PDA

View Full Version : [Tin tức] [TVN] Chính sách biển của Mỹ



anh2
09-05-2012, 01:56 PM
Tất cả các quốc gia tiến hành trao đổi thương mại và buôn bán trên biển đều có lợi ích trong việc đảm bảo tự do hàng hải tại biển Đông.

Gần 1/3 tàu thương mại thế giới được chuyển qua đại hải trình này, đưa tài nguyên thiên nhiên và hàng hóa thành phẩm đến với những người mua trên toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tàu thương mại sẽ phải chịu các mức giá nhiên liệu và bảo dưỡng cao nếu buộc phải đi vòng tránh điểm nút giao thông quan trọng này.
Bất chấp các lợi ích chung đó, Mỹ đang phải đối mặt với những chướng ngại lớn trong quá tình xây dựng một liên minh biển quốc tế trong khu vực. Thách thức đối với Mỹ là thống nhất các quốc gia giao thương trên biển chống lại các mối đe dọa khó vượt qua. Khác với các mối đe dọa trước đây mà Nhật Bản, Mỹ và Liên Xô đặt ra, các thành viên liên minh sẽ không phải đối mặt với cái mà Tôn Tử gọi là "mảnh đất chết", trong đó các lợi ích sống còn và cả sự sống sót đều bị đe dọa.
Hơn nữa, Mỹ phải xây dựng một liên minh như thế trong bối cảnh khó khăn về kinh tế, cộng thêm ngân sách ngày càng bị thắt chặt. Tình huống này dẫn tới hậu quả là vị thế lãnh đạo trong các liên minh và quan hệ đồng minh chủ yếu có chức năng đóng góp sức lực và tiền của nhiều nhất. Trong Đại liên minh thời chiến tranh thế giới II, chẳng hạn, sự ảnh hưởng được dồn vào Anh và Mỹ vì nền công nghiệp Mỹ sản xuất hàng loạt nguyên liệu tạo ra chiến tranh. Ngày nay điều ngược lại đang diễn ra. Washington đang cố gắng dẫn dắt các liên minh trong khi khả năng này của họ đang giảm dần.
Hợp tác trên biển hiện là câu thần chú của chính sách Mỹ nhằm đảm bảo tự do đi lại trên biển thế giới. Vì các lực lượng trên biển - Hải quân, Lính thủy đánh bộ và Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ - nhận ra rằng ngân sách giảm hoặc được duy trì, chi phí đóng tàu tăng cao và cấu trúc lực lượng giảm là những yếu tố đang kìm hãm các lựa chọn của họ, nên họ phải kêu gọi sự hỗ trợ từ các đối tác bản địa để bảo vệ các hải trình tránh khỏi chủ nghĩa khủng bố, hải tặc, phổ biến vũ khí và các dạng buôn lậu khác. Hạm đội của Mỹ, hiện vẫn hùng mạnh nhất thế giới, nhưng nay đã trở nên quá nhỏ và quá hạn chế trong việc bảo vệ các vùng biển chung chống lại các mối đe dọa đối với các hải trình quan trọng. Biển Đông, nằm ở chỗ giao nhau giữa hai đại dương và cho phép các lực lượng Mỹ di chuyển nhanh chóng giữa hai đại dương này, vì thế trở thành một tiêu điểm hợp tác biển quốc tế.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/05/08/16/20120508161109_4_1336358310.jpg



