PDA

View Full Version : Việt Nam cần làm gì để đối phó với sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc?



lc_niko
14-01-2008, 07:53 PM
Bài viết trên viẹtnamnet có tựa đề " Bài học không bao giờ lỗi thời " để phê phán Mỹ nhưng nhằm ám chỉ Trung Quốc.
" Ngót bốn mươi ba năm trước, chính phủ Mỹ đưa ra hai “chứng lý” xảy ra ở Vịnh Bắc bộ vể việc Hải quan Việt Nam “tấn công” khiêu khích các chiến hạm Mỹ. Lần thứ nhất đêm 2/8 và lần thứ hai đêm 4/8/1964. Dựa vào đó, họ ra lệnh không quân Mỹ tấn công sâu vào Miền Bắc Việt Nam, ngày 5/8/1964 và, tiếp theo, ào ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào Miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến tàn khốc đã leo thang và kéo dài đến năm 1973, khi quân Mỹ rút về nước theo Hiệp định Paris.


Ai cũng biết, cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nói trên, sự thêu dệt và sự bịa đặt chứng lý, đã dẫn tới tai họa khôn lường, một khi “vũ khí” đó nằm trong tay kẻ mạnh.

Quả vậy. Tai họa đối với chính nhân dân Mỹ: 58.000 lính Mỹ bỏ mạng trên mảnh đất xa lạ đối với họ. Tai họa đối với dân tộc Việt Nam: đất nước bị tàn phá, hàng triệu người dân ngã xuống hoặc tổn thương dưới súng đan, bom napan và chất độc hóa học của ngoại bang.

Và một tai họa vô hình khác: sự mất lòng tin, mất lòng tin trong các mối quan hệ quốc tế, vào những lời nói đẹp đẽ, hay ho về dân chủ và nhân quyền, về tôn trọng độc lập và chủ quyền lẫn nhau…, đặc biệt giữa nước lớn và nước nhỏ. Điều tệ hại là các sự kiện lịch sử như “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” cứ lập đi lập lại theo thời gian và cả không gian.

Một câu chuyện còn nóng sốt hiện nay. Vấn đề “Iraq đang sở hữu vũ khí sinh học hủy diệt” đã được lấy làm chứng cớ để đưa quân tiến vào đất nước có chủ quyền Iraq. Để rồi, cuối cùng, khi mọi việc đã “an bài mới phải thừa nhận các chứng cớ đều dựa trên “loại thông tin của những nguồn không đáng tin cậy”, là “không có cơ sở”!

Và còn bao nhiêu điều bất công và vô lí‎ khác. Hơn lúc nào hết, bây giờ người Việt Nam càng quan tâm những bằng chứng lịch sử còn lưu giữ trong các kho lưu trữ quốc gia và quốc tế về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của đất nước mình. Điều mỉa mai ở đây là trong thời đại văn minh như ngày nay, có khi người ta xử sự mọi tranh chấp quốc tế không phải bằng chứng cứ lịch sử mà bằng sức mạnh, bằng lề thói cũ “mạnh được yếu thua”.

Dân tộc Việt Nam vốn hiếu hòa, muốn được sống trong hòa bình và hữu nghị với mọi dân tộc trên thế giới, nhưng chúng ta cũng yêu cầu mọi người tôn trọng nền độc lập và quyền tự chủ của mình, mong mọi người xem “sự kiện vịnh Bắc Bộ” là một bài học không bao giờ lỗi thời. "
Ngày nay chúng ta lại liên tưởng đến Hoàng Sa Trường Sa, rõ ràng người Việt Nam chúng ta và cả chính Trung Quốc đều biết Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nhưng TQ cứ nhận về mình đấy vì họ thấy nước mình yếu hơn, chúng ta cũng không thể làm gì được nhiều cả, bởi lỹ lẽ thuộc về mạnh.

thanhns
04-03-2008, 12:41 PM
Lầu Năm Góc ra báo cáo thường niên về tiềm lực quân sự Trung Quốc

http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/thenbt/Thang%203/council4308.jpg
Vụ Mỹ bắn hạ vệ tinh do thám mới đây được cho là màn "đáp trả" Trung Quốc

(Dân trí) - Trung Quốc đang phát triển những loại vũ khí có khả năng vô hiệu hoá công nghệ không gian của đối thủ, như vệ tinh dùng trong các cuộc xung đột, Lầu Năm Góc cho biết trong một bản báo cáo thường niên vừa được tiết lộ hôm qua, 3/3.

Ngoài ra báo cáo còn cho biết trong năm qua “vô số” các cuộc thâm nhập vào mạng máy tính trên khắp thế giới, trong đó có một số mạng của chính phủ Mỹ, dường như xuất phát từ Trung Quốc.

Những đánh giá trên nằm trong bản báo cáo hàng năm của Lầu Năm Góc trước Quốc hội Mỹ về tiềm lực quân sự của Trung Quốc. Bắc Kinh, như thường lệ, lên án bảo báo cáo, cho rằng Mỹ có cái nhìn không công bằng khi cho rằng Trung Quốc là một mối đe doạ về quân sự, trong khi nước này luôn cam kết theo chủ trương hoà bình.

David Sedney, một chuyên gia cấp cao về Trung Quốc của Lầu Năm Góc, cho biết, không có báo động nào đối với Mỹ về Trung Quốc, nhưng ông nhắc lại mối lo ngại thường trực của Mỹ rằng Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra lý do cụ thể cho việc hiện đại hoá và tăng chi tiêu cho quốc phòng của mình.

“Tôi cho rằng điều lớn nhất khiến mọi người lo ngại là vì chúng tôi hoàn toàn không hiểu được ý định của Trung Quốc. Điều đó dẫn đến hoài nghi”, ông nói.

Trong một thập kỷ qua, Trung Quốc đã tăng phần trăm cho chi tiêu cho quốc phòng lên hai con số và nhiều nhà phân tích còn cho rằng con số đưa ra đó đã giảm nhiều so với con số thực.

Cũng theo Sedney, các hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực không gian và máy tính đều là hai lĩnh vực đáng lo ngại. “Trung Quốc đang phát triển một chương trình đa chiều để giới hạn hoặc ngăn chặn đối thủ tiềm năng sử dụng công nghệ ngoài không gian”, báo cáo cho biết.

Và báo cáo cũng cho biết Lực lượng giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đã phát triển hàng loạt vũ khí và đài làm nhiễu âm để ngăn kẻ thù sử dụng các hệ thống trong không gian như vệ tinh.

Ngoài ra báo cáo cũng nhắc đến lo ngại xung quanh việc Trung Quốc bắn hạ thử hệ vệ tinh dự báo thời tiết đã hết hạn sử dụng vào tháng 1/2007, mặc dù sự việc này đã được nhắc đến trong báo cáo năm ngoái.

“Chúng tôi vẫn tiếp tục yêu cầu Trung Quốc ngồi xuống và nói chuyện với chúng tôi về vụ thử nhưng họ vẫn từ chối”, Sedney nói.

Tháng ba năm ngoái, Trung Quốc tuyên bố họ tăng chi tiêu cho quốc phòng lên 17,8%, tương đương 350,92 tỷ tệ (khoảng 45 tỷ USD) cho năm 2007. Tuy nhiên, báo cáo của Lầu Năm Góc cho biết con số thực có thể là vào khoảng 97 tỷ đến 193 tỷ USD.

Trong khi đó, tháng trước chính quyền Bush đã yêu cầu chi 515,4 tỷ USD cho Lầu Năm Góc trong năm tài khoá tới. Con số đó còn chưa bao gồm những khoản chi phí thêm cho các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan hay các chương trình vũ khí hạt nhân do Bộ năng lượng quản lý.

Phan Anh

Theo Reuters

Biển Mặn
12-03-2009, 07:55 PM
Sáng đọc được bài báo của Tuổi Trẻ


Sự cố tàu Mỹ và tàu Trung Quốc “vờn nhau” hôm chủ nhật ngoài khơi đảo Hải Nam không phải là sự cố đầu tiên trên vùng biển này và cũng không phải là sự cố cuối cùng. Tám năm trước từng xảy ra một vụ tương tự cũng ngoài khơi đảo Hải Nam, song là trên không.


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=320985

Điểm tàu Mỹ và Trung Quốc “vờn nhau” - Đồ họa: v.cường

Có vi phạm luật không?

Tân Hoa xã ngày 10-3 trích lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc: “Tàu hải dương học USNS Impeccable đã tiến hành hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế ở vùng biển phía nam Trung Quốc mà không có phép của Trung Quốc... Lầu Năm Góc tố cáo các tàu của Trung Quốc, trong đó có một tàu hải quân, đã quấy rối chiếc Impeccable trên vùng biển quốc tế. Các khiếu nại của Hoa Kỳ trái nghịch nghiêm trọng với các sự kiện, gây hỏa mù rối loạn trắng đen, hoàn toàn không chấp nhận được đối với Trung Quốc”.

Người phát ngôn Mã Triều Húc viện dẫn “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của CHND Trung Hoa, cùng các quy định của CHND Trung Hoa về quản lý các hoạt động nghiên cứu trên biển của nước ngoài” để từ đó cáo buộc tàu USNS Impeccable đã “vi phạm luật quốc tế và luật của Trung Quốc”. Lầu Năm Góc cho biết chiếc USNS Impeccable lúc đó cách đảo Hải Nam 70 hải lý về phía nam (tức khoảng nửa đường xuống quần đảo Hoàng Sa của VN).

Mỗi bên đưa ra sự thật về phần mình. Tuy nhiên, có một sự thật mà cả hai phía cùng nêu ra là chiếc Impeccable lúc đó đang ở trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Và vùng đặc quyền kinh tế, theo Bách khoa toàn thư chính thức của VN, là “vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải nhưng tiếp liền với lãnh hải (theo Công ước 1982 về Luật biển)… không được mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”. Đáng lưu ý là chi tiết sau: “Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển… phải tôn trọng tự do hàng hải và hàng không của các nước”.

Phía Mỹ cho rằng tàu Impeccable ở trên vùng biển quốc tế nên tự do lưu thông. Trục trặc ở chỗ chiếc Impeccable, cho dù lúc đó có đang ở tít ngoài khơi, cách đảo Hải Nam những 70 hải lý, cũng chưa phải là đúng… theo luật lệ của Trung Quốc. Bởi thế Tân Hoa xã mới chạy tít: “Trung Quốc tuyên bố tàu hải quân Mỹ vi phạm luật quốc tế và luật của Trung Quốc”.

Ở đó làm gì?

Đảo Hải Nam từ một năm qua đã nổi danh là căn cứ tàu ngầm bí mật của Trung Quốc với khoảng 20 tàu ngầm nguyên tử có trang bị hỏa tiễn đạn đạo JL-2, có tầm bắn có thể cải tiến lên đến 12.800km.

Đó là lý do tại sao hải quân Mỹ đang tập trung đến sáu tàu hải dương học như chiếc Impeccable vào khu vực này. Các tàu này chủ yếu được trang bị sonar (giống như radar, song dùng sóng siêu âm) để dò đáy biển, nên có dò miết… tàu ngầm Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu. Cũng như tàu đánh cá Trung Quốc rượt đuổi các tàu này như hình với bóng. Theo lời người phát ngôn Bryan Whitman, trước vụ “vờn nhau” hôm chủ nhật, từng diễn ra nhiều vụ “vờn nhau” khác.

Có thể nói đã thành thông lệ mỗi khi một tân tổng thống Mỹ nhậm chức thì hai bên lại “vờn nhau” một trận. Cách đây tám năm, hai tháng sau khi tổng thống George W. Bush nhậm chức, vào ngày 1-4-2001, một máy bay không thám bốn chong chóng EP-3E của Mỹ bị hai chiến đấu cơ J-8 của Trung Quốc chặn ở một vị trí cách đảo Hải Nam 70 hải lý - cũng như lần này. Hậu quả là máy bay không thám EP-3E của Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam vì bị hư hỏng khá nặng, trong khi một chiếc J-8 II của Trung Quốc rơi xuống biển, phi công mất tích.

Tiếc là trong thời đại xa lộ thông tin, Tân Hoa xã trích thuật rất vắn tắt cuộc họp báo của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tổng số chữ đếm được là 224 từ, mà nội dung như thông lệ, quá dè sẻn thông tin, nhận định thì nhiều song lại quá ít chi tiết cụ thể, lại không kèm theo hình ảnh, nên những người phát ngôn của Mỹ từ Bộ Quốc phòng đến Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng… có mạnh miệng cũng là dễ hiểu!

Vụ này thật ra cũng chỉ là để “nắn gân” nhau chút chơi, cũng như hai đội bóng thăm dò nhau trên sân cỏ, thấy đối phương yếu ở đâu thì xộc vào đó. Coi giò coi cẳng nhau là để chuẩn bị cho hai lãnh đạo Barack Obama và Hồ Cẩm Đào gặp nhau thôi. Cũng may là lần này quy mô “nắn gân” nhau nhỏ hơn nên không có ai thiệt mạng.

Nguồn: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=305792&ChannelID=2




Va chạm Mỹ - Trung có thể tiếp diễn

Ngày 10-3, các quan chức quốc phòng Mỹ tiết lộ sự cố “gây hấn” xảy ra trong lúc tàu USNS Impeccable của Mỹ đang thăm dò hoạt động của các tàu ngầm dưới lòng biển. Hãng tin AP dẫn lời các quan chức giấu tên cho biết tàu Impeccable được thiết kế và trang bị cho mục đích dò tìm tàu ngầm, và là một phần trong chương trình thăm dò của Mỹ trên biển Đông.
Theo các quan chức này, tàu Impeccable hoàn toàn không phải là tàu do thám. Nó có nhiệm vụ xác định bản đồ đáy biển bằng hệ thống định vị siêu âm, thu thập thông tin cho hải quân Mỹ sử dụng để điều khiển tàu ngầm nước mình hoặc xác định vị trí của các tàu ngầm nước khác, cũng như phát hiện mìn và thủy lôi. Nguồn tin Mỹ khẳng định hải quân Mỹ sẽ tiếp tục tuần tiễu trên biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.

Vụ va chạm vừa qua, theo phía Mỹ, xảy ra trên vùng biển quốc tế cách rất xa bờ biển Trung Quốc (cách đảo Hải Nam 120km), nhưng lại nằm trong khu vực Bắc Kinh coi là đặc khu kinh tế của Trung Quốc. Không khó hiểu đối với phản ứng của Trung Quốc, bởi khu vực đảo Hải Nam là vùng Bắc Kinh đặt căn cứ không quân và hải quân, cũng như căn cứ tàu ngầm mới nhất.

Dự kiến trong những năm tới, một lượng lớn tàu khu trục, tàu ngầm và cả hàng không mẫu hạm sẽ được Bắc Kinh đưa đến đây. Giới quan sát nhận định các cuộc va chạm tương tự sẽ còn xảy ra thường xuyên trong thời gian tới. “Trong tương lai gần, Trung Quốc sẽ tiếp tục “nắn gân” để xác định mức độ họ có thể ngăn cản Mỹ thể hiện sự quan tâm sát sườn như vậy” - AP dẫn lời chuyên gia Ron Huisken thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc phòng Đại học Quốc gia Úc.

Các phần in đậm đã cho thấy phần nào tiếng nói nhỏ nhẹ của chúng ta

Cát vàng 500 năm
13-03-2009, 09:53 AM
Mỹ chậm chân rồi !

bacbaphi
18-05-2009, 11:03 AM
Em lượm trên mạng link nói về TRƯỜNG SA-HOÀNG SA từ Bộ năng lượng Mỹ.
http://www.eia.doe.gov/cabs/schinatab.html
FLASH từ trang của Nhật (em không biết tiếng Nhật nên đành chịu)
http://www2s.biglobe.ne.jp/~k-tani/flash_ex/nansa.swf
Nếu có gì sai xin Mod xóa bài dùm

forum
18-05-2009, 12:52 PM
Trang này đưa tin khá khách quan, có lẽ vì nó là trang của một nước trung lập như Mỹ. Thông tin chủ yếu dựa trên các sự kiện và cơ sở số liệu. Đưa thử 2 đoạn ra đây.

Ứng xử từ phía Trung Quốc


Refers to the Spratly Islands as the Nansha islands, and claims all of the islands and most of the South China Sea for historical reasons. These claims are not marked by coordinates or otherwise clearly defined. China also claims the Paracel Islands (referred to as the Xisha Islands), and includes them as part of its Hainan Island province.

Quy ước tên quần đảo Spratly là Nam Sa, và yêu sách tất cả các đảo và lãnh thổ Biển Đông vì những lý do lịch sử. Những yêu sách này chưa được bên liên đới nào chấp thuân hay được xác minh rõ ràng. Trung Quốc cũng yếu cách quần đảo Hoàng Sa(gọi tên là quần đảo Tây Sa), và biến quần đảo thành một phần của huyện đảo Hải Nam.

Chinese claims are based on a number of historical events, including the naval expeditions to the Spratly Islands by the Han Dynasty in 110 AD and the Ming Dynasty from 1403-1433 AD. Chinese fishermen and merchants have worked the region over time, and China is using archaeological evidence to bolster its claims of sovereignty.

Những yêu sách của Trung Quốc dựa trên một số những sự kiện lịch sử, trong đó có những lần thám hiểm tới quần đảo Trường Sa từ thời Đông Hán 110 Sau Công Nguyên và thời nhà Minh giai đoạn 1403-1433. Các ngư dân và thuyền nhân của Trung Quốc đã hoạt động tại khu vực này từ lâu, và Trung Quốc sử dụng những chứng cứ khảo cổ để củng cố yêu cách chủ quyền của mình.

In the 19th and early 20th century, China asserted claims to the Spratly and Paracel islands. During World War II, the islands were claimed by the Japanese. In 1947, China produced a map with 9 undefined dotted lines, and claimed all of the islands within those lines. A 1992 Chinese law restated its claims in the region.
China has occupied 8 of those islands to enforce its claims. In 1974, China seized the Paracel Islands from Vietnam.

Vào thế kỷ 19 và đầu 20, Trung Quốc khẳng định chủ quyền tại quần đảo Spratly và Paracel. Trong thế chiến thứ 2, các đảo này do Nhật Bản nắm giữ. Năm 1947, Trung Quốc đưa ra một bản đồ với 9 đường chấm đứt quãng, và gộp tất cả những đảo này trong các đường đó. Năm 1992 Trung Quốc ra luật tái khẳng định chủ quyền nơi này.
Trung Quốc nắm giữ 8 đảo nhằm khẳng định chủ quyền. Năm 1974, Trung Quốc chiếm Paracel từ tay Việt Nam.

Từ phía Việt Nam


Vietnamese claims are based on history and the continental shelf principle. Vietnam claims the entire Spratly Islands (Truong Sa in Vietnamese) as an offshore district of the province of Khanh Hoa. Vietnamese claims also cover an extensive area of the South China Sea, although they are not clearly defined. In addition, Vietnam claims the Paracel Islands (the Hoang Sa in Vietnamese), although they were seized by the Chinese in 1974.

Việt Nam yêu sách dựa trên lịch sử và quy tắc về thềm lục địa. Việt Nam khẳng định chủ quyền với toàn bộ đảo Spratly (Trường Sa) và coi là một huyện đảo của tỉnh Khánh Hào. Các yêu sách của Việt Nam cũng bao gồm cả phần mở rộng của Biển Đông, dù chúng chưa được xác minh rõ ràng. Thêm vào đó, Việt Nam yêu sách quần đảo Paracel(Hoàng Sa), mặc dù đã bị Trung Quốc chiếm vào năm 1974.


The Vietnamese have followed the Chinese example of using archaeological evidence to bolster sovereignty claims. In the 1930's, France claimed the Spratly and Paracel Islands on behalf of its then-colony Vietnam. Vietnam has since occupied 20 of the Spratly Islands to enforce its claims.

