />
“Sự nhiệt tình của một nước xã hội chủ nghĩa đói với một nước xã hội  chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3 triệu người…Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”<br />
<b><br />
CHIẾN THẮNG 30-04-1975</b><br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://data.vietinfo.eu/News//2012/09/28/178559/1348849435.586.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<b>Cuộc hội đàm giữa Chu Ân Lai và Kissinger năm 1972</b><br />
<br />
</div>Nhận thấy đã không còn quyền định đoạt trong ván bài. Họ đã vét chút vốn liếng còn lại của cái dự án bị phá sản kia, khi “lén lút” đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, rồi giăng “thiên la địa võng” ở Cam-bốt mà chờ thời.<br />
<br />
Và đến tận những ngày cuối cùng của cái Chính quyền bù nhịn mà Mỹ dựng nên kia, chúng còn âm mưu cấu kết với Việt Nam Cộng Hòa để đánh lén ta. Theo hồi ký các tướng tá của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu dân biểu Lý Quý Chung, thì sáng ngày 28/4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp Dương Văn Minh và đề nghị kêu gọi Trung Quốc đem quân can thiệp để cứu quân đội Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị quân đội Sài Gòn hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Tướng Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, đại tá QĐNDVN) và gia đình đã thuyết phục từ trước, đã từ khước và nói: &quot;Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.[3]<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://a9.vietbao.vn/images/vn902/2005/11/20514298-images825995_T7.jpg" border="0" alt="" /><br />
<br />
<b>Reagan và Đặng Tiểu Bình năm 1984</b></div><br />
Và cuối cùng đến Henry Kissinger cũng phải nhận định rằng &quot;Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.<br />
<br />
<b>Nguồn trích dẫn:<br />
<br />
</b></span>[1] Ét-ga Xnâu: &quot;Cuộc cách mạng lâu dài&quot; Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 216<br />
<br />
[2] Mô-ha-mét Hát-xe-nen Hây-can: &quot;Những tài liệu từ Cai-rô&quot; Nhà xuất bản Phia-ma-ri-ông, Paris, 1972, tr. 238<br />
<br />
[3] Nguyễn Hữu Thái. Hồi ức “Dương Văn Minh và tôi” năm 2008</font></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>daibang_9x</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81114</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Biên Niên Sử Chăm-pa</title>
			<link>http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81098&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Sat, 27 Apr 2013 14:56:29 GMT</pubDate>
			<description>Sakkarai Dak Rai Patao là biên niên sử duy nhất viết bằng tiếng Akhar Thrah Chăm liên quan đến lịch sử của tiểu vương...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><div style="text-align: center;"><font color="#000000">Sakkarai Dak Rai Patao là biên niên sử duy nhất viết bằng tiếng Akhar Thrah Chăm liên quan đến lịch sử của tiểu vương quốc Panduranga, chứ không phải là biên niên sử của vua chúa liêng bang Champa đóng đô ở Vijaya. Tiếc rằng, những yếu tố cơ bản lịch sử trong tư liệu có giá trị này đã bị hiểu lầm và sửa đổi theo nhãn quan riêng tư của một số nhà nghiên cứu hay nhà viết lách trong nhiều bài viết đăng tải trên tập san và báo chí viết bằng tiếng Việt ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại gần 40 năm qua. Chỉ cần nhìn lai các bài viết sai lầm về Po Klaong Garai, Po Binnasuar và Po Saong Nhung Ceng, ba nhân vật được ghi trong biên niên sử này, chúng ta đã thấy rằng Sakkarai Dak Rai Patao đã bị thêu dệt tùy theo quan điểm của mỗi tác giả để rồi trở thành nạn nhân của làn sóng nghiên cứu về văn hóa Chăm hôm nay.<br />
<br />
</font></div></font></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Một số tác giả cho rằng Po Klaong Garai là vị vua thật sự trị vì vào năm (1151-1295). Họ còn cho rằng Po Klaong Garai là Jaya Indravarman IV vua của liên bang Champa (1147-1160), nhưng họ không bao giờ cho biết tại sao. Tiếc rằng, trong tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao, Po Klaong Garai chỉ là vua huyền sử, một vị thần linh tự sinh ra (éngkat) và được xếp vào triều đại thứ 5 trong danh sách các vua huyền sử này. Sau mấy năm trì vị ở trần gian, Po Klaong Garai trở về trời (nao mâng rup).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Binnasuar (hay Po Binthuer) cũng là nhân vật được phô trương trong nhiều bài viết. Một số người tự phỏng đoán rằng Po Binnasuar (1316-1361 hay 1328-1373) là quốc vương Chế Bồng Nga (1360-1390). Tiếc rằng, Po Binnasuar và Chế Bồng Nga là hai vị vua khác nhau. Po Binnasuar là vua của tiểu vương quốc Panduranga, gốc làng Bính Nghĩa, Phan Rang lên ngôi năm 1316 hay 1328. Ðền của ngài vẫn còn thờ phượng ở gần làng Bính Nghĩa này. Ngược lại, Chế Bồng Nga là quốc vương của liên bang Champa đóng đô ở Vijaya (Ðồ Bàn), lên ngôi năm 1360.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cuối cùng, Po Saong Nhung Ceng (1799-1822) là quốc vương Panduranga đã chết tại Phan Rí vì bệnh già yếu vào năm 1822 mà cả thư tịch cổ Việt Nam cũng đã chứng minh biến cố này. Ngược lại, một số nhà viết lách cứ cho rằng ngài chạy sang Cao Miên lánh nạn vào năm 1822.<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Nguyên nhân của sự sai lầm<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Ðiều mà chúng tôi muốn khẳng định ở đây đó là những sai lầm này chỉ xuất hiện trên mặt sách báo viết bằng tiếng Việt và nó bắt nguồn từ ngày ra đời tác phẩm Dân Tộc Chàm Lịch Sử của Dorohiem và Dohamide xuất bản vào năm 1965. Thế thì đâu là nguyên nhân chính đã đưa các nhà nghiên cứu hay người viết lách bằng tiếng Việt vấp phải lỗi lầm vô cùng tai hại cho lịch sử Champa nói chung và lịch sử của tiểu vương quốc Panduranga nói riêng. Ðể trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi xin trình bày sơ lược xuất xứ của các bài nghiên cứu về Sakkarai Dak Rai Patao kể từ cuối thế kỷ thứ 19 cho đến hôm nay.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Người nghiên cứu đầu tiên về Sakkarai Dak Rai Patao là E. Aymonier (1890: 145-206). Trong bài nghiên cứu này, E. Aymonier tự đặt bao câu hỏi có chăng Sakkarai Dak Rai Patao chỉ là cốt truyện huyền sử, hoang đường nếu cho rằng tác phẩm này là biên niên sử của vương quốc Champa? Vì rằng danh sách vua chúa ghi trong Sakkarai Dak Rai Patao không có gì liên hệ đến vua chúa Champa đóng đô ở Viyaja, từ niên đại lên ngôi, tên tuổi, thủ đô, v.v. Trong bài viết của mình, E. Aymonier chỉ nêu ra câu hỏi, đặt lại vấn đề liên quan đến xuất xứ của tư liệu này, nhưng ông không tìm ra một câu để giải đáp.