Duy trì "sức khỏe" của huyết mạch này là một trong những mục tiêu ưu tiên của các nỗ lực hỗ trợ biển của Mỹ. Chiến lược năm 2007 của Hải quân, Lính thủy đánh bộ và Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ được đặt một cái tên khá ấn tượng là Chiến lược hợp tác sức mạnh biển thế kỷ 21 (CS-21) và vẫn còn hiệu lực đến ngày nay. Chiến lược sức mạnh biển này đã lần đầu tiên đưa vai trò trông coi hệ thống thương mại trên biển, mà Mỹ đã điều hành từ năm 1945, lên mức một nhiệm vụ "cốt lõi" của các lực lượng biển. CS-21 mô tả Tây Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương/vùng Vịnh là các sân khấu chính của sức mạnh biển của Mỹ, bao gồm cả các chức năng cảnh sát và quân sự. Lời mào đầu của CS-21 cam kết Mỹ sẽ "cùng với các quốc gia có chung chí hướng bảo vệ và duy trì hệ thống kết nối toàn cầu mà nhờ đó chúng ta thịnh vượng".
Mục tiêu này của Mỹ vấp phải sự phải đối mạnh mẽ từ Trung Quốc, nước đang gia tăng các sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Bắc Kinh cho rằng sự can dự của Mỹ vào các vùng nước gần của Trung Quốc chỉ là một cái cớ để kiềm chế các tham vọng chính đáng của Trung Quốc. Khả năng Trung Quốc ngăn cản các hành động của Mỹ, mà họ coi là gây hại cho các lợi ích của mình, đang ngày càng lớn bên cạnh quân bài ngoại giao. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa hai cường quốc Thái Bình Dương này cho phép Bắc Kinh gắn các hành động của Mỹ tại biển Đông với các quan hệ kinh tế tốt đẹp. Thực vậy, Trung Quốc có thể giữ các quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương để "làm con tin", đổi lấy cách hành xử "tốt" của Mỹ tại Đông Nam Á. Kết quả là các chính quyền Mỹ nối tiếp nhau đã miễn cưỡng chống lại mong muốn của Trung Quốc trong những vấn đề mà họ cho rằng có vai trò sống còn đối với các lợi ích quốc gia của mình.
Tuy nhiên, Mỹ không thể bỏ rơi các lợi ích của mình ở biển Đông. Dù sự phản đối của Trung Quốc có thể ngăn cản Mỹ xây dựng một liên minh khu vực hùng mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh biển, nhưng Mỹ sẽ vẫn tiến hành các hoạt động hỗ trợ biển song phương, có thể cả với các nhóm đặc biệt gồm những quốc gia quan tâm. Các hoạt động đó sẽ giúp thúc đẩy các lợi ích của Mỹ và cũng lập nền tảng hợp tác biển sâu hơn trong bối cảnh môi trường an ninh khu vực đang thay đổi lớn.
Chính sách biển của Mỹ
Đảm bảo tự do hàng hải không phải là công việc của mỗi lực lượng hải quân. "Biển" có hàm ý xa hơn "hải quân". Giáo sư trường King's College ở London, ông Geoffrey Till giải thích điều này rất rõ, ông gắn các sứ mệnh "trật tự có lợi trên biển" trong thời bình với các chức năng mang tính chiến đấu truyền thống hơn. Từ đó, ông mở rộng và đa dạng hóa khái niệm sức mạnh biển. Hải quân là một phần trong cách nhìn của Till bên cạnh các lực lượng khác như lực lượng bảo vệ bờ biển, các Bộ ngoại giao, các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan tình báo và hải quan và các cơ quan bảo vệ biên giới. Cả những công ty tư nhân như các công ty hoạt động tại cảng cũng có vai trò của mình.
Trên tinh thần này, CS-21 nêu rõ: "Chưa bao giờ các lực lượng biển của Mỹ - Hải quân, Thủy quân Lục chiến và Bảo vệ Bờ biển - cùng nhau tạo ra một chiến lược biển thống nhất như ngày nay". Đúng vậy, các chiến lược trước đó trong những năm 1980 chỉ đơn thuần là một chiến lược của hải quân nhằm nhấn chìm Hải quân Liên xô trong một cuộc chiến tranh tổng lực.
Chiến lược An ninh biển Quốc gia năm 2005 (NSMS), hiện vẫn có hiệu lực, đã thừa nhận sự cần thiết phải mở rộng tầm nhìn chiến lược quốc gia vượt ra ngoài các hoạt động của hải quân. Các Bộ Quốc phòng và An ninh Nội địa đã phát hành chiến lược chung, tái khẳng định rằng an ninh biển liên quan đến nhiều hơn sức mạnh hải quân. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ hiện là một cơ quan thuộc Bộ An ninh Nội địa, giống như các cơ quan Hải quân và Bảo vệ Biên giới, cũng hỗ trợ bảo vệ biển. Như vậy, NSMS đã có một cái nhìn rộng hơn về thách thức so với CS-21.
NSMS tuyên bố: An ninh biển được đảm bảo tốt nhất khi kết hợp các hoạt động bảo vệ biển của tư nhân và nhà nước trên một quy mô chung trong một nỗ lực kết hợp nhằm tấn công tất cả các mối đe dọa trên biển. Chiến lược An ninh biển Quốc gia mới đã gắn mọi chương trình an ninh biển của chính phủ liên bang với các sáng kiến thành một nỗ lực quốc gia toàn diện và gắn kết liên quan đến các thực thể Liên bang, Nhà nước, địa phương và cả tư nhân.
Văn bản này đặt ra 3 nguyên tắc chỉ đạo các nỗ lực an ninh của Mỹ trên biển: duy trì tự do trên biển, đảm bảo sự lưu thông không bị ngăn cản của tàu bè, và tạo điều kiện cho sự di chuyển dễ dàng của hàng hóa và người qua biên giới Mỹ, trong khi phát hiện những người và nguyên liệu nguy hiểm. Từ các nguyên tắc này, các tác giả đưa ra 4 mục tiêu chiến lược, trong đó hai mục tiêu được nghiên cứu đặc biệt trong tài liệu này: đề phòng các cuộc tấn công khủng bố trên biển và "các hành động thù địch và tội phạm" và "bảo vệ đại dương và các nguồn tài nguyên của nó". Quan điểm này phù hợp với cách nhìn của Till về trật tự có lợi trên biển.
Cả NSMS và CS-21 đều không thừa nhận bất kỳ ranh giới địa lý nào. Các lợi ích sống còn của Mỹ có thể gặp nguy hiểm trong bất kỳ hải trình nào trên trái đất. Giống như nhà lý luận về sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan, cha đẻ của Hải quân Mỹ hiện đại, NSMS đã miêu tả các đại dương và biển là một sự mở rộng không thể chia cắt. Nước mặn bao bọc hơn 2/3 bề mặt Trái đất. Lượng nước này là một đại dương duy nhất, một lãnh địa biển mênh mông ảnh hưởng tới cuộc sống ở mọi nơi. Dù 4 phần chia về địa lý chính của nó - Đại Tây Dương, Bắc Cực, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương - có những cái tên khác nhau, nhưng cơ thể biển liên tục này là hình thái địa chất lớn nhất trên quả đất.
Như vậy, liên quan đến chủ nghĩa khủng bố trên biển, NSMS chỉ thị các lực lượng "được huấn luyện, trang bị và chuẩn bị để phát hiện, răn đe, ngăn cấm và đánh bại các phần tử khủng bố thông qua lãnh thổ biển". Đây là một mệnh lệnh mở rộng phạm vi địa lý. Tuy nhiên, tài liệu này đã thẳng thắn thừa nhận rằng không quốc gia nào sở hữu đủ tiền để một mình kiểm soát toàn bộ vùng biển chung. Biển chung quá lớn, các nhu cầu quá nhiều và tài sản lại quá ít. Chiến lược trên cũng cam kết "tăng cường hợp tác quốc tế nhằm đảm bảo thực thi các hành động đúng luật pháp và đúng lúc chống các mối đe dọa trên biển".
Các vùng biển hẹp đặt ra những lo ngại đặc biệt. NSMS thấy rằng khoảng "1/3 thương mại thế giới và một nửa lượng dầu mỏ được chuyển qua Eo biển Malacca và Singapore". Vì vậy, chiếc cổng vào giữa Biển Đông và Ấn Độ Dương này là hình thái địa chất duy nhất được đề cập đến một cách đặc biệt trong tài liệu này. Tuyến đường huyết mạch này có thể bị đóng vì tai nạn, hay vì các hành động công khai như bao vây quân sự, hải tặc hay tấn công khủng bố. Để đẩy lùi các mối đe dọa đối với tàu bè qua lại trên tuyến đường quan trọng này, tài liệu trên chỉ thị cho Bộ Ngoại giao Mỹ kết hợp các sáng kiến để "củng cố các nỗ lực hiện tại, như Sáng kiến An ninh Container, Sáng kiến An ninh phòng chống Phổ biến vũ khí hàng loạt (PSI), Đối tác Thương mại - Hải quan chống khủng bố" và các hiệp ước và hiệp định liên quan.
Các cơ quan của Chính phủ Mỹ sẽ làm thế nào để hoàn thành mục tiêu trên? NSMS tuyên bố Mỹ sẽ "phối hợp chặt chẽ với các chính phủ khác cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực để tăng cường các năng lực an ninh biển" của các quốc gia quan trọng - ví dụ thông qua tiến hành "hỗ trợ, huấn luyện và tham vấn an ninh biển và cảng", đồng thời cung cấp "hỗ trợ kinh tế về an ninh biển cho các nước đang phát triển nhằm tăng cường an ninh và thịnh vượng". Logic cơ bản là nâng cấp các năng lực về người và của của các đối tác tương lai, tức là giúp họ kiểm soát được các vùng biển xung quanh của mình, thực hiện chủ quyền đầy đủ.
Các chính phủ có các lực lượng biển được trang bị đầy đủ và có năng lực mở rộng có thể đảm bảo an ninh các vùng biển thuộc quyền của mình, nơi họ được hưởng quyền tài phán giống như đối với lãnh thổ trên đất liền. Bên cạnh đó, bằng cách duy trì trật tự ở các vùng biển khơi liền kề với vùng biển chủ quyền của quốc gia, họ ngăn chặn được các vấn đề nảy sinh - những vấn đề mà họ sẽ phải nhờ đến hành động của Mỹ. Như vậy, xây dựng khả năng giúp giảm bớt gánh nặng lên các cơ quan của Mỹ.

Nói tóm lại, Mỹ giúp chính mình khi giúp các nước khác tự lo cho họ. Bên cạnh đó, hai văn bản chiến lược nói trên cũng ban hành một sứ mệnh tuần tra ấn tượng, chỉ thị tất cả các cơ quan chính phủ Mỹ có các nhiệm vụ liên quan đến biển xây dựng các đối tác, liên minh, đồng minh đan xen. Nếu thành công, các tập đoàn như vậy sẽ sở hữu đủ năng lực để kiểm soát toàn bộ các vùng biển chung.

nguồn (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71406/chinh-sach-bien-cua-my.html)

anh2
10-05-2012, 11:41 AM
Mỹ thực hiện một loạt chương trình hỗ trợ tại Biển Đông, huy động tất cả các công cụ chính sách mà các nước điều chỉnh các sự kiện trên biển.