Việt Nam cũng giống như trường hợp của Trung Quốc sử dụng những chứng cứ khảo cổ để củng cố yêu sách chủ quyền. Vào những năm 30, Pháp chiếm giữ hai quần đảo Spratly và Paracel thay cho nước thuộc địa bấy giờ là Việt Nam. Từ đó Việt Nam đã nắm 20 đảo tại Spratly để khẳng định chủ quyền mình.

Không thấy flash đâu bạn.

bacbaphi
18-05-2009, 01:15 PM
Uả cái flash mình đã up lên rồi mà.cái này minh lấy tại trang web của Nhật.
Link: http://www2s.biglobe.ne.jp/~k-tani/flash_ex/nansa.swf

chithanh7677
18-05-2009, 01:40 PM
Flash đâu rồi bạn?

bacbaphi
18-05-2009, 01:53 PM
Trời,mình đã up cái flash đó lại rồi mà sao lại mất vậy?(hay nó ko cho mÌNH link trực tiếp đến),vậy làm thủ công nhé http://www2s.biglobe.ne.jp/~k-tani/flash_ex/nansa.swf.

Hy vọng mọi người xem được.

hoangsa56
02-06-2009, 06:48 PM
Hiện tại tình hình Biển Đông rất căng thẳng do các hành động leo thang quân sự, ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, liên tục gây hấn của Trung quốc. Họ xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Nguy cơ xung đột rất cao và cận kề, Việt Nam chúng ta cần phải ứng xử, đối phó ra sao? mời các bạn tham khảo bài phỏng vấn dưới đây.

===================

Việt Nam cần làm gì để ứng phó với Trung Quốc?


(Nguồn RFA, bài đã được lược bỏ một một số đoạn không cần thiết)

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Exile-administrative-committee-is-positive-token-part1-TVan-05052009130453.html/HoangSATruongsa-305.jpg RFA PHOTO
Sinh viên Thanh niên Việt Nam biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.


Chủ quyền tại vùng tranh chấp ở Biển Đông là điều gây tranh cãi giữa một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Tuy vấn đề chưa được chính thức giải quyết, nhưng Bắc Kinh đã ngang nhiên tuyên bố chủ quyền, đồng thời có những hành động bạo lực, đe dọa đối với Việt Nam cũng như đối với các nước trong khu vực.

Nhã Trân hỏi chuyện Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư môn bang giao quốc tế tại Đại Học George Mason ở Virginia (Hoa Kỳ).
Tham vọng bá quyền

Nhã Trân: Xin chào GS Nguyễn Mạnh Hùng. Thưa Giáo Sư, chủ quyền đối với một số khu vực ở Biển Đông trong đó có phần lãnh hải thuộc Việt Nam như quần đảo Hòang Sa và Trường Sa đến nay vẫn chưa được giải quyết ngã ngũ. Thế nhưng thời gian gần đây Trung Quốc đã ngang nhiên công bố bản đồ lãnh hải với ranh giới lấn sang những vùng của Việt Nam, đồng thời mạnh mẽ phản bác khi Việt Nam trình Liên Hiệp Quốc hồ sơ công bố chủ quyền về thềm lục địa mở rộng. Là một chuyên gia trong lãnh vực bang giao quốc tế, Giáo Sư có suy nghĩ gì về thái độ của Bắc Kinh?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Tôi thấy thứ nhất là vấn đề lý thuyết. Về chủ quyền lý thuyết cô nói là Trung Quốc đã tái xác nhận rằng chủ quyền Biển Đông của họ là vấn đề bất khả tranh chấp, nghĩa là họ đòi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tất cả là của họ, thì có một quốc gia khác cũng đòi như vậy, tức là nước Việt Nam. Việt Nam cũng đòi như vậy.
Thành ra hai bên có mâu thuẫn rất lớn về vấn đề chủ quyền trên những quần đảo đó và do đó liên hệ đến vùng lãnh hải quanh hai quần đảo đó. Như mình thấy là Trung Quốc khi họ vạch vùng lưỡi bò thì lấn sang lãnh hải của nhiều quốc gia khác, thì cái đòi hỏi này là đòi hỏi rất là vô lý, không những không phù hợp với quốc tế lại còn không phù hợp với chứng tích lịch sử nữa.
Về phương diện thực tế thì chúng ta thấy thứ nhất là Trung Quốc sách nhiễu những tàu Mỹ trong khu vực. Những tàu này là những tàu quan sát và người Mỹ cho họ được quyền đi lại trong vùng biển quốc tế, tức là vùng người ta gọi là tự do đi lại, tàu bè được tự do đi lại, mà Trung Quốc đòi cấm cản, thành ra Mỹ chắc chắn là không chịu rồi.
Khi Trung Quốc vạch vùng lưỡi bò lấn sang lãnh hải của nhiều quốc gia khác, thì cái đòi hỏi này là đòi hỏi rất là vô lý, không những không phù hợp với quốc tế lại còn không phù hợp với chứng tích lịch sử nữa.

GS Nguyễn Mạnh Hùng

Mục đích của Trung Quốc lần này không phải là ngăn cản Mỹ nhưng mà làm phiền Mỹ. Đây là chính sách sách nhiễu. Dần dần càng ngày trung Quốc càng có nhiều tàu ra sẽ làm kẹt đường đi chuyển trên đường biển, thì Trung Quốc hy vọng rằng Mỹ sẽ chán và chán thì không đến nữa, sẽ nhường lại vùng này cho Trung Quốc kiểm soát trên thực tế.

Nhã Trân : Và đáng nói hơn, không những chỉ khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp là bất khả tranh luận, Bắc Kinh còn ngang nhiên cấm ngư dân các nước đánh bắt cá ở Vịnh Bắc Bộ, kể cảở các vùng lãnh hải của Việt Nam chiếu theo Hiệp Định Phân Ranh Giới Vịnh Bắc Bộ ký kết với Việt Nam hồi năm 2000. Xét theo quan hệ quốc tế, hành động của Bắc Kinh có thể đánh giá ra sao?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trong vùng biển đó lấy cớ là bảo vệ môi trường và chỉ nói có một tháng thôi, điều này có nghĩa là Trung Quốc muốn từ từ tạo nên một tiền lệ. Năm nào cũng nhắc như vậy để rồi không ai dám đến cả; nếu không ai dám đến thì nó sẽ trở thành một tập tục quốc tế và trên thực tế nó sẽ biến Biển Đông hay là vùng mà Trung Quốc gọi là biển Nam Hải trở thành một cái hồ Trung Quốc. Trung Quốc tự đòi hỏi cái chuyện đó và tự làm cái việc đó để xem thái độ các quốc gia như thế nào.
Nếu các quốc gia không chống đối thì nó trở thành một tiền lệ. Tiền lệ hai ba năm nhắc đi nhắc lại sẽ trở thành một tập tục quốc tế, và khi mà trở thành một tập tục quốc tế thì Trung Quốc sẽ biến biển đó thành vùng biển của họ. Lúc ấy luật của họ được thi hành trong vùng đó.

Quan điểm của Hoa Kỳ

Nhã Trân : Trước thái độ của Bắc Kinh về vấn đề chủ quyền ở Biển Đông, Washington hồi hạ tuần Tháng Năm có khẳng định là Mỹ sẽ không nhượng vùng Thái Bình Dương cho bất cứ quốc gia nào. Giáo Sư có nghĩ rằng Mỹ sẽ không khoanh tay nhìn Trung Quốc thực hiện tham vọng bá quyền ở Biển Đông, lấn áp Việt Nam cũng như các nước khác ở vùng Đông Nam Á?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Tuyên bố đó tôi nghĩ là tự nhiên thôi bởi vì Mỹ là quốc gia hải quân lớn và những nước có hải quân thì thường thường muốn tự do lưu thông trên đường biển. Tự do lưu thông trên đường biển thì những vùng lãnh hải càng hẹp lại bao nhiêu thì càng tốt. Ngày xưa vũng lãnh hải đó chỉ có 3 hải lý thôi, bây giờ nó đã tăng lên 12 hải lý rồi.
Thành ra bất cứ người nào mà đòi ra ngoài cái đó nữa, dĩ nhiên là luật pháp quốc tế cho phép một số khác chẳng hạn như vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý với lại vùng được quyền khai thác mà họ gọi là vùng thềm lục địa thì Mỹ không chống.
Thế nhưng có vấn đề tự do lưu thông bên ngoài cái 12 hải lý đó là nguyên tắc mà Mỹ nhất định phải giữ, bởi vì Mỹ là quốc gia hải quân thì không thể chấp nhận cho nước nào đi ra ngoài giới hạn 12 hải lý đó được. Thành ra xưa nay đó là nguyên tắc đầu tiên.
Mỹ sẽ can thiệp đến mức độ nào? Vấn đề là quyền lợi Mỹ bị xâm phạm đến mức độ nào? Nếu Mỹ bị thách thức thì họ sẽ làm.

GS Nguyễn Mạnh Hùng

Nhưng mà từ trước tới nay rất nhiều lần Mỹ đã nói là những tranh chấp ở vùng đó dĩ nhiên là ảnh hưởng đến quyền tự do lưu thông trên mặt biển của nước Mỹ và của các quốc gia khác. Và Mỹ nói rằng không muốn can dự vào việc tranh cãi đó. Họ muốn tất cả phải giải quyết trong hoà bình. Nhưng mà họ cũng nói rõ là:
- Thứ nhất là không chấp nhận quyền tự do lưu thông trên đường biển bị vi phạm.
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/a-new-book-form-of-anti-China-MLam-07272008212117.html/VN-students-protest-china-305.jpg
Thanh niên Sinh viên Việt Nam biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội hôm 9-12-2007, phản đối Bắc Kinh xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.


- Điểm thứ hai, họ không muốn một quốc gia nào tìm cách áp đặt đối với những công ty Mỹ (những công ty dầu) hoạt động ở những vùng biển mà những công ty đó cho là họ có quyền pháp lý để thi hành việc đó.

Nhã Trân : Thưa, theo như nhận định của Giáo Sư thì Mỹ sẽ không để yên cho Trung Quốc thực hiện tham vọng bá quyền ở khu vực Biển Đông. Thưa ông, liệu chính phủ Hoa Kỳ sẽ can thiệp đến mức độ nào?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Can thiệp đến mức độ nào? Vấn đề là quyền lợi Mỹ bị xâm phạm đến mức độ nào. Nếu Mỹ bị thách thức thì họ làm. Thí dụ như là sau vụ tàu quan sát Impeccable, Mỹ đã cử những tàu võ trang đi theo những tàu quan sát đó để chứng tỏ là Mỹ có quyền như vậy. Đó là việc của người ta, còn những vấn đề chi tiết , thí dụ như Hoàng Sa - Trường Sa thì đó là chuyện khác.


Việt Nam phải làm gì?

Nhã Trân : Thưa GS Nguyễn Mạnh Hùng, theo ý kiến của ông thì Việt Nam có thể làm gì trước thái độ ngang ngược và hành động bá quyền của Bắc Kinh trong vùng Biển Đông?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Tôi nghĩ rằng chắc là chính quyền Việt Nam và các chiến lược gia của họ cũng đã và cũng đang tìm cách đối phó rồi. Nhưng mà theo ý tôi, ít nhất Việt Nam phải có những hành động sau đây:
Một điều kiện không có không được, là các lãnh đạo Việt Nam cần phải nhất trí với nhau, các lãnh đạo Việt Nam cần coi nguy cơ bá quyền Trung Quốc là nguy cơ lớn nhất, từ đó mới tạo ra những chính sách khác đựơc.

GS Nguyễn Mạnh Hùng

- Thứ nhất, (Việt Nam) phải mở một chiến dịch ngoại giao, tuyên truyền, và nếu cần thì đưa ra một sách trắng để đưa ra cho mọi quốc gia, cho mọi tổ chức quốc tế, nêu rõ lập trường Việt Nam và nêu rõ cái tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Và nếu họ (Hà Nội) có được sự hỗ trợ của đồng bào Việt ở nước ngoài thì càng tốt. Nghĩa là nói tóm lại là phải công khai hoá vấn đề, không để lấp liếm nữa. Cái chuyện này thì Việt Nam cũng đã bắt đầu làm rồi.
- Thứ hai, (Việt Nam) phải siết chặt thêm quan hệ quân sự với các nước lớn ở Á Châu, những quốc gia có hải quân lớn, có quan tâm tới tự do lưu thông trên vùng Biển Đông, nhất là những quốc gia như Úc, Nhật, Ấn Độ. Và qua những quốc gia đó, (Việt Nam) siết chặt thêm quan hệ quan sự với các đồng minh quân sự của họ.
- Thứ ba, đối với các nước trong vùng địa phương đó thì (Việt Nam) cần phải tạo ra một sự cộng tác, một liên mình giữa các nước đó, những quyền lợi mà những nước nhỏ bị lấn ép để làm áp lực chung, đòi hỏi Trung Quốc phải đàm phán đa phương thay vì song phương dễ bị Trung Quốc lấn áp. Điều này dĩ nhiên là Việt Nam cần phải tương nhượng thì Việt Nam phải làm thế nào, cố gắng làm cho tổ chức ASEAN thành một tổ chức có xương sống chứ không phải là một tổ chức yếu nhược như bây giờ.
- Thứ tư, (Việt Nam) phải giữ chặt những gì mình đang có, tránh để cho Trung Quốc tạo ra một sự đã rồi như là họ tấn công vào mấy cái đảo còn lại, nghĩa là Việt Nam phải chuẩn bị quân đội. Nếu cần thì Việt Nam phải tử chiến để tạo ra một biến cố quốc tế. Khả năng quân sự này, nếu có, cộng với các biện pháp trên đây, thì sẽ có tính cách răn đe các hành động táo bạo, liều lĩnh của Trung Quốc.
- Nhưng mà giải pháp lâu dài, cuối cùng vẫn phải tạo đối lực, phải mượn sức lực khác, chứ khối ASEAN còn yếu lắm. Với đối lực này thì Việt Nam sẽ khiến ở bên ngoài ASEAN.

Nhã Trân : Với nhận xét của Giáo Sư thì chính quyền Việt Nam liệu có thể thực hiện được những điều này?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Việt Nam có quyền làm như vậy, nếu Việt nam nói rõ là Việt Nam không chống Trung Quốc, Việt Nam không bao vây Trung Quốc, nhưng quyết liệt không cho Trung Quốc đàn áp.


Nhã Trân : Và ngoài 5 giải pháp này thì Việt Nam có cần làm điều gì khác không, thưa Giáo Sư?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Tất cả 5 giải pháp trên đây lại cần phụ thuộc vào một điều kiện rất là tiên quyết, một điều kiện không có không được, là các lãnh đạo Việt Nam cần phải nhất trí với nhau, các lãnh đạo Việt Nam cần coi nguy cơ bá quyền Trung Quốc là nguy cơ lớn nhất, hơn cả 4 nguy cơ mà Đại Hội Đảng giữa nhiệm kỳ năm 1994 đã nêu ra và cứ nhắc đi nhắc lại mãi là nguy cơ tụt hậu, nguy cơ chệch hướng, nguy cơ tham nhũng, và nguy cơ diễn biến hoà bình. (Việt Nam) phải coi nguy cơ bá quyền Trung Quốc là quan trọng nhất, từ đó mới tạo ra những chính sách khác đựơc.
hành động bạo lực đe doạ đối với Việt Nam cũng như đối với các nước trong khu vực.

I_am_legend
02-06-2009, 07:00 PM
Ngồi yên!!! chờ đợi là thượng sách
ko manh động,dễ hỏng việc lớn

bảo_việt
02-06-2009, 07:13 PM
Ngồi yên!!! chờ đợi là thượng sách
ko manh động,dễ hỏng việc lớn
Không manh động không có nghĩa là ngồi yên khoanh tay chờ thời mà là hành động có chừng mực và suy nghĩ thấu đáo!:heart:

dinhhieu_nghean
02-06-2009, 07:53 PM
Nhã Trân : Và đáng nói hơn, không những chỉ khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp là bất khả tranh luận, Bắc Kinh còn ngang nhiên cấm ngư dân các nước đánh bắt cá ở Vịnh Bắc Bộ, kể cảở các vùng lãnh hải của Việt Nam chiếu theo Hiệp Định Phân Ranh Giới Vịnh Bắc Bộ ký kết với Việt Nam hồi năm 2000. Xét theo quan hệ quốc tế, hành động của Bắc Kinh có thể đánh giá ra sao?

GS Nguyễn Mạnh Hùng : Việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trong vùng biển đó lấy cớ là bảo vệ môi trường và chỉ nói có một tháng thôi, điều này có nghĩa là Trung Quốc muốn từ từ tạo nên một tiền lệ. Năm nào cũng nhắc như vậy để rồi không ai dám đến cả; nếu không ai dám đến thì nó sẽ trở thành một tập tục quốc tế và trên thực tế nó sẽ biến Biển Đông hay là vùng mà Trung Quốc gọi là biển Nam Hải trở thành một cái hồ Trung Quốc. Trung Quốc tự đòi hỏi cái chuyện đó và tự làm cái việc đó để xem thái độ các quốc gia như thế nào.
Nếu các quốc gia không chống đối thì nó trở thành một tiền lệ. Tiền lệ hai ba năm nhắc đi nhắc lại sẽ trở thành một tập tục quốc tế, và khi mà trở thành một tập tục quốc tế thì Trung Quốc sẽ biến biển đó thành vùng biển của họ. Lúc ấy luật của họ được thi hành trong vùng đó.
cái này đúng nè
coi chừng vài năm nữa nó bảo cả vịnh bắc bộ là của nó cấm tiệt ngư dân ra đó đánh bắt trên vùng đặc quyền của nó
khi đó mấy bác cứ ngồi mà uống nước chè rồi nói bình tĩnh nhé

nguoicungkho
02-06-2009, 09:01 PM
Việc cần làm đầu tiên là : phải cho nhân dân VN được quyền lên tiếng phản đối công khai..

thiện nhân
02-06-2009, 09:55 PM
Xài chiêu "để lâu cứt trâu hóa bùn", bưng bít càng nhiều càng tốt, bưng bít riết rồi nhân dân VN sẽ quên mất chủ quyền thôi, khỏe re, không tốn một viên đạn.

khtn2006
02-06-2009, 10:56 PM
Ngồi yên!!! chờ đợi là thượng sách
ko manh động,dễ hỏng việc lớn
ko biết thống soái legend có cao kiến gì ko ạ???xanhmat em thấy legend chơi nghi binh như thế này có vẻ ko ổn lắm :banghead:

lạc đà say rượu
02-06-2009, 11:02 PM
GS Nguyễn Mạnh Hùng : Tất cả 5 giải pháp trên đây lại cần phụ thuộc vào một điều kiện rất là tiên quyết, một điều kiện không có không được, là các lãnh đạo Việt Nam cần phải nhất trí với nhau, các lãnh đạo Việt Nam cần coi nguy cơ bá quyền Trung Quốc là nguy cơ lớn nhất, hơn cả 4 nguy cơ mà Đại Hội Đảng giữa nhiệm kỳ năm 1994 đã nêu ra và cứ nhắc đi nhắc lại mãi là nguy cơ tụt hậu, nguy cơ chệch hướng, nguy cơ tham nhũng, và nguy cơ diễn biến hoà bình. (Việt Nam) phải coi nguy cơ bá quyền Trung Quốc là quan trọng nhất, từ đó mới tạo ra những chính sách khác đựơc.
hành động bạo lực đe doạ đối với Việt Nam cũng như đối với các nước trong khu vực.
Cái chỗ bôi mầu ấy, Tức là người ta nói đến cái gọi là phe thân tầu và phe chống tầu ấy.
Chỉ có người việt ở trong nước mới không biết việc này thôi.
Cái cần làm bây giờ là tạo dư luận xã hội một cách mạnh mẽ để những con người còn tư tưởng sợ sệt (gọi là thân tầu) thay đổi suy nghĩ, để những người chưa quan tâm tới chủ quyền và vận nước cảm thấy đó là việc thiết thực đến ngay bản thân họ và con cháu họ............. để cho những con người trên đất nước Việt Nam đồng lòng tiến bước cùng 1 hướng

AK47
02-06-2009, 11:03 PM
Đường 'Lưỡi Bò' có hợp pháp không ?


