PDA

View Full Version : [Tin tức] Tàu đổ bộ Mỹ, những điều ít biết



Truong Sa yeu dau
15-03-2012, 03:09 PM
Thời gian phục vụ, chu kỳ hoạt động của mỗi tàu đổ bộ Mỹ là những điều ít biết với nhiều người.

(ĐVO) (http://quocphong.baodatviet.vn/)Chu kỳ hoạt động

Số lượng tàu đổ bộ sẵn có cho các hoạt động, chiến dịch không tương đồng với số lượng có trong Hải quân Mỹ.

Tại bất cứ thời điểm nào, một số tàu sẽ được triển khai, trong khi số còn lại sẽ nằm trong các giai đoạn khác nhau của bảo dưỡng hoặc huấn luyện.
Theo Kế hoạch của Hải quân Mỹ, tàu đổ bộ ở Mỹ sẽ trải qua thời chu kỳ hoạt động khoảng 117 tuần (27 tháng) và chia làm 5 giai đoạn: bảo dưỡng, đào tạo cơ bản, đạo tạo nâng cao - tích hợp, triển khai và duy trì đáp ứng. Trải qua 5 giai đoạn, chu kỳ sẽ lặp lại.

Tuy nhiên, thời gian thực tế cho mỗi giai đoạn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của con tàu, mức độ huấn luyện của thuyền viên và nhiệm vụ mà tàu được triển khai.

Trong báo cáo của Cục Ngân sách Liên bang Mỹ, chu kỳ này được phân bố tướng đối như sau: Bảo dưỡng từ 10-17 tuần, huấn luyện cơ bản khoảng 20 tuần, nâng cao 14 tuần, triển khai 26 tuần và duy trì đáp ứng là 40-47 tuần.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111130/qpcn%20th%20amphi2%20body.jpg


Bảo dưỡng tại một cảng chiến lược là giai đoạn chuẩn bị sẵn sàng cho tàu đổ bộ trước khi tham gia bất kỳ nhiệm vụ, chiến dịch nào.



Trong giai đoạn bảo dưỡng, thủy thủ đoàn hoặc đội sửa chữa (hoặc cả 2) sẽ đảm bảo điều kiện vật lý của tàu sẵn sàng cho huấn luyện và triển khai.

Giai đoạn tiếp theo sẽ chuẩn bị cho thủy thủ đoàn cho việc hoạt động tàu.

Việc huấn luyện nâng cao là việc đưa tàu ra tập luyện chung với tàu khác, đảm bảo hoạt động nhóm.

Đến khi được triển khai, các tàu sẽ nằm dưới sự điều khiển của chỉ huy chiến dịch khu vực.

Cuối cùng, giai đoạn duy trì đáp ứng là việc tàu trở về sau giai đoạn triển khai nhưng các điều kiện vật lý và thủy thủ đoàn được duy trì sẵn sàng, thường trực ở mức độ cao trong trường hợp tàu cần triển khai lần nữa.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111130/qpcn%20th%20amphi2%20body2.jpg



Huấn luyện thủy thủ đoàn là yêu cầu bắt buộc đảm bảo có thể thực hiện các nhiệm vụ cần thiết của tàu đổ bộ.


Hai giai đoạn bảo dưỡng và duy trì đáp ứng phụ thuộc vào lớp tàu khác nhau. Nếu tàu cần nhiều thời gian bảo dưỡng hơn thì sẽ dành ít thời gian cho duy trì tích cực, vì vậy, tổng cộng chu kỳ hoạt động đều là 117 tuần.

Chu kỳ hoạt động của 4 tàu đổ bộ của Mỹ đồn trú tại Nhật Bản ngắn hơn, chỉ 104 tuần hoặc 24 tháng. Đối với lực lượng này, thời gian bảo dưỡng là 11-15 tuần, còn lại là từ 89-93 tuần triển khai.

Sự khác biệt về thời gian triển khai nhiệm vụ dài và ít chế độ huấn luyện riêng biệt vì chúng được kỳ vọng duy trì trạng thái sẵn sàng. Ngay cả trong thời kỳ bảo dưỡng, điều kiện vật lý của tàu được duy trì để nó có thể thực hiện nhiệm vụ trong vòng 30 ngày.

Theo kế hoạch, lực lượng tàu đổ bộ gồm 30 tàu, trong đó có 9 tàu đã triển khai, 10 tàu sẵn sàng để triển khai trong vòng 30 ngày, 3 tàu có khả năng thực hiện trong 90 ngày.

