anh2
20-03-2012, 08:16 AM
Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc số ra gần đây có bài viết tổng hợp của tác giả Chương Địch Vũ dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia Ngô Tâm Bá, Tôn Học Phong và Trương Khiết, cho rằng Nam Hải (Biển Đông) là điểm gây áp lực đầu tiên đối với việc Trung Quốc trỗi dậy”. Theo quy luật thông thường thì nước lớn chi phối nước nhỏ nhưng trong vấn đề Nam Hải, nước nhỏ lại chi phối nước lớn, tích cực chủ động, trong đó Việt Nam và Philíppin là các nước “nổ phát súng đầu tiên” trong khi Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” và thiết lập “thời đại Thái Bình Dương của Mỹ”, ăn nhịp với âm mưu của một số nước xung quanh Nam Hải kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. Nội dung bài viết như sau:
I- Tranh giành Nam Hải, nước nhỏ chủ đạo nước lớn?
Tranh chấp Nam Hải khởi nguồn đã lâu nhưng chưa bao giờ gay gắt như hiện nay. Lịch sử chính trị quốc tế thông thường là lịch sử chính trị nước lớn, nhưng hoàn toàn không phải “nước nhỏ” lúc nào cũng đều im tiếng. Người Trung Quốc phát hiện ra rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực quốc tế đột ngột tăng lên, không chỉ có nước lớn đề phòng hơn, mà những phiền phức từ các nước nhỏ xung quanh cũng ngày càng nhiều thêm, hơn nữa áp lực từ hai phương diện nói trên cũng gặp nhau, trong đó điểm gây áp lực ban đầu chính là Nam Hải. Vấn đề đặc biệt rõ ràng là hoàn toàn không chỉ có nước chủ đạo thế giới hiện nay là Mỹ mới tiến hành kiềm chế Trung Quốc, mà các nước nhỏ xung quanh cũng lo sợ trước thực lực Trung Quốc lớn mạnh nên cũng đề phòng, cảnh giác với Trung Quốc.
Trong vấn đề Nam Hải, những kẻ “nổ phát súng đầu tiên” chính là Việt Nam và Philíppin. Việt Nam , năm 2010 với vai trò là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đã lôi kéo thành công nước Mỹ vào cuộc. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và sự vụ công cộng thuộc Đại học Phúc Đán, Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết hành vi của các nước này đã phản ánh một cách tập trung tâm trạng lo lắng và bất an của họ khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nhất là lo sợ việc Trung Quốc phát triển hải quân và phương hướng phát triển hải quân của Trung Quốc.
Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, “chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì tuyên bố và cho thấy quyết tâm mạnh mẽ nhất của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bảo vệ vùng biển và các đảo của quốc gia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cũng tuyên bố: “Hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kiên quyết bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ”. Ngày hôm sau, Việt Nam lớn tiếng tuyên bố sẽ tổ chức diễn tập bắn đạn thật trong 6 tiếng đồng hồ ở Nam Hải (Nam Hải), đồng thời cảnh báo cho tàu thuyền các nước tránh xa vùng biển này. Hãng tin AP của Mỹ bình luận, việc làm nói trên của Việt Nam rõ ràng là nhằm “đáp lại” Trung Quốc. Trong ngày diễn tập bắn đạn thật thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng ký sắc lệnh về việc tuyển quân. Có báo chí cho rằng đây là lần đầu tiên sau 32 năm xảy ra cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam , Chính phủ Việt Nam ban bố lệnh tuyển quân. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn không dừng lại ở đó. Từ cuối tháng 7 cho đến giữa tháng 8, trong vòng chưa đầy một tháng, Việt Nam đã cùng với Mỹ tổ chức hai lần diễn tập quân sự chung. Mặc dù Việt Nam tuyên bố việc làm đó hoàn toàn không nhắm vào Trung Quốc nhưng chỉ cần nhìn qua sẽ thấy trong chiếc hồ lô của Việt Nam cuối cùng sẽ có thứ thuốc gì để bán.
Cũng trong tháng 6, một vai chính nữa có tranh chấp Nam Hải với Trung Quốc là Philíppin tuyên bố “các tàu của Trung Quốc ngày càng gia tăng hoạt động ở Nam Hải..., đã gây nguy hại cho ổn định khu vực, xâm phạm chủ quyền và quyền quản lý biển của Philíppin, vi phạm “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Hai tháng trước đó, Philíppin đã trình Liên hợp quốc “thư phản đối đường 9 đoạn” về biên giới Nam Hải của Trung Quốc. Trong tháng 5 Philíppin lại lớn tiếng nói rằng “người Trung Quốc xâm phạm Trường Sa”. Ngày 13/6, cùng ngày với Việt Nam diễn tập bắn đạn thật, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin tuyên bố diễn tập quân sự của Việt Nam là phù hợp với “quyền lợi chủ quyền của Việt Nam”, trong khi người phát ngôn của Tổng thống Philíppin cho biết Philíppin đã đổi tên gọi Nam Hải là “biển Tây Philíppin”. Tiếp theo đó, vào cuối tháng 6, Philíppin cũng diễn tập quân sự chung với Mỹ. Vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp Nam Hải giữa hai nước lên Tòa án luật biển quốc tế để giải quyết. Trong nửa năm sau đó, những va chạm giữa Philíppin và Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải dường như không hề dừng lại.
Ngày 18/10, ở khu vực gần bãi Lễ Nhạc, một tàu được trang bị pháo của Philíppin đã đâm vào một tàu cá cỡ lớn kéo theo 25 chiếc xuồng nhỏ của Trung Quốc đang trong hành trình. Sự kiện nói trên lập tức lan ra thành đề tài nóng được báo chí quốc tế quan tâm. Mặc dù phía quân đội và ngoại giao Philíppin đều cho biết đây là sự kiện “va chạm nhỏ ngẫu nhiên”, Philíppin đã thông báo và tỏ ý xin lỗi Trung Quốc nhưng đồng thời Philíppin vẫn tiếp tục diễn tập quân sự chung.
Nhìn bề ngoài, dù là diễn tập quân sự của Việt Nam hay của Philíppin, dường như không có gì khác so với các lần diễn tập quân sự chung với Mỹ trước đây, nhưng về thực chất, những cuộc diễn tập này lại có sự khác biệt lớn nhất ở chỗ các cuộc diễn tập này không phải do Mỹ chủ đạo, mà do các nước này chủ động tổ chức và mời gọi Mỹ, hay nói cách khác, Mỹ đã từ vai trò của bên chủ đạo trước đây trở thành bên tham gia. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói: Nước Mỹ lần đầu tiên từ chỗ là bên khởi xướng trở thành bên tham gia trong vấn đề Nam Hải, hoàn toàn không phải Mỹ yêu cầu các nước đó kiềm chế Trung Quốc, mà tự họ ban đầu đã có phần kiềm chế nhắm vào Trung Quốc.