Hoàng Việt
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông





http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/05/13/090513085915_south_china-sea_bbc466.gif


Trước ngày 13 tháng 5 là hạn cuối để các nước gửi hồ sơ báo cáo về thềm lục địa mở rộng lên Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã gửi Báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc trước hạn định.
Sau đó 24 giờ, Trung Quốc đã chính thức gửi công hàm phản đối Báo cáo về thềm lục địa của Việt Nam, kèm theo đó Trung Quốc gửi một bản đồ thể hiện "đường lưỡi bò" trên Biển Đông và cho rằng trong báo cáo của mình, VN đã "xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc".
Có lẽ, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đã yêu sách một cách chính thức về chủ quyền của họ trên biển Đông dựa theo bản đồ vẽ "đường lưỡi bò" của họ.
Lịch sử "đường lưỡi bò"
Tháng 12 năm 1947, một viên chức Trung Hoa Dân quốc tên là Bai Meichu (Bạch My Sơ?), có thể do thiếu kiến thức về luật hàng hải quốc tế cộng với nhu cầu thôi thúc chống lại yêu sách của Pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đã trình bày về đường này trong một atlas của riêng mình.
Sau đó, thấy có lợi, nên năm 1948, chính quyền Cộng Hoà Trung Hoa đã cho in bản đồ chính thức lần đầu có "đường lưỡi bò" dựa theo bản đồ của Bai Meichu.
Trong bản đồ này, "đường lưỡi bò" là một đường đứt khúc có 11 đoạn, được thể hiện bao trùm xung quanh các nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), bãi ngầm Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và bãi cạn Scaborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).
Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác.
Năm 1949, nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, chính quyền Bắc Kinh cũng nối tiếp chính quyền trước đó trong việc xuất bản bản đồ có "đường lưỡi bò", nhưng tới năm 1953, bản đồ có "đường lưỡi bò" do Bắc Kinh xuất bản chỉ còn 9 đoạn.
Mặc dù cùng cho xuất bản bản đồ có "đường lưỡi bò" nhưng cả chính quyền Trung Hoa Dân quốc trước đó lẫn Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa sau này đều chưa bao giờ chính thức yêu sách hay giải thích gì về "đường lưỡi bò" này cả.
Tính chất pháp lý
Về mặt pháp lý, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với vùng biển nằm bên trong "đường lưỡi bò" có những điểm bất hợp lý như sau:
1. Một số học giả Trung Quốc cho rằng "đường lưỡi bò" biểu thị "đường biên giới quốc gia"của "vùng nước lịch sử của Trung Quốc tại biển Đông". Vùng biển trong "đường lưỡi bò" mà Trung Quốc yêu sách chiếm gần 80% diện tích biển Đông.
Chưa có một yêu sách nào về một vùng nước lớn như vậy là "vùng nước lịch sử" trong cộng đồng quốc tế. "Đường lưỡi bò" này không thể là "đường biên giới quốc gia" được, vì theo nhiều án lệ quốc tế (cụ thể nhất là vụ phán xử đền Preah Vihear do ICJ năm 1962) cho thấy, đường biên giới phải là "đường ổn định và dứt khoát", trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế, còn "đường lưỡi bò" là những đường đứt khúc được mô tả một cách tuỳ tiện, thiếu ổn định , trước đây có 11 đoạn, sau phải bỏ đi 2 đoạn trong vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý.
Thêm nữa, nó không dứt khoát vì nó chưa bao giờ có toạ độ chính xác để có thể xác định được một cách rõ ràng.
2. Sẽ áp dụng quy chế pháp lý nào cho vùng biển bên trong "đường lưỡi bò"? Trung Quốc vẫn đưa ra yêu sách đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò như là "vùng nước lịch sử" của họ. Theo quy định của luật quốc tế, có thể có các quy chế đối với vùng nước được coi là "vùng nước lịch sử" bao gồm: Nội thuỷ; lãnh hải; vùng nước quần đảo.
Tuy nhiên, áp dụng vào trong trường hợp này, với các hành động đã xảy ra của Trung Quốc trong việc thực thi các yêu sách từ khi xuất hiện bản đồ chính thức lần đầu từ 1948 đến nay, chưa thể đi đến kết luận là vùng nước bên trong "đường lưỡi bò" này có thể áp dụng được quy chế pháp lý nào cho nó.
Hiện nay, các học giả Trung Quốc cũng đang lúng túng và không nhất trí được với nhau về chế độ pháp lý của vùng biển bị bao bọc bởi "đường lưỡi bò" này.
Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:
"Chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả."
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/05/12/090512110309_ma226.jpg Trung Quốc, qua lời phát ngôn viên Mã Triều Húc đã bác bỏ quan điểm của phía Việt Nam về Biển Đông nhân dịp các nước nộp hồ sơ thềm lục địa lên LHQ


Như vậy, Tuyên bố 1958 của Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là "vùng nước lịch sử".
Trong Pháp lệnh về lãnh hải và vùng tiếp giáp của của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định "vùng nước lịch sử".
Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15/5/1996 của Trung Quốc, áp dụng với cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho thấy việc Trung Quốc yêu sách một vùng nội thuỷ nằm trong một vùng nước lịch sử có cùng chế độ nội thuỷ là một mâu thuẫn lớn trong lập trường của họ.
Có thể nói rằng những tuyên bố và các đạo luật của chính quyền Trung Quốc, đặc biệt Tuyên bố năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không phù hợp với yêu sách lịch sử được phân định bởi "đường lưỡi bò" .
3. Từ khi xuất bản bản đồ chính thức vào tháng 2 năm 1948 cho đến trước sự kiện Trung Quốc phản đối báo cáo về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam mới đây, cả chính quyền Trung Hoa Dân quốc cũng như Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ chính thức yêu sách hay giải thích gì về "đường lưỡi bò" cả, cho nên các quốc gia khác trước đây không lên tiếng về vấn đề này là đương nhiên.
Sự im lặng đó không phải là "mặc nhiên thừa nhận".
Hơn nữa, tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là "đường lưỡi bò" được các quốc gia khác công nhận.
Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.
Cuối cùng, qua sự phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng: yêu sách về "đường lưỡi bò" của Trung quốc là "không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó".
Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền đối với hầu hết Biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể coi là một vấn đề pháp luật nghiêm chỉnh.

Ông Hoàng Việt là giảng viên Đại học Luật TP HCM và thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

truongsahoangsathanyeu
02-06-2009, 11:05 PM
Ngồi yên!!! chờ đợi là thượng sách
ko manh động,dễ hỏng việc lớn
ko biết thống soái legend có cao kiến gì ko ạ???xanhmat em thấy legend chơi nghi binh như thế này có vẻ ko ổn lắm :banghead:
Đúng vậy. Tui thấy thống soái này là người có rất nhiều hiểu biết về quân sự và chính trị đấy. Không biết có cao kiến gì thì chia sẻ cho anh em chứ:21:

cindar
02-06-2009, 11:50 PM
Ngồi yên!!! chờ đợi là thượng sách
ko manh động,dễ hỏng việc lớn
ko biết thống soái legend có cao kiến gì ko ạ???xanhmat em thấy legend chơi nghi binh như thế này có vẻ ko ổn lắm :banghead:
Đúng vậy. Tui thấy thống soái này là người có rất nhiều hiểu biết về quân sự và chính trị đấy. Không biết có cao kiến gì thì chia sẻ cho anh em chứ:21:
túc là : Trong tĩnh có động............

meo_beo
02-06-2009, 11:53 PM
Cứ ngồi đợi đi, rồi 20-30 năm nữa sẽ có một ông Lê Dũng con phát lại đoạn băng y hệt bây giờ về chủ quyền VN tại HS-TS. Có một điều khác là HS-TS lúc đó sẽ được thay bằng HN-Hải Phòng, Quảng Ninh,vv...
VN là nước nhỏ, yếu mà lại ko có ai bảo kê cho thì đối đấu với một siêu cường đang lên như TQ sao được? Một mặt phải tìm được những đồng minh có uy thế và đáng tin cậy. Mặt khác, chính quyền phải biết phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, từng bước xây dựng đất nước trở nên giàu mạnh. Tiếc thay, cả 2 mặt đó tôi thấy VN chả làm được mặt nào cả. Hoặc ít nhất cũng ko hề có một dấu hiệu nào trong hoàn cảnh hiện nay cho thấy VN sẽ làm đc .

cindar
03-06-2009, 12:10 AM
vậy theo bạn meo-beo thì bây giờ ai đáng để ta chọn mặt gửi vàng đây.....
vẫn biết là có 1 đồng minh là tốt nhưng việc chọn đồng minh đâu phải dễ,việc theo TQ như Myanma hay pakistan là ko thể rồi vì sao mấy bạn tự hiểu, nhưng việc công khai 1 đồng minh mà nứoc đó có ý chống TQ thì việc này còn nguy hiểm hơn, lúc đó ta càng bị TQ để ý hơn nữa ( như Gruzia bị Nga bao vây ấy ) việc này quả quá tầm với tôi rồi, bác nào có cao kiến cứ nói để a e thảo luận........

hoangsa56
03-06-2009, 12:32 AM
Các đảo bị Trung quốc chiếm đóng, có 8 đảo chính (khoanh vòng tròn), riêng đảo Kennan tôi không thấy (có lẽ không đóng quân được?).

Một số hình ảnh các lô cốt quân sự của chúng, hầu hết được xây cao từ 2-3 tầng, kiến trúc giống nhau, có súng phòng không. Riêng đảo Vành khăn gần Philippine có chỗ đỗ cho trực thăng chiến đấu.

Các bạn có thêm thông tin về các loại vũ khí trên các đảo, cách bố trí, địa hình này xin bổ xung thêm.

http://hoangsa.org/forum/imagehosting/113204a2561c9c1c4f.jpg (http://hoangsa.org/forum/vbimghost.php?do=displayimg&imgid=510)

Sunday
03-06-2009, 12:39 AM
Việc chọn đồng minh, hoặc nương tựa vào cường quốc nhìn bề ngoài có vẻ là giải pháp tình thế hiện nay, trong khi Trung Quốc đang không ngừng cố gắng hợp pháp hóa chủ quyền đảo đã lấy của VN. Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử thì có thể thấy là hành động này giống như đuổi sói cửa trước, giước hùm cửa sau, hậu quả không thể nào lường trước được.
Theo nhận định của tôi thì hiện nay chính phủ Việt Nam hành động rất hợp lý, đó là một mặt phản đối các thông cáo của Trung Quốc, để ngăn cản giới Trung Quốc hợp pháp hóa quyền trên biển. Chiến lược mềm mỏng, vẫn quan hệ thân thiết với Trung Quốc trong nhiều mặt, hợp tác văn hóa....điều này thiết nghĩ chỉ có chính trị gia lão làng mới làm được, bản chất như kẻ thù, mà nhìn ngoài là anh em, đồng chí.
Bên cạnh đó, chúng ta không ngừng phát huy tối đa nội lực, cũng cố quốc phòng, phát triển hải quân, tiềm lực quân sự không ngừng nâng cao, đó sẽ là cơ sở để chúng ta có thể lấy lại các đảo đã mất.

hoangsa56
03-06-2009, 11:43 AM
Theo như vị trí các đảo bị chiếm đóng bởi các quốc gia, thì các đảo TQ nằm khá rải rác (xem hình ảnh tôi post ở trên). Tranh chấp chủ yếu sẽ xảy ra giữa VN-TQ và Phil. Ở đây tôi sẽ bình luận thêm về 5 giải pháp của GS Hùng:

-Thứ nhất, (Việt Nam) phải mở một chiến dịch ngoại giao, tuyên truyền, và nếu cần thì đưa ra một sách trắng để đưa ra cho mọi quốc gia, cho mọi tổ chức quốc tế, nêu rõ lập trường Việt Nam và nêu rõ cái tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Và nếu họ (Hà Nội) có được sự hỗ trợ của đồng bào Việt ở nước ngoài thì càng tốt. Nghĩa là nói tóm lại là phải công khai hoá vấn đề, không để lấp liếm nữa. Cái chuyện này thì Việt Nam cũng đã bắt đầu làm rồi.

Về giải pháp này tôi nhất trí, trước đây chúng ta cho rằng không nên công khai vấn đề Biển Đông, dễ bị các "thế lực thù địch" lợi dụng. Tuy nhiên, tình thế hiện tại bắt buộc chúng ta phải công khai, phải tuyên truyền, phải nói rõ cho dân VN biết. Hiện tại, chúng ta đang bắt đầu làm, và thực sự thì không có ai lợi dụng để chống phá cả. Vụ video clip quay cảnh các chiến sĩ quân đội nhân dân ngã xuống trước làn đạn của kẻ thù cho thấy quân đội ta dù ở chế độ nào vẫn sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. HS-TS sẽ là cơ hội để xóa bỏ mọi hận thù, cùng nhau chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

- Thứ hai, (Việt Nam) phải siết chặt thêm quan hệ quân sự với các nước lớn ở Á Châu, những quốc gia có hải quân lớn, có quan tâm tới tự do lưu thông trên vùng Biển Đông, nhất là những quốc gia như Úc, Nhật, Ấn Độ. Và qua những quốc gia đó, (Việt Nam) siết chặt thêm quan hệ quan sự với các đồng minh quân sự của họ.

Giải pháp này tôi thấy không giải quyết được gì. Việc siết chặt quan hệ quân sự với các nước không đảm bảo an ninh cho Việt nam trong trường hợp xảy ra xung đột. Trong vụ tranh chấp Đảo Vành Khăn giữa Phil va TQ, Trung Quốc đã đưa lời cảnh cáo là tàu bè Phil không được tới gần hơn 5 hải lý và máy bay do thám Phil cũng không được bay thấp hơn 1.5 km. Do có hiệp ước liên minh quân sự với Washington, bộ trưởng quốc phòng Phil Mercado đã kêu gọi Mỹ can thiệp, nhưng chính phủ Clinton lạnh lùng trả lời là hiệp ước không áp dụng cho các vùng lãnh hải đó.
Vì vậy cho dù Việt Nam có nỗ lực cố gắng cải thiện quan hệ với Mỹ bao nhiêu đi nữa thì khả năng Mỹ hay một nước khác can thiệp hầu như không xảy ra.
Chưa kể chính phủ hiện tại do Obama nắm quyền, sẽ thực thi một chính sách ít diều hâu, ít hiếu chiến hơn Bush nhiều.

- Thứ ba, đối với các nước trong vùng địa phương đó thì (Việt Nam) cần phải tạo ra một sự cộng tác, một liên mình giữa các nước đó, những quyền lợi mà những nước nhỏ bị lấn ép để làm áp lực chung, đòi hỏi Trung Quốc phải đàm phán đa phương thay vì song phương dễ bị Trung Quốc lấn áp. Điều này dĩ nhiên là Việt Nam cần phải tương nhượng thì Việt Nam phải làm thế nào, cố gắng làm cho tổ chức ASEAN thành một tổ chức có xương sống chứ không phải là một tổ chức yếu nhược như bây giờ.

Tôi đồng ý với biện pháp này, theo sự phân bố các đảo bị chiếm đóng, Việt Nam nên có thỏa thuận liên minh quân sự với Phil trong khuôn khổ ASEAN. Nếu chiến tranh xảy ra, Phil có thể tham chiến để tấn công Đảo Vành Khăn vì họ đã ấm ức từ lâu, như sự kiện xảy ra năm 1995 (Trong lúc cuộc thương thảo giữa Phil và TQ đang diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng 3 năm 1995, bằng một phản ứng ngoạn mục, không lực Phi đã bất thần oanh tạc phá hủy một loạt các cấu trúc xây trên đá Vành Khăn, trên các bãi đá ngầm Trăng Khuyên (Half Moon), bãi Sa Bin (Sabina Shoal) và đồng thời hải quân Phil cũng bắt giữ 60 ngư phủ Trung Quốc đánh cá bất hợp pháp trong vùng lãnh hải của Phil). Sau khi ta giải quyết xong TQ, sẽ "đàm phán" tiếp với Phil sau.

- Thứ tư, (Việt Nam) phải giữ chặt những gì mình đang có, tránh để cho Trung Quốc tạo ra một sự đã rồi như là họ tấn công vào mấy cái đảo còn lại, nghĩa là Việt Nam phải chuẩn bị quân đội. Nếu cần thì Việt Nam phải tử chiến để tạo ra một biến cố quốc tế. Khả năng quân sự này, nếu có, cộng với các biện pháp trên đây, thì sẽ có tính cách răn đe các hành động táo bạo, liều lĩnh của Trung Quốc.

Đúng. TQ xưa nay mềm nắn, rắn buông, ầm ĩ quá chúng cũng không muốn vì sợ ảnh hưởng hình ảnh quốc tế vốn đã xuống đáy qua các vụ Tây Tạng, các vụ làm hàng giả, cư xử vô trách nhiệm với thế giới,...Ngoài ra nếu bị mất đảo thì sẽ khả năng lấy lại sẽ rất khó, thế giới sẽ ầm ĩ lên một chút rồi sẽ rơi vào quên lãng. Chưa kể TQ sẽ giật dây Bắc Triều Tiên để thu hút sự chú ý của thế giới.
Vì vậy, VN cần đàm phán thúc đẩy nhanh tiến độ giao các loại vũ khí từ Nga.
TQ sau khi tập trận ở Biển Đông và tập trận quy mô lớn cuối năm 2009, rất có thể chúng sẽ ra tay. Vụ năm 1988, trước đó mấy tháng chúng cũng tiến hành tập trận rầm rộ. Bằng mọi giá phải giữ được các đảo đã chiếm giữ.

- Nhưng mà giải pháp lâu dài, cuối cùng vẫn phải tạo đối lực, phải mượn sức lực khác, chứ khối ASEAN còn yếu lắm. Với đối lực này thì Việt Nam sẽ khiến ở bên ngoài ASEAN.

Giải pháp này như tôi đã nói ở trên. Rất khó để "mượn" sức của các nước khác.

Về giải pháp đồng lòng trong lãnh đạo, đây là điều VN cấp thiết phải làm. Lợi ích Tổ quốc phải đặt lên trên. Cá nhân tôi hy vọng phe thân TQ sẽ thất bại, vụ cách chức hàng loạt tướng lĩnh quân khu thủ đô là một tín hiệu tốt.

Bên cạnh loại bỏ các thành phần thân TQ, một mặt cần bề ngoài vẫn thân thiết, hữu hảo với TQ nhưng mặt khác cần gấp rút tiến hành các biện pháp hiện đại hóa quân đội, tuyên truyền về chủ quyền của VN trên HS-TS cho quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ của kiều bào ở nước ngoài, tăng cường hỗ trợ nghiên cứu chủ quyền của VN ở đẳng cấp quốc tế. Cần xây dựng một hình ảnh thân thiện, cởi mở, tiến hành các chương trình nghiên cứu cho phép các tàu nước ngoài vào nghiên cứu Biển Đông với mục đích khoa học, ví dụ như các tàu của Mỹ vào các khu vực Hoàng Sa. Tạo điều kiện thuận lợi cho thông thương quốc tế qua vũng lãnh hải VN quản lý.