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Mười lăm năm sau, nhà nghiên cứu Pháp là E. Durand (1905: 377-382) trở lại nghiên cứu tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao. Trong phần kết luận, E. Durand cho rằng đây không phải là cốt truyện huyền sử và hoang đường, mà cũng không phải là biên niên sử của liên bang Champa như E. Aymonier đã nêu ra, mà là biên niên sử của tiểu vương quốc Panduranga ở miền nam, chỉ có thế thôi. Bài nghiên cứu của E. Durand vào năm 1905 đã trở thành một yếu tố lịch sử mà các chuyên gia ở phương Tây đều công nhận cho đến hôm nay. Theo quan điểm của E. Durand, Panduranga không phải là một đơn vị hành chánh tương đương với “Tỉnh” ở Việt Nam, mà là một tiểu vương quốc nằm trong liên bang Champa. Chính vì thế, tiểu vương quốc này cũng có một cơ cấu hành chánh riêng, chính trị và quân sự  riêng, kể cả biên niên sử riêng, đó là Sakkarai Dak Rai Patao. Năm 1978, tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao trở thành bài luận án phó tiến sĩ của tôi ở đại học Sorbonne, Paris. Trong bài luận án này, tôi cũng chứng minh rằng Sakkarai Dak Rai Patao là biên niên sử của Panduranga, một tiểu vương quốc của liên bang Champa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Không đọc đến bài nghiên cứu của E. Durand viết vào năm 1905 và những bài bài viết khác đăng tải trong các sách báo khoa học ở phương Tây, và cũng không cần nghiên cứu sâu đậm nội dung của biên niên sử viết bằng tiếng Chăm akhar thrah này, Dorohiem và Dohamide (Dân Tộc Chăm Lược Sử, 1965) chỉ dựa vào bài nghiên cứu bằng tiếng Pháp của E. Aymonier xuất bản vào năm 1980 để phát họa nội dung Sakkarai Dak Rai Patao theo cảm hứng riêng tư của mình. Trong tác phẩm này, Dorohiem và Dohamide, vì vô tình hay là cố ý, đã sửa đổi hoàn toàn quan điểm của E. Aymonier để thay vào đó một quan điểm mới lạ nhưng rất là phi lịch sử, cho rằng Sakkarai Dak Rai Patao là biên niên sử của vương quốc Champa, nhưng Dorohiem và Dohamide không đưa ra một dữ kiện lịch sử nào để minh chứng nội dung bài viết của mình. Ðúng ra, phong cách “sửa đổi yếu tố lịch sử” này chỉ thường xuất hiện trong các bài viết của người viết lách hơn là của nhà khoa học dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau ngày ra đời tác phẩm Dorohiem và Dohamide vào năm 1965, một số nhà nghiên cứu hay một vài người viết lách chỉ dựa vào tác phẩm bằng tiếng Việt mang tựa đề là Dân Tộc Chàm Lược Sử,  để rồi lặp đi lặp lại bao sự sai lầm lịch sử trong bài viết của Dorohiem và Dohamide. Thế là, tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao Cham, kể từ năm 1965, đã trở thành nạn nhân của quan điểm sai lầm do Dorohiem và Dohamide đưa ra, chứ không phải là nạn nhân của các nhà viết lách nữa.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ðể làm sáng tỏ lại vấn đề liên quan đến nội dung của tác phẩm lịch sử có giá trị này, chúng tôi muốn đặt lại vấn đề ở đây có chăng Sakkarai Dak Rai Patao là một tác phẩm huyền thoại như E. Aymonier đã đề nghị vào năm 1890 hay là biên niên sử của vương quốc Champa như Dorohiem và Dohamide đã phỏng đoán vào năm 1965 hay là biên niên sử thật sự của tiểu vương quốc Panduranga như E. Durand đã đưa ra vào năm 1905?<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Sơ lược lịch sử Panduranga<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Cũng nhờ các bia ký Champa, tư liệu cổ Việt Nam và Trung Hoa, các nhà nghiên cứu phương Tây đã phác họa lịch sử vương quốc Champa một cách tổng thể từ thế thế kỷ thứ 2 đến năm 1471, cũng là năm đánh dấu cho sự thất thủ Vijaya, tức là thành Ðồ Bàn (G. Maspero: 1928); G. Coedes: 1964; Po Dharma: 1978, 1987). Sau năm 1471, các bia ký Champa không còn xuất hiện nữa. Dựa vào sự biến mất của bia ký, các nhà nghiên cứu không còn quan tâm đến lịch sử cận đại của Champa sau thế kỷ thứ 15. Tiếc rằng, người ta đã quên rằng dân tộc Chăm ở khu vực Phan Rang và Phan Rí vẫn còn lưu trữ rất nhiều văn bản cổ viết bằng tiếng Chăm liên quan đến lịch sử và nền văn minh Champa sau năm 1471 (Po Dharma: 1987; P-B. Lafont: 1980). Trong kho tàng văn chương lịch sử này, Sak Karay Dak Rai Patao là văn bản duy nhất nói về biên niên sử của vua chúa Panduranga.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ai cũng biết, kể từ đầu thế kỷ thứ 20, các nhà nghiên cứu phương Tây (L. Finot: 1903; G. Coedes: 1964; P-B. Lafont: 1980; Po Dharma: 1987; B. Gay: 1988)  đã phân tích một cách khoa học và có hệ thống những nền tảng tổ chức chính trị và hành chánh Champa để rồi đưa ra một kết  luận chung đó là Champa không phải là một quốc gia tập quyền, thống nhất như thể chế chính trị ở Trung Hoa hay ở Việt Nam, mà là một vương quốc liên bang (fédération) và đôi lúc cũng là một liên hiệp quốc gia (confédération), rất gần gũi với thể chế liên bang Mã Lai hôm nay.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Liên bang Champa tập trung 5 tiểu vương quốc trong đó có Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Ðứng đầu của quốc gia liên bang Champa là quốc vương mang tôn hiệu Rajadiraja (tức là vua của vua), chứ không phải là Patao như Dohamide và Dorohiêm (2004, tr. 263) đưa ra. Quốc vương này còn mang một tôn hiệu khác đó là Po Tana Raya (lãnh chúa toàn diện đất đai) để cai trị quốc gia với «cây lộng duy nhất››, biểu hiện cho uy quyền hoàng gia Champa. Thủ đô liên bang lúc ban đầu đặt tại Indrapura (Quảng Nam) sau đó dời về Vijaya (Bình định) kể từ năm 1000.