Rõ ràng, sự chuyển biến của hiện tượng nói trên là do thực lực Trung Quốc tăng lên nhanh chóng. Như vậy, một số vấn đề âm ỉ từ lâu nay đã dễ dàng bộc lộ ra, vì các nước xung quanh ngày càng lo sợ người khổng lồ bên cạnh, cuối cùng, trong hệ thống triều cống ở Đông Á do Trung Quốc chủ đạo từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay và các nước xung quanh chỉ biết cúi đầu xưng thần.
Giữa quốc gia với quốc gia lại luôn vì không hiểu rõ ý đồ của nhau mà nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời khả năng quân sự mà nước lớn có được lại trở thành công cụ để nước lớn đó lợi dụng nhằm bành trướng sức mạnh của mình bất cứ lúc nào, vì thế việc các nước nhỏ phải liên kết lại kiềm chế nước lớn đã trở thành cách lựa chọn của nhiều nước trong lịch sử. Chính các nước như Việt Nam và Philíppin ngày nay đang áp dụng kiểu lý luận như vậy trong việc giải thích thực tiễn, vẫn phỏng theo thông lệ lịch sử chứ không nhìn vào tình hình thực tế đã thay đổi.
Tại phiên họp lần thứ nhất quốc hội khóa 13 của Việt Nam khai mạc ngày 21/7, Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng phát biểu Chính phủ Việt Nam sẽ “áp dụng biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ các hoạt động của ngư dân, các hoạt động kinh tế, thương mại cũng như hoạt động khai thác và sử dụng dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình”. Trong khi đó các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam cũng đồng thời diễn ra nóng bỏng liên tục. Báo chí phương Tây đã nói: Tại Việt Nam nếu không được nhà nước cho phép, những cuộc biểu tình như vậy về cơ bản là điều không thể tưởng tượng được. Thái độ của chính phủ và biểu tình của dân chúng cũng đủ nói lên rằng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã cảm thấy áp lực, đặc biệt lại càng cần có được cảm giác an toàn hơn so với trước đây khi Trung Quốc còn chưa có được thực lực như hiện nay. Vì thế, Việt Nam cần có “bạn” để tăng thêm cảm giác an toàn. Vậy là Việt Nam không chỉ diễn tập quân sự chung với Mỹ mà đồng thời còn mời cả Hải quân Ấn Độ - tàu đổ bộ xe tăng “INS Airavat” của Ấn Độ hồi cuối tháng 7 đã cập cảng Nha Trang thực hiện chuyến thăm Việt Nam. Ngày 12/10 tại Niu Đêli, Thủ tướng Ấn Độ M. Singh đã hội đàm với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đang ở thăm Ấn Độ, hai bên đã ký hiệp định về khai thác dầu thô ở Nam Hải. Có dư luận nói rằng Việt Nam thông qua nguồn dầu khí ở 29 đảo bãi đã chiếm được ở Nam Hải nên đã thu được lợi nhuận hơn 20 tỉ USD. Rõ ràng Việt Nam sẽ không khoanh tay nhượng bộ về nguồn lợi nhuận này mà càng tiến thêm một bước nói rằng những lợi ích này cũng lại trở thành một lý do nữa để họ phải kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí không hề e dè, tránh né khó khăn về mặt thời gian và lịch trình như đã sắp đặt sẵn để thực hiện: Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Ấn Độ đồng thời với Tổng bí thư Việt Nam đi thăm Trung Quốc, ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Nam Hải giữa Việt Nam và Trung Quốc vào ngày 11/10.
Việt Nam hợp tác với Ấn Độ, trong khi Philíppin cấu kết với Nhật Bản. Ngày 9/9, chính phủ hai nước Nhật Bản và Philíppin lần đầu tiên đã tổ chức thảo luận, bàn bạc cấp vụ phó về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, trong đó một chủ đề quan trọng là đối phó thế nào với chủ trương của Trung Quốc về chủ quyền ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Nam Hải (Biển Đông). Hai nước quyết định sẽ tổ chức thảo luận định kỳ, phối hợp hành động, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo tự do và an ninh hàng hải cho tàu thuyền của Nhật Bản ở Đông Hải và Nam Hải. Nhật Bản còn đồng ý chi tiền huấn luyện cho lực lượng cảnh sát bảo vệ bờ biển của Philíppin. Ngày 26/9, Tổng thống Philíppin Aquino 3 đi thăm Nhật Bản, hai bên đã thảo luận vấn đề tự do và an ninh hàng hải ở Nam Hải. Rõ ràng là do có bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Đông Hải nên Nhật Bản đã ủng hộ Philíppin trong vấn đề Nam Hải. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản, dù không có vấn đề về lãnh thổ nhưng đã đề cập đến vấn đề biên giới lợi ích quan trọng của họ. Một quốc gia lớn mạnh lại giàu có, biên giới lợi ích mà họ cần bảo vệ lại càng rộng. Bản thân diện tích lãnh thổ của Nhật Bản quá nhỏ, cần nhiều tài nguyên cũng đòi hỏi phải nhập từ bên ngoài nên an toàn vận chuyển tài nguyên đã trở thành việc cần quan tâm nhất đối với Nhật Bản. Vì thế có thể nói Eo biển Malắcca và tuyến đường vận tải biển ở Nam Hải là liên quan đến lợi ích của Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản luôn có ý thức đấu tranh tế nhị với thực lực và ý đồ của Trung Quốc sau khi trỗi dậy. Xét từ góc độ này thì Nhật Bản sẽ không hề do dự can thiệp tình hình tranh chấp Nam Hải, và đã ủng hộ các nước có tranh chấp với Trung Quốc như Philíppin và Việt Nam .
II- Vì sao họ đều có tính hai mặt?
Tranh chấp ở Nam Hải cũng đã chứng kiến rất nhiều hành vi tự mâu thuẫn nhau ở các nước đương sự. Ví dụ, Việt Nam tuy lời nói và việc làm không dè dặt nhưng cũng còn nhiều mặt khác: Ngày 27/6, Việt Nam cho biết sẵn sàng giải quyết hòa bình tranh chấp với Trung Quốc ở Nam Hải. Ngày 3/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết hai nước Trung-Việt sẽ thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển giữa hai nước. Ngày 11/10, hai nước đã ký Thỏa thuận về hiệp thương giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Nam Hải.
Những biểu hiện như trên được xem như hành vi mâu thuẫn trong chủ trương chính của họ, điều không hiếm gặp với chỉ riêng nước nào. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam ký kết Thỏa hiệp giải quyết hòa bình vấn đề Nam Hải, nhưng Tổng thống Philíppin Aquino liền kháng nghị, cho biết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này liên quan đến nhiều nước, cần thông qua hiệp thương đa phương để giải quyết trong khuôn khổ ASEAN, Thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam không “giải quyết toàn diện vấn đề tranh chấp”. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi cuối tháng 8 chính ông này cũng hoàn toàn nhận lời, cam kết vấn đề Nam Hải liên quan giữa Trung Quốc và Philíppin cần thông qua hiệp thương để giải quyết chứ không thể dùng vũ lực. Tuy vậy trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Aquino 3 còn đem về nhiều hợp đồng thương mại lớn, hy vọng thông qua mở rộng quan hệ kinh tế thương mại để làm gia tăng lợi ích thực tế.
