PDA

View Full Version : [Tin tức] [QNCBĐ] Về quan hệ ngoại giao Trung Quốc-ASEAN



anh2
04-06-2012, 08:22 AM
Ngày 17/5, tờ “Nhật báo Đông phương” (Trung Quốc) đăng bài viết “Bẫy ngoại giao của ASEAN” của chuyên gia Long Trung Anh, Giáo sư chính trị quốc tế Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, trong đó tác giả cho rằng các quốc gia ASEAN đều biết rất rõ ưu thế sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nhưng ở một chừng mực nhất định, các biện pháp chính trị, ngoại giao mà các quốc gia ASEAN sử dụng trong thời gian vừa qua, đã kiềm chế thành công hoặc thậm chí đã hoá giải được sức mạnh vũ trang của Trung Quốc. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Trung-Việt năm 1979 đến nay, Trung Quốc vẫn chưa từng sử dụng vũ lực mang tính thực chất, có quy mô để bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á, một nguyên nhân căn bản là giữa Trung Quốc và ASEAN đã ký kết một số hiệp định liên quan. Vì sao những nước thành viên ASEAN này không sợ vai trò nước lớn và sức mạnh vũ trang của Trung Quốc? Vì sao trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông), Trung Quốc khó có thể dễ dàng sử dụng vũ lực? Đây có lẽ là một vấn đề quan trọng hết sức sâu xa.
Trong hơn 20 năm qua, quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á đã đạt được những cải thiện mang tính lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Trung Quốc cũng ngày càng bị kiềm chế bởi mối quan hệ ngoại giao này. Tác giả đã gọi mối quan hệ này là “bẫy ngoại giao”.
Giống như khái niệm “bẫy” trong kinh tế học và các ngành học khoa học xã hội khác, về mặt chủ quan, tác giả hoàn toàn không phủ định chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với các quốc gia Đông Nam Á đã giành được những thành quả to lớn, vì cải thiện quan hệ với ASEAN đã đem lại hoà bình, ổn định cho khu vực, có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc. Theo tác giả, mục đích của bài viết chỉ muốn đề cập vì sao bên cạnh việc quan hệ ngoại giao hai bên được cải thiện và tiến triển như vậy, nhưng trên một số phương diện khác, nhất là trong tranh chấp chủ quyền với các quốc gia ASEAN, Trung Quốc lại luôn rơi vào thế bị động.
Ngoại giao ASEAN kiềm chế vũ trang Trung Quốc
Vấn đề Trung Quốc đối mặt tại Nam Hải không phải là tranh chấp chủ quyền, mà là khủng hoảng chủ quyền, tức một số quốc gia Đông Nam Á lợi dụng các cơ hội (như ý thức quyền lực biển và các vấn đề khác liên quan đến biển của Trung Quốc sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh vẫn phai mờ, chính sách ngoại giao của Trung Quốc vẫn trọng cầu hoà…) để chia cắt Nam Hải. Hiện tại, cục diện ngoại giao của Trung Quốc tại Nam Hải đã ở vào địa vị bất lợi.
Trung Quốc đánh mất địa vị chi phối vốn tuyệt đối thuộc về Trung Quốc tại các vùng biển gần, như tại Nam Hải, điều này có nghĩa Trung Quốc đã bị khoá chặt tại khu vực Đông Nam Á, do đó có thể mãi mãi mất đi khả năng trở thành cường quốc biển thế giới theo đúng tiêu chuẩn và ý nghĩa thông thường.
Trung Quốc vốn lấy khu vực Đông Nam Á làm đột phá khẩu vươn ra biển xa, vì Đông Nam Á hoàn toàn không phải là một chỉnh thể. Nhưng từ khi ASEAN được thành lập và nhất là sau khi toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á đều đã trở thành thành viên của ASEAN, thuộc tính là quốc gia Đông Nam Á của Trung Quốc đều đã bị ASEAN cướp đoạt trên pháp lý và thực tế. Trên rất nhiều phương diện như địa duyên, xã hội, kinh tế, văn minh, Trung Quốc là quốc gia Đông Nam Á đích thực. Mỹ vốn không phải là quốc gia Tây Thái Bình Dương, nhưng lại luôn nhấn mạnh mình là quốc gia “Thái Bình Dương”.
