PDA

View Full Version : [Tin tức] Thế gọng kìm trên biển



vietthuong
02-05-2012, 08:26 AM
Thế gọng kìm trên biển
02/05/2012 3:14

Ẩn hiện phía sau các cuộc hội đàm vừa qua là lo ngại về các hành động của Trung Quốc cũng như vấn đề an ninh biển.

Ngày 30.4 (giờ địa phương), ở Washington diễn ra 2 cuộc hội đàm cấp cao giữa Mỹ với Nhật Bản và Philippines. Tại Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama có cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên với Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda và 2 nhà lãnh đạo cam kết đẩy mạnh hơn nữa quan hệ đồng minh để “giữ vững hòa bình, ổn định tại châu Á”, theo Kyodo News. Vài ngày trước, Washington và Tokyo cũng nỗ lực giải quyết “hòn đá tảng” lâu nay trong quan hệ song phương khi thông báo kế hoạch rút 9.000 quân Mỹ khỏi Okinawa và tiếp tục thương thảo về việc bố trí lại căn cứ của Mỹ trên đảo.

http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20125/MinhNguyet/thang5/luot_do2.jpg
Lược đồ vành đai liên kết mới mà Mỹ và các đối tác, đồng minh tạo dựng trong khu vực - Đồ họa: Hoàng Đình

Song song đó, một cuộc gặp lần đầu tiên khác đã diễn ra giữa Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta với 2 người đồng cấp Philippines Alberto del Rosario và Voltaire Gazmin. AFP dẫn lời 2 bộ trưởng Philippines thừa nhận lực lượng vũ trang của nước này khá yếu kém và kêu gọi Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế hỗ trợ Manila xây dựng “năng lực quốc phòng tối thiểu đủ để tự bảo vệ”. Đáp lại, bà Clinton tuyên bố cuộc gặp là bằng chứng về quyết tâm của cả hai bên nhằm “viết nên một chương mới” trong quan hệ đồng minh. Theo AFP, bà cũng nhắc đến căng thẳng đang xảy ra giữa Philippines với Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough trên biển Đông và một lần nữa khẳng định Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc bảo đảm an ninh và tự do hàng hải trên biển Đông.

Trong lúc Thủ tướng Nhật Noda đang ở Mỹ thì Ngoại trưởng nước này Koichiro Gemba có mặt tại New Delhi để hội đàm với người đồng cấp Ấn Độ S.M.Krishna, theo tờ Times of India. Ngoại trừ những tuyên bố khẳng định tầm quan trọng của quan hệ song phương, hai bên gây chú ý khi nhất trí thành lập một cơ chế đối thoại về an ninh biển cũng như chuẩn bị cho cuộc tập trận hải quân chung đầu tiên vào tháng 6.

Vành đai thép

Có thể thấy điểm chung giữa Ấn Độ, Nhật Bản hay Philippines là đều đang vướng vào tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc cũng như nhiều lần bày tỏ lo ngại trước thái độ và hành động của nước này trên biển. Trong đó, Philippines thường xuyên tố cáo Trung Quốc “ức hiếp” mình.

Cảm nhận về mối đe dọa an ninh từ Bắc Kinh là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quan hệ chính trị, quân sự và an ninh giữa Manila và Washington phát triển rất năng động chỉ trong thời gian rất ngắn. Để tìm kiếm chỗ dựa, Philippines nhanh chóng tìm cách gây dựng vị trí quan trọng trong những điều chỉnh chiến lược của Mỹ đối với châu Á - Thái Bình Dương. Hai nước đang có cuộc tập trận chung Balikatan cũng như thương thảo việc cho Mỹ hiện diện không thường trực một số căn cứ không quân và hải quân của Philippines. Điều này phù hợp với sách lược xây dựng lực lượng tinh gọn, cơ động của Mỹ vừa tránh được những chuyện nhạy cảm về chính trị và ngoại giao nếu đặt căn cứ thường trực. Ngược lại, với Philippines, Mỹ có được điều kiện thuận lợi cho việc tái bố trí chiến lược ở khu vực và dễ dàng gây áp lực với Trung Quốc.

Trong khi đó, tuy không để “bị bắt nạt” như Philippines nhưng 2 đại gia khu vực Ấn Độ và Nhật Bản cũng vướng tranh chấp với Trung Quốc. Đối với Tokyo là việc tàu của Bắc Kinh thường xuyên “cà khịa” trên biển Hoa Đông còn đối với New Delhi là những lo ngại ở vùng biên giới trên bộ. Báo chí Nhật thường xuyên kêu gọi chính phủ nước này hỗ trợ ASEAN nói chung và các nước tham gia tranh chấp trên biển Đông nói riêng để góp phần bảo đảm an ninh, ổn định vì những gì đã và đang xảy ra tại vùng biển này cũng có thể sẽ “xảy ra trên biển Hoa Đông”. Ấn Độ thì từng tuyên bố thẳng “biển Đông không phải của riêng ai” để đáp lại những cảnh báo của Trung Quốc về quan hệ hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí giữa nước này với Việt Nam, theo BBC. Theo giới quan sát, xét về thực lực hay vị thế thì Ấn Độ và Nhật Bản không thua kém Trung Quốc là mấy nên việc 2 nước bắt tay lẫn nhau cũng như thắt chặt quan hệ với Mỹ đóng vai trò rất then chốt trong bàn cờ chiến lược mới ở khu vực.

Bên cạnh đó, Mỹ cũng vừa tiến hành giai đoạn đầu trong kế hoạch đưa lính thủy đánh bộ đến đồn trú tại Úc, theo AFP. Sự tham gia của Úc giúp hình dung về một vành đai liên kết, liên minh đang hình thành kéo từ Ấn Độ lên đến Nhật với sự hiện diện chủ đạo của Mỹ, bao bọc một phần Ấn Độ Dương và khu vực tây Thái Bình Dương.


Trọng Kha

Theo TNO (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120502/the-gong-kim-tren-bien.aspx)

n24kt1
02-05-2012, 08:50 AM
Còn thiếu Hàn Quốc nữa kìa bác

vietthuong
02-05-2012, 09:04 AM
Thế Hàn Quốc và BTT khó thoát khỏi vùng ảnh hưởng của TQ, cũng như Việt Nam do là nước nhỏ có biên giới đất liền thuận lợi với TQ. Tuy nhiên khi lủ c.hó điên thì vòng vây nhanh chóng thít chặt vào vùng tiếp giáp này.

hamhien
02-05-2012, 10:13 AM
Nói là muốn thì không phải, nhưng không muốn cũng không đúng:

Mình đang mong xem con ch.ó nó thử cắn càn, khi đó các hiệp định này có hiệu lực hay không thì 2 X 5 rõ 10.

Chỉ sợ, trước mắt thì như vậy nhưng sau lưng, Mèo và ch.ó này đang chơi trò gì đó thôi.

kien-hong-yu
02-05-2012, 11:26 AM
mềnh chỉ bít hổ đi lạc rừng thì cũng thành meò thôai

vietthuong
02-05-2012, 11:54 AM
mềnh chỉ bít hổ đi lạc rừng thì cũng thành meò thôai

còn được, chứ mà rồng mà lạc biển cũng chỉ là giun thôi!

popeyedhv
02-05-2012, 11:57 AM
còn thiếu Hàn, Thái và Sing nữa

Canon100is
02-05-2012, 02:58 PM
Việt Nam cũng nằm trong này, lo lo đấy ! Với Mỹ thì chẳng biết đâu được.

namvietbglg
02-05-2012, 03:06 PM
mềnh chỉ bít hổ đi lạc rừng thì cũng thành meò thôai
Cũng như Trung Quốc đi cướp biển đảo của nước khác, gây thù oán với hầu hết láng giềng của mình thì có ngày bị đập cho vỡ mõm!

thanhtrung07_12
02-05-2012, 05:07 PM
Liên minh Mỹ-Phi-Hàn-Nhật vòng ngoài, Việt Nam-Nga-Ấn Độ vòng trong thì con cá Trung Quốc xem như đã nằm trên thớt, thịt đê!!!!!