Bạn đồng hành của tàu đổ bộ

Bên cạnh lực lượng tàu đổ bộ tham gia vào các hoạt động chuyên chở, còn một người bạn đồng hành không thể thiếu nhưng ít được biết tới là đội tàu hỗ trợ hậu tuyến hải quân MPV.

Hiện tại, Hải quân Mỹ có 16 tàu MPV được tổ chức thành ba liên đội với số lượng khoảng 5-6 tàu/đội.

Mỗi liên đội có thể chuyên chở phương tiện, trang thiết bị và tiếp tế để duy trì hoạt động cho một lữ đoàn viễn chinh Thủy quân lục chiến trong vòng 30 ngày.

Lực lượng MPV nằm dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Thông vận, trực thuộc Hải quân. Toàn bộ 16 chiếc đang được triển khai tại các cảng ở Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và phía Tây Thái Bình Dương.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111130/qpcn%20th%20amphi2%20body3.jpg


Tàu MPV số hiệu USNS 2nd Lt. John P. Bobo bỏ neo trên hành trình tới Căn cứ Pier Marathi NATO Pier ở vịnh Souda.



Không giống như tàu đổ bộ, các tàu MPV không hề có khả năng phòng thủ, không chở quân và không có khả năng tiến công.

Chính vì vậy, tàu chỉ hoạt động khi khu vực cảng cập bến đã được đảm bảo an toàn để dỡ hàng cũng như chuẩn bị trang thiết bị, sân bay… để lính thủy đánh bộ lấy các thiết bị cần thiết và thành lập đội hình chiến đấu.

Dù tàu MPV tham gia vào nhiều chiến dịch, hoạt động khác nhau, nhưng thông thường mục đích chính là hỗ trợ cho các lực lượng đợt hai, triển khai vào chiến trường sau khi lực lượng tiến công do tàu đổ bộ chuyên chở đã đảm bảo an ninh khu vực mục tiêu.

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tau-do-bo-My-nhung-dieu-it-biet/20122/192026.datviet

Truong Sa yeu dau
15-03-2012, 03:14 PM
Tìm hiểu cách đặt tên một số bom, tên lửa của Mỹ

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tim-hieu-cach-dat-ten-mot-so-bom-ten-lua-cua-My/201111/179140.datviet
Cập nhật lúc :6:00 AM, 22/11/2011
Chúng ta thường nghe nói nhiều đến các vũ khí với tên gọi như AIM-9 Sidewinder, AGM-154 JSOW, RGM-84 Harpoon, vậy những cách đặt tên này được quy định như thế nào?

(ĐVO) (http://baodatviet.vn/) Đối với hầu hết các loại vũ khí của Mỹ công năng sử dụng của vũ khí đều được quy định một cách rõ ràng bằng các dãy định danh. Căn cứ vào các dãy định danh chúng ta có thể biết được công năng sử dụng, đặc tính kỹ chiến thuật của loại vũ khí đó.

Các loại vũ khí của Mỹ đều được đặt tên theo quy tắc như sau: Công năng sử dụng của vũ khí, số hiệu của vũ khí và cuối cùng là biệt danh, phần lớn các loại vũ khí của Mỹ đều được đặt thêm các biệt danh, một số theo thần thoại Hy Lạp, một số lấy tên theo các loại dã thú nhằm làm nổi bật sự nguy hiểm của vũ khí đó.

AIM

AIM là viết tắt của cụm từ Air-to-Air Missile, tạm dịch là tên lửa không đối không. Ở đây, AIM là dãy định danh bắt buộc cho tất cả các loại tên lửa không đối không của quân đội Mỹ. Các loại tên lửa không đối không nổi tiếng của Mỹ được đặt tên theo dãy định danh này gồm có:

AIM-7 Sparrow, cách đặt tên này được hiểu như sau, tên lửa không đối không số 7 biệt hiệu là “Chim Sẻ”, một loại tên lửa không đối không tầm trung.

Ngoài ra, còn có các loại tên lửa khác như AIM-9 Sidewinder (Rắn đuôi chuông), đây là tên lửa không đối không tầm ngắn.

AIM-54 Phoenix (Chim Phượng Hoàng), đây là tên lửa không đối không tầm xa, loại tên lửa này đã được quân đội Mỹ ngưng sử dụng vào năm 2004, tuy nhiên, nó vẫn còn là tên lửa chủ lực của một số quốc gia khác, đặc biệt là Iran.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111116/qp_viet_us-missile_3.jpg



Tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến AIM-120 AMRAAM.