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nằm ở cực nam của lãnh thổ liên bang Champa, Panduranga là một tiểu vương quốc có một thể chế hành chánh, chính trị và quân sự riêng biệt. Sự hình thành tiểu vương quốc này đã có từ lâu đời. Vì rằng vào năm 1050, bia ký đã nói đến cuộc vùng dậy của nhân dân Panduranga chống lai chính quyền trung ương Champa ở miền bắc. Ðể trả lời cho thái độ bất qui phục này, quốc vương Champa là Jaya Paramesvaravarman I đứng ra chỉ trích kịch liệt thái độ ương ngạnh của nhân dân Panduranga mà ngài gọi họ là «dân tộc phóng đãng (vicieux), ác tâm (malfsaisant), khinh bạc (frivole), luôn luôn phản động chống lai triều đình trung ương» (Maspero, 1928: 37 ; Po Dharma, 1987 : 57). Nhằm phá tan yêu sách đòi tự trị ở miền nam và đưa dân tộc Panduranga phải tôn trọng uy quyền triều đình trung ương, quốc vương liên bang Champa thường biến tiểu vương quốc Pandurang thành một lãnh thổ đặc hữu (apanage) đặt dưới quyền cai trị của một thái tử (yuvaraja) do quốc vương liên bang Champa chỉ định (Finot, 1909: 205-209, Maspero, 1928: 137). Sự hiện diện của thái tử này cũng không ngăn cấm nổi Panduranga trở lại con đường cũ : thua keo này bày keo khác. Vì rằng, Panduranga vẫn là nơi phát sinh một số biến cố chính trị lớn vào thế kỷ thứ 11. Biến cố thứ nhất đó là một nhân vật quan trọng trong triều đình của Panduranga đứng ra kêu gọi nhân dân tách rời ra khỏi liên bang Champa, rồi tự phong mình làm vua ở miền nam, dù rằng vương triều này chỉ kéo dài trong vòng 13 năm. Hết tìm cách xây dựng một quốc gia tự trị, Panduranga còn là nơi trú ẩn dành cho một số nhân vật chính trị từ trung ương ở Vijaya chạy sang lánh nạn (Finot, 1909: 205-209; Maspero, 1928: 137).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Với bản chất cương quyết của nhân dân Panduranga đấu tranh cho bằng được quy chế tự trị ở miền nam, một số quốc vương liên bang Champa không còn cách nào khác là công nhận nền tự trị của Panduranga ở miền nam. Ðiển hình nhất là vào thế kỷ thứ 10, tư liệu Trung Hoa cho rằng mặc dù Panduranga vẫn là lãnh thổ trực thuộc liên bang Champa, nhưng tiểu vương quốc này vừa triều cống vua liêng bang Champa ở miền bắc, vừa gởi triều cống đến Trung Hoa như một quốc gia độc lập (Pelliot, 1903: 649).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngoài yêu sách tự trị, vua chúa Panduranga cũng thường xác nhận họ có một thị tộc riêng biệt. Ðiển hình là vào cuối thế kỷ thứ 11, quốc vương liên bang Champa là Sri Harivarman IV (1074-1081) tự cho mình là người xuất thân từ thị tộc cây câu (Narikela) của dòng thân mẫu ở Panduranga, một thị tộc tinh khiết của chủng tộc Champa. Thân phụ của ngài thuộc thị tộc cây dừa (Kramula) ở Vijaya. Hai thị tộc này thường dùng đến bạo lực để chinh phục uy quyền ở liên bang Champa trong nhiều thế kỷ (Maspero, 1928: 43).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Hết sự khác biệt về thị tộc, Panduranga thường đeo đuổi tư thế độc lập của mình về phương diện chính trị đối với miền bắc. Chính vì thế, Panduranga thường không hỗ trợ quân sự cho Vijaya, một khi tiểu vương quốc phía bắc này bị ngoai bang xâm chiếm. Vào năm 1145, vua Cao Miên xua quân xâm chiếm Vijaya và giết chết vua liên bang Champa là Indravarman III. Trước sự tấn công của ngoại bang, Panduranga không hề gởi quân để giúp đỡ quốc vương Champa ở phương bắc. Thêm vào đó, Panduranga còn đón nhận hoàng tử của tiểu vương quốc Vijaya là Rudravarman IV cùng với đứa con trai là Srivanandana chạy sang lánh nạn trên lãnh thổ của mình một khi quân Cao Miên phá hủy thủ đô Vijaya vào năm 1145. Ngoài sự tiếp đón nồng hậu này, dân chúng Pandurang còn tôn vinh hoàng tử Srivanandana lên làm vua Champa ở miền nam lấy vương hiệu là Jaya Harivarman I (Maspero, 1928: 156-157). Thế là vương quốc Champa bị chia đôi thành hai miền rõ rệt. Vijaya đặt dưới quyền chỉ huy của quân đội Cao Miên và Panduranga thì có Jaya Harivarman I. Với sự hỗ trợ của quân đội Panduranga, vua Jaya Harivarman I xuất quân ra bắc vào năm 1149 tấn công Vijaya và giết được tổng tư lệnh quân viễn chinh Cao Miên là hoàng tử Harideva, tức là em rể của vua nước này (Maspero, 1928: 156).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Năm 1190, vua Cao Miên là Jayavarman VII giao quyền cho hoàng tử Champa là Sri Vidryanandana sang lánh nạn ở Cao Miên từ năm 1182, đem quân tấn công Vijaya lần thứ hai, bắt được vua Champa là Jaya Indravarman IV đưa về Cao Miên. Một khi thắng trận, vua Cao Miên phong cho em rể của mình lên làm quốc vương Vijaya (Nagara Vijaya) với vương hiệu là Suryajayavarman. Riêng về hoàng tử Sri Vidryanandana, ngài trở lại Panduranga, tự phong cho mình là quốc vương của tiểu vương quốc này với vương hiệu là Sri Suryavarmadeva, đặt thủ đô tại Rajapura (Phan Rang). Thế là vương quốc Champa lai bị chia đôi một lần nữa. Miền bắc do quân Cao Miên trấn giữ. Tiểu vương quốc Panduranga do hoàng tử Sri Suryavarman lãnh đao (Maspero, 1928: 166).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vì không chấp nhận tiểu vương quốc Vijaya bị cai trị bởi ngoại bang, hoàng tử Champa tên là Rasupati vùng dậy vào năm 1191 đánh đuổi quân xâm lược Cao Miên sau đó lên ngôi lấy vương hiệu là Jaya Indravarman V. Ðể trả thù cho cuộc vùng dậy này, vua Cao Miên chấp nhận trả tự do cho cựu quốc vương Jaya Indravarman IV bị bắt giam tại vương quốc này vào năm 1190. Từ vương quốc Cao Miên, cựu quốc vương Jaya Indravarman IV ghé sang Panduranga cầu cứu quân sự hầu chiếm lại ngai vàng ở phương bắc. Một khi đã nhận lời giúp đỡ, vua Panduranga là Sri Suryavarman xua quân sang miền bắc, đánh đuổi quân xâm lược Cao Miên ra khỏi Vijaya. Lợi dụng sự chiến thắng này, vua Panduranga phế truất cựu vương quốc Jaya Indravarman IV ra khỏi ngai vàng, tự phong mình làm quốc vương liên bang Champa kiêm cả chức vua của tiểu vương quốc Panduranga kể từ năm 1192 (Maspero, 1928:165-166).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một năm sau, tức là vào năm 1193, vua Cao Miên Jayavarman VII xuất quân sang chinh phạt Sri Suryavarman ở Vijaya. Bị thất trận vào năm 1203, Sri Suryavarman chạy sang Ðại Việt lánh nạn. Nắm chủ tình hình, vua Cao Miên chiếm lại thủ đô Vijaya và đặt nền cai trị ở miền bắc Champa trong xuốt 17 năm, từ 1203 đến 1220 (Maspero, 1928: 167)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sự đô hộ của Cao Miên ở Champa vào những năm 1203 và 1220 đã đánh dấu một biến cố quan trọng trong văn chương lịch sử ở Champa. Chính trong thời điểm này mà tác phẩm Sakkaray Dak Ray Patao đã ra đời với vị vua đầu tiên là Sri Agarang trị vì vào năm 1193 hay 1205 tùy theo dị bản. Tiếc rằng, không tư liệu nào có thể giúp chúng tôi để nhận diện rằng sự ra đời của Sakkaray Dak Ray Patao ở Panduranga có liên hệ gì với chính sách đô hộ Cao Miên ở Vijaya, miền bắc của Champa? Ðây chỉ là một vấn đề đặt ra nhưng không ai có thể trả lời câu hỏi này (Po Dharma, 1978).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một khi đã thoát thân ra khỏi nền đô hộ của Cao Miên vào những thập niên đầu của thế kỷ thứ 13, vương quốc Champa lại vướng vào một tai họa khác đó là chính sách Nam Tiến của Ðại Việt.