Tiến hành các hoạt động gây bất ổn ở TQ, gây xung đột giữa TQ với các nước láng giềng đã có xung đột về biên giới như Nga, Ấn độ, Nhật. Về lâu dài, để có sự yên ổn hòa bình thì TQ phải là một nước dân chủ, văn minh, sống hòa bình và hành xử có trách nhiệm.
Một thế hệ lãnh đạo hiện tại lớn lên trong sự dạy dỗ là VN, Lào, Campuchia, Thailand,.. trước đây đều thuộc TQ (đưa vào chương trình trung học từ những năm 50, xem bản đổ phía dưới) thì sẽ tạo ra những xung đột triền miên với tinh thần "lấy lại các lãnh thổ đã mất" theo kiểu tự sướng Trung hoa thì sẽ vô cùng nguy hiểm cho khu vực và thế giới. Tinh thần này đang bị bơm lên tột độ do một chế độ theo đường lối chủ nghĩa dân tộc nhưng cực kỳ vô trách nhiệm, tự cho mình là trung tâm vũ trụ một cách ngu dốt vì thực tế TQ đi sau rất nhiều nước hàng chục năm trên nhiều lĩnh vực, kể cả không gian và quốc phòng. Về căn bản, tinh thần kiểu này là mầm mống của một Hitle kiểu mới.

Cuối cùng, có lẽ để đời đời con cháu Lạc Hồng sống yên ổn, hòa bình
thì TQ cần bị xóa sổ khỏi bản đồ thế giới bằng cách chia ra nhiều nước nhỏ như Đài loan, Tây Tạng,...

http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/05/tnt15-335x400.jpg
Bản đồ minh họa các vùng đất của TQ đã bị «mất» trước 1840 (do Trung quốc tự sướng đưa ra) nhưng được giảng dạy nhồi nhét cho nhiều thế hệ dân TQ.

I_am_legend
03-06-2009, 11:59 AM
Mỗi đảo mà Trung Quốc chiếm của ta trên quần đảo HS-TS họ đều cho xây dừng pháo đài kiên cố cả:)) Mỗi cái pháo đài Láng ấy nếu Việt Nam có điều kiện mang tặng cho mỗi đảo 1 trái bom cỡ như loại
http://www2.vietbao.vn/images/vivavietnam_vne/the_gioi/2006_08_10971802_Cluster-Bomb.gif
Bom chùm chứ bị ve=))
hay chơi loại này thấy cũng khá ổn=))
http://e.imagehost.org/0791/A_shell_fired_by_the_Isra_001.jpg
Đạn phốt pho trắng
Dám cá là nếu VN cho sài 2 loại này ở TS-HS(nhưng phải kiếm thằng đỡ lưng đã)thì khả năng Khựa nó bỏ chạy hết là 100%=))

mitnick
03-06-2009, 12:12 PM
sao cái vùng lưỡi bò lại có thể như vậy được...Trung Quốc mất day quá đáng

dinhhieu_nghean
03-06-2009, 12:18 PM
http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/05/tnt15-335x400.jpg (http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/05/tnt15-335x400.jpg)
cái hình này hay quá nhỉ,ko biết bọn nó nghĩ gì nữa sao ko nhận luôn cả thế giới là của nó đi,chữ của lào và cam thì như gun bò còn chữ của khựa thì như chổi bị toe ra do quét nhiều,ngày xưa mấy cụ nhà thằng khựa nghĩ ra đc cái chữ đó cũng hay đó nhỉ

tuhaodantoc
03-06-2009, 03:37 PM
người Vn dù trước kia theo VNDCCH hay VNCH nhưng trước nạn xâm lăng bành trướng ngang ngược của TQ thì đều chung 1 quyết tâm đó là bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc.
minh chứng đó là 50 lính VNCH đã hi sinh trong trận hải chiến hoàng Sa năm 1974 và 74 lính QDNDVN đã bị giết hại trong trận Hải chiến trường Sa năm 1988
Dân tộc VN có thể có bất đồng chia rẽ nhưng đứng trước nạn ngoại xâm thì đoàn kết lại để chống kẻ thù.
Việc cần làm nhất lúc này là đoàn kết hòa giải dân tộc tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế ,quốc phòng thì mới có hi vọng lấy lại được biển đảo thiêng liêng

dzienhong
03-06-2009, 09:54 PM
Tôi chịu hết nổi cái cung cách mà các công ty TQ vào VN.
Gần đây nhất là vụTQ "trúng thầu" đường sắt đo thị Hà nội-Hà đông

"Theo hợp đồng ký ngày 22/5 với Cục Đường sắt Việt Nam, Công ty TNHH Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc sẽ khảo sát - thiết kế; cung cấp thiết bị và chế tạo 52 toa tàu"
Vay 85% của TQ? để làm gì , tiền lại về tay Tàu,còn lạ là món nợ cho dân ta.
- Trong lĩnh vực viẽn thông Hwawei thu về năm 2008- 400 triệu USD,ZTE 200 triệu USD,.Năm 2009 thằng Hwawei dự kiến lấy của VN 600 triệu
- Ngoài ra còn các dự án điện,khoáng sản,vv chúng tôi còn thiếu nhiều con số,mong các bạn bổ sung.

Tôi tự hỏi cái gì đang xảy ra vậy trong khi chúng đang là ngư dân ta hết đường làm ăn.
Hãy nói không với "Made in CHina"

kuteoyeunuoc
08-06-2009, 05:41 PM
Chúng ta không thù hằn ai, nhưng chúng ta quyết và biết bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng của chúng ta. - GS Tương Lai.




"Ngăn ngư dân VN đánh bắt trên biển VN là xâm phạm chủ quyền…” (http://vietnamweek.net/tu-lieu-va-suy-ngam/tu-lieu-va-suy-ngam/5919-box-chuan-co-title.html)

“Biển sóng biển sóng đừng trôi xa. Bao năm chờ đợi sóng gần ta… Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu? Sóng bạc đầu và núi chìm sâu. …”*.

Những rung động rất lạ trong cảm thức biển của người nhạc sĩ tài hoa ấy bỗng trở nên giục giã, xao động mỗi tấm lòng yêu nước Việt Nam khi mà vấn đề Biển Đông đang cuộn sóng. Xin mượn hình tượng giàu sức thăng hoa kia để gợi chuyện hôm nay, tuy biết rằng những cảm thức kia mang tính riêng tư. Nhưng thông thường, những tác phẩm nghệ thuật lớn luôn mang trong chúng những thông điệp vượt thời gian, không gian và vượt khỏi chủ định của tác giả. “Ngư ông và Biển cả” của Ernest Hemingway là một ví dụ.


http://tuanvietnam.net/images/stories/biendong2.jpg



Vùng biển đảo mà ông cha ta đã từng xác lập chủ quyền là lãnh thổ thiêng liêng mà mỗi người Việt Nam có nghĩa vụ giữ gìn.(Ảnh: Biển đông nhìn từ Hòn Bà - Nha Trang, skydoor.net)
Cảm thức biển của Trịnh Công Sơn cũng có dáng dấp của những thông điệp mang tính thời sự như vậy. “Bao năm chờ đợi sóng gần ta”! Đâu chỉ là chờ đợi. Mọi con tim yêu nước đang đập theo cùng nhịp sóng Biển Đông.
Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ…Ngay cây rừng cũng mọc rậm rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến”**. Biển là một phần máu thịt của Tổ quốc, vùng biển đảo mà ông cha ta đã từng xác lập chủ quyền là lãnh thổ thiêng liêng mà mỗi người Việt Nam có nghĩa vụ giữ gìn như ông cha đã từng làm.

“Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép : năm 1161, “Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa”. Năm 1171, vua “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào”. Năm 1172, “mùa xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về”.
Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước? Có lẽ rõ nhất là tấm bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta, bản đồ Hồng Đức được thực hiện dưới thời vua Lê Thánh Tông và rồi sau đó, Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ được thực hiện dưới thời Nhà Nguyễn năm 1838 đã dựa vào bản đồ Hồng Đức mà thể hiện hình hài đất nước theo phương vị nằm ngang, nhằm nhấn mạnh thế phong thủy “dựa núi, nhìn biển” với những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ rất gần đất liền.
Để rồi, các thế hệ Việt Nam có thể “Đi lên non cao, đi về biển rộng”*. Và cũng từ đấy, hàng năm có lễ “khao lề thế lính Hoàng Sa” diễn ra từ đêm 19 rạng ngày 20 tháng 2 [âm lịch] để cầu chúc cho các đội dân binh được nhà nước cấp cho 6 tháng lương thực để đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa.
Họ mang trong tim truyền thống quật cường của dân tộc. Họ nhớ ông cha mình từng quyết định số phận của đạo quân xâm lược vốn kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải bằng đòn quyết chiến chiến lược trên sóng nước Biển Đông, nơi cửa sông Bạch Đằng. Mà sóng Bạch Đằng đâu chỉ cuộn lên một lần trong lịch sử!
Có chuyện đó vì từ thời kỳ cổ đại, ở khu vực mà ngày nay chúng ta gọi là Đông Nam Á được các nhà hàng hải và các thương nhân mô tả như là một vùng đất cực kỳ giàu có. Nhà văn và nhà khoa học cổ La Mã Plinius (23-79 sau CN) viết rằng “đất ở đấy là đất vàng đất bạc”! Việt Nam là một bộ phận của bán đảo truyền thuyết đó. Di chỉ Óc Eo cho thấy dấu vết của những thương nhân các nước từng đến bán đảo này. Các thuyền buôn Trung Hoa cổ đại, từ Java (Indonesia) và Mã Lai cũng đã đến đây từ Biển Đông.
Vị trí địa-chiến lược của Việt Nam càng nổi trội lên khi mà bờ biển của nước này dài đến thế với những vịnh, những cảng lý tưởng cho tàu buôn neo đậu cũng như các hạm đội trú ẩn. “Phúc trung hữu họa”, cho nên ông cha ta luôn răn dạy con cháu không một phút giây lơi lỏng chuyện bảo vệ chủ quyền đất nước.
Từ thuở ấy cho đến Hiến chương của khối ASEAN công bố cuối tháng 11.2007, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của khối đoàn kết Đông Nam Á như một thực thể với tiếng nói có trọng lượng trong đời sống quốc tế. Khối đoàn kết đó có ý nghĩa lớn trong tình hình tranh chấp trên Biển Đông từng lúc dịu đi, từng lúc nóng lên tùy theo mức độ cuốn hút của tỷ lệ trữ lượng tài nguyên nằm dưới thềm lục địa vừa phát hiện thêm, và tương quan của thế và lực trong bối cảnh quốc tế.

Động thái vừa rồi của Việt Nam và Malaysia cùng đệ trình lên LHQ hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng với liệt kê phần lớn những phần lãnh hải thuộc chủ quyền mỗi nước là sự ghi nhận một cố gắng lớn trong việc giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông một cách hợp lý, hợp tình.
Thế rồi hôm nay, “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi. Con sông là thuyền. Mây xa là buồm. Không hẹn mà đến . Không chờ mà đi”*. Đi về phía biển! Đó là cái thế chiến lược của cả dân tộc trong thời đại của thế kỷ XXI. Nhưng muốn vậy thì phải có bản lĩnh “sóng cả không ngả tay chèo”!

Bản lĩnh ấy được hun đúc nên từ khí phách của Bà Triệu “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông”. Để rồi hôm nay “Nhắc lời thiên thu. Nhớ ngàn năm trôi qua.… Biển sóng, biển sóng đừng âm u, Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”*.
Chúng ta không thù hằn ai, nhưng chúng ta quyết và biết bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng của chúng ta.


GS Tương Lai
Các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển có trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, theo tôi, những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào. Nếu đúng trên vùng biển của Việt Nam thì việc lực lượng nào đó của nước ngoài lại can thiệp, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản thì đó là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. - Ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội.
“Ngăn cản ngư dân Việt Nam đánh bắt trên biển Việt Nam là xâm phạm chủ quyền…” (http://editor.tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5938-ngan-can-ngu-dan-viet-nam-danh-bat-tren-bien-viet-nam-la-xam-pham-chu-quyen.html) (Sài Gòn tiếp thị, 5/6/2009)
Trong khi chờ đợi một giải pháp bảo vệ ngư dân toàn diện từ các cơ quan chức năng, thời gian qua, ngư dân các tỉnh miền Trung đã biết liên kết lại để tự cứu mình.
Phú Yên là tỉnh đầu tiên trong cả nước giúp ngư dân liên kết với nhau thành tổ để hỗ trợ nhau trong đánh bắt và tham gia cứu hộ, cứu nạn trên biển. Kể từ năm 2005, Bộ đội biên phòng Phú Yên thí điểm mô hình "Tổ tàu thuyền an toàn" (TTAT) ở thôn Phú Thọ 3 (xã Hòa Hiệp Trung, H.Đông Hòa). Mô hình này đang mang lại hiệu quả thiết thực.
Hiện nay, Phú Yên đã thành lập được 99 "Tổ tàu thuyền an toàn" với 900 phương tiện, hơn 10.000 thuyền viên tham gia.
Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Liên kết để tự cứu mình (Thanh niên, (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5934-box-chuan-co-title.html) 7/6/2009)

Ông Nguyễn Sự, Anh hùng lao động, Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam) nói với chúng tôi. Và ông tiết lộ: “Cách nay khoảng 7 năm, và thỉnh thoảng sau này, tàu cá Trung Quốc xâm nhập vùng biển Việt Nam, trong đó có vùng biển Cù Lao Chàm đánh bắt cá cam. Lực lượng biên phòng đã xua đuổi, tịch thu một số ca nô tang vật. Chúng tôi ý thức rằng bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng nghĩa bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chúng ta không xâm phạm chủ quyền ai cả nên cương quyết không để ai xâm phạm chủ quyền của chúng ta”.
Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Mỗi tấc đất, mỗi mét nước là máu xương dân tộc! (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5935-moi-tac-dat-moi-met-nuoc-la-mau-xuong-dan-toc.html) (Thanh niên, 7/6/2009)

Chúng tôi đề nghị là nếu có chuyện ngư dân đánh bắt trên vùng biển thuộc chủ quyền VN mà phía họ gây ra chuyện gì đó thì sẽ phải yêu cầu họ bồi thường vì họ đã xâm phạm vào vùng biển của chúng ta, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngư dân chúng ta.
Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá VN, trả lời phỏng vấn của Báo Thanh Niên xung quanh việc Trung Quốc có lệnh tạm cấm ngư trường khiến một bộ phận ngư dân miền Trung phải nằm bờ giữa mùa đánh bắt cá.
Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Đói trong mùa cá (http://www.tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5936-ngu-dan-bi-chan-duong-ra-khoi.html)(Thanh niên, 6/6/2009)



Theo Tuanvietnam.net

datnuoc456
08-06-2009, 06:32 PM
Link: http://tuanvietnam.net/thongtindachieu/thongtindachieu/5929-bien-song-bien-song.htm

Ngư dân bị chặn đường ra khơi

Liên kết để tự cứu mình (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5934-box-chuan-co-title.html)

Chủ nhật, 07 Tháng 6 2009 07:00
http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/emailButton.png (http://tuanvietnam.net/component/mailto/?tmpl=component&link=aHR0cDovL3R1YW52aWV0bmFtLm5ldC90aG9uZy10aW4tZ GEtY2hpZXUvdGhvbmctdGluLWRhLWNoaWV1LzU5MzQtYm94LWN odWFuLWNvLXRpdGxlLmh0bWw%3D) http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/printButton.png (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5934-box-chuan-co-title.html?tmpl=component&print=1&layout=default&page=)

Trong khi chờ đợi một giải pháp bảo vệ ngư dân toàn diện từ các cơ quan chức năng, thời gian qua, ngư dân các tỉnh miền Trung đã biết liên kết lại để tự cứu mình.
http://tuanvietnam.net/images/stories/LanAnh/Duc_Huy.jpg Tổ tàu thuyền an toàn của ngư dân Hòa Hiệp Trung (Phú Yên) vừa trở về đất liền - Ảnh: Đức Huy Ý tưởng đó đã được triển khai ở một số tỉnh miền Trung, trong đó Phú Yên là tỉnh đầu tiên trong cả nước giúp ngư dân liên kết với nhau thành tổ để hỗ trợ nhau trong đánh bắt và tham gia cứu hộ, cứu nạn trên biển. Kể từ năm 2005, Bộ đội biên phòng Phú Yên thí điểm mô hình "Tổ tàu thuyền an toàn" (TTAT) ở thôn Phú Thọ 3 (xã Hòa Hiệp Trung, H.Đông Hòa). Mô hình này đang mang lại hiệu quả thiết thực.
Hiện nay, Phú Yên đã thành lập được 99 "Tổ tàu thuyền an toàn" với 900 phương tiện, hơn 10.000 thuyền viên tham gia. Tùy theo từng vùng, từng thôn mà mỗi tổ có từ 10-12 phương tiện, khoảng 55 thuyền viên tham gia. Trung tá Phan Thanh Thuật - Chính ủy Đồn biên phòng 356 ( Phú Yên) cho biết: "Các tổ TTAT này vừa làm nhiệm vụ khai thác đánh bắt hải sản, vừa tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển, đồng thời thông tin, hỗ trợ, góp phần tích cực thực hiện tốt công tác phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển". Trung tá Thuật cho biết thêm, các tổ TTAT là "tai mắt" của lực lượng biên phòng trên biển. Hầu hết ngư dân chỉ hoạt động trong ngư trường Phú Yên từ tọa độ 130-140 vĩ bắc, 1090-1100 kinh đông.
Ông Nguyễn Kỳ, Chủ tịch UBND xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) cho biết, xã cũng có 12 tổ hỗ trợ đánh bắt cá được thành lập hơn 1 năm qua; nhờ vậy hiệu quả và sản lượng khai thác của ngư dân Phổ Thạnh tăng lên, giảm được chi phí nhiên liệu, ngư dân gắn bó với nhau hơn. Ông Võ Thu ở thôn Thạnh Đức cho rằng, đánh bắt theo kiểu liên kết từng tổ giúp ngư dân yên tâm mỗi khi ra khơi, tàu nào rủi ro gặp nạn được các tàu gần đó nhanh chóng ứng cứu, hạn chế thiệt hại tính mạng và tài sản.
Thấy hiệu quả từ mô hình tổ tương hỗ đánh bắt, nhiều ngư dân Phổ Thạnh quyết định đầu tư nâng công suất tàu thuyền, xin gia nhập vào tổ, cùng nhau tiến ra khơi xa, đánh bắt dài ngày trên biển. Do vậy sản lượng khai thác, nhất là sản lượng hải sản có giá trị xuất khẩu tăng cao, chỉ trong gần 6 tháng qua đã đạt 18.000 tấn, tăng hơn 3.000 tấn so với cùng kỳ năm trước, doanh thu hàng trăm tỉ đồng. "Vươn ra khơi xa, đánh bắt xa bờ thì sản lượng khai thác và hiệu quả kinh tế mới đạt cao, đời sống ngư dân mới khá lên được, chứ luẩn quẩn ven bờ, nguồn thủy sản đã dần cạn kiệt, khó lòng làm giàu từ biển", ông Kỳ nhấn mạnh.
Hiển Cừ
Ngư dân Nguyễn Văn Thoại ở thôn Phú Lạc (xã Hòa Hiệp Nam, H.Đông Hòa, Phú Yên), nói: "Trước đây, ngư dân trong thôn ít quan tâm tới nhau, thậm chí còn tranh chấp. Nhưng kể từ khi thành lập tổ TTAT, việc đánh bắt ngoài khơi được các chủ thuyền điện đàm qua lại, trao đổi vị trí cá đi hoặc có sự cố gì thì giúp đỡ qua lại". Ông Thoại cho biết thêm, tổ TTAT của ông có 9 phương tiện, được trang bị bộ đàm nên thường xuyên liên lạc qua lại. Mỗi khi ra biển, tất cả thành viên trong tổ cùng đánh bắt tại một ngư trường. "Một thành viên trong tổ xảy ra bất trắc hay bị các tàu thuyền khác uy hiếp thì tất cả thành viên đều biết, đến hỗ trợ. Trường hợp trong đất liền báo bão, anh em trong tổ thông báo cho nhau, hỗ trợ cho nhau trên đường trú bão. Chính vì thế, việc đánh bắt ở ngư trường ngoài khơi rất thuận lợi" - ông Thoại nói.
Không chỉ hỗ trợ nhau trên biển, TTAT còn giúp nhau làm kinh tế. Anh Nguyễn Văn Thắm, Tổ trưởng TTAT thôn Dân Phú 2 (xã Xuân Phương, H.Sông Cầu), kể: "Từ khi lập tổ đến nay, anh em trong tổ càng gắn bó với nhau, làm ăn bài bản. Khi có hội, có thuyền, có chuyện gì cũng thấy an tâm, vững vàng". Anh Trần Đức Quỳnh - thành viên trong tổ nói: "Từ khi tổ TTAT này ra đời, với vai trò "thủ lĩnh" của anh Năm Thắm, anh em trong tổ lúc nào cũng đoàn kết. Mùa làm ăn, hễ ai ra biển gặp trúng khu vực có nhiều tôm, cá, anh em về thông tin cho các thành viên cùng biết. Nhờ vậy, sau mấy năm nhà nào cũng vững vàng, khấm khá".
Các thành viên trong tổ TTAT vận động tiền để giúp những chủ tàu thuyền gặp nạn. Như trường hợp tàu thu mua cá của ông Bùi Tấn Nhật ở thôn Phú Thọ 1 (xã Hòa Hiệp Trung, H.Đông Hòa) bứt dây lái, bị sóng đánh vỡ, hư hại hoàn toàn. Thấy hoàn cảnh của ông Nhật khó khăn nên anh em trong tổ quyên góp, cộng với số tiền bảo hiểm ông Nhật đã đủ tiền mua tàu mới để tiếp tục hành nghề.
Trung tá Phan Thanh Thuật khẳng định, từ khi các tổ TTAT đi vào hoạt động, tình trạng tranh chấp ngư trường, sử dụng chất nổ khai thác đánh bắt thủy hải sản trái phép... giảm hẳn. Từ năm 2006 đến nay, không có vụ tranh chấp nào phải nhờ đến cơ quan chức năng can thiệp, giải quyết. Các tàu lạ đột nhập khai thác thủy sản trái phép, chở hàng lậu tại ngư trường Phú Yên đều bị các tổ TTAT phát hiện kịp thời, báo bộ đội biên phòng xử lý.

Lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc vi phạm chủ quyền VN trên biển Đông
Ngày 7.6, trả lời báo chí về việc Bộ Ngoại giao VN đã giao thiệp với Đại sứ quán Trung Quốc, đề nghị phía Trung Quốc không có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân VN, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết: Vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, lưu ý việc phía Trung Quốc gần đây thực hiện lệnh cấm đánh cá tại một số vùng biển, trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của VN trên biển Đông, và tăng cường tàu tuần tra, bắt, phạt tàu cá tại những vùng biển này. Thứ trưởng cho rằng điều đó đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của ngư dân VN tại ngư trường truyền thống của VN, gây bức xúc trong dư luận, không có lợi cho quan hệ hai nước, đề nghị phía Trung Quốc không có các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân VN trên vùng biển thuộc chủ quyền VN.
Hương Giang

Ngại khơi xa, ngư dân mưu sinh ven bờ
http://tuanvietnam.net/images/stories/LanAnh/Phu.jpg Hàng chục tiểu thương tranh mua 1 sọt cá nhỏ - Ảnh: Đ.Phú
Những ngày này trên bãi biển Quy Nhơn (Bình Định), nhiều ngư dân cặm cụi ngồi vá lưới lồng. Sợ gặp rủi ro bất trắc khi đánh bắt khơi xa, họ lặng lẽ chuẩn bị những ngư cụ đơn giản hơn để mưu sinh ven bờ. Ông Tuấn, ngư dân phường Trần Phú (TP Quy Nhơn), kể ông từng có tàu công suất lớn, thường xuyên ra khơi xa để đánh bắt hải sản. Mỗi lần mở biển hành nghề lưới rút, phí tổn cả trăm triệu đồng, nhưng hiếm khi lỗ vốn, vì ngư trường càng xa, sản lượng đánh bắt càng lớn. Không ít trường hợp sau một chuyến lưới rút, ngư dân thu về gần cả tỉ đồng. Nguồn lợi thật sự lớn, nhưng nay ông đã bán tàu bởi "giờ ngại đi xa, nhiều rủi ro hơn trước, ở đây cũng có nhiều trường hợp như tui lắm". Vì cuộc sống cho cả gia đình, ông Tuấn vẫn bám biển, nhưng chỉ thả lưới lồng ven bờ, ngày trúng kiếm được trăm ngàn, lắm lúc thả suốt cả buổi chỉ kiếm chừng dăm ba chục ngàn đong gạo.
Men theo bờ biển đến khu vực gần Cảng Quy Nhơn, chúng tôi gặp chị Loan đang phết dầu chống thấm lên chiếc thúng chai. Chị bảo, chồng chị nay không còn "đi bạn" (đi tàu công suất lớn ra khơi xa) nữa; chị tranh thủ "gia cố" chiếc thúng cho chồng sử dụng ra biển thả lưới. "Biết là gần bờ nay rất ít cá, nhưng không còn cách nào khác, phải cố giăng lưới, lúc nào cạn kiệt hẵng hay", chị Loan nói.
Nhìn cảnh mua bán hiện tại ở cảng cá Hàm Tử, phường Hải Cảng (TP Quy Nhơn) có thể nhận thấy nguồn hải sản không còn dồi dào như trước. Suốt trưa 7.6, theo quan sát của PV Thanh Niên, chỉ có chừng chưa tới 50 tàu cập cảng, chuyển lên bờ toàn là những sọt cá nhỏ. Cá ít, tiểu thương đông, nên có lúc, hàng chục người vây kín quanh một sọt cá tranh nhau mua. Một tiểu thương chuyên thu mua cá ở cảng này, cho biết: "Trước đây rất nhiều tàu đi đánh khơi xa cập cảng, mỗi chiếc chở hàng tấn cá, mực. Nay chỉ toàn những tàu đánh bắt gần bờ, sáng sớm đi, trưa về cảng với sản lượng chừng vài sọt/tàu. Giờ muốn thu mua cá ngừ, cá thu, mực loại lớn rất là hiếm. Có những mối ở phố đặt hàng, nhưng thường tiểu thương tụi tui phải lỡ hẹn".
Đình Phú


Theo Đức Huy (Thanh Niên, 7/6/2009)

Link: http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5934-box-chuan-co-title.html

datnuoc456
08-06-2009, 06:35 PM
Ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm UB Quốc phòng an ninh của QH:

"Ngăn ngư dân VN đánh bắt trên biển VN là xâm phạm chủ quyền…” (http://tuanvietnam.net/tu-lieu-va-suy-ngam/tu-lieu-va-suy-ngam/5919-box-chuan-co-title.html)

Thứ bảy, 06 Tháng 6 2009 00:00
http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/emailButton.png (http://tuanvietnam.net/component/mailto/?tmpl=component&link=aHR0cDovL3ZpZXRuYW13ZWVrLm5ldC90dS1saWV1LXZhL XN1eS1uZ2FtL3R1LWxpZXUtdmEtc3V5LW5nYW0vNTkxOS1ib3g tY2h1YW4tY28tdGl0bGUuaHRtbA%3D%3D) http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/printButton.png (http://tuanvietnam.net/tu-lieu-va-suy-ngam/tu-lieu-va-suy-ngam/5919-box-chuan-co-title.html?tmpl=component&print=1&layout=default&page=)

http://tuanvietnam.net/images/stories/logotuan/tuanvietnam.gifViệc Trung Quốc tuyên bố phong toả ngư trường, thậm chí có hành động ngăn chặn tàu thuyền Việt Nam đánh bắt trên biển Đông, trong đó có những vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam đang gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho không ít ngư dân miền Trung. Ông Lê Quang Bình, Chủ nhiệm uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội trả lời về vấn đề này.


http://tuanvietnam.net/images/stories/HuongLan/7_tauca.jpg Hàng loạt tàu đánh bắt xa bờ vẫn cắm neo trên sông Hà


Thưa ông, hiện nay đã có cơ quan nào của Chính phủ báo cáo với uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội về việc Trung Quốc phong toả ngư trường, trong đó có lãnh hải của Việt Nam?
Hiện nay, theo cơ chế, hàng ngày bộ Quốc phòng, lực lượng biên phòng đều có báo cáo với các cơ quan hữu quan trong đó có uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội. Tôi được biết hiện nay các cơ quan nhất là bộ Ngoại giao cũng đã có kế hoạch xử lý vấn đề này, bàn bạc để đảm bảo trật tự trên biển trong đó có vấn đề bảo vệ ngư trường của Việt Nam và việc nước ngoài có hành động ngăn cản người dân Việt Nam ra đánh bắt cá trên biển.
Bây giờ đang là vụ cá, nhưng ngư dân lại ngại ra khơi, theo ông các cơ quan chức năng của chúng ta phải làm gì để bảo vệ ngư dân Việt Nam khi đánh cá trên vùng biển của mình?
Sau Công ước của Liên hiệp quốc về luật Biển năm 1982 được công bố, Việt Nam đã tuyên bố đường cơ sở, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế cũng như vùng thềm lục địa. Trên cơ sở đó, toàn bộ vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì mọi công dân Việt Nam đều có quyền ra biển để khai thác tài nguyên, đánh bắt hải sản…
Trước hết, các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển có trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, theo tôi, những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào. Nếu đúng trên vùng biển của Việt Nam thì việc lực lượng nào đó của nước ngoài lại can thiệp, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản thì đó là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.
Trách nhiệm bảo vệ chủ quyền trên biển Việt Nam hiện nay chủ yếu đang giao cho cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, nên theo tôi, các lực lượng này phải có giải pháp bảo vệ người dân đánh bắt cá trên vùng biển của mình. Trong trường hợp cần thiết, bộ Ngoại giao Việt Nam cần có sự trao đổi với phía bạn trên tinh thần thẳng thắn, hữu nghị, theo tinh thần thoả thuận giữa hai nước. Làm thế nào để người dân đảm bảo quyền đánh bắt cá trên lãnh hải của mình.
Nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp tục, ngư dân lo ngại không dám ra khai thác ở vùng lãnh hải của Việt Nam, thì về lâu dài nó cũng ảnh hưởng đến chủ quyền của ta?
Đây thực sự là vấn đề phải xử lý rất lâu dài. Cơ sở pháp lý hiện nay vẫn chủ yếu phải dựa vào Công ước về luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc và trên cơ sở Việt Nam đã tuyên bố phạm vi chủ quyền lãnh hải.
Hiện nay, trong tuyên bố về chủ quyền trên biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong đó có Trung Quốc thì chưa thống nhất, nhất là quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa. Tôi nghĩ là các nước có liên quan đến biển Đông lúc này cần phải thực hiện tốt quy tắc chung về ứng xử trên biển Đông mà các bên đã có cam kết. Tinh thần là gác lại một bên các tranh chấp và cùng nhau khai thác. Nếu có việc gì đó xảy ra thì cùng nhau ngồi lại đàm phán, đảm bảo hoà bình và trật tự, chia sẻ lợi ích với nhau trên biển. Chấp nhận những cái hiện có hiện nay, tức là giữ nguyên hiện trạng, không làm tình hình biển Đông phức tạp thêm.
Nếu ta đã có những giải pháp ngoại giao tích cực mà phía nước ngoài tiếp tục có những hành động ngăn chặn tàu thuyền của ngư dân Việt nam, vi phạm quá đáng hơn nữa về chủ quyền lãnh hải của ta thì trong trường hợp nào, theo ông, ta cần có thái độ kiên quyết hơn để bảo vệ ngư dân?
Hiện nay, trách nhiệm chủ yếu giao cho cảnh sát biển và bộ đội biên phòng. Hải quân cũng có trách nhiệm phối hợp nhưng chủ yếu bảo vệ ở vùng biển xa. Nhưng trong những trường hợp cụ thể là phải hết sức cố gắng để tránh các đụng độ để đảm bảo an toàn, trật tự chung trên biển.
Các lực lượng trên tốt nhất là khi có vấn đề gì thì chủ yếu dùng biện pháp cảnh báo cho đối phương đó là vùng biển của Việt Nam, yêu cầu không đi vào vùng biển Việt Nam hoặc dùng biện pháp xua đuổi. Còn biện pháp nào có thể làm căng thẳng hơn thì hết sức nên tránh. Còn những trường hợp xâm phạm quá trắng trợn, thậm chí là họ dùng vũ lực trong vùng biển đặc quyền, vùng nội thuỷ của mình tôi nghĩ cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ người dân của chúng ta đánh bắt trên biển.


Theo Mạnh Quân (Báo Sài Gòn Tiếp Thị)

Mời đọc thêm:
Thực hiện nghiêm lệnh cấm biển của Trung Quốc
Sau khi báo chí lên tiếng về việc tàu cá nằm bờ có những khó khăn mới phát sinh do bị hạn chế ngư trường vùng biển Đông, khiến nhiều ngư dân không ra khơi... Thứ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNN) Vũ Văn Tám đã vào miền Trung để thị sát, kiểm tra tình hình... Ngày 3.6, sở NN&PTNN thành phố Đà Nẵng tổ chức họp báo, thông báo lại kết quả kiểm tra thực tế của bộ này.
Tại cuộc họp báo, ông Trần Văn Hào, giám đốc Sở NN&PTNN TP Đà Nẵng nói: “Việc va chạm giữa tàu cá Trung Quốc và Việt Nam trên biển là có thật. Vì vậy, cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, bộ NN&PTNN, Bộ đội biên phòng đã có công văn hướng dẫn các địa phương thông báo lệnh cấm đánh cá có thời hạn của Trung Quốc, vị trí, vùng biển bị cấm, khuyến cáo ngư dân nên tránh xung đột, dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc”.
Ông Hào cho biết, hiện chỉ có 247 tàu cá của Đà Nẵng nằm bờ. Có nhiều lý do để tàu cá không ra khơi chứ không chỉ vì lệnh cấm biển của Trung Quốc. Việc nằm bờ của hàng trăm tàu cá như vậy là không có gì bất thường. (Theo Tấn Phong - SGTT)
Công văn thông báo lệnh cấm biển của Trung Quốc
Ông Chu Tiến Vĩnh – cục trưởng cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã có công văn 358 gửi đến sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố ven biển yêu cầu thông báo cho ngư dân biết lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc ở vùng biển Đông. Cụ thể vị trí mà Trung Quốc cấm là “từ 12 độ vĩ bắc đến đường giới hạn vùng biển giao nhau giữa Quảng Đông – Phúc Kiến và vùng biển phía đông đường phân định trong vịnh Bắc bộ”, thời gian cấm “từ 12h ngày 16.5 đến 12h ngày 1.8” (trích công văn).
Theo một số cán bộ quản lý thuỷ sản cấp huyện ở miền Trung, vùng Trung Quốc cấm nói trên là vùng đánh bắt chung hay còn gọi là vùng dàn xếp quá độ. Lâu nay, ngư dân Việt Nam có thể hoạt động nếu xin phép cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam và nộp lệ phí cho phía Trung Quốc. Tuy nhiên với lệnh cấm này, khu vực này thành “vùng trắng”, có phép hay không phép đều bị cấm. (Theo Đoàn Nguyễn - SGTT)


Link: http://tuanvietnam.net/tu-lieu-va-suy-ngam/tu-lieu-va-suy-ngam/5919-box-chuan-co-title.html

datnuoc456
08-06-2009, 06:37 PM
Ngư dân bị chặn đường ra khơi

Mỗi tấc đất, mỗi mét nước là máu xương dân tộc! (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5935-moi-tac-dat-moi-met-nuoc-la-mau-xuong-dan-toc.html)

Chủ nhật, 07 Tháng 6 2009 07:00
http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/emailButton.png (http://tuanvietnam.net/component/mailto/?tmpl=component&link=aHR0cDovL3R1YW52aWV0bmFtLm5ldC90aG9uZy10aW4tZ GEtY2hpZXUvdGhvbmctdGluLWRhLWNoaWV1LzU5MzUtbW9pLXR hYy1kYXQtbW9pLW1ldC1udW9jLWxhLW1hdS14dW9uZy1kYW4td G9jLmh0bWw%3D) http://tuanvietnam.net/templates/ja_teline_ii/images/printButton.png (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5935-moi-tac-dat-moi-met-nuoc-la-mau-xuong-dan-toc.html?tmpl=component&print=1&layout=default&page=)

Quần đảo Cù Lao Chàm vừa được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây là thành quả của nhiều thế hệ người Việt sinh sống nơi đây. Họ không chỉ giữ gìn biển đảo tốt tươi cho riêng bản thân họ mà còn giữ gìn nguồn sống cho nhiều đời con cháu, cho sự phát triển bền vững về sau.




http://tuanvietnam.net/images/stories/ngudan.jpg Một góc Cù Lao Chàm, khu dự trữ sinh quyển thế giới - Ảnh: ĐNK


Ông Nguyễn Sự, Anh hùng lao động, Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam) nói với chúng tôi. Và ông tiết lộ: “Cách nay khoảng 7 năm, và thỉnh thoảng sau này, tàu cá Trung Quốc xâm nhập vùng biển Việt Nam, trong đó có vùng biển Cù Lao Chàm đánh bắt cá cam. Lực lượng biên phòng đã xua đuổi, tịch thu một số ca nô tang vật. Chúng tôi ý thức rằng bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng nghĩa bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chúng ta không xâm phạm chủ quyền ai cả nên cương quyết không để ai xâm phạm chủ quyền của chúng ta”.Sự kiện này còn có ý nghĩa lớn lao, vượt ra ngoài ý nghĩa vật chất như phát triển kinh tế - xã hội. Nó góp phần khẳng định chủ quyền của một quốc gia có hàng ngàn vùng biển đảo. Dù diện tích biển đảo do Hội An quản lý không nhiều như ở các nơi khác nhưng tôi xác định mỗi tấc đất, mỗi mét nước là máu xương của dân tộc, thể hiện chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc, không thể một sớm một chiều bị xao nhãng, cắt chia. Những khu dự trữ sinh quyển như Cù Lao Chàm góp phần làm giàu cho đất nước, làm sang trọng hơn lên cho Tổ quốc mình. Chúng tôi xác định trách nhiệm cần phải giữ gìn, phát triển và bảo vệ nó”.