Biến thể tên lửa hiện đại nhất theo dãy định danh này là AIM-120AMRAAM, tên lửa số 120 không được đặt biệt danh mà sử dụng mà sử dụng cụm từ chỉ định công năng của tên lửa để phân biệt với các biến thể khác.

AMRAAM là viết tắt của cụm từ Advanced Medium Range Air-to-Air Missile, tạm dịch là tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến.

AGM

AGM là viết tắt của cụm từ Airbone Ground attack Munition hoặc Missile, tạm dịch là tên lửa hoặc bom hàng không tấn công mặt đất có điều khiển.

AGM là dãy định danh cho tất cả các loại bom hoặc tên lửa tấn công mặt đất được phóng từ máy bay.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111116/qp_viet_us-missile_4.jpg



Tên lửa chống bức xạ tốc độ cao AGM-88 HARM.




Một số vũ khí tiêu biểu cho dãy định danh này có thể kể đến như: AGM-45 Shrike, đối với biến thể này AGM được quy định là Airbone Ground attack Missile(tên lửa hàng không tấn công mặt đất có điều khiển) AGM-45 Shrike là một loại tên lửa chống bức xạ nổi tiếng được sử dung lần đầu tiên tại chiến tranh Việt Nam.

AGM-45 Shrike đã cho thấy nó là một loại tên lửa chống bức xạ hiệu quả, tuy nhiên, nó có điểm yếu là chỉ cần trạm radar ngưng phát sóng, tên lửa lập tức bị mất phương hướng.

Về sau, loại tên lửa này được thay thế bằng tên lửa AGM-88 HARM, thuộc loại tên lửa chống bức xạ tốc độ cao, được bổ sung thêm hệ thống GPS nhằm đối phó với các loại radar phát sóng ngắt quãng.

AGM-84 Harpoon là biến thể của tên lửa chống hạm Harpoon phóng từ máy bay chiến đấu. Riêng AGM-154 JSOW, đối với biến thể này AGM là viết tắt của cụm từ Airbone Ground attack Munition (bom hàng không chiến thuật có điều khiển). AGM-154 JSOW còn được dịch là đạn tấn công ngoài tầm phòng không điểm, đây là một loại bom lượn tinh khôn độc đáo. (>> xem thêm (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nang-cao-nang-luc-cua-F35-bang-JSOW/201111/178234.datviet))

RGM

Viết tắt của cụm từ Radar Guided Missile (tên lửa dẫn hướng radar) đây là dãy định danh quy định cho các loại tên lửa dẫn hướng bằng radar phóng từ mặt đất hoặc tàu chiến.

Trong dãy định danh này tiêu biểu là tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon, đây là biến thể tên lửa chống hạm Harpoon được phóng từ tàu chiến hoặc bệ phóng di động trên mặt đất.


http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111116/qp_viet_us-missile_5.jpg


Tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon phóng đi từ tàu tuần dương hạm Ticonderoga.



BGM

Ballistic Guided Missile (tên lửa đạn đạo có điều khiển) đây là dãy định danh quy định cho các loại tên lửa hành trình tấn công mặt đất được phóng từ tàu chiến hoặc bệ phóng trên mặt đất. Tiêu biểu cho dãy định danh này là tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk, loại tên lửa hành trình tấn công mặt đất rất chính xác.

BGM-109 Tomahawk đã có lịch sử tham gia rất nhiều cuộc chiến do Mỹ phát động, tên lửa đã chứng minh là một trong những loại tên lửa tấn công mặt đất hiệu quả nhất thế giới bằng thực nghiệm.

GBU

Guided Bomb Unit (khối bom có điều khiển) đây là dãy định danh cho tất cả các loại bom có điều khiển với đầu tự dẫn bằng hồng ngoại hoặc laser của Mỹ.

Tiêu biểu là các loại bom có điều khiển như: GBU-15, GBU-24, GBU-27, GBU-28…, GBU-31 JDAM đây là một loại đạn ghép nối tấn công trực tiếp, còn được gọi là “bom thông minh”.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ nhỏ minh chứng cho cách đặt tên các loại vũ khí của Mỹ, dựa vào các quy định và chỉ dẫn đặt tên nói trên chúng ta có thể nhận biết được một số vũ khí của Mỹ mà không lo bị nhầm lẫn công năng sử dụng của nó.