Mr.Blue
02-05-2012, 05:41 PM
Các bác phát ngôn hào sảng quá nhỉ!?!! Giả dụ TQ bị kiềm như thế thì theo các bác VN mình có lợi hay có hại?! suy nghĩ xem.

mình mạn phép trả lời nhé, nếu TQ bị gò ép trong vòng đai thép thì dưới sự phát triển mạnh của Hải Quân TQ mà lại bị dồn nén trong không gian chật hẹp là biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa thì chắc chắn một điều TQ sẽ dồn ép các láng giềng xung quanh biển Nam Hải của nó theo vòng xoáy bạo lực do Trung Hoa dẫn dắt, từ đó VN mình sẽ càng khốn đốn hơn trên biển!!

Ai thấy vui, chứ mình ko thấy vui khi đọc tin này!

vietthuong
02-05-2012, 06:01 PM
Còn nếu TQ đẩy lui được thế lực Mỹ (cưa đôi TBD), thì lúc đó Việt Nam, ASEAN cũng như các nước xung quanh không còn mang từ quốc gia nửa mà giống như Tây Tạng chẳng hạn.

Mr.Blue
02-05-2012, 06:08 PM
Các bác nhiều phát biểu hơi hài huớc ?! các bác nghĩ Trung Quốc Cộng Sản là nguy hiểm, vậy mình xin thưa là một Trung Quốc phi Cộng Sản còn nguy hiểm & mạnh gấp trăm lần! Một chính phủ Tư Bản TQ sẽ là một quốc gia đc hoà nhập tự do vs hầu hết các quốc gia, đc hưởng trọn vẹn các đặc quyền và quan trọng nhất là sẽ ko có gì ngăn đc buớc chân Trung Hoa đạp đổ đc vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới :)

Do đó các bác đừng nghĩ tới và cũng đừng mong Mỹ lật đổ cái chính quyền Bắc Kinh đấy. Mỹ thừa biết chỉ có thể kiềm chế chứ ko thể đánh sập chế độ hiện tại ở TQ! quá mạo hiểm.


Nếu Việt Nam mình cũng thế, thì ....!

HoàngTháiCực
02-05-2012, 07:02 PM
Các bác nhiều phát biểu hơi hài huớc ?! các bác nghĩ Trung Quốc Cộng Sản là nguy hiểm, vậy mình xin thưa là một Trung Quốc phi Cộng Sản còn nguy hiểm & mạnh gấp trăm lần! Một chính phủ Tư Bản TQ sẽ là một quốc gia đc hoà nhập tự do vs hầu hết các quốc gia, đc hưởng trọn vẹn các đặc quyền và quan trọng nhất là sẽ ko có gì ngăn đc buớc chân Trung Hoa đạp đổ đc vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới :)

Do đó các bác đừng nghĩ tới và cũng đừng mong Mỹ lật đổ cái chính quyền Bắc Kinh đấy. Mỹ thừa biết chỉ có thể kiềm chế chứ ko thể đánh sập chế độ hiện tại ở TQ! quá mạo hiểm.


Nếu Việt Nam mình cũng thế, thì ....!

Còn tôi thì lại nghĩ khác, trung quốc sẽ không bao giờ có thể trở thành một quốc gia dân chủ như phương tây được do nước này quá rộng lớn, đông dân. Nếu trung quốc dân chủ hóa bộ máy chính trị, xã hội thì nước này sẽ rất dễ dẫn đến tan rã, lý do tôi sẽ trình bày ở dưới.

Trung quốc từ xa xưa vốn là do nhiều nước nhỏ thống nhất mà thành do đó trong lòng nước này tồn tại rất nhiều nhóm sắc tộc, tôn giáo, lợi ích cục bộ địa phương nên suốt hàng ngàn năm nước này rất dễ xảy ra bạo loạn và ly khai ( mà mỗi lần ly khai là có một nước mới thành lập ), để hạn chế việc này các vua chúa trung hoa khi mà quyền lực còn vững mạnh đã cố gắng xây dựng nền chính trị tập quyền trung ương, mọi quyền lực đều do một ông vua nắm giữ, một khi quyền lực của một ông vua suy yếu tức thì cac thân vương, quan lại địa phương sẽ cắt đất, lập cõi xưng vương. Do đó việc tự do hóa chính trị của trung quốc sẽ rất dễ dẫn nước này đến con đường tan rã, làm sao tây tạng, tân cương, nội mông, mãn châu có thể chấp nhận quỳ gối trước người hán, nếu trung quốc muốn chứng minh mình là một nước dân chủ thì sẽ buộc phải công nhận quyền độc lập của các khu tự trị kể trên, đồng nghĩa vơi việc trung quốc sẽ mất 50% lãnh thổ hiện tại cùng một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên và mất đi các vùng đệm an toàn chiến lược ( Tây Tạng - Ấn Độ, Nội Mông và Mãn Châu - Nga, Tân Cương - Trung Á, Ấn Độ ) khiến cho vị trí địa lý của nước này rất dễ bị tấn công.

Nói thêm về sự tan rã, cát cứ địa phương của trung quốc một khi nước này không thể duy trì được chế độ tập trung quyền lực vào một đảng như hiện nay ta có thể liên tưởng đến tình trạng của nước này vào thời kỳ 1911-1949 khi mà nhà Thanh sụp đổ và các thế lực tài phiệt địa phương hoành hành trong lãnh địa của mình khiến nước này kiệt quệ.

Các bạn có thể nói bản thân các nước phương tây đặc biệt là Mỹ cũng dân chủ mà có thấy tan rã gì đâu. Mỹ là hiệp chủng quốc, thành phần xã hội còn phân hóa nhiều hơn trung quốc nhưng không tan rã là do chế độ chính trị đặc biệt của nước này, quyền lực của đất nước này không hoàn toàn nằm trong tay tổng thống mà còn nằm trong tay quốc hội, tòa án theo hệ thống tam quyền phân lập ( tổng thống nắm quyền hành pháp, quốc hội nắm quyền lập pháp, tòa án nắm quyền tư pháp ) và các chính quyền Liên bang, Tiểu bang và Địa phương.


Chính quyền tiểu bang là định chế có ảnh hưởng lớn nhất trên đời sống thường nhật của người dân Mỹ. Mỗi tiểu bang đều có hiến pháp, chính quyền và luật lệ riêng. Đôi khi có những khác biệt lớn trong luật và thủ tục hành chính giữa các tiểu bang liên quan đến những vấn đề như quyền sở hữu, tội phạm, y tế và giáo dục. Chức danh dân cử đứng đầu tiểu bang là Thống đốc. Mỗi tiểu bang đều có một viện lập pháp (theo thể chế lưỡng viện ngoại trừ tiểu bang Nebraska (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nebraska) chỉ có một viện), và hệ thống tòa án riêng. Tại một số tiểu bang, thẩm phán tòa tối cao và các tòa dưới được bầu chọn bởi người dân, trong khi ở những bang khác, các thẩm phán được bổ nhiệm theo thể thức áp dụng cho liên bang.
Sau phán quyết của Tối cao Pháp viện về vụ án Worcester chống Georgia, các bộ tộc người da đỏ được xem là “các dân tộc độc lập bên trong một quốc gia” được hưởng quyền tự trị dưới thẩm quyền liên bang, nhưng không hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của tiểu bang. Hàng trăm luật lệ, sắc lệnh hành pháp và vụ án đã làm thay đổi vị trí của các bộ tộc đối với chính quyền tiểu bang, nhưng vẫn giữ hai bên tách biệt nhau. Khả năng điều hành chính quyền của các bộ tộc là khác nhau, từ một hội đồng gọn nhẹ quản lý tất cả sự vụ của bộ tộc cho đến một bộ máy hành chính cồng kềnh và phức tạp với các ban ngành khác nhau. Các bộ tộc có quyền tự thành lập chính quyền với thẩm quyền đặt vào tay các hội đồng bộ tộc, chủ tịch hội đồng được dân bầu, hoặc những thủ lĩnh tôn giáo. Quyền công dân (và quyền bầu cử) thường được giới hạn chặt chẽ trong vòng những người có nguồn gốc da đỏ.
Những thiết chế chịu trách nhiệm điều hành chính quyền địa phương như thị trấn, thành phố hoặc quận, được quyền ban hành luật trong một số lĩnh vực như giao thông, giấy phép bán rượu và chăn giữ súc vật. Chức vụ dân cử cao cấp nhất của thị trấn hoặc thành phố thường là thị trưởng. Ở vùng Tân Anh (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Anh), các thị trấn được điều hành theo thể thức dân chủ trực tiếp trong khi ở một vài tiểu bang như Đảo Rhode (http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3o_Rhode) và Connecticut (http://vi.wikipedia.org/wiki/Connecticut), chính quyền cấp quận không có hoặc có rất ít quyền lực, chỉ hiện hữu như một sự phân định địa giới. Tại các tiểu bang khác, chính quyền quận được ban cho nhiều thẩm quyền hơn như quyền thu thuế và duy trì các cơ quan thi hành pháp luật.