Các quốc gia Đông Nam Á rất không mong muốn Trung Quốc là quốc gia Đông Nam Á, cho nên tổ chức ASEAN từ khi bắt đầu hình thành cho đến nay đều có tư duy chiến lược rõ ràng là bài xích Trung Quốc. Nhìn từ các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc là quốc gia Đông Bắc Á, chứ không phải là quốc gia Đông Nam Á.
Chiến tranh Lạnh kết thúc vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, Trung Quốc quyết định từng bước khôi phục và phát triển quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á. Vì thế, bên cạnh sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Trung Quốc, Trung Quốc đã chấp nhận toàn diện nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN. “Không can thiệp” là một nguyên tắc trọng tâm trong việc khôi phục và xây dựng quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia Đông Nam Á với Trung Quốc. Nguyên tắc này cũng là nguyên tắc nội bộ trong quan hệ giữa các nước thành viên ASEAN với nhau. Việc Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc “không can thiệp”, ASEAN đã giành một chiến thắng trên lĩnh vực ngoại giao. Trung Quốc sau này thực hiện nghiêm túc và rộng rãi nguyên tắc “không can thiệp”, trở thành nguyên tắc để xử lý và phát triển quan hệ với thế giới (nhất là với châu Phi) trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc “không can thiệp” do ASEAN đề xướng là tiền đề và sự khởi đầu của ASEAN kiềm chế Trung Quốc về ngoại giao. Sau đó, ASEAN tự cho mình là người chủ đạo và người xây dựng các quy tắc, quy phạm và chế độ của khu vực châu Á, không ngừng tính toán đưa Trung Quốc vào quy tắc lấy thể chế ngoại giao đa phương do ASEAN chủ đạo làm cơ sở. Từ năm 1997-1999, các quốc gia chủ chốt của ASEAN lần lượt rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Cuộc khủng hoảng này được xem là bước ngoặt của quan hệ Trung Quốc-ASEAN, vì Trung Quốc đã giang tay cứu giúp các quốc gia ASEAN về kinh tế. Vì nhận được sự giúp đỡ từ Trung Quốc, ASEAN đã chủ động đề xuất mô hình hợp tác “Đông Á 10+3” (tức ASEAN cộng thêm Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc). Trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Trung Quốc đã gia nhập một số tổ chức do ASEAN chủ đạo, như “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương” (APEC), “Diễn đàn khu vực ASEAN” (ARF) và “Hội nghị Á-Âu”. ASEAN thông qua các cơ chế đa phương này, từng bước lôi kéo Trung Quốc vào thể chế đa phương, trong khi Trung Quốc một lần nữa tuyên bố thừa nhận “tính trung tâm” của các quy định do ASEAN đặt ra trong các công việc khu vực.
Bước vào thế kỷ 21, quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN dường như đã tạo ra một cao trào mới. Năm 2000, Trung Quốc lần đầu tiên chủ động đề nghị thành lập Khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, đây là thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc trong việc chạy theo làn sóng thành lập khu mậu dịch tự do song phương và đa phương trên thế giới. Các quốc gia ASEAN phản hồi tích cực về kiến nghị thành lập Khu mậu dịch tự do của Trung Quốc, hai bên lập tức triển khai tiến trình đàm phán.