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau khi thôn tính dần dần một số đất đai ở phía bắc của Champa, Ðại Việt quyết định nuốt trọn thủ đô Vijaya vào năm 1471 và dời biên giới của mình đến đèo Cù Mông, phía bắc Phú Yên. Sự thất thủ thành Ðồ Bàn đã đưa bản đồ dân cư Champa vào một khúc quanh mới. Vì rằng, kể từ năm 1471, Champa bị thu hẹp lại trong lãnh thổ của tiểu vương quốc Panduranga ở miền nam mà thôi (Po Dharma, 1987, I, tr. 61-62).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau khi Vijaya bị thất thủ, tướng Bố Trì Trì sang lánh nạn ở Panduranga, chiếm giữ một phần năm đất đai của tiểu vương quốc này để thành lập một quốc gia riêng biệt. Ngài cũng xin vua Lê Thánh Tông công nhận sự tấn phong của mình và biên niên sử Minh Chê của Trung Hoa vẫn còn nói đến sự liên hệ với Champa của Bố Trì Trì giữa năm 1478 và 1543 (Maspero, 1928: 240).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Từ ngày thất thủ thành Ðồ Bàn vào năm 1471 đến năm 1611, tức là gần 140 năm, người ta cứ tuởng rằng chiến tranh không còn tái diễn nữa giữa hai nước láng giềng thù địch, đó là Champa và Ðại Việt. Tiếc rằng sự hòa bình này chỉ là một giấc mơ huyền ảo. Năm 1611, nhà Nguyễn bắt đầu phất cờ Nam Tiến, mà Phú Yên là nạn nhân đầu tiên của chính sách xâm lược này. Năm 1653 quân nhà Nguyễn chiếm đóng Kauthara (Nha Trang) và năm 1658 tràn sang khu vực Sài Gòn tức là đất đai của Cao Miên thời đó (Po Dharma (1987, I: 64-66).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ba mươi chín năm sau ngày thất thủ Kauthara (1653), nhà Nguyễn quyết định nút trọn lãnh thổ Champa còn lại vào năm 1692, thay đổi danh xưng Chiêm Thành thành Trấn Thuận Thành và thành lập phủ người Việt đầu tiên mang tên là phủ Bình Thuận trong biên giới của tiểu vương quốc Panduranga. Ðể trả lời cho chính sách xâm lược này, nhân dân Champa vùng dậy đánh đuổi quân xâm luợc nhà Nguyễn vào năm 1693. Vì không kháng cự nổi, nhà Nguyễn chấp nhận trao trả lại nền độc lập cho Champa vào năm 1694 với điều kiện là Panduranga phải công nhân sự hiện diện của phủ Bình Thuận ở tiểu vương quốc này nhằm quản lý các cư dân Việt sống ở Champa thời đó (Po Dharma, 1987, I: 67-71).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Phủ Bình Thuận là đơn vị hành chánh trực thuộc nhà Nguyễn tập trung các làng xã người Việt nằm rải rác trong lãnh thổ Champa. Sự ra đời của phủ Bình Thuận đã thay đổi hoàn toàn địa bàn dân cư Panduranga thời đó. Vì lãnh thổ này không dành riêng cho dân tộc Champa nữa mà là cả cư dân Việt. Mô hình dân cư quá phức tạp này đã đưa hai cộng đồng Chăm và cư dân Việt đến sự xung đột thường xuyên trong những năm kế tiếp (Po Dharma, 1987, I: 70-71).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Vào thập niên của cuối thế kỷ thứ 18, Panduranga lại trở thành một bãi chiến trường đẫm máu giữa hai thế lực thù địch người Việt, đó là chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Thế thì sự sống còn của Panduranga hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của chiến tranh này. Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Ðể đền đáp công lao cho một số người Chăm dấn thân vào phong trào chống Tây Sơn, Gia Long quyết định tái lập lại vương hiệu Panduranga và phong cho Po Saong Nhung Ceng, một chiến sĩ gốc người Chăm (tức là tổ tiên của Bà Thềm ở Phan Rí) đã từng theo ông trong buổi ban đầu chống quân Tây Sơn, lên làm vua của tiểu vương quốc này (Po Dharma (1987, I: 83-99). Và Po Saong Nhung Ceng cũng là vị vua cuối cùng nằm trong danh sách của Sakkaray Dak Rai Patao.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Những biến cố mà chúng tôi đã nêu ra đã cho độc giả thấy rằng Panduranga có một quy chế chính trị và quân sự rất là đặc biệt trong quá trình lịch sử của Champa. Dù rằng đã mấy lần vùng dậy chống triều đình trung ương để đòi nền tự trị ở miền nam, xuất quân đánh đuổi kẻ xâm lược Cao Miên ra khỏi Vijaya ở miền bắc, gởi cả phái đoàn ngoại giao sang triều cống Trung Hoa như một quốc gia độc lập, có vua chúa và quân đội riêng, Panduranga vẫn là một đơn vị hành chánh của Champa. Nhưng đơn vị hành chánh này không thể hiểu là một “Tỉnh” của Champa như một số người thường hiểu lầm từ ngày ra đời tác phẩm của Dorohiêm và Dohamide vào năm 1965, mà là một tiểu vương quốc nằm trong liên bang Champa. Dựa vào yếu tố chính trị và hành chánh này, các nhà khoa học thường định nghĩa rằng Champa không phải là một quốc gia thống nhất và tập quyền như thể chế Việt Nam, mà một vương quốc liên bang. Ðây là một thể chế thông dụng mà người ta còn thấy ở liên bang Mã Lai hôm nay tập trung 9 tiểu vương quốc (Dupuis, 1972) hay liên bang Lào trong thời phong kiến tập trung 4 tiểu vương quốc như Luang Prabang, Vientian, Xieng Khoang và Champasak (Saveng Phinith, 1987: 6).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Kể từ năm 1905, thể chế liên bang Champa đã trở thành một yếu tố lịch sử mà không ai có thể chối cãi được, ngoại trừ ba nhà nghiên cứu duy nhất trên thế giới đó là Lương Ninh, Dohamide và Dorohiêm. Trong bài viết của Lương Ninh xuất bản vào năm 2004, tác giả cho rằng «nếu đem lý thuyết Mandala (liên bang) áp dụng ở Champa, thì tác giả chỉ đồng ý một nữa›› mà thôi. Ðây là lối lý luận khập khiễng. Ngược lại, Dohamide và Dorohiêm thì phủ nhận hoàn toàn thể chế liên bang Champa trong tác phẩm Bangsa Champa xuất bản vào năm 2004. Không cần đưa ra một nguồn tư liệu nào để minh chứng cho quan điểm của mình, Dohamide và Dorohiêm tự phỏng đoán rằng vương quốc Champa hợp thành một cơ cấu quốc gia thống nhất. Chúng tôi khỏi bàn quan điểm này, vì đây chỉ là lối suy diễn dựa vào cảm hứng riêng tư và lý luận phi khoa học của Dohamide và Dorohiem mà thôi.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Một khi đã công nhận Panduranga không phải là một “Tỉnh” của Champa như Dohamide và Dorohiem đã hiểu lầm từ năm 1965, mà là một tiểu vương quốc trong liên bang Champa, thế thì Panduranga cũng có quyền hưởng được quy chế pháp lý để có một biên niên sử riêng của mình, đó Sakkarai Dak Rai Patao.<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Nội dung của biên niên sử<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Trong thư viện của Pháp hiện còn lưu trữ 12 dị bản khác nhau của tác phẩm Sakkaray Dak Rai Patao. Trong tổng số này, có 10 dị bản viết bằng tiếng Chăm ở Việt Nam và 2 dị bản viết bằng tiếng Chăm ở Cao Miên.