Rõ ràng, giữa Việt Nam và Philíppin không chỉ đặt trọng tâm vào việc quốc tế hóa vấn đề Nam Hải để tìm kiếm sự bảo hộ lợi ích của mình, mà hai nước này cũng không muốn chọc giận Trung Quốc đến cùng. Năm 1987, Tổng thống Philíppin bà Aquino đi thăm Trung Quốc, khi bàn đến vấn đề Nam Hải với Đặng Tiểu Bình, bà Aquino nói: “Ít nhất về mặt địa lý, các đảo này gần Philíppin hơn”. Đặng Tiểu Bình mỉm cười, đáp: “Về mặt địa lý, Philíppin cũng rất gần Trung Quốc”. Vì thế, sự thực về địa chính trị làm cho Philíppin và Việt Nam không dám hoàn toàn quyết liệt với Trung Quốc, vì như thế không chỉ làm cho họ mất đi lợi ích kinh tế không thể lường trước, mà về khả năng quân sự khoảng cách giữa hai nước này với Trung Quốc cũng cách nhau một trời một vực. Vì vậy, đó vừa là nguyên nhân căn bản khiến hai nước này kiềm chế Trung Quốc, vừa là nguyên nhân thực tế khiến các nước này chỉ có thể là “cáo mượn oai hùm”.
Trên thực tế, những nước chủ động tỏ ra thân thiện với Trung Quốc không chỉ có Philíppin và Việt Nam . Tại Hội nghị cấp cao Đông Á họp ở Bali của Inđônêxia mới đây, sau khi nghe nói Mỹ và Ôxtrâylia diễn tập quân sự liên hợp, chủ tịch luân phiên ASEAN là Inđônêxia đã tuyên bố hy vọng diễn tập quân sự nói trên sẽ mời Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á cùng tham gia. Brunây cũng đã ký thỏa thuận với Trung Quốc về hợp tác dầu khí ngoài khơi. Thậm chí cả Ấn Độ gần đây cũng đề nghị ba nước Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ tổ chức hội nghị hiệp thương giải quyết tranh chấp Nam Hải. Nói cho cùng thì mỗi nước đều có cách tính toán riêng của mình.
Các nước Philíppin và Việt Nam vừa muốn được lợi kinh tế từ Trung Quốc, lại vừa hy vọng thông qua liên kết với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc, đề phòng Trung Quốc chủ đạo tình hình Nam Hải, từ đó gia tăng cảm giác an toàn của mình. Nhưng đồng thời cũng sợ đi quá xa, vừa làm cho Trung Quốc tức giận, lại vừa “rước sói vào nhà”, cuối cùng khiến Nam Hải một lần nữa trở thành vũ đài để các nước lớn đấu nhau, còn những nước nhỏ như họ sẽ làm vật hy sinh. Chính mâu thuẫn tâm lý như vậy là nguyên nhân thực sự khiến cho hành vi của họ xem ra mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, không phải cách suy nghĩ của tất cả các nước Đông Nam Á đều chỉ như thế. Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, cũng coi là nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Sở dĩ Inđônêxia muốn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều có thể tham gia diễn tập quân sự hỗn hợp Mỹ-Ôxtrâylia vì đó cũng là dịp để nước này thể hiện địa vị của mình, hy vọng có được quyền phát ngôn lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Về phương diện này Philíppin có biểu hiện hết sức rõ rệt, thông qua hội nghị về vấn đề Nam Hải do Philíppin tự tổ chức, hy vọng có thể chủ đạo việc giải quyết tình hình Nam Hải, đồng thời đưa ra dự thảo nghị quyết về vấn đề Nam Hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Qua đó có thể thấy được tính hai mặt của các nước này.
Sự việc bề ngoài xem ra “cần phải” như vậy thì trên thực tế lại luôn chưa ra hàng ra lối, đó là khó khăn trong hành động tập thể. Ý muốn liên kết kiềm chế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lợi ích giữa các nước. Xây dựng liên minh là bởi có kẻ thù chung, biện pháp an ninh tập thể được cho là có khả năng bảo vệ sự tồn tại của chính mình được tốt hơn, nhưng trên thực tế lợi ích của mỗi quốc gia với quốc gia khác trong cùng liên minh lại chưa bao giờ thống nhất với nhau, kể cả áp lực an ninh mà mỗi nước phải đối mặt cũng không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ, Việt Nam giáp giới với Trung Quốc, lại có không biết bao nhiêu mối liên hệ khác trong lịch sử, tiếp nữa là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, tất cả đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế áp lực mà Việt Nam cảm nhận trong nội tâm phải lớn hơn các nước khác. Cũng như vậy, do bóng đen của chiến tranh, trong phản ứng của Việt Nam với nước Mỹ cũng tự nhiên có theo bao nhiêu mối lo. Đồng thời trong vấn đề Nam Hải, Việt Nam đã chiếm được 29 đảo bãi, đó vừa là quốc gia được lợi lớn nhất, cũng vừa là quốc gia có bất đồng lớn nhất với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải. Một thời kỳ gần đây tình hình kinh tế Việt Nam xấu đi nhiều, xét trong ngắn hạn sẽ vẫn còn xấu đi. Trong khi đó dầu thô đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam , phát triển dầu khí là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam . Trong tổng số lượng dầu xuất khẩu hàng năm của Việt Nam có 27% là từ khu vực đang có tranh chấp ở Nam Hải.
Đối với Inđônêxia, tranh chấp với Trung Quốc trong lịch sử ít, vị trí cách Trung Quốc cũng xa, liên lụy với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải cũng không nhiều nên áp lực cảm nhận về thực tế Trung Quốc trỗi dậy và bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải đều nhỏ, hiển nhiên phương thức hành động của Inđônêxia và Việt Nam có phần khác nhau. Sự thực cũng đã kiểm nghiệm cách lập luận này, Việt Nam tích cực liên kết với nước khác kiềm chế cân bằng Trung Quốc, trong khi Inđônêxia chỉ phụ họa đi theo.
Giữa các nước không nhất định cứ vì đe dọa lợi ích chung mới hợp tác, hơn nữa không nhất thiết cứ phải hợp tác để tranh thủ lợi ích chung. Trong một thế giới “hỗn mang”, người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù vào ngày mai, vấn đề mà quốc gia quan tâm hơn là lợi ích tương đối chứ không phải tuyệt đối, nếu một nước cho rằng nước khác có thể có được nhiều lợi ích hơn thì rất có khả năng sẽ từ bỏ hợp tác. Đó chính là nguyên nhân giải thích vì sao chính sách đối ngoại của những nước này lại có tính hai mặt.