Ông cho biết, ngoài 15 km2 của Cù Lao Chàm, vùng lãnh hải thuộc Hội An được đo bằng thời gian đi biển của tàu công suất lớn: chạy hơn một ngày là tới hải phận quốc tế và ngư dân Hội An ra đánh bắt hải sản tại đó là chuyện bình thường. “Dù xa xôi nhưng đó là Tổ quốc. Bảo vệ nó không chỉ là lực lượng biên phòng, cảnh sát biển nhưng còn là trách nhiệm của mỗi ngư dân. Sự có mặt ở đó của họ thể hiện mạnh mẽ chủ quyền của quốc gia” - ông Sự nhấn mạnh.
Thưa ông, chiến lược biển đảo Việt Nam đã có. Nó đang được cụ thể hóa ở vùng biển đảo Cù Lao Chàm như thế nào? “Theo tôi, dường như việc thực thi chưa theo kịp chiến lược này. Tôi chưa rõ những vùng biển đảo khác được thực thi thế nào, riêng với Cù Lao Chàm, hiện nay vẫn thực hiện cơ chế như đối với vùng sâu vùng xa. Có nghĩa là dùng chính sách xóa đói giảm nghèo, trợ cấp khó khăn là chính. Vậy là không ổn. Vì sao? Biển, đặc biệt là đảo, gắn liền với cư dân đảo. Họ thay mặt đất nước này để làm giàu, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nhưng với cơ chế như hiện nay sẽ dẫn đến, và thực tế đang xảy ra, là người dân đảo dần dần tìm cách chuyển vào đất liền, vì những tiện nghi trong đời sống và vì tương lai con em họ. Không phải họ không yêu biển đảo nhưng nếu cứ tiếp tục bị coi là vùng sâu vùng xa, họ không thể yên tâm mãi được. Tôi nghĩ đã đến lúc cần có chính sách cụ thể làm cho biển cho đảo giàu lên, mạnh lên. Muốn vậy cần có chiến lược đầu tư hẳn hoi, mang tầm quốc gia và lâu dài. Không chỉ đầu tư về kinh tế mà còn về dân sinh, dân trí... để cho cư dân gắn bó đời mình với đảo và ra sức bảo vệ chủ quyền quốc gia. Cứ nói mãi về tiềm năng thì biết đến bao giờ biển đảo giàu lên? Nếu không nuôi dưỡng tài nguyên biển mà chỉ nghĩ đến khai thác cạn kiệt thì tương lai biển đảo sẽ thế nào? Tôi nghĩ, cần xem các vùng biển đảo là mặt tiền tiến ra biển lớn của đất nước mình trong thời kỳ mới”. Nếu những gì ông đề xuất sớm được đáp ứng thì việc cần làm ngay cho Cù Lao Chàm là gì? “Đưa cáp điện quốc gia ra đó. Ngư dân sẽ đổi đời. Các nhà đầu tư sẽ đến. Các xưởng đóng tàu sẽ mọc lên. Các đội tàu công suất lớn sẽ có mặt. Cù Lao Chàm sẽ là cơ sở hậu cần lớn cho nền kinh tế biển, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền Việt Nam trên biển Đông. Nếu được vậy, tôi tin chắc, tất cả sẽ thay đổi”.


Bảo vệ ngư dân là bảo vệ biển đảo
Thiệt thòi đang thuộc về ngư dân của ta!
“Trên biển cả mênh mông, vùng giáp ranh là những vùng kinh tế chồng lấn, khả năng ngư dân rất khó phân biệt ranh giới. Vì vậy cần phải hướng dẫn, thông báo cụ thể vùng biển, tọa độ mà ngư dân của ta được quyền đánh bắt, tạo hành lang an toàn để tàu cá chúng ta đi vào vùng hải phận chung mà không bị tàu nước ngoài ngăn cản, bắt bớ. Khi nhận được thông báo bị tàu nước ngoài tấn công, tịch thu cá ngay trên vùng ngư trường thuộc quyền quản lý của Việt Nam, các cơ quan chức năng cần có sự can thiệp nhanh chóng, kịp thời để bảo vệ tính mạng, tài sản của ngư dân. Đối với những trường hợp bị cướp trên biển, cũng cần có chính sách hỗ trợ thiệt hại cho ngư dân”. (Ngư dân Trần Văn Cúc, thuyền trưởng tàu QNg - 77059 TS)
“Khi hành nghề đánh bắt trên biển, dường như chúng tôi chỉ thấy có tàu lạ của các nước “canh chừng”, chẳng may khi xảy ra sự cố gì đó, cần tàu cứu hộ của ta giúp, thì cũng tốn khá nhiều thời gian. Để cho ngư dân yên tâm khi ra biển, theo tôi, các cơ quan chức năng nên thường xuyên có tàu đi tuần tra, kiểm soát trên vùng lãnh hải của Việt Nam”. (Ngư dân Hồ Một, chủ tàu QNg – 8072 TS ở thôn Bàn An, xã Phổ Quang, H.Đức Phổ, Quảng Ngãi)
“Hiện nay, điều mà ngư dân cần chính là sự hỗ trợ của các lực lượng tuần tra, cứu hộ cứu nạn trên biển mỗi khi gặp sự cố. Nhiều khi vụ việc xảy ra trong lãnh hải của mình nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của bất kỳ lực lượng hỗ trợ nào. Và cũng vì sự hiện diện quá hiếm hoi của lực lượng tuần tra, bảo vệ của Việt Nam nên đôi khi tàu nước ngoài có những hành động thái quá như gây sách nhiễu khi kiểm tra, đánh đập ngư dân rồi đuổi đi thậm chí còn bắt người, thu giữ sản phẩm, phương tiện một cách trái phép... Thiệt thòi đang thuộc về ngư dân của ta. Mặt khác, một khi bị thu giữ người, phương tiện, người thân ở nhà không biết liên lạc ở đâu để cứu người nên đây cũng là cái khó cần phải có hướng tháo gỡ”. (Ngư dân Trần Anh Dũng - 31 tuổi, phường Phú Đông, TP Tuy Hòa, Phú Yên)

http://tuanvietnam.net/images/stories/ca.jpg

Sản lượng cá rất hạn chế khi ngư dân khai thác gần bờ - Ảnh: Đức Huy
Lo âu, vẫn phải ra biển!
Chuyện một số tàu ngư dân bị họ lấy cá, phá hoại, nhiều người cũng không khỏi lo âu. Năm nào họ cũng có lệnh cấm này, nhưng không biết sao năm nay cấm sớm hơn 15 ngày và gay gắt quá? Nhưng ở nhà thì lấy gì mà trang trải cuộc sống! Chúng tôi vẫn ra biển, cũng phải đánh bắt thôi, tới đâu hay tới đó”. (Chủ tàu ĐNA 90354 - Thanh Khê - Huỳnh Văn Hùng)
“Thông thường, chúng tôi khai thác cá ngừ ở tọa độ 16 độ vĩ Bắc – 116 độ kinh Đông và 7,01 độ vị Bắc – 109 độ kinh Đông là tương đối an toàn. Tuy nhiên, dù được xác định là tọa độ thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng vẫn hay bị tàu Trung Quốc rượt bắt. Chúng tôi mong Nhà nước nên làm việc với nước bạn về tọa độ đánh bắt chung để người dân dễ làm ăn. (Ngư dân Trịnh Văn Nghĩa - 37 tuổi, trú tại 45/29 khu phố Trần Hưng Đạo, phường 6, TP Tuy Hòa)
“Mỗi chuyến ra biển của chúng tôi hiện nay chỉ mong có đủ tiền mua gạo là may rồi. Cách đây 3 năm, ở 2 phường Thanh Khê Đông và Thanh Khê Tây chúng tôi có 100 tàu, nhưng hiện tại, chỉ còn 47 chiếc. Nhiều tàu đang nằm bờ để chờ rao bán. Tình thế đã quá khó khăn như vậy rồi, nay lại có lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc khiến chúng tôi khó khăn thêm. Nhưng dù gì thì cũng phải bám biển, phải ra khơi để cầm cự qua ngày. Điều chúng tôi tha thiết nhất là mong được tạo điều kiện đầu ra của sản phẩm để ngư dân tiếp tục còn đường làm ăn. (Bà Lê Thị Huệ - Thanh Khê Đông, Q.Thanh Khê, Đà Nẵng), chủ tàu ĐNA 90299 và ĐNA 90345)

Vũ Phương Thảo - Hiển Cừ - Xuân Huy (ghi)
Theo Đặng Ngọc Khoa, Thanh Niên, 7/6/2009
Link: http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5935-moi-tac-dat-moi-met-nuoc-la-mau-xuong-dan-toc.html

datnuoc456
08-06-2009, 06:44 PM
Kinh doanh cũng cần lòng yêu nước (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5917-kinh-doanh-cung-can-long-yeu-nuoc.html)

Chủ nhật, 07 Tháng 6 2009 05:08



http://tuanvietnam.net/images/stories/logotuan/tuanvietnam.gifTrong cơn suy thoái kinh tế toàn cầu này, tại sao chúng ta không nghĩ đến tổ quốc ngàn lần đáng yêu chúng ta để có những hành xử đúng đắn.


LTS: Chúng ta đang phải đương đầu với cuộc "tổng tấn công" của hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, nhiều phần trong trong số hàng hóa đó là hàng kém chất lượng. Câu chuyện này không phải bây giờ mới xảy ra, mà chúng ta đều đã thấy từ hàng mấy thập kỷ nay. Nói không ngoa, bấy lâu nay doanh nghiệp ta luôn bị lấn lướt ngay trên sân nhà, và trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì doanh nghiệp ta càng thảm bại. Để đảm bảo tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của ông Dương Danh Dy- nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc).


Mời đọc bài cùng chủ đề: Đương đầu với cuộc "tổng tấn công" của hàng Trung Quốc (http://tuanvietnam.net/su-kien-nong/su-kien-nong/5856-duong-dau-voi-cuoc-tong-tan-congcua-hang-trung-quoc.html)
Tuyên chiến với hàng Trung Quốc kém chất lượng phải gia cường luật pháp (http://tuanvietnam.net/su-kien-nong/su-kien-nong/5908-ngan-hang-kem-chat-luong-nam-lai-quan-ly-nghiem-voi-minh.html)
Đã đến lúc tuyên chiến với hàng nhập lậu từ Trung Quốc (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5858-da-den-luc-tuyen-chien-voi-hang-nhap-lau-tu-trung-quoc.html)
Từ khi nước ta bắt đầu thực hiện cải cách mở cửa, và nhất là từ khi Đảng nói rõ, chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hình như đã có một số bậc tài trí, doanh nhân… cho đến những người dân bình thường, hình như đã quên mất mấy chữ quan trọng phía sau.

http://tuanvietnam.net/images/stories/det_may.jpg
"Ta có thể may một chiếc áo sơ mi với 100% nguyên vật liệu
Việt Nam hay không?” Ảnh: VnEpress.net
Nhiều người chỉ còn thấy: đã là kinh tế thị trường thì chỉ cần lợi nhuận, chỉ cần kiếm được nhiều tiền, là bất cần thủ đoạn, thậm chí có người còn mượn lời cụ Mác: chỉ cần lợi nhuận 300% thì dù biết là bị treo cổ người ta vẫn làm.

Trong không khí "nặng mùi tiền” đó, mỗi người lao vào cuộc kiếm chác một cách khác nhau. Người có chức có quyền thì “bán cái quyền ban - cho đang có, cho những ai mang tiền đến nhờ cậy ta”, bậc tài trí thì “bán cái quyền ban bằng cấp, học vị cho bất cứ kẻ nào ham muốn nhưng phải kèm theo tiền”, nhà kinh doanh thì bằng mọi cách để “mua được cái gì dễ kiếm lời nhất"...
Có ấn tượng, dường như những cái xấu xa, băng hoại về lương tâm đạo đức mà trước đây người ta nói chỉ trong xã hội cũ mới có, lại đang lan tràn, và có phần lấn lướt trong đời sống.
Tất nhiên không phải xã hội Việt Nam đều như thế, nhưng đây đã là một thực tế không thể chối cãi.
Có thể may một chiếc sơ mi với 100% nguyên liệu Việt Nam không?
Trung tuần tháng 5 vừa qua, nhận lời mời của Câu lạc bộ doanh ngiệp hàng đầu (LBC) Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã trình bày với một số doanh nhân trong Câu lạc bộ về những bước đi chiến lược của doanh nghiệp Trung Quốc trong việc đối diện với cơn suy thoái toàn cầu, đặc biệt là tình trạng sụt giảm xuất khẩu. Tôi đã trình bày chính sách hỗ trợ, hoạt động của các hiệp hội ngành nghề và đặc biệt là những phương pháp điều tiết của các ban, ngành chức năng, cũng như sự tự thân vận động của các doanh nhân Trung Quốc.
Trong cuộc nói chuyện đó có một điều tuy không muốn. Từ đáy lòng tôi không bao giờ quên được những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em đối với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta mà tôi được trực tiếp chứng kiến một phần và được thụ hưởng, cũng như tôi không bao giờ quên những tình cảm tốt đẹp và những giúp đỡ chân thành mà một số bạn Trung Quốc đã dành cho tôi trong những năm tháng tôi công tác tại Trung Quốc. Nhưng tôi vẫn phải nói ra, đó là các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với tình trạng hàng hóa Trung Quốc đang xâm nhập thị trường trong nước ngày một mạnh mẽ hơn bằng đủ mọi hình thức.
Biện pháp chống đỡ, ngăn chặn làn sóng đó có nhiều, tôi chỉ đưa ra một câu hỏi: “Xin hỏi các anh, các chị và các cháu - nói các cháu vì tôi biết trong cuộc họp đó có một số doanh nhân đã thành đạt nhưng còn rất trẻ, mới trên dưới 40 tuổi thôi, ta có thể may một chiếc áo sơ mi với 100% nguyên vật liệu Việt Nam hay không?”.
Sở dĩ dám đặt câu hỏi như vậy vì tôi biết hầu hết các áo sơ mi xuất khẩu của chúng ta chí ít cũng phải mang một nhãn hiệu nổi tiếng của một nước nào đó (và tất nhiên là phải trả tiền). Đó là còn chưa nói tới kiểu dáng, vải may, thậm chí cả chiếc khuy, cuộn chỉ có khi cũng phải ngoại nhập.
Nghĩ đến tổ quốc để hành xử đúng đắn
Trong thời đại toàn cầu hóa, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật ấy để tìm ra nguyên nhân, thì làm sao chúng ta có thể tìm ra lời giải chính xác để thoát ra và vùng lên được.
Tuy vậy, trong không khí cảm thông, tràn đày niềm tin giữa người nói và người nghe của cuộc nói chuyện hôm đó, tôi nói ra điều đã nung nấu trong lòng từ lâu: “Thưa các anh, các chị, các cháu, để khắc phục điểm yếu này, chúng ta cần phải nâng cao lòng yêu nước trong mỗi người, từ người sản xuất, kinh doanh, người quản lý đến đông đảo người tiêu dùng.”
Tôi không phải là người bài ngoại, nhưng trong cơn suy thoái kinh tế toàn cầu này, tại sao chúng ta không nghĩ đến tổ quốc ngàn lần đáng yêu chúng ta để có những hành xử đúng đắn.
Lòng yêu nước chân chính sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi sức cản, là ngọn nguồn của mọi thành công.


Dương Danh Dy

Link: http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5917-kinh-doanh-cung-can-long-yeu-nuoc.html

Chú Ý:
Mời đọc bài cùng chủ đề:
Đương đầu với cuộc "tổng tấn công" của hàng Trung Quốc (http://tuanvietnam.net/su-kien-nong/su-kien-nong/5856-duong-dau-voi-cuoc-tong-tan-congcua-hang-trung-quoc.html)
Tuyên chiến với hàng Trung Quốc kém chất lượng phải gia cường luật pháp (http://tuanvietnam.net/su-kien-nong/su-kien-nong/5908-ngan-hang-kem-chat-luong-nam-lai-quan-ly-nghiem-voi-minh.html)
Đã đến lúc tuyên chiến với hàng nhập lậu từ Trung Quốc (http://tuanvietnam.net/thong-tin-da-chieu/thong-tin-da-chieu/5858-da-den-luc-tuyen-chien-voi-hang-nhap-lau-tu-trung-quoc.html)

Anpimpz
23-06-2009, 10:17 AM
Biển Đông trên bàn nghị sự 23/06/2009 09:48 (GMT + 7) (TuanVietNam) - Không ngẫu nhiên vấn đề biển Đông luôn hun nóng các diễn đàn khu vực và quốc tế suốt thời gian qua. Và cũng không ngẫu nhiên báo chí các nước liên quan tới khu vực biển Đông cũng như báo chí Hoa Kỳ đã dành nhiều trang để viết về vùng biển địa chiến lược này... Rốt ráo
Năm 2009 ghi nhận những động thái liên tiếp, khẩn trương của các nước trong khu vực, nhất là ở những vùng biển có tranh chấp trong khu vực biển Đông.
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/69/2009/06/Biendao/Nhatrang-dongtrieuedu.jpg
Biển Nha Trang. Ảnh: dongtrieu.edu.vn
Chỉ riêng tháng 3/2009, đã có hàng loạt những động thái của các nước liên quan. Mở đầu là tuyên bố về chủ quyền của Malaysia ở khu vực thuộc quần đảo Trường Sa, và được nối tiếp bởi cuộc đụng độ trên biển giữa tàu USNS Impeccable của Mỹ với các tàu của Trung Quốc. Ngay trong tuần đó, Tổng thống Philippine Gloria Macapagal-Arroyo kí thông qua luật mới trong đó tuyên bố một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thuộc nước này.
Bước sang tháng 4, biển Đông vẫn tiếp tục là điểm nóng với màn trình diễn sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển nhân dịp 60 năm ngày Hải quân Trung Quốc, mà lần đầu tiên, nước này đã mời các lãnh đạo hải quân cấp cao của các cường quốc hải quân khác cùng có mặt.
Đến tháng 5, không những không dịu bớt, vấn đề biển Đông lại thu hút sự quan tâm với việc các nước trong khu vực cùng đăng kí ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng tại Liên Hiệp Quốc, cả đơn phương và song phương. Nhất là khi Trung Quốc đưa ra tuyên bố rằng phần đăng ký của Việt Nam cũng như Việt Nam và Malaysia là “bất hợp pháp và không có hiệu lực”, và đính kèm bản đồ hình lưỡi bò đầy tham vọng, bành trướng 80% diện tích biển Đông.
Trước đó, ngày 6/5, Trung Quốc thành lập Cục Chuyên trách Lãnh hải trực thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
Không dừng lại ở đó, Trung Quốc thông báo lệnh cấm đánh bắt cá tại một số vùng biển trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông có hiệu lực từ ngày 16/5 đến ngày 1/8/2009.
Đồng thời, trong những tháng qua, Trung Quốc liên tiếp điều thêm tàu tuần tra trên biển Đông. Trong tháng 3, Trung Quốc đã phái chiếc tàu Ngư Chính 311 - tàu tuần tra ngư trường hiện đại nhất - tới Biển Đông sau vụ đối đầu trên biển với tàu Mỹ và sau khi Philippines ra một tuyên bố mới về khu vực tranh chấp.
Đến tháng 5, ba lần liên tiếp, Trung Quốc điều thêm các tàu tuần tra trên khu vực biển mà cả Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực đều tuyên bố có chủ quyền. (Ngày 16/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư chính 44183. Ngày 19/5/2009, Trung Quốc điều thêm tàu Ngư chính 44061. Cuối tháng 5/2009, Trung Quốc điều thêm 8 tàu nữa).
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/69/2009/06/Biendao/Tau%20311.jpg
Hoạt động của tàu Ngư Chính 311 của Trung Quốc trên biển Đông (Ảnh:THX)
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/69/2009/06/Biendao/tausanbay1.jpg
Đến sự xuất hiện của tàu sân bay Mỹ trên biển Đông, thể hiện sự quan tâm của các nước lớn với khu vực này. Ảnh: Trần Duy.
Lợi ích
Có thể nói, chưa bao giờ các nước lại ứng biến mau lẹ như vậy trên biển Đông, nhất là Trung Quốc.
Trên báo ChinaDaily của Trung Quốc, những câu hỏi về chiến lược hải quân, về sự thay đổi của biển và vai trò hải quân Trung Quốc, về chủ quyền trên biển của nước này xuất hiện dày đặc.
Lí giải cho mối quan tâm này, các chuyên gia về biển của Trung Quốc nhấn mạnh, biển Đông đóng vai trò thiết yếu trong an ninh của nước này, cả trên phương diện kinh tế và chiến lược.
Theo chuyên gia về các vấn đề hàng hải và luật quốc tế của Viện KHXH Trung Quốc, ông Wang Hanling, biển Đông chính là “cửa ngõ phía Nam” của Trung Quốc.
Biển Đông là khu vực có ý nghĩa về mặt tài nguyên, kinh tế, và là khu vực địa chiến lược quan trọng, với đường giao lưu hàng hải quốc tế, nơi 80% dầu thô xuất khẩu từ Trung Đông và châu Phi đi qua. Bản thân vùng biển này cũng giàu trữ lượng dầu khí và quan trọng trong nỗ lực của các quốc gia để đa dạng hóa đường thương mại để thúc đẩy kinh tế xuất khẩu.
Việc tăng cường hoạt động của Trung Quốc trên biển gắn liền với sự lớn mạnh của hải quân nước này và sự trỗi dậy của Trung Quốc về kinh tế cũng như đối ngoại. Việc Trung Quốc còn có những vùng chồng lấn về lãnh thổ với các nước láng giềng là biểu hiện sức mạnh hạn chế của nước này, một học giả Trung Quốc còn viết.
Tuy nhiên, từ lâu biển Đông cũng gắn với lợi ích chiến lược của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ. Sự có mặt của các nước lớn ở khu vực biển này đã từ lâu, cả dân sự và quân sự, nhất là hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Khi thế giới đang đặt dấu hỏi về Trung Hoa thời kì trỗi dậy, thì những động thái trên biển của nước này càng được quan tâm, nhất là với Mỹ.
“Mỹ không thể đứng vị trí trung lập trong một cuộc tranh chấp mà một bên là đồng minh của Mỹ - Philippine và bên kia là đối thủ tranh giành ảnh hưởng khu vực - Trung Quốc”, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á của Quỹ Heritage, ông Walter Lohman nhận định.
Mời đọc thêm:
http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif "Không thể bành trướng 80% diện tích Biển Đông" (http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu//7220/index.aspx) http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif Biển Đông và vấn đề chủ quyền lãnh thổ đất nước (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6591/index.aspx) http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif Ứng xử biển Đông: Nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc lợi ích (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay//6532/index.aspx) http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif Trung - Mỹ đụng độ trên biển Đông: Chỉ là khởi đầu (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//6403/index.aspx) http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif Căng thẳng biển Đông và lựa chọn cho Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay//6386/index.aspx) http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif Đụng độ Mỹ - Trung và ý nghĩa với tranh chấp biển ĐNA (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay//6375/index.aspx)Nói cách khác, biển Đông là nơi tập trung của sự đối chọi và quan tâm lẫn nhau về ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực.
Một khả năng khác, khi Mỹ và phương Tây đang phải bận rộn với Đông Bắc Á, với vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, thì chính là cơ hội để Trung Quốc tranh thủ mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và biển Đông.
Trên bàn hội nghị
Không phải ngẫu nhiên vấn đề biển Đông lại làm nóng các diễn đàn khu vực và quốc tế thời gian qua, mà gần đây nhất là Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng châu Á - TBD tại Shangrila, nơi người ta đã dành trọn 1 ngày để thảo luận vấn đề biển Đông.
Tại cuộc đối thoại Shangrila, 3 đại diện giới nghiên cứu đến từ Philippines, Đài Loan và Singapore đã nêu câu hỏi cho Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh, phản ánh mối quan ngại về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc và ý nghĩa với biển Đông. Điều tất cả các đại biểu quan tâm là duy trì ổn định và an ninh ở khu vực biển nhạy cảm này.