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_li%C3%AAn_bang_Hoa_K%E1%BB% B3#Ch.C3.ADnh_quy.E1.BB.81n_ti.E1.BB.83u_bang.2C_b .E1.BB.99_t.E1.BB.99c_v.C3.A0_.C4.91.E1.BB.8Ba_ph. C6.B0.C6.A1ng

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7_li%C3%AAn_bang_Hoa_K%E1%BB% B3#Ch.C3.ADnh_quy.E1.BB.81n_ti.E1.BB.83u_bang.2C_b .E1.BB.99_t.E1.BB.99c_v.C3.A0_.C4.91.E1.BB.8Ba_ph. C6.B0.C6.A1ng)Người Mỹ đã rất khôn khéo trong việc xây dựng nền tảng chính trị của mình khi để cho nhiều thế lực kiềm chế lẫn nhau, tuy nhiên sự kiềm chế này không làm cho nước này suy yêu mà làm cho nước này năng động dễ thích nghi, sữa chữa khuyết điểm của mình và hạn chế sự độc tài của một nhóm lợi ích nào đó.

lampardnguyen
02-05-2012, 10:10 PM
Nếu chế độ hiện tại ở TQ sụp đổ, hẳn sẽ có sự ly khai và ra đời của những nhà nước mới trên lãnh thổ TQ. Và kịch bản cũng tương tự ở Việt Nam. Vì vậy Việt Nam nên có những thay đổi tích cực để nhận được sự ủng hộ trước khi gọng kìm siết chặt.

native land
04-05-2012, 06:37 PM
Mỹ-Nhật cam kết gìn giữ an ninh châu Á Thái Bình Dương


Việt Hà, phóng viên RFA, Bangkok

2012-05-03

Ngày cuối tháng 4 vừa qua, Hoa Kỳ bận rộn với các cuộc gặp với lãnh đạo các nước đồng minh quan trọng tại châu Á.

http://nl7.upanh.com/b3.s26.d2/5e2904890b77b94ba0d6bc9be15a7e6e_44294417.untitled 1.gif



Hàng không mẫu hạm USS George Washington hướng dẫn các chiến hạm Nhật trong 1 cuộc tập trận ở Thái Bình Dương năm 2010


Một trong các cuộc gặp quan trọng diễn ra vào ngày 30 tháng 4 vừa qua là giữa Tổng thống Hoa Kỳ, Barack Obama với thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda. Bản tuyên bố chung hai nước sau cuộc gặp tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của mối liên minh hai nước cũng như mối quan tâm chung của Mỹ và Nhật tại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Để tìm hiểu thêm tương lai hợp tác hai nước trong mối liên hệ với an ninh khu vực thời gian tới, Việt Hà phỏng vấn ông Tetsuo Kotani, chuyên gia nghiên cứu tại Viện Quan hệ quốc tế của Nhật Bản. Trước hết nói về kết quả cuộc gặp lần này giữa hai nước, ông Tetsuo Kotani nhận xét:


Cân bằng sự lớn mạnh của Trung quốc


Tetsuo Kotani: cuộc gặp giữa thủ tướng nhật và tổng thống Mỹ không đưa ra một một điểm gì mới hơn trong khía cạnh hợp tác chiến lược về an ninh bởi hai nước đã cùng làm việc với nhau để đưa ra một chiến lược an ninh trong nhiều năm, và điều này đã khiến Mỹ giờ đây tập trung vào châu Á. Còn đối với Nhật Bản thì khu vực châu Á Thái Bình Dương vẫn luôn là trọng tâm chú ý trong chính sách. Cho nên cuộc gặp lần này chỉ tái khẳng định mối quan tâm chung và trọng tâm chú ý của hai nước là vào châu Á Thái Bình Dương

Việt Hà: Với sự lớn mạnh của Trung Quốc về kinh tế và quân sự mà một số nước có thể coi là một mối đe dọa tiềm năng, Nhật bản hy vọng gì ở mối liên minh với Mỹ để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc?

Tetsuo Kotani: tôi không nghĩ là Nhật Bản đang nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa mặc dù Nhật bản có thể coi Trung quốc là một mối quan ngại về an ninh. Vì vậy ưu tiên của chúng tôi là cân bằng sự lớn mạnh của Trung quốc, và đưa Trung Quốc theo trật tự an ninh chung của khu vực. Cả hoa kỳ và Nhật bản đều có chung mục tiêu này. Cho nên cuộc gặp cấp cao lần này giữa hai nước đã tái khẳng định mục tiêu chung này.

http://nl4.upanh.com/b6.s27.d2/a7c5c6cd25b0b67f304c109ad3fd4354_44294614.untitled 2.gif



Tàu ngầm Trung Quốc hoạt động thường xuyên trên Biển Đông cũng như ở Thái Bình Dương. Nguồn báo Trung Quốc


Việt Hà: Hoa Kỳ đã chuyển trọng tâm sự chú ý vào khu vực châu Á Thái Bình Dương bằng cách thắt chặt mối quan hệ về quân sự với các nước như Úc, Singapore, Philippines và Nam Hàn. Mối liên minh Nhật Bản và Mỹ đóng vai trò quan trọng thế nào trong mạng lưới liên minh này của Mỹ để duy trì an ninh và ổn định trong khu vực?

Tôi không nghĩ là Nhật Bản đang nhìn Trung Quốc như một mối đe dọa mặc dù Nhật bản có thể coi Trung quốc là một mối quan ngại về an ninh. Vì vậy ưu tiên của chúng tôi là cân bằng sự lớn mạnh của Trung quốc, và đưa Trung Quốc theo trật tự an ninh chung của khu vực.
ông Tetsuo Kotani
Tetsuo Kotani: mối liên minh Nhật bản và Hoa Kỳ về an ninh hết sức quan trọng cho sự ổn định và hòa bình trong khu vực. Nhưng nếu chỉ có Hòa Kỳ và Nhật bản thì chúng tôi không thể đảm bảo an ninh cho toàn khu vực vì vậy mặc dù hai nước đã thắt chặt mối liên minh nhưng chúng tôi đồng thời cần sự hợp tác từ các nước khác như Australia, Nam Hàn, Singapore, Việt Nam và Philippines. Trong bản tuyên bố cho thấy chúng tôi mong muốn mở rộng hợp tác an ninh với các nước trong khu vực và chúng tôi cũng không muốn bỏ Trung Quốc ra ngoài sự hợp tác

Việt Hà: Vậy đâu là thách thức trong mối liên minh Nhật Mỹ?