Nhưng bên cạnh “nóng” về quan hệ kinh tế, các quốc gia ASEAN từ trước đến nay đều không quên tranh thủ làm thế nào để ràng buộc và kiềm chế Trung Quốc. Năm 2002 và 2003, ASEAN tranh thủ Hội nghị “10+3” và “10+1” đạt được 2 hiệp định với Trung Quốc, một là “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông” (DOC), một là “Hiệp ước thân thiện và họp tác Đông Nam Á” (TAC). Nếu nói, Trung Quốc gia nhập DOC, cũng chỉ là thắng lợi ngoại giao của các quốc gia ASEAN liên quan đến mưu đồ tranh giành Nam Hải với Trung Quốc, vì trong vấn đề Nam Hải, Trung Quốc đồng ý tồn tại tranh chấp, đồng ý không sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp; vậy thì, việc Trung Quốc lần đầu tiên ký TAC với quốc gia bên ngoài, lại là một thắng lợi ngoại giao đánh dấu ASEAN là một chỉnh thể. DOC chỉ là một tuyên ngôn hoặc tuyên bố, hoàn toàn không có sức ràng buộc, chính vì thế, từ năm 2002 đến nay, các quốc gia ASEAN, luôn hy vọng nâng cấp DOC thành một hiệp định có sức ràng buộc. Trong khi đó, bản thân TAC chính là điều ước quốc tế, việc ký kết của Trung Quốc khiến cho Trung Quốc không thể không chấp nhận các điều khoản then chốt nhất trong đó: tức không sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp.
Trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, ASEAN tạm thời chuyển sang thực hiện hợp tác Đông Á. Năm 2008, “Hiến chương khu vực” của ASEAN chính thức được các nước phê chuẩn. Đây là một văn kiện mang tính cột mốc. Một trong 3 trụ cột lớn của Cộng đồng ASEAN là Cộng đồng chính trị-an ninh. Mặc dù ASEAN không phải là một liên hợp khu vực chặt chẽ như EU, nhưng ở một chừng mực nhất định và trong một số vấn đề nào đó, ASEAN đã có “chính sách ngoại giao, an ninh chung bán thống nhất”.
Cũng có thể nói, là “Cộng đồng an ninh chung ASEAN”, tất cả các nước thành viên ASEAN thông thường có nghĩa vụ giúp đỡ các nước thành viên khác giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Mặc dù đa số các nước thành viên ASEAN không có tranh chấp Nam Hải với Trung Quốc, nhưng vì các nước này quyết tâm hành xử theo Hiến chương ASEAN, bất chấp Trung Quốc phản đối hay không, vấn đề Nam Hải trên thực tế đã trở thành một vấn đề then chốt của Trung Quốc với ASEAN. Cho dù một số nước thành viên ASEAN không có tranh chấp với Trung Quốc, song cũng không ủng hộ hay đồng tình lập trường của Trung Quốc trên vấn đề Nam Hải, điều này khiến cho cục diện cô lập, đơn thương độc mã của Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải không có được bước cải thiện nào.
“Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển ” là một vũ khí ngoại giao hữu hiệu khác của ASEAN để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải. Nhìn từ góc độ lịch sử, công ước này đang trong quá trình hình thành, vai trò của một số quốc gia ASEAN rất quan trọng. Bất kể là nước thành viên cũ hay mới của ASEAN, ngoài Lào, đại đa số đều là quốc gia biển, đặc biệt cần “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển” để bảo vệ và mở rộng chủ quyền lãnh hải của mình. Liên quan công ước này, giai đoạn cuối thế kỷ 20, Trung Quốc vẫn thiếu tính toán về chiến lược biển và chủ quyền biển, không có tư duy lâu dài theo định hướng nước lớn, nhất là cường quốc biển thế giới. Trung Quốc vẫn thiếu đánh giá nghiêm túc về ảnh hưởng tiêu cực của “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển” đối với chủ quyền, lợi ích biển của Trung Quốc. Khi đó, trên phương diện chính trị, Trung Quốc vẫn suy nghĩ đơn giản phát triển với các nước đang phát triển là “nền tảng” của ngoại giao Trung Quốc, Trung Quốc thuộc các nước đang phát triển, cho nên ủng hộ các nước đang phát triển là đòi hỏi “chính đáng” trong trật tự biển thế giới, đồng thời gia nhập công ước này. Nhưng không ngờ rằng, các quốc gia ASEAN khi tranh giành Nam Hải với Trung Quốc, “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển” đã đem lại vũ khí tốt nhất cho họ. Chính vì vậy, các quốc gia ASEAN này động một tí là đe doạ đưa tranh chấp chủ quyền tại Nam Hải lên toà án Luật biển quốc tế.