III- Ai có thể kiềm chế, cân bằng Trung Quốc ở Nam Hải?
Cách nghĩ của các nước Đông Nam Á trong vấn đề Nam Hải kỳ thực là gặp nhau trong việc mở rộng thành viên của ASEAN, đều không muốn bị chính trị nước lớn chôn vùi. Bộ trưởng cao cấp Xinhgapo Lý Quang Diệu đã nói Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột, đó là việc mà các nước Đông Nam Á lo lắng nhất. Các nước này không muốn gặp cảnh buộc phải lựa chọn hoặc nước này hoặc nước kia. Vì thế, trong khi Việt Nam và Philíppin lôi kéo Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ thì đồng thời, Philíppin gần đây lại cũng lôi kéo Liên minh châu Âu vào vấn đề Nam Hải. Các nước này muốn các nước lớn đó kiềm chế lẫn nhau, lo ngại cục diện chỉ một nước lớn độc chiếm làm chủ tất cả. Nhưng các nước này đã bỏ qua một vấn đề căn bản nhất, đó là nước nhỏ dù có “đục nước béo cò” đến đâu thì việc đảm bảo cơ bản đối với họ vẫn phải dựa vào nước lớn để thực hiện. Nói cách khác, họ tuy có ý đồ “tránh sói” thế nào ở cửa trước cũng không tránh được phải “rước hổ” từ phía cửa sau. Hành động hiện nay của họ rất có thể dẫn đến hậu quả như vậy, cho dù bản thân họ cũng có phần cảnh giác. Xét tình hình trước mắt thì các nước lớn xen vào vấn đề Nam Hải có Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ.
Nhật Bản coi Eo biển Malắcca là tuyến đường biển huyết mạch, nhưng Nhật Bản không có đòi hỏi lãnh thổ ở Nam Hải nên bản thân lý do Nhật Bản nhảy vào Nam Hải là rất khiên cưỡng, lộ liễu. Không lâu sau khi Nhật Bản thành lập nội các mới nhiệm kỳ hiện nay, Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 11/10 đã bắt đầu thực hiện chuyến thăm Đông Nam Á 5 ngày, trong đó vấn đề quan tâm nhất là thảo luận bàn bạc thống nhất và hiệp thương với Inđônêxia và các nước các nước Đông Nam Á khác về “vấn đề đảm bảo an ninh biển”. Báo chí Nhật Bản đưa tin Chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch cùng với Việt Nam và Philíppin thành lập một cơ quan phối hợp về vấn đề chủ quyền và đảm bảo an ninh hàng hải ở Nam Hải. Giữa tháng 11, Thủ tướng Nhật Bản Noda đã tham gia loạt hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Đông Á, đề xuất ý tưởng về một “hành lang kinh tế biển ASEAN”, hy vọng đạt được nhận thức chung cùng thành lập hành lang nói trên với các nước Đông Nam Á. Trên thực tế “Hành lang kinh tế” nói trên là “hành lang kinh tế vòng quanh Nam Hải”, cho thấy rõ lập trường của Nhật Bản can thiệp toàn diện vào vấn đề Nam Hải để đảm bảo chắc chắn quyền và lợi ích của Nhật Bản trong vùng biển Nam Hải cũng như giao thông hàng hải của Nhật Bản ở vùng biển này.
Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng Nhật Bản can thiệp Nam Hải trước hết là phối hợp với Mỹ. Mỹ khi có ưu thế, nói chung đều tự can thiệp vào khu vực có vấn đề, khi thế của họ yếu đi thì kích động các bên khác kiềm chế. Vì thế trong vấn đề Nam Hải, Mỹ đặc biệt cổ vũ Nhật Bản và Ấn Độ kiềm chế Trung Quốc. Sau nữa, để có được lợi thế trong tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật Bản rõ ràng kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, khiến Trung Quốc phải phân tán lực lượng. Cuối cùng, một bộ phận người Nhật Bản cho rằng Trung Quốc về mặt chiến lược ngày càng coi thường Nhật Bản nên biểu hiện của Nhật Bản ở Đông Nam Á cũng đáp lại Trung Quốc bằng cách nhìn nhận như vậy.
Tuy nhiên, một số nước như Philíppin tích cực lôi kéo Nhật Bản can thiệp vấn đề Nam Hải nhưng không phải tất cả các nước ASEAN đều tán thành cách làm như vậy. Ngay từ tháng 1, Ngoại trưởng Inđônêxia đã thể hiện sự lo lắng đối với việc Nhật Bản can thiệp Nam Hải. Trong tháng 6 và tháng 11, Inđônêxia lại cho biết vấn đề Nam Hải cần phải do các nước đương sự giải quyết với nhau. Inđônêxia không chỉ xem xét vấn đề từ phương diện lịch sử của Nhật Bản mà cũng không muốn nước lớn khác can thiệp quá nhiều vào vấn đề Nam Hải. Từ đó có thể thấy Nhật Bản dù có ý định can thiệp vấn đề Nam Hải để kiềm chế Trung Quốc nhưng “không ở địa vị sẽ khó mưu việc chính sự”. Nhật Bản có rất nhiều cách nghĩ trong vấn đề Nam Hải nhưng rất khó áp dụng được trong thực tiễn. Đồng thời xét những hạn chế trong hiến pháp Nhật Bản cũng như kinh tế Nhật Bản nhiều năm nay suy yếu, lại gặp nhiều rủi ro không lường trước, cộng thêm điều kiện địa lý làm hạn chế khả năng của bản thân Nhật Bản thì ảnh hưởng của Nhật Bản đối với vấn đề Nam Hải là không nhiều.
Ấn Độ là nước hết sức hăng hái trong năm nay, từ báo chí đến chính phủ lúc nào cũng chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, thường xuyên tỏ rõ địa vị nước lớn của mình trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ không phải nằm ở Nam Hải. Một loạt tài liệu của Ấn Độ đều xác định khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ là ở vùng biển Ấn Độ Dương. Đối với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc, mặc dù Ấn Độ hài lòng với việc mình làm, một mặt có thể hạn chế Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng khi tham gia các công việc ở Nam Á, đặc biệt coi đó là biện pháp để đáp lại quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Pakixtan, mặt khác có thể có được một số lợi ích kinh tế, ví dụ như hợp tác phát triển dầu khí với Việt Nam ở Nam Hải. Nhưng nếu có hành động trong vấn đề Nam Hải thì Ấn Độ phải xem xét đến giá phải trả về trách nhiệm kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy, càng chưa nói đến lĩnh vực này không hề có vai trò quan trọng đối với Ấn Độ. Thêm nữa là đặc tính truyền thống về tôn giáo và văn hóa của Ấn Độ, rất khó nói được rằng Ấn Độ có điều kiện cơ bản để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải.