Tetsuo Kotani: theo tôi thách thức chính là sự cách biệt về khả năng quốc phòng giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng quốc phòng của nước này đang gia tăng và mặc dù chưa hơn được Mỹ hay Nhật nhưng nếu so với các nước ASEAN thì họ hơn nhiều. Vì vậy chúng tôi cần phải lấp đầy sự cách biệt này. Đó là lý do mà Mỹ và Nhật mở rộng hợp tác với các nước ASEAN trong đó có Philippines, Việt Nam.

http://nl1.upanh.com/b5.s28.d1/4d01035f78f5ec92731b13211bb6c831_44294911.untitled 4.gif



Phó Đô đốc hải quân Philippines Alexander Pama trưng hình ảnh hai chiếc tàu hải giám Trung Quốc chặn tàu chiến Philippines
trong một cuộc họp báo tại Manila ngày 11/4/2012.AFP


Ảnh hưởng kinh tế và chính trị

Việt Hà: cả Mỹ và Nhật đều đã trải qua khủng hoảng kinh tế trong khi kinh tế Trung quốc vẫn tăng trưởng, điều này có ảnh hưởng thế nào đến liên minh quân sự mà Mỹ và Nhật Bản muốn tạo dựng trong khu vực?

Tetsuo Kotani: cả Mỹ và Nhật đã trải qua những khó khăn về kinh tế trong khi kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng. Nếu Nhật bản và Hoa Kỳ không tiếp tục khẳng định mối hợp tác và quan tâm đối với các nước ASEAN thì Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để tạo ảnh hưởng lên các nước này. Cho nên điều chúng ta cần làm là chúng ta vẫn phải duy trì mối quan hệ kinh tế với Trung quốc. Trong khi đó chúng ta cũng phải tạo dựng một khuôn khổ hợp tác kinh tế không nhất thiết là phải có Trung Quốc trong đó. Ví dụ chúng ta đang có TPP. Lúc này Trung Quốc vẫn chưa gia nhập TPP, nếu chúng ta có thể tạo dựng một khuôn khổ hợp tác kinh tế hiệu quả thì đây có thể là một đối trọng với Trung Quốc.

Khả năng quốc phòng của nước này (TQ) đang gia tăng và mặc dù chưa hơn được Mỹ hay Nhật nhưng nếu so với các nước ASEAN thì họ hơn nhiều. Vì vậy chúng tôi cần phải lấp đầy sự cách biệt này. Đó là lý do mà Mỹ và Nhật mở rộng hợp tác với các nước ASEAN trong đó có Philippines, Việt Nam
ông Tetsuo KotaniViệt Hà: Trong cuộc gặp lần này, hai nước cũng đề cập đến việc rút quân Mỹ khỏi đảo Okinawa, điều nảy có ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả hợp tác quân sự hai nước trong việc đảm bảo an ninh khu vực?

Tetsuo Kotani: việc rút quân Mỹ khỏi căn cứ Okinawa có thể có tác dụng tích cực về mặt chính trị bởi vì người dân Okinawa không muốn có nhiều quân Mỹ trên đảo. Cho nên chúng tôi phải giảm số quân mỹ tại đây. Và điều này có ý nghĩa tích cực về mặt chính trị để duy trì mối liên minh hai nước. Tuy nhiên đúng là việc giảm quân có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đánh chặn. Tuy nhiên với mối liên minh quốc phòng mạnh giữa hai nước chúng ta có thể khắc phục được điểm này. Hiện tại Mỹ đã triển khai quân đến một số vùng quan trọng trong khu vực và họat động cũng linh họat cho nên nhìn chung thì khả năng đánh chặn vẫn có thể được duy trì và thậm chí được tăng cường hơn.

Mỹ và Nhật đã trải qua những khó khăn về kinh tế trong khi kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng. Nếu Nhật bản và Hoa Kỳ không tiếp tục khẳng định mối hợp tác và quan tâm đối với các nước ASEAN thì Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để tạo ảnh hưởng lên các nước này
ông Tetsuo Kotani

http://nl9.upanh.com/b4.s29.d4/316f040bc493cfdc806bbaf9abe37aa3_44295039.untitled 3.gif



Loại tàu Haijian (Hải Giám) hiện đại của Trung Quốc tuần tiểu ngày đêm trên các khu vực tranh chấp ở Biển Đông. (ảnh minh họa)AFP


Việt Hà: theo ông trong tương lai Nhật Bản và Hoa Kỳ có thể có các họat động quân sự nào cụ thể trong khu vực?

Tetsuo Kotani: Hoa Kỳ luôn có những cuộc tập trận chung hay trao đổi với các nước trong khu vực, đôi khi Hoa Kỳ cũng bán các thiết bị cho các nước này. Trong bản tuyên bố mới giữa Nhật bản và Hoa Kỳ chúng ta thấy là Nhật Bản sẽ cố gắng tận dụng ODA, ví dụ nhật bản vừa tuyên bố là sẽ cung cấp tàu tuần tiễu cho Philippines. Và theo tôi thì Nhật bản sẽ tiếp tục cung cấp các thiết bị quốc phòng cho các nước khác như Việt Nam, Brunei và Ấn Độ.

...bởi vì người dân Okinawa không muốn có nhiều quân Mỹ trên đảo. Cho nên chúng tôi phải giảm số quân mỹ tại đây. Và điều này có ý nghĩa tích cực về mặt chính trị để duy trì mối liên minh hai nước. Tuy nhiên đúng là việc giảm quân có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đánh chặn.
ông Tetsuo Kotani
Chúng tôi đã gửi người quan sát đến cuộc tập trận chung giữa Mỹ với Philippines, và theo tôi thì Nhật bản sẽ tiếp tục mở rộng các họat động tập trận chung và đào tạo chung.

Việt Hà: xin cảm ơn ông

Nguồn: RFA (http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/us-japan-commit-mainta-securit-05032012080412.html)

Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nhật sẽ liên minh với Mỹ chặt hơn và can dự nhiều hơn trong việc kiềm chế tham vọng của TQ.

tuangom
06-05-2012, 05:05 PM
mot ngay nao do .no cung tuyen bo.rong bay nuoc can tom ca no ria

ndbinhria1
06-05-2012, 06:56 PM
Trung Quốc như cá nằm trên thớt

Dầu mỏ thống trị thế giới. Tạo lập được ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, Mỹ sẽ buộc kinh tế Trung Quốc quỳ gối khi cần thiết.
Không thể xem xét các quá trình đang diễn ra hôm nay ở Trung và Cận Đông, cũng như Đông Phi bên ngoài bối cảnh sự ganh đua Mỹ-Trung.

Cũng không thể bỏ qua thực tế là chính sách đối ngoại Mỹ là nhằm làm suy yếu Trung Quốc - đối thủ chính của Mỹ trong cuộc đấu giành quyền chi phối thế giới.

Ta đều biết là Trung Quốc không sở hữu trữ lượng lớn tài nguyên năng lượng trên lãnh thổ của mình nên rất phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài. Vịnh Persique đã trở thành thị trường dầu mỏ tiện lợi nhất cho Trung Quốc; ban lãnh đạo Trung Quốc hiển nhiên là hy vọng nó vẫn như thế trong 20-30 năm tới. Ngoài ra, lục địa châu Phi, nhất là các quốc gia vịnh Guinea và Sudan cũng ngày càng quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng của Trung Quốc.

Các tàu chở dầu mỏ Cận Đông và châu Phi đến Trung Quốc qua Ấn Độ Dương, nơi thực hiện đến 50% khối lượng vận chuyển container trên thế giới và 70% khối lượng vận chuyển sản phẩm dầu mỏ. Đồng thời, nằm ở Ấn Độ Dương là đa số trong 11 khu vực hiểm yếu nhất có nguy cơ làm tắc nghẽn việc cung cấp hydrocarbon trên thế giới: các eo biển Hormuz, Bab al Mandeb và Malacca, eo biển Lombok (Indonesia) nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, kênh đào Suez, tuyến đường vòng xa quanh mũi Hảo Vọng. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Ấn Độ Dương đang trở thành một trong những khu vực rủi ro quan trọng nhất, nơi đụng độ lợi ích của các cường quốc khác nhau.

Việc vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa bằng đường biển tương đối rẻ cũng như vai trò gia tăng của giao thông đường biển trong nền kinh tế thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa đã làm gia tăng vai trò của Ấn Độ Dương như một khu vực có tầm quan trọng chiến lược.