</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sakkaray Dak Rai Patao viết bằng chữ Chăm Cao Miên cho rằng đây là biên niên sử của Nagar Panang-Panik, tức là biên niên sử của tiểu vương quốc nằm trong khu vực Phan Rang và Phan Rí, hay là  Panduranga. Ngược lai, Sakkaray Dak Rai Patao viết bằng chữ Chăm Việt Nam chỉ ghi rằng đây là biên niên sử Patao Chăm (vua chúa Chăm), nhưng không cho biết rõ Patao Chăm này thuộc về Panduranga hay vua chúa Champa đóng đô ở Vijaya.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Nếu nói rằng Sakkaray Dak Rai Patao là biên niên sử của liên bang Champa thì không thể chấp nhận được. Vì rằng, hầu hết các lai lịch, “nghĩa trang” thuộc dòng thân mẫu (Kút) và đền tháp của vua chúa trong Sakkaray Dak Rai Patao đều nằm ở khu vực Phan Rang và Phan Rí hôm nay. Ðiều đáng chú ý nữa đó là các thủ đô như Bal Sri Banây, Bal Hanguw, Bal Anguai, Bal Batsinâng, Bal Pangdarang đều nằm trong lãnh thổ của Panduranga. Các danh xưng của vua chúa trong Sakkaray Dak Rai Patao đều khởi đầu bằng cụm từ «Po», như Po Romé, Po Klaong Haluw, v.v. chứ không phải khởi đầu bằng cụm từ «Jaya, Sri›› như Jaya Indravarman, Sri Sinhavarman, v.v. được sử dụng bởi các vua chúa liên bang Champa đóng đô ở Vijaya. Thêm vào đó, người ta chưa bao giờ tìm thấy một bản văn nào viết bằng Akhar Thrah Chăm phát xuất từ khu vực Panduranga lại nhắc đến một số kỷ niệm xa xưa ở khu vực Champa miền bắc (từ Bình Định cho đến Quảng Bình), ngoại trừ vài danh từ địa phương như Huê (tức là Huế), Mbin Ngai (tức là Quảng Ngãi), v. v., vì rằng các địa danh này chỉ xuất hiện trong văn chương Chăm vào thời Nguyễn mà thôi. Chính vì thế, một số người Chăm cho rằng Harek Kah Harek Dhei dùng trong bản văn Chăm nằm ở Quảng Bình là hoàn toàn phi khoa học, vì địa danh này chỉ nằm ở khu vực Aia Ru (tỉnh Phú Yên) tức là địa đầu của tiểu vương quốc Panduranga. Càng không thể được nếu cho rằng công chúa Bia Mih Ai trong tác  phẩm Nai Mai Mang Makah là công chúa Mị E, vợ của Jaya Sinhavarman II,  tức là Sạ Ðẩu (1044-), v.v., vì tác phẩm Nai Mai Mang Makah chỉ viết vào thế kỷ thứ XVIII (Po Dharma, 2000).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tác phẩm Sakkaray Dak Rai Patao có tổng số 38 vị vua và được chia làm hai phần rõ rệt.<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Thời kỳ tiền sử<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Phần đầu là thời kỳ huyền sử mà biên niên sử này gọi là patao jiéng éng hay patao éngkat «vua tự sinh ra›› gồm có 5 vị vua:<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Uwluah,</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Binnasuar,</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Putik,</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Sulika</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Klaong Garai<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Họ không phải là người thường mà là những vị thần linh, tự sinh ra (jiéng éng hay éngkat) và tự giáng thế để cai trị xứ sở Chăm. Sau một thời gian lên ngôi, các vị thần thánh này không chết, nhưng trở về thế giới linh thiên (nao meng rup).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong 5 nhân vật huyền sử này, Po Kloang Garai trở thành nạn nhân của nhiều người Chăm viết lách từ mấy thập niên qua. Po Klaong Garai còn là tên của một cái đền ở phía tây của thành phố Phan Rang. Dựa vào truyền thuyết, một số người Chăm cho rằng đây là đền tháp do Po Klaong Garai xây dựng. Nhưng trên thực tế, đền Po Klaong Garai là công trình xây cất bởi vua Jaya Simhavarman (Chế Mân) vào cuối thế kỷ thứ XIV. Sau thế kỷ thứ XV, vua chúa Panduranga biến vua Chế Mân thành một truyền thuyết thần linh của dân tộc bản địa. Những công trình xây dựng hệ thống mương đập của Po Klaong Garai chỉ là tác phẩm của vua Chế Mân để lại. Đây cũng là giai đoạn lịch sử mà dân tộc Champa ở miền nam tìm cách xa lánh dần dần những yếu tố Ấn Giáo ở phía bắc nhằm xây dựng cho mình một nền văn minh mới pha lẫn 3 nền văn hóa rỏ rệt: Ấn Giáo, Bản Địa và Hồi Giáo.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Thời kỳ tiền sử là phong cách chung nằm trong văn chương lịch sử mà người ta thường thấy ở các nước Ðông Nam Á, trong đó có Champa. Lịch sử Việt Nam có câu truyện Bà Âu Cơ đẻ trăm trứng trăm con, rồi phát khai ra triều đại Hồng Bàn đầu tiên của dân tộc Việt (Whitfield, 1976: 114; Lương Ninh, 2000: 46-48). Lịch sử Cao Miên có cốt truyện Brah Thong cưới công chúa của vua Naga (tức là thần rắn) rồi sáng lập ra quốc vương Cao Miên (Mak Phoeun, 1984: 7).<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Thời kỳ lịch sử<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">Phần thứ hai của Sakarai Dak Rai Patao là thời kỳ lịch sử. Các vua chúa nằm trong danh sách của thời kỳ lịch sử không phải là vị thần linh mà là người thường đứng lên làm thủ lãnh cai trị thật sự tiểu vương quốc Panduranga. Khởi đầu của thời kỳ lịch sử là vua Po Sri Agarang lên ngôi năm Sửu đến năm Ngọ (1193-1235 hay là 1205-1247 tùy theo dị bản). Vua cuối cùng của biên niên sử này Po Saong Nhung Ceng, lên ngôi từ năm Mùi đến năm Ngọ, tức là từ năm 1799 đến 1822.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sakkaray Dak Rai Patao là một tài liệu lịch sử không thể chối cãi được. Vì rằng thư tịch cổ Việt Nam đã đưa ra nhiều chi tiết liên quan đến sử kiện lịch sử Panduranga nhất là từ triều đại Po Romé (1627-1651) đến triều đại Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), rất gần gủi với nội dung của biên niên sử Panduranga. Ngoài ra, người ta còn nhận thấy các ký sự của thương thuyền phương Tây cũng thuật lại một số vấn đề liên quan đến một số triều đại trong Sakkaray Dak Rai Patao. Sau cùng bia ký viết bằng tiếng Akhar Thrah Chăm tìm thấy ở đền Po Romé cũng nói đến lai lịch của vua này và nhất là bà hoàng hậu Bia Thang Cih, vì không chấp nhận lên giàn hỏa trong lễ táng của Po Romé, đã bị triều đình Panduranga đưa tượng của bà đặt ngoài tháp của Po Romé.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ðiều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây, những triều đại trước vua Po Romé (1627-1651) còn chứa đựng một số dữ kiện rất là mơ hồ, vì không có tư liệu nước ngoài để kiểm chứng. Nhưng không phải thế mà chúng tôi gạt bỏ giá trị lịch sử của nó. Vì rằng đa số các vua chúa trước thời Po Romé đã để lại nhiều di tích lịch sử và ”nghĩa trang” (Kut) của họ ở khu vực Phan Rang và Phan Rí.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>1). Quyền nối ngôi<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sakkarai Dak Rai Patao còn để lai một số tin tức giúp chúng ta có thể hiểu được phần nào cơ cấu pháp lý liên quan đến vấn đề nối ngôi ở Panduranga. Nếu so với các hệ thống của liên bang Champa ở Vijaya, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống nối ngôi ở Panduranga không có điểm dị biệt. Hoàn toàn khác hẳn với chế độ ở Việt Nam là “cha truyền con nối”, quyền lên ngôi ở Panduranga hoàn toàn dựa trên tổ chức của chế độ mẫu hệ. Hệ phái đàn ông là người giữ chức lãnh thủ của liên bang Champa hay tiểu vương quốc <br />