Vì thế, có thể thấy được rằng trong vấn đề Nam Hải, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản đều không thể trở thành bên kiềm chế Trung Quốc hữu hiệu, nên lần này Mỹ đã quyết tâm phải tự mình ra tay. Trong khi bà Clinton lại lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á”, hành động của Mỹ một lần nữa cũng đồng thời nhắm đúng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. (còn tiếp)
theo QNCBĐ (http://www.seasfoundation.org/research-documents/diplomacy/1736-bin-ong-im-gay-ap-lc-ban-u-i-vi-trung-quc-phn-u)
I- Tranh giành Nam Hải, nước nhỏ chủ đạo nước lớn?
Tranh chấp Nam Hải khởi nguồn đã lâu nhưng chưa bao giờ gay gắt như hiện nay. Lịch sử chính trị quốc tế thông thường là lịch sử chính trị nước lớn, nhưng hoàn toàn không phải “nước nhỏ” lúc nào cũng đều im tiếng. Người Trung Quốc phát hiện ra rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực quốc tế đột ngột tăng lên, không chỉ có nước lớn đề phòng hơn, mà những phiền phức từ các nước nhỏ xung quanh cũng ngày càng nhiều thêm, hơn nữa áp lực từ hai phương diện nói trên cũng gặp nhau, trong đó điểm gây áp lực ban đầu chính là Nam Hải. Vấn đề đặc biệt rõ ràng là hoàn toàn không chỉ có nước chủ đạo thế giới hiện nay là Mỹ mới tiến hành kiềm chế Trung Quốc, mà các nước nhỏ xung quanh cũng lo sợ trước thực lực Trung Quốc lớn mạnh nên cũng đề phòng, cảnh giác với Trung Quốc.
Trong vấn đề Nam Hải, những kẻ “nổ phát súng đầu tiên” chính là Việt Nam và Philíppin. Việt Nam , năm 2010 với vai trò là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đã lôi kéo thành công nước Mỹ vào cuộc. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và sự vụ công cộng thuộc Đại học Phúc Đán, Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết hành vi của các nước này đã phản ánh một cách tập trung tâm trạng lo lắng và bất an của họ khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nhất là lo sợ việc Trung Quốc phát triển hải quân và phương hướng phát triển hải quân của Trung Quốc.
Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, “chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì tuyên bố và cho thấy quyết tâm mạnh mẽ nhất của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bảo vệ vùng biển và các đảo của quốc gia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cũng tuyên bố: “Hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kiên quyết bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ”. Ngày hôm sau, Việt Nam lớn tiếng tuyên bố sẽ tổ chức diễn tập bắn đạn thật trong 6 tiếng đồng hồ ở Nam Hải (Nam Hải), đồng thời cảnh báo cho tàu thuyền các nước tránh xa vùng biển này. Hãng tin AP của Mỹ bình luận, việc làm nói trên của Việt Nam rõ ràng là nhằm “đáp lại” Trung Quốc. Trong ngày diễn tập bắn đạn thật thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng ký sắc lệnh về việc tuyển quân. Có báo chí cho rằng đây là lần đầu tiên sau 32 năm xảy ra cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam , Chính phủ Việt Nam ban bố lệnh tuyển quân. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn không dừng lại ở đó. Từ cuối tháng 7 cho đến giữa tháng 8, trong vòng chưa đầy một tháng, Việt Nam đã cùng với Mỹ tổ chức hai lần diễn tập quân sự chung. Mặc dù Việt Nam tuyên bố việc làm đó hoàn toàn không nhắm vào Trung Quốc nhưng chỉ cần nhìn qua sẽ thấy trong chiếc hồ lô của Việt Nam cuối cùng sẽ có thứ thuốc gì để bán.
Cũng trong tháng 6, một vai chính nữa có tranh chấp Nam Hải với Trung Quốc là Philíppin tuyên bố “các tàu của Trung Quốc ngày càng gia tăng hoạt động ở Nam Hải..., đã gây nguy hại cho ổn định khu vực, xâm phạm chủ quyền và quyền quản lý biển của Philíppin, vi phạm “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Hai tháng trước đó, Philíppin đã trình Liên hợp quốc “thư phản đối đường 9 đoạn” về biên giới Nam Hải của Trung Quốc. Trong tháng 5 Philíppin lại lớn tiếng nói rằng “người Trung Quốc xâm phạm Trường Sa”. Ngày 13/6, cùng ngày với Việt Nam diễn tập bắn đạn thật, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin tuyên bố diễn tập quân sự của Việt Nam là phù hợp với “quyền lợi chủ quyền của Việt Nam”, trong khi người phát ngôn của Tổng thống Philíppin cho biết Philíppin đã đổi tên gọi Nam Hải là “biển Tây Philíppin”. Tiếp theo đó, vào cuối tháng 6, Philíppin cũng diễn tập quân sự chung với Mỹ. Vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp Nam Hải giữa hai nước lên Tòa án luật biển quốc tế để giải quyết. Trong nửa năm sau đó, những va chạm giữa Philíppin và Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải dường như không hề dừng lại.
Ngày 18/10, ở khu vực gần bãi Lễ Nhạc, một tàu được trang bị pháo của Philíppin đã đâm vào một tàu cá cỡ lớn kéo theo 25 chiếc xuồng nhỏ của Trung Quốc đang trong hành trình. Sự kiện nói trên lập tức lan ra thành đề tài nóng được báo chí quốc tế quan tâm. Mặc dù phía quân đội và ngoại giao Philíppin đều cho biết đây là sự kiện “va chạm nhỏ ngẫu nhiên”, Philíppin đã thông báo và tỏ ý xin lỗi Trung Quốc nhưng đồng thời Philíppin vẫn tiếp tục diễn tập quân sự chung.
Nhìn bề ngoài, dù là diễn tập quân sự của Việt Nam hay của Philíppin, dường như không có gì khác so với các lần diễn tập quân sự chung với Mỹ trước đây, nhưng về thực chất, những cuộc diễn tập này lại có sự khác biệt lớn nhất ở chỗ các cuộc diễn tập này không phải do Mỹ chủ đạo, mà do các nước này chủ động tổ chức và mời gọi Mỹ, hay nói cách khác, Mỹ đã từ vai trò của bên chủ đạo trước đây trở thành bên tham gia. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói: Nước Mỹ lần đầu tiên từ chỗ là bên khởi xướng trở thành bên tham gia trong vấn đề Nam Hải, hoàn toàn không phải Mỹ yêu cầu các nước đó kiềm chế Trung Quốc, mà tự họ ban đầu đã có phần kiềm chế nhắm vào Trung Quốc.
Rõ ràng, sự chuyển biến của hiện tượng nói trên là do thực lực Trung Quốc tăng lên nhanh chóng. Như vậy, một số vấn đề âm ỉ từ lâu nay đã dễ dàng bộc lộ ra, vì các nước xung quanh ngày càng lo sợ người khổng lồ bên cạnh, cuối cùng, trong hệ thống triều cống ở Đông Á do Trung Quốc chủ đạo từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay và các nước xung quanh chỉ biết cúi đầu xưng thần.