Với sự thay đổi tương quan sức mạnh trên thế giới trong thập kỷ 1990, Trung Quốc bắt đầu hoạch định chiến lược (đúng hơn là khái niệm) dài hạn và cực kỳ tham vọng được gọi là “Liên châu” đối với khu vực này. Thuật ngữ “Liên châu” (String of pearls - chuỗi ngọc trai) là do các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Mỹ (US Strategic Studies Institute) nghĩ ra. Năm 2006, họ công bố báo cáo “Liên châu: giải pháp cho vấn đề sức mạnh gia tăng của Trung Quốc trên bờ biển châu Á”. Trong báo cáo này, các tham vọng của Trung Quốc bảo vệ tuyến đường mà họ xây dựng bị xem là thách thức trực tiếp đối với sự bá quyền của Mỹ trong khu vực.
Yếu tố năng lượng đã đóng vai trò then chốt trong việc Trung Quốc xây dựng chiến lược “Liên châu”. Hơn 85% dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ được vận chuyển tới Trung Quốc từ vịnh Persique và châu Phi qua Ấn Độ Dương đi qua eo biển hẹp Malacca thường xuyên bị hải tặc tấn công. Nhận thấy sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài, Bắc Kinh đang cố bảo vệ mình trước bất kỳ mưu toan nào cắt đứt các tuyến đường cung cấp năng lượng. Bản chất của chiến lược “Liên châu” là thiết lập các điểm tựa của Trung Quốc dưới dạng các căn cứ hải quâ và không quân hay các hải cảng “thân hữu” trải dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc đến cảng Gwadar của Pakistan và dùng để bảo đảm an toàn cho việc cung cấp dầu mỏ đến Trung Quốc.
Chiến lược của Obama
Tháng 11/2011-tháng 1/2012, Barack Obama đã công bố hàng loạt nội dung thú vị trong chính sách Đông Á của mình. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ thực hiện chuyến thăm các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tham gia hội nghị của ASEAN và Thượng đỉnh Đông Á EAS. Chủ đề quan trọng của các cuộc đàm phán là thảo luận tình hình xung quanh các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Như ta đã biết, hiện có nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa của quần đảo Trường Sa giàu khoáng sản.
Ngay trước Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Indonesia, Barack Obama đã ký với Thủ tướng Australia Julia Gillard hiệp định triển khai quân đội Mỹ tại căn cứ quân sự Darwin. Vào năm 2012, tại căn cứ nằm ở Các lãnh thổ phía bắc (một đơn vị hành chính của Australia), sẽ triển khai 200-250 lính thủy đánh bộ, cũng như các tàu của hài quân Mỹ và máy bay. Còn đến năm 2016, căn cứ Darwin sẽ tiếp nhận 2.500 lĩnh Mỹ và “một số lượng nào đó các binh đoàn hải quân và không quân”, mà con số cụ thể thì công chúng hiện chưa biết gì cả. Hoàn toàn có thể là một phần trong đội quân Mỹ 100.000 người ở châu Phi trong tương lai sẽ được chuyển tới căn cứ Darwin.
Phát biểu tại nghị viện Australia, Barack Obama tuyên bố: “Với tư cách tổng thống, tôi đã đưa ra một quyết định chiến lược được suy tính kỹ. Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương nên chúng tôi sẽ đóng vai trò quan trọng hơn và lâu dài trong việc định hình khu vực này. Chúng tôi sẽ duy trì khả năng tung sức mạnh quân sự độc nhất vô nhị và răn đe các mối đe dọa vì hòa bình của chúng tôi. Mỹ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi đã đến châu Á để ở lại đây”, và nói thêm rằng, “Mỹ không sợ Trung Quốc, quốc gia lớn mạnh nhất trong khu vực”.
Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ là Ben Rhodes giải thích các phát biểu của Barack Obama: “Hiệp định quân sự về việc triển khai đạo quân Mỹ ở Australia – đó là tín hiệu cho thấy, chúng tôi dự định tiếp tục đóng vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh ở phần này của khu vực, nơi sức mạnh quân sự Trung Quốc đang gia tăng”. Có lẽ việc Lầu Năm góc thành lập cơ quan quân sự mới là Air See Battle Command (Bộ chỉ huy Tác chiến không-hải) mà một trong các nhiệm vụ được công bố chính thức là chuẩn bị toàn diện cho Hải quân, Không quân và Thủy quân lục chiến Mỹ cho nhiệm vụ vô hiệu hóa một quốc gia X. Do trong danh sách các mối đe dọa tiềm tàng Air See Battle Command có nêu ra các chiến hạm, tàu ngầm, máy bay, tên lửa chống hạm và vệ tinh do thám Trung Quốc, nên chẳng khó khăn gì để đoán ra quốc gia X mà các nhà hoạch định chương trình cho Air See Battle Command định đánh nhau là Trung Quốc.
Những câu hỏi về lý do lập căn cứ quân sự mới của Mỹ ở Australia vẫn nhiều hơn những câu trả lời. Trước hết là những mục tiêu thực sự của việc chính phủ Mỹ quân sự hóa khu vực này lần đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam là gì và một căn cứ quân sự mới trên lãnh thổ một trong những quốc gia hòa bình nhất khu vực để làm gì? Viên tướng không quân Mỹ phụ trác hoạch định chiến lược của các lực lượng quân ự Mỹ ở Thái Bình Dương Michael Keltz tình cờ hé lộ rằng, các tiêm kích F-22, máy bay vận tải C-17, cũng như máy bay ném bom chiến lược sẽ được triển khai ở Australia.
Vì thế, nghe ra rất nước đôi là những lời nói của Tổng thống Mỹ đương nhiệm rằng, “chúng tôi đã kết thúc tất cả các cuộc chiến, và vì thế tôi giao phó cho đội chuyên gia an ninh quốc gia của mình nhiệm vụ bảo đảm sự hiện diện ở châu Á-Thái Bình Dương với tư cách nhiệm vụ ưu tiên”.
Ngoại trường Mỹ Hillary Clinton trên tạp chí Foreign Policy đã viết rằng, hiện tại, một nước Mỹ suy yếu về kinh tế không thể cho phép mình là cường quốc chi phối đồng thời ở mấy khu vực trên thế giới. Bởi vậy, có thể dự đoán rằng, các nỗ lực đối ngoại của Mỹ sẽ chủ yếu nhằm vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chưa rõ những nước nào ở châu Á-Thái Bình Dương giao cho Mỹ sứ mệnh “đóng vai trò đáng kể và lâu dài trong việc định hình tương lai” của khu vực này.

Chính sách mà Mỹ toan tính thực thi ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ khiến lãnh đạo Trung Quốc cực kỳ lo ngại bởi vì một căn cứ quân sự ở Australia sẽ khóa kín vành đai các căn cứ quân sự Mỹ bao quanh Trung Quốc và tạo ra cho Washington khả năng kiểm soát các tuyến đường giao thương đường biển trọng yếu nhất mà qua đó một lượng hàng hóa có tổng trị giá 5.000 tỷ USD được vận chuyển hàng năm.

Người Mỹ đang sẵn sàng bổ sung thêm thành tố kinh tế cho khía cạnh quân sự trong chính sách Đông Á của họ. Theo Аssociated Press, trong Hội nghị Thượng đỉnh APEC diễn ra ở Hawaii vào năm 2011, Obama đã tuyên bố rằng, Mỹ đang xem xét ý tưởng lập tổ chức thương mại khu vực mới không có sự tham gia của Trung Quốc. Như vậy, giới tinh hoa chính trị Mỹ chắc chắn dự định đối phó một cách tổng hợp với Trung Quốc. Bao vây xung quanh Trung Quốc bằng “các liên minh quốc phòng” với các quốc gia khác ở khu vực (ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, còn có các liên minh với Việt Nam, Myanmar và Singapore), Washington trong khuôn khổ “học thuyết kiềm chế” của họ còn muốn dựng lên các rào cản kinh tế đối với Bắc Kinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Theo tác giả của cuốn sách “Máu và dầu mỏ” của Giáo sư Trường Hampshire College Michael Klare, ý nghĩa của chiến lược mới của Obama là rất rõ ràng: “Từ nay, nội dung chính của chiến lược quân sự Mỹ sẽ không phải là đối phó với chủ nghĩa khủng bố mà kiềm chế một quốc gia đang phát triển bùng nổ về kinh tế bất kể rủi ro và cái giá của vấn đề”. Ở ý nghĩa này, căn cứ quân sự Mỹ ở Australia có thể xem như một trong những bộ phận của vành đai cách ly mà Mỹ muốn dùng để khóa chặt Trung Quốc, ngăn Trung Quốc tiếp cận đại dương thế giới và kiể soát các tuyến đường biển cung cấp dầu mỏ và khí hóa lỏng cho Trung Quốc.