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20111116/qp_viet_us-missile_6.jpg



Một tiêm kích F-16 thả bom bom thông minh JDAM.

Truong Sa yeu dau
15-03-2012, 03:22 PM
Tàu chiến Mỹ được đặt tên như thế nào?
Cập nhật lúc :10:48 AM, 20/08/2011
Từ tên của các cựu Tổng thống Mỹ cho đến tên gọi các bang, Mỹ đã có hẳn những nguyên tắc riêng cho việc đặt tên cho các loại tàu chiến của mình.

Theo truyền thống, tên gọi cho tàu của Hải quân sẽ được Bộ trưởng Hải quân Mỹ lựa chọn và công bố, dưới sự chỉ đạo của Tổng thống và các quy tắc do Quốc hội đề ra.

Trong suốt thế kỷ 19, luật pháp Mỹ chỉ định rất rõ ràng nhiệm vụ này cho Bộ trưởng Hải quân, nhưng dẫn chiếu này đã biến mất từ Đạo Luật Mỹ năm 1925.

Ngày nay, trong Chương 10 Đạo Luật Mỹ (U.S.C 10), quy định về vai trò, nhiệm vụ và tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng, không nói rõ về việc ai có thẩm quyền đặt tên mới cho tàu Hải quân.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Hải quân vẫn khăng khăng bảo lưu quyền tuyệt đối này, dù trong điều 7292 Chương 10 về đặt tên tàu của Hải quân, chỉ nói đến việc Bộ trưởng Hải quân được đổi tên những tàu mua cho Hải quân.

Quy trình lựa chọn tên

Trong quá trình thảo luận việc lựa chọn tên, Hải quân Mỹ trích dẫn từ các nguồn luật trên và tuyên bố như sau:

“Cùng nhiều vấn đề khác, quy trình và thực tiễn liên quan đến việc đặt tên tàu thực sự là sản phẩm của tiến hoá và truyền thông hơn là quy trình lập pháp. Như chúng ta đã thấy, những tên gọi cho những con tàu mới được quyết định riêng bởi Bộ trưởng Hải quân. Thư ký có thể dựa trên nhiều cơ sở để đưa ra quyết định cuối cùng.

Mỗi năm, Trung tâm Lịch sử Hải quân sưu tập những gợi ý về tên tàu (tên chính và lựa chọn thay thế), gửi cho Tư lệnh Hải quân.

Những gợi ý này là kết quả của việc tìm kiếm trong lịch sử của Hải quân và các gợi ý của các thành viên, cựu chiến binh và công chúng.

Các bản ghi tên tàu tại Trung tâm Lịch sử Hải quân phản ánh những nguồn tên phong phú đã từng được dùng trong quá khứ, đặc biệt là từ sau Thế chiến thứ I.




http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110819/qpcn.thang.ship%20name.TK.jpg


Ray Mabus hiện là Bộ trưởng Hải quân đương nhiệm, giống như các vị tiền nhiệm khác, ông có vai trò quyết định lựa chọn và công bố tên các con tàu.





Những gợi ý về tên gọi của tàu do nhiều nhân tố quy định, như tên các nhóm cho từng loại tàu đang được đóng, tên theo địa lý, tên từ những con tàu trước, tên do cá nhân, nhóm gợi ý, tên những vị lãnh đạo hải quân, thành viên quá cố nhưng được vinh danh về chiến tích trong thời chiến và thời bình.

Tại bước cuối, sau khi cân nhắc các mức độ khác nhau của chỉ thị, Tư lệnh Hải quân sẽ ký bản ghi nhớ những cái tên cho chương trình đóng tàu năm đó, gửi tới Bộ trưởng Hải quân.

Trên cơ sở đó, vị thư ký này cân nhắc trong thời gian phù hợp để chọn tên cho những con tàu riêng biệt và công bố chúng. Dù vậy, việc đặt tên này thường hoàn thành trước khi con tàu được đặt tên thánh.

Cách đặt tên cho các loại tàu

Quy tắc đặt những cái tên riêng cho từng loại tàu Hải quân đã phát triển qua thời gian. Ví dụ, đối với tàu ngầm tấn công, từng được đặt tên theo các loài cá, sau đó là thành phố và gần đây là theo các bang. Trong khi, các tàu tuần dương, lúc đầu đặt tên theo thành phố, dần dần theo bang và gần đây là theo các trận đánh.