Washington cũng cung cấp hỗ trợ song phương phù hợp cho các chính phủ trong khu vực. Chẳng hạn Philippines được lợi từ sự hỗ trợ chống khủng bố của Mỹ sau các cuộc tấn công ngày 9/11/2001, bao gồm các hỗ trợ đáng kể về quân sự và tình báo. Đầu năm 2002, Washington đã cam kết cử khoảng 1.300 binh lính và dành 93 triệu USD trợ giúp quân sự nhằm giúp Philippines đánh bại các nhóm khủng bố như Abu Sayyaf. Các chương trình hỗ trợ kinh tế, giáo dục và y tế cũng được tiến hành trên đảo Mindanao.
Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Mỹ dễ thấy nhất là sự chuyển giao trực tiếp máy móc vũ khí hạng nặng cho các chính phủ trong khu vực. Tháng 5/2011, Lực lựơng Bảo vệ Bờ biển Mỹ đã chuyển một tàu chiến lớp Hamilton cũ cho Philippines. Chiếc Hamilton dài 378m này, được đặt tên lại là BRP Gregorio del Pilar, sẽ trở thành tàu đô đốc của Hải quân Philippines, thay thế một tàu khu trục của Mỹ từ thời chiến tranh thế giới II. Manila đã đề nghị thêm ba tàu lớp Hamilton "về hưu", chủ yếu để tuần tra trên các vùng biển mà Philippines đòi chủ quyền tại Biển Đông. Và trong một chuyến thăm Philippines tháng 11/2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã hứa rằng Mỹ sẽ trao cho Philippines chiếc tàu thứ hai.
Các vụ chuyển giao này đáng chú ý vì bốn lý do. Đầu tiên, tàu lớp Hamilton là loại đã cũ. Nó từng tham gia Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ từ năm 1967 và đã đạt đến tuổi thọ cao nhất theo thiết kế. Thứ hai, một tàu chiến của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển được trang bị vũ khí hạng nhẹ hiện là niềm tự hào của Hải quân Philippines. Nhưng các tàu chiến này không có các vũ khí công nghệ cao như tên lửa chống hạm hay tên lửa đất đối không. Điều này cho thấy sự yếu thế của Philippines trên biển so với các nước Đông Nam Á và đặc biệt so với Trung Quốc. Thứ ba, Washington chuyển tàu chiến Hamilton thay vì tàu chiến nổi đã thôi sử dụng của Hải quân Mỹ được trang bị tốt hơn để chống lại các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Quyết định này cho thấy giới lãnh đạo Mỹ không muốn khiến Bắc Kinh tức giận tại vùng biển là "sân sau" của họ.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/05/09/16/20120509162946_2_1336358216.jpg



Thứ tư, việc chuyển giao tàu cho thấy Manila cũng như các chính phủ khác trong khu vực thiếu nguồn lực cần để thực thi pháp luật hay cạnh tranh công bằng với các nước láng giềng lớn hơn như Trung Quốc. Một phần, đây là do ngân sách quốc phòng hạn chế. Chính phủ Philippines được bầu năm 2010 đã cam kết tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng, lên mức 2,4 tỷ USD, đồng thời dự định tăng chi tiêu cho mua sắm lên 931 triệu USD trong các tài khóa 2011-2016. Nếu so sánh, chi phí để mua chỉ một chiếc tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Hải quân Mỹ khiến chi tiêu trong tài khóa 2012 vượt quá 2 tỷ USD.
Kết quả là Hải quân Philippines "tụt hậu so với các lực lượng hải quân khác trong khu vực". Sự tụt hậu về khả năng này khiến Manila rơi vào tình thế bất lợi trong các tương tác trên biển với các nước láng giềng mạnh hơn, đặc biệt khi các thủy thủ Philippines chạm chán với các tàu dân sự mà Trung Quốc dùng để bảo vệ yêu sách lãnh thổ của mình. Sự không tương xứng này sẽ chỉ càng lớn hơn khi hải quân Trung Quốc lớn mạnh, tạo ra một hỗ trợ quân sự cho các nỗ lực thực thi pháp luật của họ. Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khẳng định rằng "đằng sau các tàu tuần tra nhỏ này sẽ là một lực lượng hải quân biển xa".
Những bất cân bằng về năng lực nói trên là bằng chứng điển hình cho thấy sự tương tác giữa Trung Quốc với nhiều đối tác hiện nay và tương lai của Mỹ. Chẳng hạn Việt Nam đã cải thiện năng lực biển của mình, một phần để bảo vệ các yêu sách Biển Đông. Việt Nam đã đặt mua 6 tàu ngầm tấn công lớp Kilo chạy bằng động cơ điện-diesel từ Nga, trong khi mua máy bay tuần tra trên biển của Airbus từ Tây Ban Nha. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu Hà Nội có sở hữu đủ nguồn lực chính để nâng cấp lực lượng hải quân của mình hay không khi Trung Quốc tiến hành một chiến dịch hống hách và liên tục nhằm củng cố các yêu sách của họ bất chấp Việt Nam. Vì vậy, Hà Nội có thể sẽ không mua tàu công nghệ cao cũng như các tài sản khác của Mỹ. Mỹ sẽ chào hàng Việt Nam những loại thấp hơn, như tàu hoặc máy bay của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển. Nhưng chưa rõ giới lãnh đạo Mỹ có quyết định đối đầu với Bắc Kinh khi chuyển giao các món hàng có thể giúp chống lại các yêu sách của Trung Quốc hay không.
Như vậy, duy trì hợp tác biển tránh khỏi sự cạnh tranh chính sách thực dụng sẽ cho thấy nỗ lực của Mỹ ở Biển Đông. Có thể các sáng kiến vượt trội mang tính hệ thống nhất của quân đội Mỹ đối với các quốc gia ở Biển Đông là các cuộc tập trận chung thường niên mang tên Hợp tác và Huấn luyện trên biển Đông Nam Á (SEACAT), và chương trình Hợp tác Huấn luyện và Sẵn sàng tác chiến trên biển (CARAT).
Hiện đã bước sang tuổi thứ 9, SEACAT cung cấp cho 6 quốc gia Đông Nam Á các buổi huấn luyện chiến thuật chuyên biệt, kỹ thuật và thủ tục cấm chặn trên biển. Được khởi động bởi Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ năm 1995, các cuộc tập trận CARAT với sự kết hợp của các đơn vị thuộc Hải quân, Lính thủy đánh bộ, Bảo vệ Bờ biển và Bộ Chỉ huy quân sự biển của Mỹ dựa trên nền tảng chủ yếu là song phương với các đối tác như Philippines, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei và Indonesia. Campuchia và Việt Nam là hai đối tác mới. CARAT cho phép các nước này hành động theo ý muốn, đồng thời thúc đẩy "khả năng phối hợp tác chiến" giữa các lực lượng của khu vực và của Mỹ nhằm bảo vệ lợi ích chung.
CARAT đòi hỏi một cam kết lớn và lâu dài của các nguồn lực Mỹ nhằm cải thiện các kỹ năng và khả năng vật chất của các lực lượng Đông Nam Á. Ví dụ, cuộc tập trận CARAT năm 2009 giữa Mỹ và Malaysia bao gồm các cuộc diễn tập bắn súng phòng không, chiến tranh dưới lòng biển, sơ tán người bị thương, lặn và cứu hộ, quản lý hậu cần, huấn luyện trong rừng và đổ bộ lưỡng cư. Tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ, Phó đô đốc John M.Bird tuyên bố sau cuộc tập trận này: "Sự ổn định toàn cầu gắn liền với các đối tác hợp tác trên biển". Ông cũng nói rằng Mỹ và các đối tác trong khu vực "đã chứng tỏ khả năng phối hợp với nhau và phát triển cách đối phó thống nhất" đối với các vấn đề liên quan đến trật tự có lợi trên biển và "các cuộc tập trận như CARAT là chìa khóa để duy trì các kỹ năng nhạy bén của chúng ta".
Ngoài các dự án liên kết giữa quân đội với quân đội như CARAT, một loạt các nỗ lực đa phương khác, trong đó liên quan đến cả các công cụ chính sách quân sự và phi quân sự, cũng được sử dụng để xây dựng các năng lực để các chính phủ Đông Nam Á kiểm soát lãnh thổ, vùng trời và vùng biển của mình, và phối hợp với các nước khác bảo vệ vùng biển chung. Sáng kiến PSI do Mỹ đứng đầu đã được khởi động tại Đông Nam Á.
Những nước tham gia thỏa thuận không ràng buộc này cam kết phối hợp cùng nhau cấm những hàng hóa bị nghi là liên quan đến vũ khí được chuyển giao giữa người mua và người bán. Họ cũng cam kết kiểm soát lãnh thổ, không gian và các vùng biển của mình chống lại hoạt động buôn lậu vũ khí. Để làm được vậy, các quốc gia tham gia giúp hạn chế sự phổ biến của các loạt vũ khí hạt nhân, sinh học, phóng xạ và hóa học, cũng như các hệ thống phân phối liên quan. Các cuộc diễn tập SEACAT đã huấn luyện các kỹ năng liên quan đến việc này.
Hơn 100 quốc gia tham gia PSI, trong đó có Campuchia, Philippines, Singapore, Australia, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, các quốc gia chính ở Biển Đông như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Thái Lan lại không tham gia. Sự ủng hộ rộng rãi hơn sẽ thu hẹp khoảng cách hành động trong sáng kiến này trong khi giúp Mỹ và các nước tham gia PSI tạo ra một tiêu chuẩn phản đối phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Một thỏa thuận đa phương khác, Sáng kiến An ninh Container (CSI), với sự phối hợp của các cơ quan Hải quan Mỹ và các nhân viên Bảo vệ biên giới tại "các cảng lớn". Các nhân viên này sử dụng máy dò công nghệ cao để soi các container hàng hóa sẽ được nhập vào các cảng của Mỹ. Việc phát hiện các container có chứa vũ khí hoặc các vật liệu liên quan đến vũ khí trước khi cập cảng Mỹ tạo điều kiện cho dòng hàng hóa được lưu thông nhanh trong khi thắt chặt an ninh trong lòng hệ thống vận tải biển.
CSI là một thỏa thuận đôi bên cùng có lợi, và phi chính trị, chính vì thế nó thu hút sự tham gia rộng rãi của các nước. Hiện CSI đang có hiệu lực tại 58 cảng biển trên thế giới, trong đó có các cảng ở Singapore, Malaysia, Thái Lan và cả Trung Quốc - nước có thói quen hoài nghi các sáng kiến do Mỹ đứng đầu. Sáng kiến này không ảnh hưởng tới thời gian di chuyển trên biển. Trong khi các lãnh đạo Trung Quốc nhìn chung than phiền rằng một nước khác sẽ sử dụng PSI như một cái cớ để quấy rầy các tàu treo cờ Trung Quốc, thì CSI không gặp phải vấn đề này - đây chính là khác biệt lớn trong thái độ của Trung Quốc đối với hai sáng kiến trên.