Nhân tố Mỹ làm tăng cường ưu thế ngoại giao của ASEAN
Trung Quốc gia nhập TAC năm 2003, ngoài Nhật Bản, Mỹ không có hứng thú gia nhập công ước này do ASEAN khởi xướng. Mặc dù kể từ sau Chiến tranh Việt Nam, Mỹ chưa từng sử dụng vũ lực trong phạm vi khu vực Đông Nam Á, nhưng là quốc gia quân sự hùng mạnh nhất thế giới, Mỹ không muốn là một thành viên của TAC để đánh mất quyền lực và sự tự do trong việc sử dụng vũ lực tại Đông Nam Á (ví dụ như tiễu trừ các nhóm “phần tử khủng bố” tại khu vực này). Việc có Trung Quốc và Nhật Bản ký kết công ước, song lại không có sự tham gia của Mỹ, đã khiến một dạo ASEAN cảm thấy canh cánh trong lòng đối với Mỹ. Sau khi Obama lên cầm quyền, lập tức thay đổi chính sách ngoại giao của Mỹ đối với ASEAN, sau đó Mỹ đã ký TAC vào năm 2009. Mục đích căn bản khiến Mỹ ký kết TAC là nhằm phát huy vai trò chủ đạo, được ASEAN gọi là sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ sang châu Á-Thái Bình Dương. Từ năm 2009, Mỹ đã hô hào khẩu hiệu lấy “Trung Quốc trỗi dậy” làm đối tượng chủ yếu để quay trở lại châu Á (tăng cường sự hiện diện và đầu tư vào khu vực Tây Thái Bình Dương), phát hiện giá trị địa chiến lược của ASEAN, lần lượt áp dụng một loạt hành động ngoại giao quan trọng để tăng cường quan hệ song phương với ASEAN.
Vấn đề Nam Hải rõ ràng là một trong những lĩnh vực chủ yếu của sự hợp tác Mỹ-ASEAN. Mỹ nhấn mạnh vấn đề Nam Hải cần được giải quyết thông qua cơ chế quốc tế đa phương, coi vấn đề “tự do hàng hải” tại Nam Hải là tính chính đáng quốc tế để hải quân Mỹ tiếp tục kiểm soát các vùng biển Tây Thái Bình Dương, trong đó có Nam Hải, thái độ này đã nhận được sự hoan nghênh của các nước liên quan, thậm chí của toàn bộ các nước thành viên ASEAN.
Có một điều châm biếm rằng, Mỹ chưa ký “Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển”, nhưng lại ủng hộ Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia ASEAN lợi dụng công ước này để kiềm chế Trung Quốc trở thành cường quốc hải dương thế giới.
Trung Quốc một mặt đồng thời cải thiện quan hệ ngoại giao với ASEAN, song đã rơi vào “bẫy ngoại giao” của ASEAN, mặt khác còn không ngừng nhấn mạnh “đại cục” trong quan hệ Trung Quốc-ASEAN, tức hơn 20 năm qua, Trung Quốc-ASEAN đã ngày càng phụ thuộc vào nhau về kinh tế, đồng thời trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của nhau.
Hơn 20 năm qua, Trung Quốc nhấn mạnh thái quá tính quan trọng của ngoại giao với ASEAN trong quan hệ đối ngoại. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, giải quyết thông qua ngoại giao thực sự rất quan trọng, chứ không phải giải quyết thông qua vũ lực. Nếu có thể giải quyết thông qua ngoại giao, tuyệt đối không cần giải quyết thông qua biện pháp quân sự. Vấn đề là đối với một nước lớn thông thường được cho rằng là nước lớn đang trỗi dậy, nếu giải quyết bằng biện pháp ngoại giao thất bại, không có hiệu quả, thì làm thế nào?