GS Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia nhận định, việc này phản ánh mối quan tâm khu vực đối với xu hướng căng thẳng chính trị tăng lên ở khu vực biển này trước sự đối đầu trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc và sự phản đối của Trung Quốc với tuyên bố về ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/69/2009/06/Biendao/Bien0.jpg
Lính đảo Trường Sa đón thư nhà...
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/69/2009/06/Biendao/DaChim.jpg
Và giữ chặt tay súng. Ảnh: VNN
“Khi an ninh của hoạt động dân sự ở khu vực bị đụng chạm, đó là vấn đề gây quan ngại. Nếu các nước không tìm cách giảm thiểu, hạn chế sự căng thẳng đó, thì sẽ ảnh hưởng đến an ninh khu vực, từ đó ảnh hưởng tới an ninh toàn cầu”, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, ông Trần Công Trục nói.

Việc đặt vấn đề biển Đông lên bàn đàm phán của những lãnh đạo cấp cao về an ninh của các nước trong khu vực là biểu hiện cụ thể của nỗ lực giải quyết xung đột và ngăn chặn các mầm mống xung đột tương lai.
Theo Giáo sư Carl Thayer, "vấn đề tập trung ở con đường giải quyết hòa bình tranh chấp ở biển Đông. Đại diện Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã xử lý vấn đề này một cách khôn khéo và chuyên nghiệp, nhấn mạnh mong muốn hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực... Nhờ đó, Bộ trưởng đã thúc đẩy ngoại giao quốc phòng của Việt Nam".

Hội nghị là cơ hội để các bên liên quan đưa ra quan điểm, cơ sở lập luận để bảo vệ hoạt động của mỗi nước. Diễn đàn cũng là cách để một số nước can dự, tạo ảnh hưởng ở khu vực.

Những kênh đối thoại quốc tế như Hội nghị An ninh Châu Á - TBD không phải là điều mới. Với vấn đề biển Đông, hiện nay, đã tồn tại khá nhiều kênh đối thoại đa phương, cả kênh chính thức và kênh học giả: ASEAN, ASEAN+, ARF, APEC… hay Hội thảo Biển Đông hằng năm do Indonesia và Canada tổ chức, Chương trình về bảo vệ môi trường ở Biển Đông của Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, nhiều kênh không thường xuyên và hiệu quả thực tế chưa cao. Tận dụng những kênh đối thoại này như thế nào một cách hiệu quả và chủ động là vấn đề Việt Nam cần có sự tính toán và chuẩn bị cẩn trọng, cả bên trong và bên ngoài.

Tìm tiếng nói chung trên diễn đàn là cần thiết, nhưng ngăn chặn những lực lượng lời dụng tình hình để thực hiện ý đồ riêng của mình cũng là khả năng Việt Nam cần tính tới. Một mặt, đó có thể là ý đồ quốc tế hóa vấn đề biển Đông, gây phức tạp tình hình, hoặc có thể là vận động, có tiếng nói lớn hơn trong giải quyết vấn đề, và cũng không ít trường hợp các nước lợi dụng hòng đạt được sự công nhận thực tế de factor.


Nỗ lực

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục các nỗ lực ngoại giao đa dạng của mình, cả song phương và đa phương. Ngoại giao song phương hướng tới các quốc gia chia sẻ lợi ích trước mắt ở biển Đông để tìm kiếm đối tác, và ngoại giao đa phương để có được sự ủng hộ quốc tế với Việt Nam trong vấn đề biển đảo.

GS Carl Thayer nêu cụ thể, Việt Nam cần tiếp tục cùng Trung Quốc đảm bảo không có việc phá vỡ thế cân bằng hiện nay. Đặc biệt, Việt Nam cần thuyết phục Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động hợp tác và xây dựng lòng tin ở biển Đông.
Việt Nam cần kết nối với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga và các cường quốc khác như Australia, Hàn Quốc để nhận được sự ủng hộ.

Việt Nam cũng phải đảm bảo một ASEAN thống nhất, và sẵn sàng ủng hộ Việt Nam, trong đàm phán với Trung Quốc và diễn đàn khu vực ASEAN. Đồng thời, Việt Nam cần tận dụng các cơ chế đa phương để nhận được sự ủng hộ tại Diễn đàn Đông Á cũng như các thành viên Đại hội đồng LHQ.
Trong nước, Việt Nam cũng cần đầu tư hiện đại hóa, nâng cấp lực lượng quân sự để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Hơn nữa, cần đảm bảo chính sách an ninh quốc gia được hiểu thống nhất ở tất cả các cấp cũng như trong dân chúng, đảm bảo sự đoàn kết trong cả nước.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng và giữ nước của Việt Nam đã chỉ rõ, khi nào chúng ta biết tập hợp sức dân, dựa vào dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, thì khi ấy, chủ quyền của Việt Nam được giữ vững, thế của Việt Nam đi lên. Bài học xưa cũ ấy vẫn còn nguyên giá trị trong việc giữ gìn và bảo vệ vùng biển đảo của Tổ quốc hôm nay.



Hoàng Phương



Nguồn http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/7284/index.aspx

pepsicola
26-06-2009, 02:29 AM
GS Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia nhận định
cái ông giáo sư ngày có nhiều bài trên bbc.co.uk/vietnamese
Vietnamnet.vn trích dẫn lời bài của ổng thì các bạn không ý kiến.
Thành viên trong diễn đàn trích dẫn bài của ông thì các bạn nói nguồn bbc.co.uk không đáng tin, là phản động.
Nhưng mình cảm nhận được hơi thở của căng thẳng trên biển đông, về nhà nói chỉ có ông già là nghe và quan tâm. chán......

NguyenAnhVu
26-06-2009, 08:29 AM
GS Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia nhận địnhcái ông giáo sư ngày có nhiều bài trên bbc.co.uk/vietnamese
Vietnamnet.vn trích dẫn lời bài của ổng thì các bạn không ý kiến.
Thành viên trong diễn đàn trích dẫn bài của ông thì các bạn nói nguồn bbc.co.uk không đáng tin, là phản động.
Nhưng mình cảm nhận được hơi thở của căng thẳng trên biển đông, về nhà nói chỉ có ông già là nghe và quan tâm. chán......

Tình hình đang căng như dây đàn bác nhỉ. Chỉ cần 1 sai lầm nhỏ nhỏ cũng là quá đủ cho 1 cuộc chiến.

Dù sao cũng còn ông bố chịu nghe và thảo luận với bác, vậy là tốt rồi. Còn ở nhà tớ, toàn là chị em phụ nữ, hahaha, biết nói cho ai nghe:lol-052:

dzienhong
26-06-2009, 08:55 AM
Thằng Tàu khựa nó cố gắng cô lập VN với ASEAN cho những mục đích riêng của mình.
Thằng sẽ ủng hộ TQ nhiều nhất sẽ là thằng Thái lan.Cứ để ý mà xem nó im thin thít .
Đừng hy vọng vào mấy anh chàng ấy.Nói rõ cho họ là món nợ trong chién tranh VN cần phải trả đấy.

Anpimpz
26-06-2009, 09:51 AM
Đẩy mạnh hợp tác với các nước ASIAN nhằm thực hiện mục tiêu "bẻ đũa từng chiếc" và cô lập Việt Nam trong khu vực là âm mưu của Khựa đang thực hiện lúc này. Thủ tướng Mã vừa thăm Trung Quốc và đã thông qua nhiều thỏa thuận quan trọng (Mã hết lời ca ngợi Khựa và tuyên bố sẽ sửa dụng NDT làm đồng tiền dự trữ quốc gia và thanh toán các giao dịch thương mại giữa hai nước, mua khí tài quân sự của Khựa...), bộ trưởng ngoại giao Indonesia sắp sang thăm Trung Quốc, Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác kinh tế với Thái Lan.... đây là những thông tin mà ta dễ gặp trên mặt báo lúc này. Ngoài ra chả biết nó có thỏa thuận gì với Mỹ về vấn đề biển Đông trong mấy cuộc họp gần đây không?!... Nói chung chúng ta cần cực kỳ thận trọng và khôn khéo trong đối sách với Khựa lúc này để tránh bị thụ động nếu nó giở trò...

NguyenAnhVu
26-06-2009, 10:25 AM
Tình hình là giờ VN chỉ còn mỗi 2 em đồng minh là Lào và Cam thôi. Nhưng biết đâu 2 em ấy cũng đã đi đêm với Khựa rồi. Có lẽ là sứt hút từ NDT quá mạnh. Tình hình thật là nguy nan quá. Vậy mới nói, đứng ở cương vị lãnh đaọ, có được cái nhìn toàn cục thì mới thấy được trong chính sách ngoại giao với Khựa là cả 1 vấn đề nan giải. Đâu thể cứ nhìn bề nổi mà nói rằng: sao không đánh, sao không cứng rắn nữa, sao hèn thế, nhu nhược...

haha_thanggiamavien
26-06-2009, 10:48 AM
ha ha hay hay

kelangthang
26-06-2009, 10:57 AM
Tình hình là giờ VN chỉ còn mỗi 2 em đồng minh là Lào và Cam thôi. Nhưng biết đâu 2 em ấy cũng đã đi đêm với Khựa rồi. Có lẽ là sứt hút từ NDT quá mạnh. Tình hình thật là nguy nan quá. Vậy mới nói, đứng ở cương vị lãnh đaọ, có được cái nhìn toàn cục thì mới thấy được trong chính sách ngoại giao với Khựa là cả 1 vấn đề nan giải. Đâu thể cứ nhìn bề nổi mà nói rằng: sao không đánh, sao không cứng rắn nữa, sao hèn thế, nhu nhược...
đúng rồi đấy,đối phó trên mặt trận ngoại giao khó khăn trăm lần, chứ dễ gì, nhưng bọn phản động cứ ngồi trước cái vi tính tít bên Mỹ mà cứ chửi bới chê bai, bọn chúng có biết gì về chính trị đâu mà nói.
đồng minh ta chỉ có anh Lào thôi, chứ CPC nó cũng thông giao với TQ đấy, Xihanuc đc TQ nuôi nấng trc khi đưa về nước mà lị

NguyenAnhVu
26-06-2009, 11:15 AM
À...Lúc trước thấy anh Hun sen hay sang thăm VN, mấy năm gần đây chả thấy đâu, mà chỉ toàn ngoại giao TQ. Xem ra chỉ có anh Lào là trung thành thôi

Anpimpz
26-06-2009, 11:46 AM
Đừng mong đợi gì ở Cam các bạn ạ, tụi này dân trí thấp, cứ chỗ nào có tiền là nó xông vào, trước đây nó theo Tàu giết mấy triệu dân nó và tấn công Việt Nam, bây giờ thì nó hết theo Mỹ rồi lại Tàu, mình cũng có tiếng nói nhất định với nó nhưng chẳng mong đợi gì ở nó chỉ mong là nó đừng chống mình là được. Còn anh Lào, hiện nay vẫn là hàng xóm đáng tin cậy và có thể nói là một người bạn "thủy chung" với Việt Nam, nhưng bác này bé và yếu quá, sức đề kháng quá yếu trước những mưu đồ thâm độc của Tàu (đang hình thành những phố Tàu và tình trạng Hán hóa ở Lào). Theo tôi được biết, tệ tham nhũng, cửa quyền của cán bộ Lào còn nghiêm trọng hơn Việt Nam rất nhiều lần và hiện tại họ chưa khắc phục được...

forum
26-06-2009, 12:08 PM
Thực ra các thành viên ASEAN thì có đến 10, nhưng các quốc gia liên đới thì chỉ có 5 mà thôi, đó là Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia, Brunei. Trên bàn cờ ngoại giao thì 5 nước này sẽ là những nhân vật chính thực hiện các bước đi, tức là nắm thế chủ động(tuy thực sự thì Brunei có vai trò kém nổi bật). 5 nước còn lại là Thái Lan, Lào, Campuchia, Singapore, Myanmar sẽ chỉ đóng vai trò là những nước đứng ngoài tác động hoặc gây cản trở tới tiến trình hoạt động ngoại giao của ASEAN ở Biển Đông. Các bạn khi phân tích diễn biến ngoại giao ở Biển Đông thì không nên chỉ vì một động thái nhỏ của quốc gia liên đới nào mà đã đưa ra kết luận ngay. Ví dụ như nếu có chuyến thăm của thủ tướng Malaysia tới Trung Quốc thì các bạn không nên thốt lên một câu: "Ôi, thế là hết ASEAN rồi" chẳng hạn. Mọi thứ đều có tính hệ thống.

thanhnienviet
16-07-2009, 05:09 PM
Mỹ không ủng hộ bên nào trong tranh chấp Biển Đông
Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ bày tỏ lo ngại về tình hình hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông, đồng thời khẳng định sẽ bảo vệ lợi ích của các công ty dầu khí Mỹ hoạt động trong khu vực.
Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Scot Marciel cho biết Mỹ sẽ không đứng về bên nào trong tranh chấp các đảo và quần đảo giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.
Phát biểu trước Quốc hội Mỹ hôm qua, ông Marciel cho hay Bắc Kinh đã yêu cầu các công ty dầu khí Mỹ và nước ngoài khác về việc dừng hợp tác với các đối tác Việt Nam trên Biển Đông, nếu không sẽ phải chịu hậu quả trong việc làm ăn với Trung Quốc.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/14/B4/chung-hoon.jpg Tàu khu trục USS Chung-hoon mà Mỹ điều đến Biển Đông (http://vnexpress.net/GL/The-gioi/2009/03/3BA0CDE8/), sau vụ va chạm giữa một tàu khảo sát của Mỹ với các tàu Trung Quốc hồi tháng ba. Ảnh: defense.co.kr. "Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động nào nhằm đe dọa các công ty Mỹ", Marciel, Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực châu Á, tuyên bố trước Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện.
"Chúng tôi đã trực tiếp bày tỏ sự lo ngại với Trung Quốc. Tranh chấp về chủ quyền giữa các quốc gia không thể được giải quyết bằng cách gây sức ép với các công ty bởi họ không phải là một bên trong tranh chấp", ông nói.
Cuối tháng 6, tàu tuần tra ngư nghiệp của Trung Quốc đã bắt ba tàu đánh cá và 37 ngư dân Việt Nam khi họ đang thực hiện hoạt động đánh bắt bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh hải Việt Nam. Lý do bắt giữ họ đưa ra là ngư dân đã "xâm phạm lãnh hải Trung Quốc". Sau đó, tàu Trung Quốc thả hai tàu cá và 25 ngư dân, còn giữ lại 12 người và đòi tiền chuộc.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ra tuyên bố yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay và không điều kiện các ngư dân Việt Nam đang bị giữ, đồng thời bồi thường cho họ. Việt Nam khẳng định hành động của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.
Trung Quốc trước đó đã ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên một số vùng biển, trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
Trợ lý ngoại trưởng Mỹ Marciel cho hay Washington kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tránh những hành động khiêu khích trong việc giải quyết các bất đồng về chủ quyền. "Chính sách của Mỹ là không đứng về phía bên nào trong các cuộc tranh chấp về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông", Marciel khẳng định.
Ngoài các tranh chấp ở Biển Đông, hiện Trung Quốc tranh chấp với Nhật Bản về hòn đảo mang tên Điếu Ngư (theo tiếng Hoa) hoặc Senkaku (theo tiếng Nhật).

T. Huyền (theo AFP)

yurimaster2112
16-07-2009, 07:44 PM
Bật Đèn Xanh Cho Đám TQ rùi......

flanker
16-07-2009, 08:19 PM
Ý nó nói vậy tức là các ông cứ uýnh nhau đi nhưng đừng động gì đến những thứ nó có trên BD. Nhỡ cái nếu có gì thì nó xịt cả 2 ah ! khó hỉu quá

Việt Nam của tôi
16-07-2009, 08:41 PM
Nói vậy Mỹ không ủng hộ anh Philippines luôn à.

jackson
16-07-2009, 09:25 PM
Không lẽ Mẽo nó lại nói ủng hộ VN hay bọn à? Phát biểu ngoại giao thôi các bạn ạh!

t0jlata0
16-07-2009, 09:28 PM
Nó chả ủng hộ thằng nào cả. Và ko nên động đến nó. Không nó lại hâm thì khổ

vnboy8x
16-07-2009, 09:29 PM
"Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động nào nhằm đe dọa các công ty Mỹ", Marciel, Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực châu Á, tuyên bố trước Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện.
===> không thấy Mỹ nó cho thêm câu này à. Đại ý là "2 thằng mầy đánh nhau kệ mầy, nhưng tao có buôn bán với thằng Việt Nam, mầy mà làm ảnh hưởng đến Cty tao thì ko được" . Thế mà mấy bác cứ lăng tăng.

Phuongmy
17-07-2009, 08:45 AM
Bài gốc ở Google. Do trình độ hạn chế, tôi xin đưa nguyên bài tiếng Anh lên cho mọi người cùng đọc. Kèm theo phần tạm dịch sang tiếng Việt, nếu có sai sót, xin mọi người chỉ dẫn giúp.