Châu Giang dịch theo The Middling Kingdom
nguồn (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71567/hop-tac-bien-hien-tai-tren-bien-dong.html)

anh2
11-05-2012, 09:52 PM
Thực tế là các quốc gia chủ chốt tại Biển Đông không tham gia PSI cho thấy khó khăn mà Mỹ phải đối mặt trong việc xây dựng các liên minh an ninh trên biển.

>> Kỳ 1: Chính sách biển của Mỹ
>> Kỳ 2: Hợp tác biển hiện tại trên Biển Đông

Stephen Walt nêu ra 3 nhân tố chính ràng buộc các nước với nhau trong một sự nghiệp chung: các mối đe dọa chung, các mối quan hệ về văn hóa hoặc tư tưởng và các chiến lược tuyển mộ có tính toán kỹ của lãnh đạo các nước. Ông cho rằng các lực lượng vũ trang nước ngoài đặt ra nhiều mối đe dọa lớn đối với an ninh quốc gia. Các nước nhỏ hơn sẽ có xu hướng liên kết lại nhằm cân bằng với các cường quốc mạnh hơn - tập hợp sức mạnh của mình để tạo thành một nước mạnh, có tiềm năng thống trị. Các liên minh vận hành tốt nhất chống lại một mối đe dọa bí mật, áp đảo trong một thời gian nhất định.

Trong khi đó, các mối đe dọa về an ninh trên biển vừa không bí mật và không áp đảo. Các nước quan tâm đến vấn đề hải tặc, khủng bố, buôn lậu và khủng bố ven bờ theo những cách khác nhau vì nó gây nguy hiểm cho các vùng biển ngoài khơi của từng nước ở các mức độ không giống nhau và không vào cùng vào cùng một thời điểm. Các nước thường quan tâm đến các mối đe dọa gần hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia mình hơn là các mối đe dọa gián tiếp hoặc ở xa. Nếu các liên minh truyền thống được hình thành để đối phó với các mối đe dọa sự tồn vong của mình, thì các liên minh an ninh biển lại nhằm đấu tranh với các thách thức vừa trừu tượng, xa xôi và không hạn chế.

Các lãnh đạo chính trị rất dễ khơi dậy và duy trì tình cảm của dân chúng và giới tinh hoa chống lại các mối đe dọa có thể nhận biết như các lực lượng hải quân thù địch, hơn là tiến hành các chiến dịch như hải tặc, phổ biến vũ khí và buôn lậu. Mối liên hệ giữa tình trạng mất trật tự và an ninh quốc gia dường như rất nhỏ, đặc biệt đối với những người ít chú ý tới biển trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, dù các thách thức đối với an ninh của các hải trình có thể không lớn, nhưng nó không bao giờ biến mất. Tội ác có thể giảm trong các thành phố, nhưng nó chưa bao giờ hoàn toàn kết thúc để sở cảnh sát phải giải thể. Vì vậy, các nước tham gia các lực lượng ủng hộ tự do hàng hải đang thực hiện một sứ mệnh không có hồi kết.

Như vậy, giống như một quy luật chung, khoảng cách xa và độ mơ hồ của các thách thức an ninh biển đang làm giảm nhẹ cách nhìn của mọi người về mối đe dọa, từ đó ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng của các nước trong việc bỏ sức người và sức của cho việc chiến đấu chống lại những trò rủi ro này. Theo Carl von Clausewitz, sự cá cược chính trị quyết định một chính phủ đã sẵn sàng bỏ ra bao nhiêu nguồn lực để đẩy lùi một mối đe dọa đặc biệt và thái độ sẵn sàng này sẽ kéo dài trong bao lâu. Những quan điểm khác và các tính toán chiến lược khác đã khiến việc hoạch định chính sách phức tạp hơn. Chúng cũng có thể hủy hoại sự hài hòa trong liên minh, làm giảm sự thống nhất trong các nỗ lực và tính hiệu quả chiến lược phối hợp.

Một thách thức phức tạp và nguy hiểm

Nhưng Washington không có lựa chọn khác ngoài việc thực hiện nỗ lực này. Tình trạng bất ổn kinh tế và chi phí mua vũ khí gia tăng đang làm giảm quy mô của hạm đội Mỹ. Hạm đội này có thể đạt tới "đỉnh điểm" mà ở đó nó sẽ không bao giờ đảm bảo được tự do hàng hải nữa nếu không có trợ giúp.