Hơn 20 năm qua, trong quá trình tác động qua lại giữa Trung Quốc và ASEAN, Trung Quốc hoàn toàn thiếu tư duy đề phòng “bẫy ngoại giao”, đơn giản cho rằng ngoại giao đều là tốt. Phụ thuộc cao độ vào biện pháp ngoại giao chính là đặc trưng của các quốc gia vừa và nhỏ không có sức mạnh quân sự trong hệ thống quốc tế. Đa số các quốc gia ASEAN đều biết chiến thuật này và đã sử dụng biện pháp ngoại giao để đạt được mục đích. Từ việc Trung Quốc hoàn toàn chấp nhận nguyên tắc ngoại giao của ASEAN đến việc Trung Quốc ký một loạt hiệp định ngoại giao không sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp, là thành công ngoại giao của ASEAN.
Hiện nay, Trung Quốc đang trong quá trình đánh giá lại ngoại giao trong quá khứ, và tìm kiếm con đường ngoại giao tương lai, tác giả cho rằng Trung Quốc đầu tiên phải thừa nhận, Trung Quốc đã không tránh được “bẫy ngoại giao” của ASEAN điều này không phải muốn nói giữa Trung Quốc và ASEAN không thể có DOC và TAC, mà muốn nói, điều khoản then chốt đối với việc không sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp.
Trung Quốc lẽ nào muốn bảo lưu và chấp nhận vô điều kiện?
ASEAN của ngày nay, chính là vì Trung Quốc, mới ngày càng đi theo hướng nhất thể hoá cộng đồng chung khu vực. Giống như EU, nếu nói không có Liên Xô khi đó, Cộng đồng chung châu Âu tiền thân của EU không thể nhanh chóng tiến triển. Mỹ ủng hộ ASEAN chính là vì muốn giúp ASEAN có thể đối phó với Trung Quốc, điều này cũng giống việc Mỹ biết giá trị chiến lược của Cộng đồng chung châu Âu trong việc kiềm chế Liên bang Xô Viết. ASEAN hoàn toàn không thật lòng muốn thúc đẩy “Cộng đồng Đông Á” trên cơ cở “Đông Nam Á cộng thêm Đông Bắc Á”, năm 2005 sau khi ASEAN vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã lật lọng, vì năm đó ASEAN đã tổ chức “Hội nghị Đông Á” (EAS), sau đó, Hội nghị khu vực này tiếp tục thu nạp Ấn Độ, Ôxtrâylia và Niu Dilân. Hiện nay, hội nghị thượng đỉnh còn có sự tham gia của Nga và Mỹ, thậm chí EU cũng sẽ tham gia. Hội nghị Đông Á về bản chất là hội nghị phản Đông Á, tức là đề phòng “Cộng đồng Đông Á” do Trung Quốc chủ đạo. Nếu chủ nghĩa khu vực Đông Á được duy trì, quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, trong đó bao gồm vấn đề Nam Hải, sẽ không diễn biến đến tình trạng như ngày hôm nay. Nhưng ASEAN đã từ bỏ chủ nghĩa khu vực Đông Á. Hợp tác Đông Á sẽ tiếp tục, nhưng thực sự không có linh hồn của chủ nghĩa khu vực.
Trước khi chấp nhận nguyên tắc và phương thức của ASEAN, Trung Quốc luôn lo lắng sự kiềm chế của cơ chế đa phương, diễn đàn đa phương và vũ đài đa phương đối với Trung Quốc, cho nên, luôn ngăn chặn hoặc theo dõi từ xa đối với chủ nghĩa đa phương liên quan, thậm chí không muốn tham gia. Nhưng sau này, Trung Quốc đã thay đổi thái độ đối với chủ nghĩa đa phương, từng bước gia nhập nhiều cơ chế đa phương. Đến nay, Trung Quốc đang chịu sự trói buộc bởi cơ chế đa phương ASEAN. Điều này cho thấy rõ sự lo lắng của Trung Quốc đối với chủ nghĩa đa phương của những năm đó là có cơ sở./.

theo QNCBĐ (http://seasfoundation.org/news-about-south-east-asia-sea/multi-country-actions/2007-v-quan-h-ngoi-giao-trung-quc-asean)

mrAn
04-06-2012, 02:25 PM
Một bài phân tích hay trong nhiều khía cạnh của một vấn đề.

Đừng "động" đến Việt Nam!

Nhìn thì bằng phẳng nhưng vào thì sập chông

QuyBao
04-06-2012, 05:24 PM
Túm lại, ý của nó là :

Nó có cố thò cái lưỡi bò dài ra cũng ko được gì, vì lúc trước nó "ngu" nên đã tự nguyện cho người khác xỏ mũi !

(Ghi chú : ở nông thôn thì bò hay trâu, đều cần phải xỏ dây qua mũi để dắt đi cho dễ)