Giữa quốc gia với quốc gia lại luôn vì không hiểu rõ ý đồ của nhau mà nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời khả năng quân sự mà nước lớn có được lại trở thành công cụ để nước lớn đó lợi dụng nhằm bành trướng sức mạnh của mình bất cứ lúc nào, vì thế việc các nước nhỏ phải liên kết lại kiềm chế nước lớn đã trở thành cách lựa chọn của nhiều nước trong lịch sử. Chính các nước như Việt Nam và Philíppin ngày nay đang áp dụng kiểu lý luận như vậy trong việc giải thích thực tiễn, vẫn phỏng theo thông lệ lịch sử chứ không nhìn vào tình hình thực tế đã thay đổi.
Tại phiên họp lần thứ nhất quốc hội khóa 13 của Việt Nam khai mạc ngày 21/7, Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng phát biểu Chính phủ Việt Nam sẽ “áp dụng biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ các hoạt động của ngư dân, các hoạt động kinh tế, thương mại cũng như hoạt động khai thác và sử dụng dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình”. Trong khi đó các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam cũng đồng thời diễn ra nóng bỏng liên tục. Báo chí phương Tây đã nói: Tại Việt Nam nếu không được nhà nước cho phép, những cuộc biểu tình như vậy về cơ bản là điều không thể tưởng tượng được. Thái độ của chính phủ và biểu tình của dân chúng cũng đủ nói lên rằng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã cảm thấy áp lực, đặc biệt lại càng cần có được cảm giác an toàn hơn so với trước đây khi Trung Quốc còn chưa có được thực lực như hiện nay. Vì thế, Việt Nam cần có “bạn” để tăng thêm cảm giác an toàn. Vậy là Việt Nam không chỉ diễn tập quân sự chung với Mỹ mà đồng thời còn mời cả Hải quân Ấn Độ - tàu đổ bộ xe tăng “INS Airavat” của Ấn Độ hồi cuối tháng 7 đã cập cảng Nha Trang thực hiện chuyến thăm Việt Nam. Ngày 12/10 tại Niu Đêli, Thủ tướng Ấn Độ M. Singh đã hội đàm với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đang ở thăm Ấn Độ, hai bên đã ký hiệp định về khai thác dầu thô ở Nam Hải. Có dư luận nói rằng Việt Nam thông qua nguồn dầu khí ở 29 đảo bãi đã chiếm được ở Nam Hải nên đã thu được lợi nhuận hơn 20 tỉ USD. Rõ ràng Việt Nam sẽ không khoanh tay nhượng bộ về nguồn lợi nhuận này mà càng tiến thêm một bước nói rằng những lợi ích này cũng lại trở thành một lý do nữa để họ phải kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí không hề e dè, tránh né khó khăn về mặt thời gian và lịch trình như đã sắp đặt sẵn để thực hiện: Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Ấn Độ đồng thời với Tổng bí thư Việt Nam đi thăm Trung Quốc, ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Nam Hải giữa Việt Nam và Trung Quốc vào ngày 11/10.
Việt Nam hợp tác với Ấn Độ, trong khi Philíppin cấu kết với Nhật Bản. Ngày 9/9, chính phủ hai nước Nhật Bản và Philíppin lần đầu tiên đã tổ chức thảo luận, bàn bạc cấp vụ phó về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, trong đó một chủ đề quan trọng là đối phó thế nào với chủ trương của Trung Quốc về chủ quyền ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Nam Hải (Biển Đông). Hai nước quyết định sẽ tổ chức thảo luận định kỳ, phối hợp hành động, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo tự do và an ninh hàng hải cho tàu thuyền của Nhật Bản ở Đông Hải và Nam Hải. Nhật Bản còn đồng ý chi tiền huấn luyện cho lực lượng cảnh sát bảo vệ bờ biển của Philíppin. Ngày 26/9, Tổng thống Philíppin Aquino 3 đi thăm Nhật Bản, hai bên đã thảo luận vấn đề tự do và an ninh hàng hải ở Nam Hải. Rõ ràng là do có bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Đông Hải nên Nhật Bản đã ủng hộ Philíppin trong vấn đề Nam Hải. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản, dù không có vấn đề về lãnh thổ nhưng đã đề cập đến vấn đề biên giới lợi ích quan trọng của họ. Một quốc gia lớn mạnh lại giàu có, biên giới lợi ích mà họ cần bảo vệ lại càng rộng. Bản thân diện tích lãnh thổ của Nhật Bản quá nhỏ, cần nhiều tài nguyên cũng đòi hỏi phải nhập từ bên ngoài nên an toàn vận chuyển tài nguyên đã trở thành việc cần quan tâm nhất đối với Nhật Bản. Vì thế có thể nói Eo biển Malắcca và tuyến đường vận tải biển ở Nam Hải là liên quan đến lợi ích của Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản luôn có ý thức đấu tranh tế nhị với thực lực và ý đồ của Trung Quốc sau khi trỗi dậy. Xét từ góc độ này thì Nhật Bản sẽ không hề do dự can thiệp tình hình tranh chấp Nam Hải, và đã ủng hộ các nước có tranh chấp với Trung Quốc như Philíppin và Việt Nam .
II- Vì sao họ đều có tính hai mặt?
Tranh chấp ở Nam Hải cũng đã chứng kiến rất nhiều hành vi tự mâu thuẫn nhau ở các nước đương sự. Ví dụ, Việt Nam tuy lời nói và việc làm không dè dặt nhưng cũng còn nhiều mặt khác: Ngày 27/6, Việt Nam cho biết sẵn sàng giải quyết hòa bình tranh chấp với Trung Quốc ở Nam Hải. Ngày 3/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết hai nước Trung-Việt sẽ thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển giữa hai nước. Ngày 11/10, hai nước đã ký Thỏa thuận về hiệp thương giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Nam Hải.
Những biểu hiện như trên được xem như hành vi mâu thuẫn trong chủ trương chính của họ, điều không hiếm gặp với chỉ riêng nước nào. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam ký kết Thỏa hiệp giải quyết hòa bình vấn đề Nam Hải, nhưng Tổng thống Philíppin Aquino liền kháng nghị, cho biết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này liên quan đến nhiều nước, cần thông qua hiệp thương đa phương để giải quyết trong khuôn khổ ASEAN, Thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam không “giải quyết toàn diện vấn đề tranh chấp”. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi cuối tháng 8 chính ông này cũng hoàn toàn nhận lời, cam kết vấn đề Nam Hải liên quan giữa Trung Quốc và Philíppin cần thông qua hiệp thương để giải quyết chứ không thể dùng vũ lực. Tuy vậy trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Aquino 3 còn đem về nhiều hợp đồng thương mại lớn, hy vọng thông qua mở rộng quan hệ kinh tế thương mại để làm gia tăng lợi ích thực tế.