Vì vậy, các tài liệu chiến lược năm 2005 và 2007 đã vận động các cơ quan về biển của Mỹ tham gia một sự nghiệp lịch sử. Trong nửa thiên niên kỷ qua, một cường quốc biển bá chủ duy nhất - đầu tiên là Bồ Đào Nha, sau đó là Hà Lan, rồi đến Anh và cuối cùng là Mỹ - đã mang lại an ninh trên biển. Giờ đây dường như các cơ quan về biển của Mỹ, lực lượng đảm bảo tự do hàng hải từ năm 1945, có thể giảm về số lượng và khả năng xuống dưới mức cần thiết để duy trì trật tự và hiện không có lực lượng kế nhiệm duy nhất nào được chấp nhận. Các hạm đội của châu Âu đang giảm mạnh, và không có hạm đội kết hợp nào của EU được định hình cả. Còn lực lượng Hải quân của Ấn Độ và lực lượng Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc, các cánh tay phải trên biển của hai cường quốc biển đang nổi này, thì vẫn đang trong quá trình phát triển.

Cả Brussels, lẫn New Delhi hay cả Bắc Kinh dường như đều không sẵn lòng hoặc không thể giám sát được các vùng biển khơi chung nằm ngoài các vùng phụ cận khu vực mình. Vì vậy, Washington có ý định xây dựng một liên minh hoặc nhiều liên minh do Mỹ đứng đầu để quản lý trật tự có lợi trên biển. Theo các thỏa thuận như vậy, các cơ quan về biển của Mỹ sẽ phối hợp với các cơ quan về biển của nước ngoài để giám sát các vùng biển chung toàn cầu. Mỹ có thể chia sẻ gánh nặng an ninh biển bằng việc quy tụ các đối tác để cung cấp loại hàng hóa chung quốc tế này và từ đó giảm bớt chi phí cho quân đội Mỹ. Tuy nhiên, việc quản lý đa phương các vùng biển quốc tế sẽ là một hiện tượng mới, và vì vậy điều quan trọng là xác định các tác nhân có thể tiếp tục hợp tác hay phải loại bớt trong quan hệ đối tác trên biển dự kiến trong CS-21 và NSMS.

Logic xây dựng liên minh của Walt sẽ đóng vai trò thế nào trên một bàn cờ biển? Geoffrey Till xác định biển và các chức năng của nó, vạch ra một mô hình đơn giản nhưng có tác động mạnh về bốn "thuộc tính lịch sử của biển" - tài nguyên, vận tải, thông tin và quyền chi phối - giúp những người hành nghề biển phân tích các vấn đề liên quan đến hợp tác trên biển. Mỗi thuộc tính đại diện một chức năng cơ bản của biển.

Đầu tiên, biển và đáy biển là kho chứa tài nguyên thiên nhiên, như cá, dầu, khí và quặng. Thứ hai, các đại dương tạo thành một trục đường chung vượt ra ngoài quyền tài phán của mọi quốc gia ven biển. Các quốc gia sử dụng biển có thể vận chuyển hàng hóa thương mại và các lực lượng vũ trang trên tuyến đường biển này, đến bất cứ hải cảng nào khác trên khắp địa cầu. Thứ ba, biển mang lại một môi trường trao đổi văn hóa. Và thứ tư, đó là một lĩnh vực mà các quốc gia chủ quyền có thể đấu tranh để giành quyền chi phối, hoặc kiểm soát vùng bờ biển hoặc các vùng nước rộng hơn.

Till cho rằng tất cả các thuộc tính này đều có thể mang tính hợp tác hoặc cạnh tranh. Sức mạnh quân sự quan trọng hơn trong chức năng cạnh tranh, trong đó, một quốc gia có thể cố gắng giành con đường của mình bằng vũ lực. Ảnh hưởng của cạnh tranh có thể chống lại các nỗ lực xây dựng các liên minh rộng hơn hoặc tòan cầu, đơn giản vì một số đối tác triển vọng có thể có quan điểm ngược với đối tác khác.

Vì thế, các liên minh rộng hơn ít khả năng thành lập khi các chính phủ đánh giá cao lợi ích quốc gia, điều vốn rất khó nhượng bộ. Các liên minh rộng lớn hoặc toàn cầu thiên về hướng thành lập vì các sứ mệnh mang tính hợp tác, tận dụng mọi người mà không ảnh hưởng đến lợi ích khác của các đối tác. Các sứ mệnh như thế có thể giúp giảm mối đe dọa lẫn nhau hoặc thúc đẩy các lợi ích tích cực mà các đối tác đều được hưởng.

Tuy nhiên, bản chất kép của hải quân khiến lực lượng này khó phân biệt giữa các sứ mệnh cạnh tranh và hợp tác. Tàu chiến nhằm nhiều mục đích. Khác với xe tăng, máy bay chiến đấu hay pháo, một con tàu có thể tham gia hỗ trợ nhân đạo hoặc cứu hộ thiên tai, ngăn chặn phổ biến vũ khí, tăng uy tín của các hải cảng nước ngoài hoặc tiến hành các sứ mệnh phi chiến đấu khác. Các sứ mệnh này là trung tâm của NSMS và ngang hàng với các sứ mệnh chiến đấu trong CS-21. Rõ ràng, các tàu hải quân cũng có thể tham chiến. Tàu chiến được huy động trong các sứ mệnh hợp tác có thể chuyển sang chức năng chiến đấu vào thời điểm nhất định nếu được chỉ đạo - thậm chí có thể chĩa súng vào chính đối tác cũ của mình.

Chiến lược gia Edward Luttwak nhận định các năng lực chiến đấu của một hạm đội "có thể được kích hoạt bất cứ lúc nào, trong khi việc tạo ra một ý định sử dụng các năng lực này có thể ngấm ngầm và tức thời". Ngay cả các hoạt động thông thường của hạm đội không hề có mục đích đe dọa cũng có thể bị các nước khác xem là mối đe dọa bởi mối đe dọa ở đây tiềm ẩn trong chính sức mạnh của nó. Điều này không đúng lắm với các lực lượng bảo vệ bờ biển, và càng không đúng với các cơ quan phi quân sự hoạt động trên biển. Vấn đề là ở sự lựa chọn công cụ.

Theo định nghĩa, quyền chi phối là thuộc tính mang tính cạnh tranh nhất trong bốn thuộc tính mà Till kể. Nếu một nước hoặc một liên minh hẹp chỉ huy một diện tích rộng có vai trò quan trọng, nước này có thể tước quyền của các nước khác, hạn chế khả năng họ sử dụng các hải trình hoặc khai thác tài nguyên thiên nhên. Nguy cơ mất quyền kiểm soát các vùng biển quan trọng chắc chắn đã khiến các nước đòi quyền tài phán đối với tất cả hoặc một phần bBển Đông phải lo lắng. Đấu tranh để giành quyền chi phối có thể hủy hoại các sứ mệnh mang tính hợp tác hơn.

Thuộc tính đầu tiên của biển mà Till đưa ra - nguồn tài nguyên - dường như ít mang tính cạnh tranh và chi phối hơn. Công ước Luật biển của LHQ (UNCLOS) quy định một vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) cho phép tất cả các quốc gia ven biển tùy ý sử dụng. Công ước này cũng lập một cơ chế hợp tác nhằm cùng khai thác tài nguyên từ đáy biển tại các vùng biển quốc tế, các nỗ lực này lẽ ra sẽ có lợi và khả thi về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên, các tranh chấp về tài nguyên có thể ngăn cản xây dựng liên minh khi các đường biên giới lãnh thổ vẫn chưa được ngã ngũ - như trong các tranh chấp tại Biển Đông gần đây, khi nhiều nước cùng đòi sở hữu các đảo và EEZ liên quan. Sự hận thù liên quan đến việc phân định EEZ tạo thành một yếu tố hủy hoại tiềm tàng đối với trật tự có lợi trên biển và có thể làm bùng phát các cuộc tranh giành quyền chi phối.