Phát ngôn của Hải quân Mỹ từng tuyên bố: “Dù chúng tôi đã cố gắng hệ thống hoá việc đặt tên tàu, nhưng giống như các thể chế khác là đối tượng của sự thay đổi tiến hóa, nguồn và tên gọi cho tàu Hải quân không tránh được xu hướng này”.

Tuy nhiên, không phải là không có ngoại lệ. Nhiều nhà quan sát đã nhận thấy sự phá cách trong việc đặt tên. Ví thử như 3 chiếc tàu ngầm tấn công thuộc lớp Seawolf (SSN-21), bao gồm Seawolf (SSN-21), Connecticut (SSN-22) và Jimmy Carter (SSN-23). Các tên gọi tương ứng lần lượt với một loài cá, một bang và một Tổng thống, thể hiện cách đặt tên chẳng có nguyên tắc gì cả.

Tuy nhiên, có thể tổng kết cách đặt tên cho các loại tàu do Hải quân như sau:

Tàu sân bay: đặt tên theo các vị Tổng thống Mỹ. 11 trong số 12 tàu sân bay gần đây đặt tên theo Tổng thống Mỹ (9 chiếc) và thành viên của Quốc hội (2 chiếc).

Chỉ có chiếc thứ 12, gần đây nhất, Nimitz (CVN-68) đặt theo tên của vị Đô đốc Chester Nimitz, người chỉ huy Mỹ và liên quân ở Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Ông mất vào năm 1966, cùng năm với việc Quốc Hội thông qua kế hoạch ngân sách FY1967, mang về chiếc CVN-68.

Tàu ngầm tấn công: đặt tên theo các bang, ví dụ như tàu ngầm lớp Virginia (SSN-774). Chỉ có ngoại lệ duy nhất đối với chiếc tàu thứ 12 trong lớp này, khi Bộ trưởng Hải quân Donald Winter thông báo chiếc SSN-785 đặt tên cựu Thượng nghị sĩ John Warner.




http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110819/qpcn.thang.ship%20name.submarine.jpg


11 chiếc tàu ngầm đầu tấn công lớp Virginia đầu tiên đều mang tên các bang của Mỹ như: Texas, Hawaii, New Mexico, New Hampshire...





Tàu khu trục thường được đặt tên theo các vị lãnh đạo hải quân và những vị anh hùng. Hiện tại, Hải quân đang đặt mua tàu khu trục lớp Arleigh Burke (DDG-51), hay trước đó là đơn hàng với 3 chiếc tàu khu trục lớp Zumwalt (DDG-1000).

Chiếc DDG-1000 đầu tiên đặt theo vị Đô đốc Elmo R.”Bud” Zumwalt, cựu Tư lệnh Hải quân từ năm 1970 đến 1974.

Vào ngày 29/10/2008, Hải quân công bố chiếc DDG-1000 thứ hai đặt là Michael Monsoor, thành viên của lực lượng SEAL, được trao Huy chương Danh Dự cho những hành động anh hùng tại Iraq hồi tháng 9/2006.



Về tên gọi của các tàu Hải quân Mỹ thăm Việt Nam

>> Hồ sơ các tàu Hải quân Mỹ thăm Việt Nam (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Ho-so-cac-tau-Hai-quan-My-tham-Viet-Nam/20117/155721.datviet)
>> 'Sứ giả' ở Đông Nam Á (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Su-gia-o-Dong-Nam-A/20117/154170.datviet)



Tàu chiến tuần duyên (LCS): đặt theo các thành phố nhỏ và vừa. Ví dụ, Hải quân vừa đặt cho 2 chiếc LCS là Freedom và Independence (>> xem thêm (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/USS-Independence-trang-bi-sonar-AQS20A/20118/162241.datviet)), và dự định cho 2 chiếc LCS tiếp theo với tên gọi Fort Worth và Coronado.

Tàu chở hàng lớp Lewis and Clark (TAKE-1), được đặt tên theo những nhà thám hiểm và tiên phong trong nhiều lĩnh vực. Mới đây nhất là 9/10/2009, Hải quân Mỹ công bố tên của tàu thứ 13 của lớp này đặt theo nhà hoạt động vì quyền lợi dân sự Medgar Evers.

Tàu chiến cao tốc (JHSV), lực lượng tàu chiến mới đầy tham vọng mới của Hải quân và Lục quân Mỹ, được đặt theo tên của những nét tiêu biểu hay giá trị của nước Mỹ.