Sự đối kháng vũ trang, trong bối cảnh đó, không phải là mục tiêu cuối cùng và bất biến. Bằng cách mở rộng tiềm lực quân sự của mình trong khu vực, Mỹ sẽ kích động Trung Quốc có những hành động đáp trả đối xứng và gia tăng hơn nữa chi phí cho quân bị. Như vậy, mục đích chính của “chính sách kiềm chế” này là gây áp lực và bằng cách đó làm suy yếu Trung Quốc về mặt kinh tế bằng cách buộc Trung Quốc chi những khoản tiền khổng lồ cho quốc phòng, chứ không phải cho bành trường sản xuất-thương mại.

Những rủi ro trên các tuyến đường biển

Việc tiếp cận các nguồn năng lượng, hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế thế giới, đang mỗi năm một khó khăn hơn đối với các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay, người ta đã hiểu rằng, dầu mỏ và khí đốt giá rẻ trong tương lai gần chắc chắn sẽ không có. Trong khi đó, Mỹ trong các thập niên gần đây tiêu thụ đến 40% toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của trái đất, trong khi các nhu cầu của các nước như Trung Quốc và Ấn Độ thì liên tục tăng.

Đã xuất hiện một xu hướng rõ ràng là các nước đang phát triển, nơi tập trung các trữ lượng chủ yếu tài nguyên năng lượng của thế giới đang tiến hành quốc hữu hóa các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình để có được nguồn thu cao hơn cho ngân sách quốc gia.

Trong giới phân tích phương Tây xác lập quan điểm cho rằng, nếu như một cuộc xung đột vũ trang sẽ xảy ra lúc nào đó giữa Mỹ và Trung Quốc thì chỉ là vì chuyện chia chác các nguồn tài nguyên năng lượng đang tan biến từng ngày.

Rõ ràng là trong những năm tới, chuyện đó khó lòng xảy ra, tuy nhiên cuộc đấu tranh ngầm để giành giật các mỏ dầu khí sẽ diễn ra không ngừng. Theo dự báo, vào năm 2020, Trung Quốc sẽ tiêu thụ tới 13,6 triệu thùng dầu/ngày và đến 16,9 triệu thùng dầu/ngày vào năm 2035, khi nhu cầu dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc sẽ là 11,6 triệu thùng. Vì thế, sự cạnh tranh giành dầu mỏ giữa các nước tiêu thụ chủ yếu trong tương lai sẽ gia tăng nhiều lần.

Nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc từ Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latinh sẽ tăng mạnh, còn các rủi ro chủ yếu sẽ tiềm ẩn trên các tuyến đường biển dài lê thê. Như Michael Klare viết trên tạp chí European Energy Review, “Bằng cách tạo lập cho mình ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, chính quyền Obama rõ ràng nhắm tới việc giành lấy công cụ năng lượng trong thế kỷ XXI có giá trị tương đương cái gọi là hăm dọa hạt nhân trong thế kỷ XX. Chỉ cần các vị đụng chạm đến lợi ích của chúng tôi là chúng tôi sẽ buộc nền kinh tế của các vị phải quỳ gối bằng cách chặn đứng dòng chảy của nhiên liệu có tầm quan trọng sống còn”, chuyên gia Mỹ này đánh giá ý nghĩa của chính sách mới của Obama như vậy.

Đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ tới Trung Quốc là Yemern, vốn là một khu vực chiến lược trọng yếu tiếp giáp với vịnh Persiquae và bán đảo Arab. Các quan chức Trung Quốc gần đây có nói về sự cần thiết thiết lập các căn cứ hải quân tại khu vực quan trọng này đối với họ. Tuy nhiên, việc gây mất ổn định ở Yemen và sự dính líu của Mỹ vào cuộc xung đột Yemen đã ngăn chặn các ý đồ của Trung Quốc. Quốc gia duy nhất trong khu vực mà ở đó Trung Quốc có thể xây dựng căn cứ hải quân là Iran bởi lẽ ở tất cả các quốc gia đáng quan tâm còn lại đều có sự hiện diện quân sự của các cường quốc phương Tây. Căn cứ tình hình chính trị rối ren ở Kenya và Somalia, có thể phỏng đoán rằng, khoảng chân không tại một không gian hoàn toàn không bị phân chia dọc theo bờ Tây Ấn Độ Dương sắp tới có thể bị lấp đầy bởi các đạo quân hạn chế của NATO.

Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, mục tiêu chính của Obama sẽ là thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài ở Yemen. Chính sách này sẽ đáp ứng hàng hoạt nhiệm vụ mà quan trọng nhất trong số đó sẽ là giành quyền kiểm soát tuyệt đối đối với cảng Aden ở Yemen vốn thường được mệnh danh là “cánh cửa mở sang châu Á”. Kiểm soát được Aden và eo biển Malacca sẽ đặt Mỹ vào vị thế vô song trong “ván cờ lớn” ở Ấn Độ Dương. Bằng cách đặt các tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương dưới quyền kiểm soát của mình, Washington sẽ kiềm chế được sự gia tăng sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Bởi vậy, Mỹ chọn chỗ dựa là Ấn Độ, quốc gia đang tìm cách hạn chế các tham vọng của Trung Quốc và bảo vệ lợi ích của họ ở khu vực Ấn Độ Dương.

Trong khi đó, sự hoành hành của hải tặc tại vịnh Aden và Ấn Độ Dương đang trở thành một thứ công cụ để tác động đến an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các cuộc tấn công cướp biển nhằm vào các thương thuyền vẫn diễn ra không ngừng và theo một số nguồn tin, những kẻ bị gọi là hải tặc Somalia đang nhận được thông tin từ các hãng bảo hiểm hàng hải Anh, còn tàu bè, thiết bị và vũ khí chúng nhận được từ Mỹ.

Khi một số nước đề nghị tăng cường đấu tranh chống cướp biển thì Mỹ và Anh thường phong tỏa các sáng kiến đó ở Liên Hiệp Quốc vì các lý do “nhân đạo”. Như vậy, những quốc gia chủ yếu và về thực chất là duy nhất chống lại việc thông qua các quy tắc luật pháp quốc tế nhằm chống hải tặc lại là Washington và London. Điều đó khiến người ta nghĩ đến chuyện lãnh đạo Mỹ và Anh muốn sự tồn tại và phát đạt của cướp biển.

Những mất mát đau đớn của Trung Quốc ở châu Phi

Trong chuỗi các cuộc cách mạng ở thế giới Arab, Libya chiếm một vị trí đặc biệt. Chính ở đó vào năm 2011, liên minh phương Tây đã giáng một đòn chí mạng vào các lợi ích của Trung Quốc ở châu Phi. Theo bình luận của Paul Craig Roberts, nhân vật đảng Cộng hòa, cựu thứ trưởng tài chính Mỹ dưới thời Ronald Reagan, đăng trên tạp chí Mỹ Foreign Policy, “Trung Quốc đã thực hiện những dự án đầu tư năng lượng quy mô lớn tại miền Đông Libya và trông cậy vào nó, cùng với Angola và Nigeria, về mặt nhu cầu năng lượng của mình”. Vì vậy, theo ông này, cuộc chiến ở Libya là “nỗ lực của Mỹ ngăn chặn cung cấp tài nguyên cho Trung Quốc”. Thực vậy, vào đầu năm 2011, đã có 75 công ty lớn của Trung Quốc hoạt động ở Libya và ký kết các hợp đồng tổng giá trị 18 tỷ USD. Do chiến dịch quân sự của NATO ở Libya, Trung Quốc đã buộc phải đình chỉ 50 dự án lớn đang tiến hành tại quốc gia Bắc Phi này và sơ tán 30.000 chuyên gia Trung Quốc đang làm việc chủ yếu trong khu vực dầu mỏ ở miền Đông Libya. Kết quả là Trung Quốc mất toi những khoản tiền khổng lồ đã đầu tư vào nền kinh tế Libya.