Như vậy, nỗ lực hợp tác sẽ có thể chỉ dừng lại ở vận tải, vì đây là nỗ lực ít tranh chấp nhất, và lợi ích chung của vận tải là rõ nhất và thuyết phục nhất. Vận tải dường như có thể áp dụng hành động đa phương. Tuy nhiên, nhiều chính phủ không dễ chia nhỏ các hoạt động trên biển của mình, tách bạch giữa cạnh tranh và hợp tác hữu nghị. Đây là một thách thức đặc biệt khó tại Biển Đông, nơi các mối đe dọa đến an ninh biển là vô định và vô hạn, không một liên minh nào tính đến các ranh giới văn hóa và xã hội, và thiếu sự khích lệ hợp tác lâu dài. Các quan chức Mỹ nên chú ý nhiều hơn đến những biến động giữa các chức năng hợp tác và cạnh tranh của biển, nhằm xác định và xử lý vấn đề ngay khi nó nổi lên.

Dù mô hình của Till về sức mạnh biển rất hữu ích, nhưng nó chưa nói hết được các thách thức có thể có tại Biển Đông. Học giả Sam Bateman dường như đồng ý với điều này. Ông mô tả trật tự có lợi trên biển - tức là chức năng vận tải biển của Till - là thách thức dễ dàng vượt qua nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ông gọi đó là một vấn đề "thuần". Trong khi thừa nhận rằng hợp tác về an ninh biển có thể bị thoái thác, ông nhấn mạnh rằng các mối đe dọa đối với tự do hàng hải "có thể được xác định rõ ràng và các giải pháp đã được tìm ra và nghiên cứu đến cùng". Những vấn đề đó có thể giải quyết được vì các chính phủ liên quan đều thấy có ích khi làm như thế.

Nhưng đồng thời, Bateman cũng mô tả châu Á - Thái Bình Dương "đang bị cuốn vào những vấn đề nguy hiểm" như "các yêu sách chồng lấn trên biển và việc quản lý nguy cơ của hoạt động hải quân ngày càng lớn trong khu vực". Ông mô tả các vấn đề nguy hiểm là "những vấn đề rất phức tạp và cấp thiết, đòi hỏi phải có chính sách liên quan đến nhiều tác nhân và gây ra nhiều bất đồng về bản chất một vấn đề và cách tốt nhất để giải quyết nó". Những vấn đề như vậy thách thức các giải pháp có sẵn, Bateman nói, không đơn giản vì chúng tách biệt với nhiều vấn đề mà còn vì chúng gắn với "nhiều bất đồng căn bản" giữa các đối thủ "tin chắc rằng quan điểm của mình là đúng". Thỏa thuận "luôn" đề nghị các bên tranh chấp "thay đổi suy nghĩ và hành động". Các vấn đề nguy hiểm đó sẽ khó tránh khỏi việc trở thành chướng ngại cho các nhiệm vụ an ninh thường ngày tại các vùng biển kín, đông đúc và giàu tài nguyên ở Biển Đông. Tự do hàng hải có thể dễ dàng được tách khỏi một loạt vấn đề phủ bóng lên hợp tác biển trong khu vực.

Nguồn (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71736/thach-thuc-trong-xay-dung-lien-minh-bien.html)

Progress
12-05-2012, 09:55 AM
http://img.vietnamnet.vn/logo/tuanvn.pngChính sách chính thức của Trung Quốc khẳng định "chủ quyền không thể tranh cãi" đối với các đảo tại Biển Đông, cũng như khoảng 80% vùng nước khu vực này. Một tuyên bố cứng rắn về mục tiêu chế ngự của Bắc Kinh thật khó tưởng tượng.
Thách thức trong xây dựng liên minh biển (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71736/thach-thuc-trong-xay-dung-lien-minh-bien.html)
Hợp tác biển hiện tại trên Biển Đông (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71567/hop-tac-bien-hien-tai-tren-bien-dong.html)
Chính sách biển của Mỹ (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71406/chinh-sach-bien-cua-my.html)

Nhân tố Trung Quốc
"Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu tôi cắt tay và chân của bạn?", Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Vũ Thắng Lợi đã phát biểu như vậy tại một diễn đàn ở Singapore, khi được hỏi tại sao các bình luận của Trung Quốc về các vấn đề khu vực lại khó nghe đến vậy. "Đó là cảm nhận của Trung Quốc về Biển Đông".
Phản ứng như vậy cho thấy sự ham muốn đối với "mảnh đất xanh dân tộc" này. Trung Quốc coi vùng biển ngoại biên của mình như lãnh thổ trên đất liền: tức là như một phần lãnh thổ được sở hữu và quản lý - vì vậy lãnh đạo Trung Quốc kiên quyết gắn "biển gần" với bờ biển của mình. Trung Quốc dường như không có ý định thay đổi quan điểm, nếu nhìn vào những tuyên bố công khai mạnh mẽ như vậy. Giới lãnh đạo Trung Quốc có vẻ sẵn sàng trì hoãn việc giải quyết dứt điểm các cuộc xung đột trên biển, nhưng thật khó tưởng tượng rằng họ có thể - chứ đừng nói là muốn - nhượng bộ chủ quyền mà họ liên mồm nói là không thể tranh cãi.
Mùa hè năm 2011, các chuyên gia bình luận đã tán dương Trung Quốc và các thành viên ASEAN vì đạt nhất trí về Các nguyên tắc thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) năm 2002. Thỏa thuận mới được cho là sẽ giảm căng thẳng khi đã khẳng định lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp không dùng vũ lực. Tuy nhiên, trừ phi giới lãnh đạo Trung Quốc chịu hy sinh một "lợi ích cốt lõi của quốc gia" - một lợi ích mà theo định nghĩa của Trung Quốc họ sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ - thì sự xích lại gần nhau bề ngoài này mới có cơ hội chứng tỏ một sự rút lui chiến lược và tạm thời của một Bắc Kinh nhận ra là họ đã không đúng khi mạnh tay đối với các nước láng giềng châu Á.
Ví dụ giữa năm 2010, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã thẳng thừng nói với người đồng cấp Singapore rằng "Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó là một thực tế". Những ngôn từ như thế đã khiến các nước nhỏ Đông Nam Á bắt đầu xây dựng sự phòng thủ của mình trong khi làm mới quan hệ với Mỹ, sự lựa chọn đầu tiên của họ là nhằm đối trọng với các tham vọng của Trung Quốc.

http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/05/11/16/20120511164227_6.jpg