Rõ ràng, giữa Việt Nam và Philíppin không chỉ đặt trọng tâm vào việc quốc tế hóa vấn đề Nam Hải để tìm kiếm sự bảo hộ lợi ích của mình, mà hai nước này cũng không muốn chọc giận Trung Quốc đến cùng. Năm 1987, Tổng thống Philíppin bà Aquino đi thăm Trung Quốc, khi bàn đến vấn đề Nam Hải với Đặng Tiểu Bình, bà Aquino nói: “Ít nhất về mặt địa lý, các đảo này gần Philíppin hơn”. Đặng Tiểu Bình mỉm cười, đáp: “Về mặt địa lý, Philíppin cũng rất gần Trung Quốc”. Vì thế, sự thực về địa chính trị làm cho Philíppin và Việt Nam không dám hoàn toàn quyết liệt với Trung Quốc, vì như thế không chỉ làm cho họ mất đi lợi ích kinh tế không thể lường trước, mà về khả năng quân sự khoảng cách giữa hai nước này với Trung Quốc cũng cách nhau một trời một vực. Vì vậy, đó vừa là nguyên nhân căn bản khiến hai nước này kiềm chế Trung Quốc, vừa là nguyên nhân thực tế khiến các nước này chỉ có thể là “cáo mượn oai hùm”.
Trên thực tế, những nước chủ động tỏ ra thân thiện với Trung Quốc không chỉ có Philíppin và Việt Nam . Tại Hội nghị cấp cao Đông Á họp ở Bali của Inđônêxia mới đây, sau khi nghe nói Mỹ và Ôxtrâylia diễn tập quân sự liên hợp, chủ tịch luân phiên ASEAN là Inđônêxia đã tuyên bố hy vọng diễn tập quân sự nói trên sẽ mời Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á cùng tham gia. Brunây cũng đã ký thỏa thuận với Trung Quốc về hợp tác dầu khí ngoài khơi. Thậm chí cả Ấn Độ gần đây cũng đề nghị ba nước Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ tổ chức hội nghị hiệp thương giải quyết tranh chấp Nam Hải. Nói cho cùng thì mỗi nước đều có cách tính toán riêng của mình.
Các nước Philíppin và Việt Nam vừa muốn được lợi kinh tế từ Trung Quốc, lại vừa hy vọng thông qua liên kết với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc, đề phòng Trung Quốc chủ đạo tình hình Nam Hải, từ đó gia tăng cảm giác an toàn của mình. Nhưng đồng thời cũng sợ đi quá xa, vừa làm cho Trung Quốc tức giận, lại vừa “rước sói vào nhà”, cuối cùng khiến Nam Hải một lần nữa trở thành vũ đài để các nước lớn đấu nhau, còn những nước nhỏ như họ sẽ làm vật hy sinh. Chính mâu thuẫn tâm lý như vậy là nguyên nhân thực sự khiến cho hành vi của họ xem ra mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, không phải cách suy nghĩ của tất cả các nước Đông Nam Á đều chỉ như thế. Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, cũng coi là nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Sở dĩ Inđônêxia muốn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều có thể tham gia diễn tập quân sự hỗn hợp Mỹ-Ôxtrâylia vì đó cũng là dịp để nước này thể hiện địa vị của mình, hy vọng có được quyền phát ngôn lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Về phương diện này Philíppin có biểu hiện hết sức rõ rệt, thông qua hội nghị về vấn đề Nam Hải do Philíppin tự tổ chức, hy vọng có thể chủ đạo việc giải quyết tình hình Nam Hải, đồng thời đưa ra dự thảo nghị quyết về vấn đề Nam Hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Qua đó có thể thấy được tính hai mặt của các nước này.
Sự việc bề ngoài xem ra “cần phải” như vậy thì trên thực tế lại luôn chưa ra hàng ra lối, đó là khó khăn trong hành động tập thể. Ý muốn liên kết kiềm chế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lợi ích giữa các nước. Xây dựng liên minh là bởi có kẻ thù chung, biện pháp an ninh tập thể được cho là có khả năng bảo vệ sự tồn tại của chính mình được tốt hơn, nhưng trên thực tế lợi ích của mỗi quốc gia với quốc gia khác trong cùng liên minh lại chưa bao giờ thống nhất với nhau, kể cả áp lực an ninh mà mỗi nước phải đối mặt cũng không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ, Việt Nam giáp giới với Trung Quốc, lại có không biết bao nhiêu mối liên hệ khác trong lịch sử, tiếp nữa là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, tất cả đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế áp lực mà Việt Nam cảm nhận trong nội tâm phải lớn hơn các nước khác. Cũng như vậy, do bóng đen của chiến tranh, trong phản ứng của Việt Nam với nước Mỹ cũng tự nhiên có theo bao nhiêu mối lo. Đồng thời trong vấn đề Nam Hải, Việt Nam đã chiếm được 29 đảo bãi, đó vừa là quốc gia được lợi lớn nhất, cũng vừa là quốc gia có bất đồng lớn nhất với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải. Một thời kỳ gần đây tình hình kinh tế Việt Nam xấu đi nhiều, xét trong ngắn hạn sẽ vẫn còn xấu đi. Trong khi đó dầu thô đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam , phát triển dầu khí là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam . Trong tổng số lượng dầu xuất khẩu hàng năm của Việt Nam có 27% là từ khu vực đang có tranh chấp ở Nam Hải.
Đối với Inđônêxia, tranh chấp với Trung Quốc trong lịch sử ít, vị trí cách Trung Quốc cũng xa, liên lụy với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải cũng không nhiều nên áp lực cảm nhận về thực tế Trung Quốc trỗi dậy và bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải đều nhỏ, hiển nhiên phương thức hành động của Inđônêxia và Việt Nam có phần khác nhau. Sự thực cũng đã kiểm nghiệm cách lập luận này, Việt Nam tích cực liên kết với nước khác kiềm chế cân bằng Trung Quốc, trong khi Inđônêxia chỉ phụ họa đi theo.
Giữa các nước không nhất định cứ vì đe dọa lợi ích chung mới hợp tác, hơn nữa không nhất thiết cứ phải hợp tác để tranh thủ lợi ích chung. Trong một thế giới “hỗn mang”, người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù vào ngày mai, vấn đề mà quốc gia quan tâm hơn là lợi ích tương đối chứ không phải tuyệt đối, nếu một nước cho rằng nước khác có thể có được nhiều lợi ích hơn thì rất có khả năng sẽ từ bỏ hợp tác. Đó chính là nguyên nhân giải thích vì sao chính sách đối ngoại của những nước này lại có tính hai mặt.
III- Ai có thể kiềm chế, cân bằng Trung Quốc ở Nam Hải?