Trong các điện tín ngoại giao Mỹ mà WikiLeaks tiết lộ, các nhà ngoại giao Mỹ đã ghi nhận “sự bùng nổ quan tâm đến Libya từ phía các công ty dầu mỏ quốc tế không phải của phương Tây (trong đó có các công ty của Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc), các công ty này gần đây đã nhận được nhiều hợp đồng nhượng quyền từ Công ty Dầu mỏ quốc gia Libya”. Các công ty này đã có khả năng tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ với các công ty dầu khổng lồ của Mỹ và Tây Âu. Ngay trước khi bùng nổ chiến sự do Liên minh Bắc Đại Tây Dương phát động ở Libya, trong số 10 công ty dầu nước ngoài đang khai thác dầu mỏ ở nước này giữ vị trí dẫn đầu là công ty CNPC của Trung Quốc. Vì vậy, nhiệm vụ của chiến dịch Libya là chặn đứng xu hướng nguy hiểm của việc Libya chuyển hướng từ các công ty dầu mỏ Mỹ và châu Âu sang các công ty châu Á và trước hết là đánh vào lợi ích của Trung Quốc, điểm đến của tới 11% tổng khối lượng dầu mỏ Libya. Mỗi năm, con số này hiển nhiên sẽ chỉ có tăng. Ngoài ra, vào tháng 1/2009, Gaddafi đã dại dột đe dọa quốc hữu hóa toàn bộ ngành dầu mỏ và khí đốt, còn trước đó thì ông đã buộc các hãng dầu khí phương Tây hoạt động ở Libya ký lại các hợp đồng của mình với chính phủ Libya theo những điều kiện bất lợi cho các công ty xuyên quốc gia. Việc đe dọa bắt buộc ký lại các hợp đồng, theo các nhà ngoại giao Mỹ, đã tạo ra một tiền lệ quốc tế nguy hiểm, “có thể lặp lại nhiều lần trên toàn thế giới ở các nước sản xuất dầu”. Bởi vậy, cần phải trừng trị Gaddafi, kẻ dám khuấy động sự bình yên.


Trong một thời gian dài, một số chuyên gia đã cố chứng minh cho chúng ta rằng, cuộc xâm lược của nước ngoài vào Libya không hề liên quan đến các lợi ích dầu mỏ của các cường quốc phương Tây, mà chỉ liên quan đến mong muốn cực đoan của NATO giúp đỡ nhân dân Libya có được nền dân chủ hằng mong muốn.

Nhưng từ tháng 1/2012, vô số các nguồn thông tin từ các nước khác nhau trên thế giới bắt đầu đưa tin việc đội quân Mỹ đổ bộ vào Libya. Nguồn đầu tiên đưa ra những tin tức này rõ ràng là tờ báo quốc tế tiếng Arab lâu đời nhất Asharq Al-Awsat, hoạt động ở London từ năm 1978. Ngoài ra, hàng loạt báo chí và hãng tin khác cũng đã xác nhận thông tin này.

Thực chất là có 12.000 lính NATO đã đổ bộ xuống gần thành phố Marsa el Brega với chiêu bài “cần hỗ trợ ổn định trong khu vực và bảo đảm an ninh cho dân thường”. Theo các site của Israel, lính thủy đánh bộ Mỹ đã được điều động từ Malta để bảo đảm nguồn cung liên tục dầu mỏ Libya ra thị trường thế giới với giá hạ.

Ai cũng biết rằng, Marsa el Brega là một trong những bộ phận trọng yếu nhất của hạ tầng dầu mỏ Libya, nằm ở đây có các cơ sở lọc dầu và bơm dầu, một nhà máy khí hóa lỏng. Tại Brega còn có một trong hai cảng xuất khẩu dầu mỏ Libya. Nhà máy thứ hai đặt tại thành phố Ras Lanuf nằm cách Marsa el Brega khoảng 70 km. Bởi vậy, việc đặc nhiệm Mỹ đổ bộ rõ ràng là vì muốn chiếm giữ và kiểm soát các cơ sở then chốt của hạ tầng dầu mỏ Libya, cũng như nhằm bảo đảm việc cung cấp không gián đoạn hydrocarbon cho các đồng minh châu Âu.

Đáng chú ý là việc chiếm giữ các cảng xuất khẩu dầu mỏ của Libya trùng về thời gian với việc EU thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Iran và châu Âu tự nguyện từ bỏ dầu mỏ của Iran. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo châu Âu nay chắc chắn phải muốn thu xếp nguồn cung dầu mỏ Libya để giảm thiểu tối đa các hậu quả tiêu cực của việc cấm vận mua bán dầu mỏ của Iran đối với kinh tế châu Âu. Nhiệm vụ tung dầu mỏ giá rẻ ra thị trường năng lượng thế giới như vậy xem ra không phải là bất khả thi. Điều tương tự đã có thể thấy ở Iraq sau khi Mỹ chiếm đóng nước này vào năm 2003, khi chính quyền mới ở Iraq dưới sự giám sát chặt chẽ của quân đội Mỹ đã bảo đảm cung cấp các nguồn năng lượng với giá tượng trưng cho “những người giải phóng” mình (Mỹ).

Tình hình ở Nigeria, quốc gia đứng thứ 7 thế giới về khai thác dầu mỏ và chiếm 1/2 tổng trữ lượng khí đốt của châu Phi, cũng căng thẳng đột biến. Nigeria ngày nay là một trong những nhà sản xuất dầu thô nhẹ, có hàm lượng lưu huỳnh thấp, tức là loại dầu thô có chất lượng rất cao mà Libya đang sản xuất và cũng đang được khai thác ở Biển Bắc với trữ lượng đang cạn kiệt.

Ngoài ra, Nigeria còn là một trong những nhà cung cấp năng lượng chủ chốt cho Trung Quốc. Hợp tác giữa Nigeria với Trung Quốc trong những năm gần đây phát triển với tốc độ chưa từng thấy: theo tính toán khiêm tốn nhất, Trung Quốc đã đầu tư vào Nigeria trên 12 tỷ USD. Tháng 5/2010, ban lãnh đạo Trung Quốc đã ký một hợp đồng khổng lồ trị giá 28,5 tỷ USD với chính phủ Nigeria để xây dựng 3 nhà máy lọc dầu mới. Đây là hợp đồng lớn nhất mà Trung Quốc từng ký ở châu Phi. Các công ty Trung Quốc cũng tham gia vào các cuộc đấu thầu. Ví dụ, tháng 7/2010, Công ty dầu mỏ quốc gia Trung Quốc CNPC đã thắng thầu 4 lô dự kiến có dầu, 2 ở đồng bằng sông Niger và 2 ở ranh giới với lưu vực Chad.

Việc Nigeria chuyển hướng sang Trung Quốc không thể không làm cho Mỹ và EU lo ngại khi họ đang mất dần chỗ đứng trên thị trường dầu mỏ của quốc gia châu Phi này mà trước đây là lãnh đại của các công ty xuyên quốc gia Anh-Mỹ. Trong những năm gần đây, nhận được hợp đồng thăm dò các khu vực dầu khí tiềm năng nhất không phải là các công ty phương Tây mà là các công ty Trung Quốc.