Trước bối cảnh địa chính trị phức tạp này, giới chức Mỹ phải chống lại suy nghĩ cho rằng các sáng kiến của mình chỉ thuần túy mang tính thực dụng, vì các sáng kiến này tạo ra một điều tốt chung quốc tế mà tất cả các chính phủ có suy nghĩ đúng đắn đều không thể phản đối. Các sáng kiến này cũng phải thôi tách biệt rõ ràng giữa các nỗ lực quân sự và phi quân sự. Các công cụ phi quân sự có thể tăng lợi ích địa chiến lược khi phối hợp với ngoại giao, giống như việc sử dụng hoặc không sử dụng vũ lực một cách khéo léo.
Trên thực tế, cách tiếp cận như vậy phù hợp với các truyền thống chiến lược của châu Á. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ nên lường trước thái độ hoài nghi của Trung Quốc đối với các nỗ lực hợp tác mà Mỹ thấy vô hại hoặc có lợi cho cả hai. Người ta thường có xu hướng áp đặt các giả định và thế giới quan của riêng một người lên người khác. Giới chức Mỹ nên tránh giả định rằng Bắc Kinh nhìn môi trường chiến lược theo cùng một cách mà Mỹ thấy. Đồng thời, các quan chức Mỹ nên nghĩ trước, đừng để các quan chức Trung Quốc áp đặt các giả định của họ lên các nỗ lực của Mỹ tại lòng chảo Biển Đông.
Ví dụ các quan chức Trung Quốc sử dụng 5 "con rồng" phi quân sự (các cơ quan thực thi pháp luật biển dân sự, gồm Cảnh sát Biển Trung Quốc, Cục An toàn đường biển, Cơ quan điều hành thực thi luật đánh bắt, Tổng cục Hải quan và Cục Hải dương học quốc gia) để thực hiện quyền tài phán tại các vùng nước mà Bắc Kinh đòi là của mình. Khác với các lực lượng hải quân, vốn có nhiệm vụ đấu tranh và bảo vệ các khu vực biển, các cơ quan thực thi pháp luật biển thường thực thi pháp luật tại các vùng lãnh hải và EEZ. Thông qua việc thực thi pháp luật của Trung Quốc, các cơ quan này đang củng cố yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền không thể tranh cãi trong đường 9 đoạn đang rất gây tranh cãi mà Bắc Kinh dùng để mô tả yêu sách lãnh thổ của mình.
Tommy Koh, Chủ tịch Hội thảo lần thứ ba của LHQ về luật Biển, cho biết đường chín đoạn này đã được đưa vào một bản đồ mà Trung Quốc trình LHQ năm 2009 và cho thấy cách hiểu của Trung Quốc về giới hạn ngoài của thềm lục địa nước mình. Đường lưỡi bò này bao trùm hầu hết diện tích Biển Đông. Bằng việc huy động các tàu thực thi pháp luật dân sự, chứ không phải tàu hải quân, đến các vùng biển nằm trong đường 9 đoạn, Trung Quốc muốn ra hiệu cho các chính phủ khu vực và Mỹ thấy rằng họ coi việc giám sát các vùng biển này là một sự thực thi bình thường quyền chủ quyền của họ. Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc thực sự coi các cơ quan dân sự thực thi pháp luật biển là một công cụ thúc đẩy lợi ích địa chiến lược, họ sẽ có xu hướng đổ lỗi cho Mỹ có các động thái tương tự.
Khi họ áp đặt các giả định của mình lên các nhà hoạch định chính sách của Mỹ, giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ có thể xem các nỗ lực của Mỹ là lén lút, đánh lạc hướng nhằm giúp các nước láng giềng Trung Quốc chống lại các yêu sách lãnh thổ chính đáng của Bắc Kinh. Việc chuyển giao một tàu chiến của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ cho Hải quân Philippines có thể là không có gì đáng bàn cãi đối với Washington, nhưng đối với Bắc Kinh, điều này giống như Mỹ đang ủng hộ và trang bị vũ khí cho một lực lượng đối lập.
Các phản ứng của Trung Quốc đối với các sáng kiến xây dựng liên minh đa dạng của Mỹ cho thấy rõ những lo ngại trên. Bình luận của Trung Quốc về các cuộc tập trận CARAT mang tính hoài nghi, dù Bắc Kinh đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Đông Nam Á và khả năng Mỹ hành động hiệu quả tại Biển Đông trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và cắt giảm ngân sách hiện nay. Giáo sư Đại học Phúc Đán Zhang Jiadong phát biểu với đài truyền hình Phoenix rằng cuộc tập trận CARAT giữa Mỹ với Philippines gần đây ở biển Sulu là một khúc dạo đầu cho một "liên minh chiến lược" giữa hai nước. Thời báo Hoàn cầu, một phụ san của tờ báo chính thức Nhân dân Nhật báo, miêu tả cuộc tập trận này là cách Washington "tăng cường quyết tâm can dự vào vấn đề biển Đông". Chắc chắn, Manila đã tìm sự trợ giúp của Mỹ cho các yêu sách biển của mình, bằng chứng là thỏa thuận phòng thủ chung nhiều thập kỷ qua giữa hai nước. Rõ ràng tách hợp tác an ninh biển khỏi cạnh tranh chiến lược là một việc rất khó tại Đông Nam Á.
Nếu các nỗ lực của Mỹ nhằm tăng cường các lực lượng quân sự khu vực càng thành công, thì Trung Quốc sẽ càng ngăn cản mạnh. Ví dụ, khi Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ tìm cách tổ chức tuần tra tại Eo biển Malacca và vùng lân cận hồi năm 2004 trong khuôn khổ Sáng kiến An ninh biển Khu vực, Trung Quốc đã công khai thuyết phục các chính phủ khu vực từ chối vai trò lãnh đạo của Mỹ trong sáng kiến này. Và sức ép đó đã phát huy tác dụng. Một thỏa thuận khu vực hiện đang giám sát các vùng biển này chống lại tình trạng không có pháp luật, nhưng không có sự trợ giúp của Mỹ. Nếu Mỹ định có một vị trí có ảnh hưởng lớn trong khu vực, nhất là ở gần Eo biển này, Mỹ có thể lại nhận phải sự phản đối của Trung Quốc. Nếu các cuộc tập trận CARAT hay SEACAT chuyển từ thỏa thuận song phương thành đa phương, Bắc Kinh sẽ coi đó là một liên minh đối trọng đang hình thành, và sẽ thổi bùng nỗi lo sợ rằng Mỹ đang lặp lại chiến lược răn đe thời Chiến tranh Lạnh không có lợi cho Trung Quốc.
Sự khác biệt về thái độ của Trung Quốc đối với CSI và PSI, hai sáng kiến đều do Mỹ đứng đầu đem lại những điều tốt cho tất cả các nước liên quan đến biển, là một bằng chứng nữa cho thấy Bắc Kinh đánh giá như thế nào về các nỗ lực của Mỹ tại các vùng biển Đông Nam Á. Trung Quốc tỏ ra ít lo lắng về CSI, chấp nhận các nhân viên Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ đến các cảng biển lớn của mình ở Thượng Hải, Thâm Quyến và Hồng Công. Nhưng ngược lại PSI không nhận được sự ủng hộ nhiều ở Trung Quốc khi Bắc Kinh ngăn cản một số ý định thực thi nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ chính thức ủng hộ các nỗ lực của sáng kiến này. Sự khác biệt cơ bản giữa hai thái độ trên rất rõ: Trong khi Trung Quốc có thể đơn phương rời khỏi CSI, họ lại không nói nhiều về các chiến dịch của PSI, ngay cả khi nó diễn ra ở các bờ biển châu Á. Các quan chức Trung Quốc có thể sợ khi phải bằng lòng với các sáng kiến do Mỹ đứng đầu ở ngoài khơi nước mình, vì như vậy tức là thừa nhận vị thế siêu cường biển của Mỹ ở châu Á. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ có thể không đồng tình với quan điểm này, nhưng họ phải hiểu Trung Quốc để tránh vô tình gây căng thẳng hoặc xung đột.