Vào ngày 16/7/2009, Bộ trưởng Hải quân Hải quân và Lục quân tuyên bố, 3 chiếc JHSV đầu tiên sẽ là Fortitude (JHSV-1 Sự ngoan cường); Vigilant (JHSV-2 Sự thận trọng) và Spearhead (JHSV-3 Xung kích). Chiếc JHSV 1 và 3 do Lục quân điều hành, còn chiếc JHSV 2 biên chế trong lực lượng hải quân.

Tuy nhiên, có một ngoại lệ duy nhất trong việc đặt tên các con tàu JHSV là với chiếc thứ 4, đặt tên là Fall River, một thành phố ở Massachusetts, nơi đặt bảo tàng ký ức chiến tranh Battleship Cove. Tại đây có nhiều chiếc tàu chiến bỏ đi, trong đó có một chiếc tàu tuần dương từ thời tiền Thế chiến II mang tên Fall River.

Đặt tên tàu theo những người còn sống

Về mặt lịch sử, Hải quân rất hiếm khi đặt tên cho tàu bằng tên gọi của những người còn sống. Tuy nhiên tính từ năm 1970, có ít nhất 11 tàu quân sự của Mỹ đặt theo tên người sống cùng thời điểm tên gọi được công bố.

Một vài ví dụ như: Tàu sân bay CNV-70 Car Vinson, phục vụ năm 1982; tàu ngầm tấn công Hyman G. Rickover SSN-709; tàu sân bay George H.W. Bush CVN-77…



http://quocphong.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thuctap_qpcn/20110819/qpcn.thang.ship%20name.geobu.jpg


Cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush cùng phu nhân tại lễ hạ thuỷ và đưa vào phục vụ tàu sân bay mang tên ông.





Vai trò của công chúng trong đặt tên tàu

Công chúng đôi khi quan tâm đến việc có những chiếc tàu Hải quân mang tên của bang, thành phố, cho những trận đánh mà họ hay người thân tham gia, hoặc được nhiều người ngưỡng mộ.

Trong trường hợp này, công dân sẽ liên hệ với Hải quân, Bộ Quốc Phòng hoặc Quốc hội để tìm sự giúp đỡ cho dự định của họ.

Trường hợp mới đây nhất là chiến dịch viét thư của học sinh trường tiểu học ở New Hampshire, bắt đầu từ tháng 1/2004, tác động đến quyết định của TKHQ, đặt tên một chiếc tàu ngầm lớp Virginia theo tên của bang, đó là chiếc New Hampshire SSN-778.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp phản đối. Mới đây, công luận đã bày tỏ ý kiến phản đối quyết định của Hải quân khi đặt tên cho những chiếc tàu vận chuyển lớp San Antonio (>> xem thêm (http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/toancanh/My-ha-thuy-tau-chien-lam-tu-thep-cua-toa-thap-doi/201012/120924.datviet)) với tên gọi John P. Murtha, tên một cựu Hạ nghị sĩ.

Vai trò của Quốc hội Mỹ

Tác động tới việc đặt tên tàu Hải quân của Quốc hội thông qua 2 cơ chế: ảnh hưởng mềm và quy trình lập pháp.

Về ảnh hưởng, lấy ví dụ về cuộc tranh đua trong Quốc hội về việc đặt tên cho tàu sân bay CVN-76. Một bên ủng hộ việc lấy tên Tổng thống Truman, một bên là Reagan. Rốt cuộc, vấn đề được giải quyết bằng quyết định của Tổng thống Clinton, rằng chiếc CVN-75 sẽ đặt tên Truman, chiếc CVN-76 đặt tên là Reagan.

Một ví dụ khác, là việc gợi ý của Quốc hội trong việc nên đặt tên tàu sân bay CVN-78 lấy tên Tổng thống H.W. Bush, và rốt cuộc, Hải quân cũng công bố tên gọi này.

Ngoài ra, Quốc hội còn có thể tác động đến quyết định đặt tên của Hải quân theo 2 hướng. Như trong phiên họp Hạ Viện 1022 Kỳ họp 111, các đại biểu ủng hộ quyết định đặt tên Medgar Evers cho tàu chở hàng.

Ngược lại, trong phiên họp 312 Kỳ họp 312, lại phản đối quyết định đặt tên và yêu cầu đổi tên tàu ngầm lớp Los Angeles (SSN-688) với tên gọi Corpus Christi. Sau này, Hải quân phải chỉnh lại tên thành City of Corpus Christi.

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tau-chien-My-duoc-dat-ten-nhu-the-nao/20118/162610.datviet