Yếu tố khủng bố

Tuy nhiên, tình hình chính trị ở Nigeria đầy bất ổn. Ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế mà quốc gia Phi châu này đang chịu đựng, còn có thêm sự căng thẳng sắc tộc và tôn giáo. Nigeria là quốc gia của 250 bộ lạc, được chia gần như thành 2 cộng đồng Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. 12 bang miền Bắc Nigeria, nơi các phần tử Hồi giáo đã bám rễ vững chắc từ lâu, sống theo luật Hồi giáo Shariat. Năm ngoái, các phần tử Hồi giáo Nigeria đã đẩy mạnh hoạt động khủng bố. Ví dụ, sát cuối tháng 12/2011, ở Nigeria đã xảy ra hàng loạt vụ khủng bố chống người Thiên Chúa giáo. Trước đó, các phần tử Hồi giáo cực đoan đã tấn công các trạm kiểm soát của quân chính phủ. Trong năm nay, các cuộc tấn công khủng bố vẫn tiếp diễn.

Ngày 3/1/2012, người Thiên Chúa giáo sinh sống ở các bang miền Bắc Nigeria theo luật Shariat bị ra tối hậu thư yêu cầu lập tức rời miền Bắc nước này. Đưa ra tối hậu thư là tổ chức khủng bố Boko Haram, tổ chức đã nhận trách nhiệm về các cuộc khủng bố vào tháng 12/2011. Boko Haram đã gần 10 năm nay liên tục tiến hành các vụ khủng bố và tấn công người Thiên Chúa giáo và các công dân Nigeria không muốn sống theo luật Shariat.

Boko Haram thường được gọi là “Taliban châu Phi” hay “Taliban đen”. Năm 2004, tổ chức này đã lập căn cứ ở bang Yobe, Nigeria, nơi họ gọi một cách hình tượng là “Afghanistan”. Không có gì ngạc nhiên trong việc lựa chọn cái tên đó bởi vì Boko Haram duy trì quan hệ chặt chẽ với Al Qaeda và phong trào Taliban ở Afghanistan và được các tổ chức này năm 2010 hứa hẹn hậu thuẫn cho “những người anh em” ở Nigeria, có nghĩa là trong trường hợp tình hình căng thẳng ở Nigeria, các phần tử Taliban có thể ra tay giúp đỡ các phần tử khủng bố của Boko Haram.

Ngoài ra, ở Nigeria còn tồn tại các băng cướp chuyên nghiệp thường xuyên tấn công các tuyến đường ống dẫn dầu. Ví dụ, các tay súng của Phong trào giải phóng đồng bằng sống Niger thường xuyên tập kích các cơ sở dầu mỏ để đòi chính phủ chia sẽ nguồn thu dầu mỏ với dân chúng các tính ở lưu vực sông Niger. Bằng các cuộc tấn công cướp bóc, các băng cướp địa phương này phong tỏa hoạt động của các công ty dầu mỏ nước ngoài và điều kỳ lạ là mục tiêu mà chúng thường tấn công nhất chính là các công ty Trung Quốc hoạt động ở Nigeria.

Một đòn nặng giáng vào lợi ích của Trung Quốc diễn ra vào năm ngoái là việc công nhận độc lập của Nam Sudan, một quốc gia mới thành lập, nhưng sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn vì thế là mối quan tâm đối với Trung Quốc. Mỹ hoàn toàn có cơ sở để coi Nam Sudan, quốc gia vừa tuyên bố độc lập vào tháng 7/2011, là một trong những đồng minh chủ chốt của mình ở châu Phi: chính phủ Mỹ trong mấy thập kỷ đã vấn động cho việc thành lập nhà nước Nam Sudan có chủ quyền và ủng hộ những người muốn ly khai khỏi Khartoum. Bởi vậy, chính quyền Juba (thủ đô Cộng hòa Nam Sudan) nhìn nhận một cách logic rằng, Washington là đồng minh chiến lược chủ yếu của họ và sẵn sàng cung cấp lãnh thổ của mình để lập căn cứ quân sự có thể là lớn nhất của Mỹ ở châu Phi.

Ngoài ra, các tập đoàn Mỹ đang xây dựng một dự án tham vọng xây dựng các tuyến đường ống dẫn dầu từ Nam Sudan đến bờ biển Đại Tây Dương của châu Phi, đến Cameroon, từ đó dầu mỏ sẽ có thể được chở bằng các tàu chờ dầu đến Mỹ. Bởi vì giá thành khai thác dầu ở Đông Bắc Phi thuộc loại thấp nhất thế giới nên Mỹ sẽ có thể nhận qua tuyến đường ống xuyên Phi (Nam Sudan - Cộng hòa Trung Phi - Cameroon) dầu mỏ giá rẻ nhất thế giới và theo tuyến đường ngắn nhất. Nằm ở Nam Sudan là các mỏ dầu chính của quốc gia một thời thống nhất Sudan. Hiện nay, tuyến đường ống dẫn dầu duy nhất tồn tại chạy từ miền nam lên miền bắc, đến Port Sudan, từ đó các tàu chở dầu vận chuyển dầu mỏ đến châu Á, trước hết là đến Trung Quốc. Nhưng nếu như ra đời “tuyến Cameroon” thay thế thì Trung Quốc có thể không còn dầu mỏ Sudan. Có lẽ, để đạt mục tiêu đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama vào tháng 10/2011 đã quyết định phái quân Mỹ đến Uganda với cớ công khai là tham gia chống các phần tử cực đoan trong khu vực. Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, mục tiêu ngầm của Mỹ trong chiến dịch ở Trung Phi là “làm sạch mặt bằng” các khu vực lãnh thổ đang kiểm soát cho các tuyến đường ống dẫn dầu mới. Barack Obama đang cố gắng bảo đảm an toàn cho các tuyến đường xuất khẩu dầu mỏ bằng cách thiết lập trật tự trên các vùng lãnh thổ mà các tuyến đường ống từ Nam Sudan có tầm quan trọng chiến lược đối với Washington sắp tới có thể chạy qua.
Một thất bại nặng nề của Trung Quốc là dự án bất thành xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu Sudan - Libya - tuyến đường ống dẫn dầu xuyên Phi đầu tiên không nằm dưới sự kiểm soát của các cường quốc phương Tây, mà theo kế hoạch là được thực hiện vào năm 2011. Tuyến đường ống dẫn dầu này lẽ ra sẽ nối Biển Đỏ với Địa Trung Hải và chạy theo tuyến Port Sudan - Khartoum - Fezzan - Benghazi. Việc mở tuyến đường ống dẫn dầu này có thể chuyển hướng cung cấp dầu mỏ Libya từ EU sang Trung Quốc, quốc gia đang bảo trợ cho chính quyền Sudan hiện nay. Tuy nhiên, các sự kiện đã biết ở Libya chỉ trong chớp mắt đã xóa sạch các kế hoạch này của Bắc Kinh.

Như vậy, sự đối đầu Mỹ-Trung ở châu Phi và Cận Đông vẫn đang tiếp diễn và chiều kích quan trọng của nó đang là yếu tố năng lượng và các vấn đề an toàn vận chuyển tài nguyên năng lượng. Hiện thời, về mặt này, Mỹ đang thắng thế khi chậm rãi đẩy bật các công ty Trung Quốc khỏi các khu vực có dầu mỏ.

Có vẻ như trong những năm tới, cuộc tranh đấu này sẽ tiếp diễn cả ở những nước giàu tài nguyên thiên nhiên khác. Ngoài ra, đang được bổ sung cho cuộc tranh giành tài nguyên năng lượng là các chiều kích quân sự và kinh tế. Mỹ đang cố gắng kiềm chế Trung Quốc bằng cách gây áp lực quân sự nhất định đối với Trung Quốc và dựng lên “các khối quân sự” với nước châu Á. Nhiệm vụ của Mỹ là rõ ràng: Washington cần cô lập hoàn toàn Trung Quốc bằng cách lợi dụng nỗi sợ hãi của các quốc gia láng giềng của Trung Quốc xuất hiện trước hết do sức mạnh kinh tế của con rồng đang lên Trung Quốc.

Theo VietnamDefence (http://vietnamdefence.com/)