Hàm ý chính sách
Các tác nhân khu vực khác nhau có nhiều lợi ích khác nhau tại Biển Đông. Mỹ có cả lợi ích kinh tế và an ninh khi đảm bảo tự do đi lại trên biển. Một nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc vào vận tải tự do các nguồn tài nguyên và hàng hóa, nhưng Mỹ thấy thương mại trên biển trong khu vực đang gặp nguy cơ. Sự tự do đi lại trong khu vực cũng cần thiết đối với các hoạt động chiến lược giữa Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, các sân khấu chính được nói tới trong CS-21. Tính hiệu quả chiến lược của Mỹ đòi hỏi duy trì khả năng áp đặt kiểm soát biển địa phương trong khi ngăn cản mọi thế lực thù địch giành quyền chế ngự đối với các hải trình quan trọng.
Ngược lại, các nước Đông Nam Á có các yêu sách chủ quyền đang bị đe dọa và lo ngại về kẻ hay bắt nạt - là Trung Quốc. Chủ quyền là quyền kiểm soát lãnh thổ - quyền chi phối nếu nói theo Geoffrey Till. Khả năng đấu tranh giành quyền kiểm soát các đảo và các vùng nước xung quanh được nêu rõ trong các chính sách của quốc gia trong khu vực và định hình cái nhìn của giới lãnh đạo khu vực đối với các sáng kiến của Mỹ. Các nước này thèm khát các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các vùng biển và đáy biển đang tranh chấp, và vốn là các nước chăm chỉ buôn bán, họ quá phụ thuộc vào sự vận chuyển tự do các nguồn tài nguyên và hàng hóa thành phẩm. Các lợi ích pha trộn này giúp giải thích tại sao các chính phủ châu Á thường có vẻ mâu thuẫn. Họ tìm cách thắt chặt quan hệ kinh tế với Trung Quốc trong khi bực bội với các tham vọng địa chính trị của nước này. Họ có động lực lớn khi cân bằng một Trung Quốc độc đoán vào lúc này, nhưng họ phải sống chung với Trung Quốc mãi mãi, trong khi siêu cường Mỹ ở nơi xa xôi thì không chắc chắn.
Về phần mình, Bắc Kinh nhận thấy một lợi ích sống còn khi giữ cho các nước trong khu vực không chống lại mình - đó là lý do tại sao họ thích đàm phán với các quốc gia Đông Nam Á một cách song phương hơn là đa phương. Dường như giới lãnh đạo Trung Quốc cuối cùng đã nhận ra rằng các chính phủ Đông Nam Á rất đề cao các lợi ích của mình và sẽ chống cự nếu Trung Quốc đi quá xa. Cho tới khi nào các năng lực hải quân và quân sự mạnh hơn, Bắc Kinh sẽ không thiếu phương tiện để áp đặt quan điểm của mình. Nhưng bằng cách tự cho mình là có chủ quyền chính đáng đối với các vùng biển đang tranh chấp, và ngăn cản các nước trong khu vực liên kết lại với nhau và tăng cường hải quân và quân đội, Bắc Kinh có thể hy vọng dần dần có được sự thừa nhận bất đắc dĩ vai trò siêu cường khu vực của mình. Họ cũng có thể hy vọng gạt các cường quốc ngoài khu vực như Mỹ và Ấn Độ ra khỏi các vấn đề của Đông Nam Á - nhiều hơn một nước Mỹ mới nổi đã từng buộc các cường quốc châu Âu thừa nhận Học thuyết Monroe một thế kỷ trước, buộc họ rút lực lượng hải quân khỏi Tây bán cầu và nhường lại quyền bá chủ cho Mỹ.
Khi nhìn lại hỗ trợ cho các nước ở Biển Đông, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ nên nhận ra rằng họ có ít sáng kiến thực sự phi chính trị. Một nỗ lực thực sự không bị phản đối như CSI chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong chính sách của Mỹ đối với khu vực. Nó không đặt ra mối đe dọa nào đối với các lợi ích của Trung Quốc vì Bắc Kinh có trong tay quyền phủ quyết các hoạt động của CSI tại các cảng biển Trung Quốc. Ngược lại, xây dựng năng lực hợp tác có nguy cơ đe dọa trực tiếp các lợi ích của Trung Quốc, vì xây dựng năng lực ở một mục đích này có thể củng cố các năng lực phục vụ cho các mục đích khác. Các biện pháp tăng cường các lực lượng hải quân, bảo vệ bờ biển và các cơ quan biển khác của Đông Nam Á để giúp các nước này giám sát các vùng biển thuộc chủ quyền của mình cũng có thể giúp họ củng cố chủ quyền đối với các vùng biển rộng hơn đang tranh cãi. Các công cụ mà Mỹ cung cấp vì một mục đích nào đó có thể được sử dụng vào một mục đích khác, hoàn toàn có thể nhằm chống lại và hủy hoại chính sách của Trung Quốc.
Washington tăng cường các chương trình hỗ trợ tại Biển Đông, nhưng phải làm việc này với ý thức về một sự phản đối sẽ mạnh. Mỹ sẽ không phát triển một liên minh an ninh biển rộng rãi, vì Trung Quốc phản đối, và vì các vấn đề nguy hiểm tác động đến khu vực. Bên cạnh đó, các nước Đông Nam Á sẽ không tham gia một liên minh không có Trung Quốc, vì lo sợ phản ứng của nước láng giềng đang ngày càng hùng mạnh của mình. Tư lâu Bắc Kinh thể hiện kiềm chế, cả trên biển và trong các phát ngôn chính sách của mình, nhưng họ có thể ngăn chặn bất kỳ liên minh nghiêm túc nào.
Nhận thấy rõ các ràng buộc này, Washington nên phối hợp với các chính phủ trong khu vực một cách song phương, hoặc có thể thỉnh thoảng họp nhóm đặc biệt các đối tác, để duy trì an ninh biển. Cách tiếp cận này chưa phải là lý tưởng nhưng sẽ cho phép Mỹ củng cố các lợi ích của mình mà không gây phản ứng dữ dội từ phía Trung Quốc. Một cách tiếp cận từng phần không thỏa mãn lắm và không đáp ứng tầm nhìn đầy tham vọng của CS-21 và NSMS. Tuy nhiên, nó phù hợp với thực tế chính trị và sẽ vẫn giúp Mỹ đạt một số mục tiêu trong khu vực.
Trên hết, giới chức Mỹ nên tiếp tục theo dõi sát và liên tục đánh giá lại các xu hướng diễn ra tại Đông Nam Á và thích nghi chiến lược biển của Mỹ với các bối cảnh mới. Nếu Trung Quốc bắt đầu sử dụng tàu hải quân để củng cố các yêu sách biển của họ, như Lý Quang Diệu phỏng đoán, thì thay đổi này sẽ là dấu hiệu cho thấy một sự chuyển sang các tương tác mang tính cạnh tranh hơn trong vùng biển khu vực. Nếu như vậy, đó có thể là lúc lãnh đạo Mỹ cần xem lại cách tiếp cận nhẹ nhàng về xây dựng liên minh, tập trận quân sự và chuyển giao vũ khí. Cái giá của một chính sách mạnh hơn đối với Biển Đông có thể là rất lớn, nhưng cũng đáng để duy trì an ninh biển trong sân khấu quan trọng này.
Châu Giang dịch theo The Middling Kingdom
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71911/cai-gia-cua-mot-chinh-sach-manh-hon-doi-voi-bien-dong.html

Progress
12-05-2012, 10:57 AM
"Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu tôi cắt tay và chân của bạn?"
Câu này cần dành cho chính người Trung Quốc: Không biết người Trung Quốc sẽ cảm thấy thế nào, khi người ta cắt đi mấy lọn thịt, cắt đi một phần thân thể của người Trung Quốc???
Bởi Hoàng Sa, Trường Sa chính là một phần thân thể, là máu thịt của người Việt Nam!