Panduranga, nhưng ngai vàng không thuộc về vua mà là gia đình của bà hoàng hậu hay nói một cách khác thuộc về gia đình mẫu hệ của bà hoàng hậu. Một khi ông vua từ trần hay thoái vị, một hội đồng gia đình hoàng gia của bà hoàng hậu đứng ra chỉ định một ông vua mới, có thể là con hay là anh của bà hoàng hậu, con rể của bà hoàng hậu ngay cả em của quốc vương nếu ông ta kết hôn với thành viên của gia đình bà hoang hậu. Vì vua lên ngôi để cai trị đất nước nhân danh gia đình của bà hoàng hậu chứ không phải nhân danh thân tộc phái nam của mình. Po Thuntiraidaputih (1731-1732), con của vua Po Saot; Po Rattiraydaputao (1732, 1735-1763), cháu của vua Po Saktiraydapatih; Po Saktiraydapatih (1695, 1696-1727), em của vua Po Saot; Po Romé (1627-1651) là rể của vua Po Mâh Taha cũng được bầu lên làm quốc vương ở Panduranga đã giải thích cho lý thuyết của chúng tôi.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>2). Vấn đề niên đại<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tìm lại niên đại chính xác trong Sakkaray Dak Rai Patao là một vấn đề vô cùng khó khăn. Vì rằng, tư liệu này chỉ dùng tên 12 con giáp [6]  để viết ngày tháng của các triều đại vua chúa. Chính vì thế người ta không thể qui ra niên đại dựa trên 12 con giáp để chuyển sang năm Tây lịch một khi sự kiện này không được các tư liệu khác nói đến, như biên niên sử Việt Nam. Thêm vào đó, có rất nhiều người Chăm thường tranh đua đưa ra phương pháp tính lịch Chăm gọi là Sakawi [7]. Nhưng kết quả vẫn là một cốt truyện mơ hồ vì không có cơ sở khoa học. Niên đại trong tài liệu hoàng gia Champa từ 1702 đến 1810 là điểm móc để tìm ra công thức chu kỳ thật sự của Sakawi, nhưng không ai quan tâm đến [8].<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trong tác phẩm Sakkaray Dak Rai Patao, tác gỉa cho biết năm lên ngôi, năm thoái vị và tổng số năm trị vì của mỗi quốc vương ở Panduranga. Tuy nhiên, kể từ Po Aih Khang (vương triều thứ 22) cho đến Po Sri Agarang (vương triều thứ 6), người ta nhận thấy có sự dị biệt rõ rệt về niên đại nếu tính theo Tây lịch. Sự dị biệt này phát xuất từ hai nhóm dị bản của Sakkaray Dak Rai Patao. Nhóm thứ nhất cho rằng Po Aih Khang (vương triều thứ 22) trị vì 11 năm kể từ năm Sửu và nhóm thứ hai cho rằng ngài chỉ trị vì 5 năm. Chính vì thế, kể từ Po Aih Khang trở về Po Sri Agarang, năm tháng niên đại ghi trong Sakkaray Dak Rai Patao chỉ là một giả thuyết, không chính xác. Vì trong khoảng thời gian đó, không có tư liệu nào giúp chúng tôi để kết luận rằng nhóm thứ nhất hay nhóm thứ hai của Sakkaray Dak Rai Patao là đúng sự thật. Vấn đề này có thể chỉnh đốn lại một khi tư liệu hoàng gia Champa hiện đang lưu trữ trong thư viện của Société Asiatique de Paris được nghiên cứu và xuất bản.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Mặc dù có sự dị biệt trong Sakkaray Dak Rai Patao kể từ triều đại Po Aih Khang, chúng tôi cũng không quên đưa ra ngày tháng niên đại của mỗi vua chúa trị vì ở Panduranga. Ðể giải quyết vấn đề này, chúng tôi dựa vào triều đại cuối cùng là Po Saong Nhung Ceng làm điểm móc để từ đó chúng tôi tính ra ngày tháng niên đại cho các triều đại trước Po Saong Nhung Ceng đến vua đầu tiên trong danh sách của biên niên sử này là Po Sri Agarang (triều thứ 6).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Trở lại Po Saong Nhung Ceng (vương triều thứ 38). Theo thư tịch cổ Việt Nam, Po Saong Nhung Ceng (tiếng Việt là Nguyễn Văn Chấn) lên ngôi năm Vị (1799) và từ trần tại Phan Rí vì tuổi già vào năm Ngọ 1822. Ngày tháng niên đại này cũng được xác nhận trong Sakkarai Dak Rai Patao. Kể từ đó chúng tôi bắt đầu tính lại năm tháng niên đại theo Tây lịch  trở về triều đại vua đầu tiên là Po Sri Agarang bằng cách so sánh với niên đại của vua chúa Việt Nam do Bùi Quang Tùng nghiên cứu vào năm 1963.<br />
</font></font><br />
</span></font><font color="#707070"><span style="font-family: Droid Sans"><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#000000"><b>Các triều đại trong biên niên sử Panduranga<br />
<br />
</b></font></span></font></div></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><div style="text-align: center;"><font color="#000000"><b>A. Thời kỳ huyền sử<br />
<br />
</b></font></div></font></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000">1.<b> Po Uwaluah<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Tý, thoái vị năm Tý, trị vì 37 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang), sau đó ngài trở về trời.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">2. <b>Po Binnasur<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Tý, thoái vị năm Thìn, trị vì 41 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang), sau đó ngài trở về trời.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">3. <b>Po Putik<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Ngọ, trị vì 39 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">4. <b>Po Sulika<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Ngọ, thoái vị năm Mùi, trị vì 38 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">5. <b>Po Klaong Garay<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Mùi, thoái vị năm Sửu. Trước tiên ngài đóng đô ở Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ), sau đó dời thủ đô này về Bal Hanguw. Sau 55 năm trị vì, ngài trở về trời.<br />
<br />
</font></font></span></font><img src="http://nghiencuulichsudotcom.files.wordpress.com/2013/03/bimong-po-klaong-garai.jpg" border="0" alt="" /><br />
<font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><br />
</font></font></span></font><div style="text-align: center;"><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><i>Đây là tháp do vua Chế Mân xây vào thế kỷ thứ XIV mà hôm nay người Chăm gọi làBimong Po Klaong Garai, tức là vua huyền sử trong biên niên sử<br />
<br />
</i> </font></font></span></font></div><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><div style="text-align: center;"><font color="#000000"><b>B. Thời kỳ lịch sử<br />