Cách nghĩ của các nước Đông Nam Á trong vấn đề Nam Hải kỳ thực là gặp nhau trong việc mở rộng thành viên của ASEAN, đều không muốn bị chính trị nước lớn chôn vùi. Bộ trưởng cao cấp Xinhgapo Lý Quang Diệu đã nói Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột, đó là việc mà các nước Đông Nam Á lo lắng nhất. Các nước này không muốn gặp cảnh buộc phải lựa chọn hoặc nước này hoặc nước kia. Vì thế, trong khi Việt Nam và Philíppin lôi kéo Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ thì đồng thời, Philíppin gần đây lại cũng lôi kéo Liên minh châu Âu vào vấn đề Nam Hải. Các nước này muốn các nước lớn đó kiềm chế lẫn nhau, lo ngại cục diện chỉ một nước lớn độc chiếm làm chủ tất cả. Nhưng các nước này đã bỏ qua một vấn đề căn bản nhất, đó là nước nhỏ dù có “đục nước béo cò” đến đâu thì việc đảm bảo cơ bản đối với họ vẫn phải dựa vào nước lớn để thực hiện. Nói cách khác, họ tuy có ý đồ “tránh sói” thế nào ở cửa trước cũng không tránh được phải “rước hổ” từ phía cửa sau. Hành động hiện nay của họ rất có thể dẫn đến hậu quả như vậy, cho dù bản thân họ cũng có phần cảnh giác. Xét tình hình trước mắt thì các nước lớn xen vào vấn đề Nam Hải có Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ.
Nhật Bản coi Eo biển Malắcca là tuyến đường biển huyết mạch, nhưng Nhật Bản không có đòi hỏi lãnh thổ ở Nam Hải nên bản thân lý do Nhật Bản nhảy vào Nam Hải là rất khiên cưỡng, lộ liễu. Không lâu sau khi Nhật Bản thành lập nội các mới nhiệm kỳ hiện nay, Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 11/10 đã bắt đầu thực hiện chuyến thăm Đông Nam Á 5 ngày, trong đó vấn đề quan tâm nhất là thảo luận bàn bạc thống nhất và hiệp thương với Inđônêxia và các nước các nước Đông Nam Á khác về “vấn đề đảm bảo an ninh biển”. Báo chí Nhật Bản đưa tin Chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch cùng với Việt Nam và Philíppin thành lập một cơ quan phối hợp về vấn đề chủ quyền và đảm bảo an ninh hàng hải ở Nam Hải. Giữa tháng 11, Thủ tướng Nhật Bản Noda đã tham gia loạt hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Đông Á, đề xuất ý tưởng về một “hành lang kinh tế biển ASEAN”, hy vọng đạt được nhận thức chung cùng thành lập hành lang nói trên với các nước Đông Nam Á. Trên thực tế “Hành lang kinh tế” nói trên là “hành lang kinh tế vòng quanh Nam Hải”, cho thấy rõ lập trường của Nhật Bản can thiệp toàn diện vào vấn đề Nam Hải để đảm bảo chắc chắn quyền và lợi ích của Nhật Bản trong vùng biển Nam Hải cũng như giao thông hàng hải của Nhật Bản ở vùng biển này.
Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng Nhật Bản can thiệp Nam Hải trước hết là phối hợp với Mỹ. Mỹ khi có ưu thế, nói chung đều tự can thiệp vào khu vực có vấn đề, khi thế của họ yếu đi thì kích động các bên khác kiềm chế. Vì thế trong vấn đề Nam Hải, Mỹ đặc biệt cổ vũ Nhật Bản và Ấn Độ kiềm chế Trung Quốc. Sau nữa, để có được lợi thế trong tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật Bản rõ ràng kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, khiến Trung Quốc phải phân tán lực lượng. Cuối cùng, một bộ phận người Nhật Bản cho rằng Trung Quốc về mặt chiến lược ngày càng coi thường Nhật Bản nên biểu hiện của Nhật Bản ở Đông Nam Á cũng đáp lại Trung Quốc bằng cách nhìn nhận như vậy.
Tuy nhiên, một số nước như Philíppin tích cực lôi kéo Nhật Bản can thiệp vấn đề Nam Hải nhưng không phải tất cả các nước ASEAN đều tán thành cách làm như vậy. Ngay từ tháng 1, Ngoại trưởng Inđônêxia đã thể hiện sự lo lắng đối với việc Nhật Bản can thiệp Nam Hải. Trong tháng 6 và tháng 11, Inđônêxia lại cho biết vấn đề Nam Hải cần phải do các nước đương sự giải quyết với nhau. Inđônêxia không chỉ xem xét vấn đề từ phương diện lịch sử của Nhật Bản mà cũng không muốn nước lớn khác can thiệp quá nhiều vào vấn đề Nam Hải. Từ đó có thể thấy Nhật Bản dù có ý định can thiệp vấn đề Nam Hải để kiềm chế Trung Quốc nhưng “không ở địa vị sẽ khó mưu việc chính sự”. Nhật Bản có rất nhiều cách nghĩ trong vấn đề Nam Hải nhưng rất khó áp dụng được trong thực tiễn. Đồng thời xét những hạn chế trong hiến pháp Nhật Bản cũng như kinh tế Nhật Bản nhiều năm nay suy yếu, lại gặp nhiều rủi ro không lường trước, cộng thêm điều kiện địa lý làm hạn chế khả năng của bản thân Nhật Bản thì ảnh hưởng của Nhật Bản đối với vấn đề Nam Hải là không nhiều.
Ấn Độ là nước hết sức hăng hái trong năm nay, từ báo chí đến chính phủ lúc nào cũng chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, thường xuyên tỏ rõ địa vị nước lớn của mình trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ không phải nằm ở Nam Hải. Một loạt tài liệu của Ấn Độ đều xác định khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ là ở vùng biển Ấn Độ Dương. Đối với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc, mặc dù Ấn Độ hài lòng với việc mình làm, một mặt có thể hạn chế Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng khi tham gia các công việc ở Nam Á, đặc biệt coi đó là biện pháp để đáp lại quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Pakixtan, mặt khác có thể có được một số lợi ích kinh tế, ví dụ như hợp tác phát triển dầu khí với Việt Nam ở Nam Hải. Nhưng nếu có hành động trong vấn đề Nam Hải thì Ấn Độ phải xem xét đến giá phải trả về trách nhiệm kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy, càng chưa nói đến lĩnh vực này không hề có vai trò quan trọng đối với Ấn Độ. Thêm nữa là đặc tính truyền thống về tôn giáo và văn hóa của Ấn Độ, rất khó nói được rằng Ấn Độ có điều kiện cơ bản để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải.
Vì thế, có thể thấy được rằng trong vấn đề Nam Hải, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản đều không thể trở thành bên kiềm chế Trung Quốc hữu hiệu, nên lần này Mỹ đã quyết tâm phải tự mình ra tay. Trong khi bà Clinton lại lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á”, hành động của Mỹ một lần nữa cũng đồng thời nhắm đúng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. (còn tiếp)
theo QNCBĐ (http://www.seasfoundation.org/research-documents/diplomacy/1736-bin-ong-im-gay-ap-lc-ban-u-i-vi-trung-quc-phn-u)