<br />
</b></font></div></font></span></font><font size="3"><span style="font-family: arial"><font color="#707070"><font color="#000000"><b>I. Triều đại Po Sri Agarang<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">6. <b>Po Sri Agarang</b> (1193-1235 hay 1205-1247)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Mùi (dị bản khác cho là năm Ngọ), trị vì 43 năm, đóng đô ở Bal Hanguw (gần biên giới Krong Pha, Dalat).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">7. <b>Cei Anâk</b> (1235-1269 hay 1247-1281)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Sri Agarang, lên ngôi năm Mùi, thoái vị năm Tỵ, trị vì 35 năm. Trước tiên, ngài đóng đô ở Bal Hanguw (gần biên giới Krong Pha, Dalat) sau đó dời thủ đô về Bal Anguai (không biết ở đâu).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>II. Triều đại Po Dobatasuar<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">8. <b>Po Dobatasuar</b> (1269-1294 hay 1281-1306)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Sri Agarang, lên ngôi năm Tỵ, thoái vị năm Ngọ, trị vì 26 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">9. <b>Po Patarsuar</b> (1294-1316 hay 1306-1328)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Dobatasuar, lên ngôi năm Ngọ, thoái vị năm Thìn, trị vì 23 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">10. <b>Po Binnasuar</b> (1316-1361 hay 1328-1373)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Patarsuar, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Sửu, trị vì 46 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>III. Triều đại Po Parican<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">11. <b>Po Parican</b> (1361-1385 hay1373-1397)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Dobatasuar, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Sửu, trị vì 25 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>Thởi kỳ bị gián đoạn 37 năm<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau triều đại Po Parican là thời kỳ bị gián đoạn không có vua chúa (1385-1421 hay 1397-1433) trong suốt 37 năm từ năm Sửu đến năm Sửu, vì quân Ðại Việt sang tấn công Bal Anguai, sau đó vua chúa dời thủ đô Bal Anguai về Bal Pangdurang <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">12. <b>Po Kasit</b> (1421-1448 hay1433-1460)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Parican, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Thìn, trị vì 28 năm, đóng đô ở Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">13. <b>Po Kabrah</b> (1448-1482 hay1460-1494)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Kasit, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Dần, trị vì 35 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">14. <b>Po Kabih</b> (1482-1578 hay1494-1530)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Kabrah, lên ngôi năm Dần, thoái vị năm Dần, trị vì 37 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (thành trì Bal Batsinâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">15. <b>Po Karutdrak</b> (1518-1524 hay 1530-1536)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Kabih, lên ngôi năm Dần, thoái vị năm Thân, trị vì 7 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>IV. Triều đại Po Mahosarak<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">16. <b>Po Mahosarak</b> (1524-1529 hay 1536-1541)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Parican, lên ngôi năm Thân, thoái vị năm Sửu, trị vì 6 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">17. <b>Po Kunarai</b> (1529-1541 hay1541-1553)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của Po Mahosarak, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Sửu, trị vì 13 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">18. <b>Po At </b>(1541-1567 hay1553-1579)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cháu của Po Kunarai, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Thỏ, trị vì 27 năm. Ngài xây dinh riêng ở ngoài Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>V. Triều đại Po Klaong Halau<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">19. <b>Po Klaong Halau</b> (1567-1591 hay1579-1603)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Mahosarak, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (gần làng Chung Mỹ , Phanrang. Ðầu thế kỷ thứ 18, Bal Pangdurang dời về Phanri ở Bal Canar, thôn Tịnh Mỹ).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">20. <b>Po Nit</b> (1591-1601 hay1603-1613)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Klaong Halau, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Sửu, trị vì 11 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">21. <b>Po Jaiparan</b> (1601-1606 hay1613-1618)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Nit, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Ngọ, trị vì 6 năm. Không biết ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">22. <b>Po Aih Khang</b> (1613-1622 hay1618-1622)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Jaiparan, lên ngôi năm Sửu (một số dị bản cho là lên ngôi năm Ngọ), thoái vị năm Tuất, trị vì 11 năm (một số dị bản cho là 5 năm), đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>VI. Triều đại Po Mâh Taha<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">23. <b>Po Mâh Taha</b> (1622-1627)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Klaong Halau, lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Thỏ, trị vì 6 năm, đóng đô ở đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">24. <b>Po Romé</b> (1627-1651)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con rể của vua Po Mâh Taha, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Biuh Bal Pangdurang (Thành Bal Pangdurang).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của Po Romé, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Tỵ, trị vì 1 năm. Ngài xây một thành trì ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).25. <b>Po Nraop</b> (1652-1653)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">26. <b>Po Saktiraydapaghoh</b> (1654-1657)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con rể của Po Romé, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Ngọ, thoái vị năm Dậu, trị vì 4 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">27. <b>Po Jatamah</b> (1657-1659)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con rể của vua Po Saktiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Dậu, với chức phong là Ndo Naok Ndai Tang Kuan (Ðô Ðốc Ðại Tướng Quân), trị vì 2 năm nhưng không biết thoái vị năm nào và đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">28. <b>Po Saot</b> (1655, 1660-1692)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Saktiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Thân, trị vì 33 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>Thời kỳ bị gián đoạn (1692-1695)<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau Po Saot, biên niên sử nói là có sự gián đoạn triều đại trong vòng 3 năm.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">29. <b>Po Saktiraydapatih</b> (1695, 1696-1727)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Em của vua Po Saot, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Hợi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Mùi, trị vì 32 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">30. <b>Po Ganuhpatih</b> (1728-1730)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cháu của vua Saktiraydapatih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Thân, thoái vị năm Tuất, trị vì 3 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">31. <b>Po Thuntiraidaputih</b> (1731-1732)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Saot, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Hợi với chức phong là Kham Lik Mbin (Khâm Lý Binh), thoái vị năm Tý, trị vì 1 năm. Không biết ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">32. <b>Po Rattiraydaputao </b>(1732, 1735-1763)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Cháu của vua Po Saktiraydapatih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Tý cho đến năm Thỏ, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Mùi, trị vì 29 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">33. <b>Po Tisundimahrai</b> (1763-1765 )<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Không rõ ngài có liên hệ gì với thân tộc của vương triều vua Po Mâh Taha. Nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi với chức phong là Kai Bait Mbin (Cai Bếp Binh). Ngài thoái vị năm Dậu, trị vì 1 năm và không biết ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">34. <b>Po Tisuntiraydapaghoh</b> (1765, 1768-1780)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của Po Thuntiraidaputih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Dậu cho đến năm Tý ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Tý, trị vì 13 năm và đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">35. <b>Po Tisuntiraydapuran</b> (1780-1781)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài không có liên hệ thân tộc với vua Po Tisuntiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Tý với chức phong là Praong “quan lớn››. Sau 1 năm trị vì, ngài bị quân Việt Nam bắt vào năm Sửu, nhưng không cho biết lý do gì. Biên niên sử cũng không nói ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">36. <b>Cei Brei</b> (1783-1786)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Con của vua Po Tisuntiraydapaghoh (triều 33), nhận tấn phong của Nguyễn Nhạc (Tây Sơn) vào năm Thỏ với chức tấn phong là Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 4 năm và thoái vị năm Ngọ. Không biết ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">35. <b>Po Tisuntiraydapuran</b> (1786-1793)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sau một lần lên ngôi vào năm Tý, trị vì một năm, vua Nguyễn Nhạc lại tấn phong cho ngài năm Ngọ với chức Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 8 năm sau đó bị bắt đưa về Ndaong Nai (Ðồng Nai) vào năm Sửu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000"><b>VII. Triều đại không biết xuất xứ<br />
</b></font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">37. <b>Po Ladhuanpaghuh</b> (1793-1799)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ngài xuất thân từ gia đình nông dân, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Sửu với chức phong là Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 7 năm và thoái vị năm Mùi. Không biết ngài đóng đô ở đâu.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">38. <b>Po Saong Nhung Ceng</b> (1799-1822)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Không biết ngài xuất thân từ gia đình nào. Ngài nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi với chức Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 24 năm và thoái vị vào năm Ngọ. Ngài đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao chấm dứt với triều đại Po Soang Nhung Ceng (1799-1822). Ngược lại, một số biên niên sử khác viết bằng tiếng Chăm cho rằng sau ngày từ trần của Po Saong Nhung Ceng tại Bal Canar (Phan Rí) vì tuổi già chứ không phải là người chạy sang Campuchia lánh nạn như một số nhà nghiên cứu (Dorohiem &amp; Dohamide) hiểu lầm, còn có hai vị vua cuối cùng tiếp tục lên ngôi, đó là :<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">39. <b>Po Klan Thu</b> (1822-1828)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Klan Thu là phó vương dưới thời Po Saong Nhung Ceng.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">40. <b>Po Phaok The</b> (1828-1832)<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Po Phaok The là con của Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), tức là tiền nhân của dòng Bà Thềm ở Phan Ri hôm nay.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Lợi dụng ngày từ trần của Lê Văn Duyệt (Tổng Trấn Gia Định Thành) vào năm 1832, vua Minh Mạng quyết định xóa bỏ vương quốc Champa trên bản đồ Đông Dương. <br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Ðoạn cuối cùng của Sakkarai Dak Rai Patao chỉ là phần tóm tắc các niên đại vua chúa thuộc thời kỳ huyền sử và các vua chúa thuộc thời kỳ lịch sử, cũng như tổng số các vua chúa Panduranga nhận tấn phong của vua Việt Nam. Chính vì thế, chúng tôi không đưa ra bàn ở đây.<br />
</font></font><br />
<font color="#707070"><font color="#000000">Sakkarai Dak Rai Patao này được sáng tác hay là chép lại vào năm đệ nhất của triều đại Ham Ngi (Hàm Nghi), tức là vào năm 1884.</font></font></span></font></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://hoangsa.org/forum/forumdisplay.php?f=62">Ngược dòng lịch sử</category>
			<dc:creator>daibang_9x</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81098</guid>
		</item>
	</channel>
</rss>