Theo giọng văn, người viết có vẻ ủng hộ VN, khi sử dụng tên gọi Spratly, Paracel, chứ không gọi theo các tên do TQ tự đặt ra sau này. Đặc biệt, phần mô tả trận TQ cướp đảo của VN năm 1974.

US 'concerned' on China-Vietnam sea tensions

Hoa Kỳ 'lo lắng' về tình trạng căng thẳng trên biển Trung quốc - Việt Nam

18 hours ago
cách đây 18 tiếng đồng hồ

WASHINGTON (AFP) — A US official voiced concern Wednesday about tensions between China and Vietnam over the resource-rich South China Sea and pledged to defend US oil companies operating in the region.

WASHINGTON ( AFP ) - Một viên chức Hoa kỳ đã bày tỏ mối quan ngại vào ngày thứ Tư về tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam về tài nguyên phong phú ở Biển Đông và trịnh trọng hứa sẽ bảo vệ các công ty dầu khí Hoa kỳ đang hoạt động trong khu vực.

But State Department official Scot Marciel said the United States would not take sides on the myriad island disputes involving China and its neighbors including Japan, the Philippines and Vietnam.

Nhưng Scot Marciel - viên chức thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ - đã nói Hoa Kỳ sẽ không đứng về phe nào liên quan đến vô số các vụ tranh chấp đảo của Trung Quốc và các nước láng giềng của nó, gồm có Nhật Bản, Philippines và Việt Nam.

Testifying before Congress, Marciel said that Beijing has told US and other foreign oil companies to halt work with Vietnamese partners in the South China Sea or face consequences in their business dealings in lucrative China.

Điều trần trước Quốc hội, Marciel nói rằng Bắc Kinh đã bảo các công ty dầu khí Hoa kỳ và nước ngoài khác phải ngưng làm việc với các đối tác Việt nam trong vùng Biển Đông nếu không sẽ phải nhận lãnh hậu quả trong các quan hệ làm ăn sinh lợi ở Trung Quốc.

"We object to any effort to intimidate US companies," Marciel, a deputy assistant secretary of state handling Asia, told the Senate Foreign Relations Committee.

"Chúng tôi phản đối mọi ý định đe doạ các công ty Hoa kỳ, " Marciel, phó trợ lý Ngoại trưởng chuyên trách châu Á, đã nói với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện.

"We have raised our concerns with China directly. Sovereignty disputes between nations should not be addressed by attempting to pressure companies that are not party to the dispute," he said.

"Chúng tôi đã trực tiếp nêu mối quan ngại của chúng tôi với Trung Quốc. Tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không nên giải quyết bằng cách cố gây áp lực với những công ty không thuộc về phe nào trong cuộc tranh chấp, " anh ấy đã nói.

"We have also urged that all claimants exercise restraint and avoid aggressive actions to resolve competing claims," he said.

"Chúng tôi cũng đã kêu gọi mọi bên tranh chấp tự kiềm chế và tránh các hành động gây hấn để giải quyết các yêu sách đối kháng, " anh ấy đã nói.

China, which has historic tensions with Vietnam, has administered the Paracel islands since 1974 when it overran a South Vietnamese outpost shortly before the end of the Vietnam War.

Trung Quốc, đã căng thẳng từ lâu với Việt Nam, đang cai quản quần đảo Hoàng satừ năm 1974 khi nước này tràn vào một tiền đồn của Việt nam chẳng bao lâu trước khi kết thúc chiến tranh Việt Nam.

The islands -- known as the Xisha by China -- are considered strategic outposts with potentially vast oil and gas reserves, and rich fishing grounds.

Đảo này -- Trung quốc gọi là Tây sa -- được coi là những tiền đồn chiến lược có dự trữ dầu và khí đốt tiềm năng rất lớn, và vùng đánh bắt cá dồi dào.

Tension mounted earlier this year when Vietnam named a "president" for a government body overseeing the disputed archipelago.

Căng thẳng tăng cao đầu năm nay khi Việt Nam bổ nhiệm một "chủ tịch" với một cơ quan nhà nước để giám sát quần đảo đang tranh chấp này.

"US policy continues to be that we do not take sides on the competing legal claims over territorial sovereignty in the South China Sea," Marciel said.

"Chính sách của Hoa kỳ vẫn là không đứng về phe nào trong các yêu sách hợp pháp đối kháng về chủ quyền lãnh thổ ở phía nam China Sea, "Marciel đã nói.

China disputes the Diaoyu, or Senkaku, chain with Japan along with Taiwan, which Beijing also claims as a whole.

Trung Quốc tranh chấp chuỗi đảo Điếu Ngư, còn gọi là Senkaku, với Nhật Bản và Đài Loan, mà Bắc Kinh cũng đòi hỏi toàn bộ quần đảo này.

Separately, the potentially oil-rich Spratly island chain is claimed entirely or in part by Brunei, China, Malaysia, the Philippines, Taiwan and Vietnam.

Đặc biệt các quần đảo Spratly (Trường Sa) có nhiều dầu bị tranh đoạt hết hoặc một phần bởi Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam.

Source: http://ca.news.yahoo.com/s/afp/090715/usa/us_vietnam_china_paracels_diplomacy (http://ca.news.yahoo.com/s/afp/090715/usa/us_vietnam_china_paracels_diplomacy)

(Sử dụng vietgle.vn để dịch)

Wehrmacht
17-07-2009, 09:01 AM
Thanks bài dịch của bạn Phuongmy

đoạn which Beijing also claims as a whole nên dịch là "...toàn bộ quần đảo" ? vì trước đó có chain with Japan nghĩa là Senkaku này cũng là islands rồi. Câu sau lại có claimed entirely or in part nữa.

Các bạn có thể xem thêm bài dịch của mình về tranh chấp quần đảo Điếu ngư đài ở đây :
http://ttvnol.com/f_533/1017412.ttvn

luutu1981
17-07-2009, 09:42 AM
Mỹ nó nói thế thôi, nếu nó không ủng hộ Vn chả lẽ nó đi ủng hộ thằng tranh làm bá chủ với nó? Tôi nhớ lúc ông thượng nghị sĩ Mc Cain khi thăm Vn đã nói: Mỹ có lợi cho VN khi tranh chấp biển đông với TQ.

xbang2002
17-07-2009, 10:27 AM
Mỹ ủng hộ VN, nhưng việc TQ bảo Mỹ cẩn thận trong quan hệ với VN vì TQ có thể sẽ trã đũa với quyền lợi các Cty Mỹ tại TQ. theo quan điểm của tôi, Mỹ sẽ cân nhắc có thể nó sẽ cho thêm 1 đống vòi thò xuống hút cho nhanh dầu rùi hủy Hợp đồng khai thác dầu với VN, nên chúng ta phải tranh thủ nghĩ phương án tiếp theo.

hoangsa08
17-07-2009, 03:32 PM
Mỹ đang tỏ ra là trung lập 1 cách ngoại giao rất khôn ngoan vì đang là con nợ khổng lồ của Khựa, tuy nhiên vẫn âm thầm ủng hộ các nước đồng minh hoặc VN trong tranh chấp với Khựa vì cũng biết nếu toàn bộ Biển Đông lọt vào tay Khựa thì an ninh cũng như uy tín của Mỹ với các đồng minh giảm sút hoàn toàn.

Cát vàng 500 năm
17-07-2009, 03:48 PM
Thang Trung cong nay cang ngay cang phuc tap

Chau_ngoan_Bac_Ho
17-07-2009, 04:06 PM
Tôi ngày càng có linh cảm không tốt khi mới đây Trung Khựa yêu cầu các công ty của dầu khí của Mỹ ngừng hợp tác với Việt Nam :banghead: , phải chăng chúng đã sẵn sàng cho 1 cuộc tấn công, giả sử các công ty dầu khí của Mỹ do sức ép của bọn chúng mà ngừng hợp tác với Việt Nam thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra ?

olalamama
17-07-2009, 07:14 PM
chứ gì nữa, các công ty nước ngoài không còn khai thác thì hẳn nhiên sẽ không có sự bảo hộ của chính phủ nước ngoài đối với các mỏ dầu này, khi ấy thì trung quốc sẽ nhảy vô mà chiếm hết chứ sao

pepsicola
17-07-2009, 07:57 PM
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/04/23/090423151926_submarine466.jpg Trung Quốc đang củng cố sức mạnh quân sự ở Biển Đông


Buổi điều trần hôm 15/07 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ được cho là dấu hiệu chứng tỏ sự quan tâm lớn hơn của chính quyền Obama đối với tranh chấp Biển Đông và sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Tại phiên điều trần, các chuyên gia được mời đã đề cập tới một loạt các sự kiện xảy ra gần đây, trong có vụ đối đầu giữa tàu của Mỹ và tàu Trung Quốc.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/06/24/090624104703_michele.jpg Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp với Trung Quốc hồi tháng Sáu, có bàn về Biển Đông


Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao chuyên trách Đông Nam Á, Đại sứ Mỹ tại khối ASEAN, Scot Marciel, nói Bắc Kinh đã cảnh báo các công ty dầu khí Mỹ và nước ngoài không làm ăn với Việt Nam trong khu vực tranh chấp, nếu không sẽ gặp khó trong việc kinh doanh với Trung Quốc.

Theo ông Marciel, quan điểm nhất quán của Hoa Kỳ là phản đối các động thái đe dọa các công ty Mỹ và đã bày tỏ quan ngại về việc này với Bắc Kinh.

Phó phụ tá Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Robert Scher, nói Lầu Năm Góc xác định lực lượng của Mỹ sẽ tiếp tục ở lại Đông Nam Á, xây dựng quan hệ an ninh chặt hơn với các đối tác trong vùng, trong đó có Việt Nam.

Ông Scher cũng nói bộ quốc phòng muốn củng cố cơ chế ngoại giao - quân sự với Trung Quốc để cải thiện liên lạc và giảm nguy cơ hai phía có những tính toán sai lầm.

Ba nhà nghiên cứu từ các trường, viện ở Washington cũng có mặt và cho biết quan điểm của họ, tại buổi điều trần do Thượng nghị sĩ Jim Webb làm chủ tọa.

Để có bình luận về sự kiện này, BBC Việt ngữ đã phỏng vấn Tiến sĩ David Scott, Đại học Brunel, London, tác giả của nhiều cuốn sách và bài viết về Trung Quốc và quan hệ quốc tế ở châu Á.

David Scott: Tôi chú ý phần trình bày của người phát ngôn bộ quốc phòng (Robert Scher) phần nào đó cứng rắn hơn phát ngôn của người của bộ ngoại giao (Scott Marciel). Bàn về việc Mỹ có thể làm gì, người của bộ quốc phòng nói thẳng về sự khẳng định quyền của Mỹ, duy trì sự nổi bật về quân sự trong vùng. Cũng đáng chú ý khi ông ta chỉ ra việc củng cố lực lượng ở căn cứ Guam như một nơi biểu dương sức mạnh trong khu vực.

BBC:Nhưng đã có sự thống nhất về chính sách ở trong chính quyền Obama chưa, thưa ông?

Câu hỏi đặt ra là chính quyền Obama sẽ tiếp tục hoặc thay đổi chính sách của chính quyền Bush đến mức nào. Có ba điểm làm tôi chú ý ở chính quyền Obama mà chúng đều có liên quan tới Biển Đông.

Thứ nhất, sự nhấn mạnh của chính phủ Bush về Iraq đã bị giảm nhẹ. Khi Obama quyết định triệt thoái khỏi Iraq và tập trung vào Afghanistan, phần nào, đó là sự kêu gọi Mỹ quay lại với châu Á Thái Bình Dương thay vì Trung Đông. Thực ra diễn tiến này có lẽ đã xảy ra 10 năm trước, nhưng rồi bỗng chốc có vụ 11/09, al-Qaeda chi phối chính quyền Bush. Nhưng nay ở mức độ nhất định, mối đe dọa này đã giảm bớt và sự trỗi dậy của Trung Quốc lại trở thành ưu tiên của Mỹ.

Thứ hai, ngay sau khi xảy ra vụ va chạm đầu năm ở Biển Đông liên quan tàu Impeccable, chính quyền Obama đã tuyên bố và có vẻ quả thực đã điều động thêm tàu Mỹ ra yểm trợ tại đó. Mỹ chứng tỏ họ không nhượng bộ.

Thứ ba, đã có thắc mắc liệu cam kết của Bush xây dựng căn cứ tại Guam có được tiếp tục thực hiện hay không. Nhưng hành động đầu tiên mà Hillary Clinton thực hiện trong chuyến thăm châu Á với tư cách ngoại trưởng là ký thỏa thuận về Guam khi bà thăm Nhật hồi tháng Hai.

Kết hợp tất cả những động thái này, theo tôi, chính quyền Obama có thể sẽ có thái độ mạnh mẽ hơn về Biển Đông so với chính phủ Bush trước đây. Người ta cứ nói Obama đang chủ trương đối thoại (engagement) hơn đối nghịch; dĩ nhiên ông ấy ủng hộ đối thoại. Nhưng khi ta quan sát diễn biến ở Biển Đông, chính quyền Obama có những quyết định cứng cựa, ít nhất là trong ngôn từ.

BBC:Ông hình dung suy nghĩ ở Bắc Kinh về thái độ của Mỹ là như thế nào?

Nếu tôi là Trung Quốc, tôi sẽ quan sát rất kỹ mỗi lần quan chức Mỹ thăm Việt Nam, mỗi lần tàu Mỹ cập cảng Việt Nam...Trên giấy tờ, Mỹ tiếp tục giữ vai trò trung lập. Nhưng Trung Quốc sẽ chú ý bất kỳ mối dây liên hệ nào, dù kinh tế hay chính trị, giữa Mỹ và Việt Nam.

Trong mắt Bắc Kinh, Mỹ đang nói nhiều ngôn ngữ. Mỹ nói phải đối thoại với Trung Quốc, nhưng Mỹ cũng theo đuổi những động thái cân bằng sức mạnh trong vùng. Trung Quốc đối diện với chiến lược phòng hờ (hedging) kinh điển: đối thoại với Trung Quốc nhưng đồng thời cũng tăng cường sức mạnh cho Mỹ. Đó không phải là sự kiềm chế công khai và cứng rắn. Vì thế, trên giấy tờ, Mỹ là trung lập, nhưng phần nào đó tôi thấy Mỹ ngả về Việt Nam một phần vì các công ty Mỹ quan tâm chuyện khai thác ở vùng biển do Việt Nam kiểm soát.

BBC:Có vẻ như trong mắt Trung Quốc, trong vấn đề Biển Đông, người này được đồng nghĩa với người kia mất. Tức là không thể xảy ra việc Trung Quốc nhượng bộ?

Thật khó trả lời. Một mặt, đây vẫn có thể là trò chơi mà tất cả đều thắng. Bắc Kinh đã đề nghị tạm gác đòi hỏi chủ quyền, hãy cùng nhau khai thác. Nhưng mặt khác, Biển Đông là vấn đề tranh chấp lãnh thổ và với người Trung Quốc, chủ quyền lãnh thổ rất nhạy cảm. Biển Đông phần nào đó giống như Đài Loan: lấy lại cái mà họ xem đã bị mất là vấn đề thể diện cho Trung Quốc.

Kết hợp điều đó với nhu cầu năng lượng, Biển Đông ngày càng quan trọng với Trung Quốc. Vì thế, có dấu hiệu rõ ràng Trung Quốc đang củng cố lực lượng quân sự ở Biển Đông. Cùng lúc, Mỹ cũng hăng hái hơn với Biển Đông. Tôi cho rằng tình hình Biển Đông đang trở nên xấu đi.

BBC: Quan điểm của Mỹ là không để căng thẳng tại đây biến thành đe dọa cho quyền lợi của họ. Theo ông, liệu Trung Quốc có thể đảm bảo cho cả quyền lợi của Trung Quốc và Mỹ? Ví dụ, thuyết phục các công ty dầu khí Mỹ hợp tác với Trung Quốc thay vì các nước khác.

Rất thú vị. Nếu Bắc Kinh bảo, quý vị muốn có thỏa thuận trong vùng biển tranh chấp thì hãy giao thiệp với chúng tôi, chúng tôi sẽ cấp phép, ai nấy đều vui vẻ. Chuyện đó có thể làm được, vì những quốc gia như Việt Nam hay Philippines không thể gây áp lực với công ty Mỹ, trong khi Trung Quốc có thể.

Nhưng mặc dù việc cung cấp năng lượng có thể được dàn xếp giữa Bắc Kinh và Washington, quyền lợi chiến lược của Mỹ còn lớn hơn thế. Sự biểu dương sức mạnh của Trung Quốc trên biển, dù có thể đem lại hợp tác kinh tế cho công ty Mỹ, lại sẽ cản trở những tính toán địa chính trị của Mỹ.
Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/07/090717_southchinasea_comment.shtml

lampro
18-07-2009, 08:53 AM
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/03/090313122404_uss-johncstennis466.jpg

Buổi điều trần hôm 15/07 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ được cho là dấu hiệu chứng tỏ sự quan tâm lớn hơn của chính quyền Obama đối với tranh chấp Biển Đông và sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Tại phiên điều trần, các chuyên gia được mời đã đề cập tới một loạt các sự kiện xảy ra gần đây, trong có vụ đối đầu giữa tàu của Mỹ và tàu Trung Quốc.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/06/24/090624104703_michele.jpgTrợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp với Trung Quốc hồi tháng Sáu, có bàn về Biển Đông


Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao chuyên trách Đông Nam Á, Đại sứ Mỹ tại khối ASEAN, Scot Marciel, nói Bắc Kinh đã cảnh báo các công ty dầu khí Mỹ và nước ngoài không làm ăn với Việt Nam trong khu vực tranh chấp, nếu không sẽ gặp khó trong việc kinh doanh với Trung Quốc.

Theo ông Marciel, quan điểm nhất quán của Hoa Kỳ là phản đối các động thái đe dọa các công ty Mỹ và đã bày tỏ quan ngại về việc này với Bắc Kinh.

Phó phụ tá Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Robert Scher, nói Lầu Năm Góc xác định lực lượng của Mỹ sẽ tiếp tục ở lại Đông Nam Á, xây dựng quan hệ an ninh chặt hơn với các đối tác trong vùng, trong đó có Việt Nam.

Ông Scher cũng nói bộ quốc phòng muốn củng cố cơ chế ngoại giao - quân sự với Trung Quốc để cải thiện liên lạc và giảm nguy cơ hai phía có những tính toán sai lầm.

Ba nhà nghiên cứu từ các trường, viện ở Washington cũng có mặt và cho biết quan điểm của họ, tại buổi điều trần do Thượng nghị sĩ Jim Webb làm chủ tọa.

Để có bình luận về sự kiện này, BBC Việt ngữ đã phỏng vấn Tiến sĩ David Scott, Đại học Brunel, London, tác giả của nhiều cuốn sách và bài viết về Trung Quốc và quan hệ quốc tế ở châu Á.

David Scott: Tôi chú ý phần trình bày của người phát ngôn bộ quốc phòng (Robert Scher) phần nào đó cứng rắn hơn phát ngôn của người của bộ ngoại giao (Scot Marciel). Bàn về việc Mỹ có thể làm gì, người của bộ quốc phòng nói thẳng về sự khẳng định quyền của Mỹ, duy trì sự nổi bật về quân sự trong vùng. Cũng đáng chú ý khi ông ta chỉ ra việc củng cố lực lượng ở căn cứ Guam như một nơi biểu dương sức mạnh trong khu vực.

BBC:Nhưng đã có sự thống nhất về chính sách ở trong chính quyền Obama chưa, thưa ông?

Câu hỏi đặt ra là chính quyền Obama sẽ tiếp tục hoặc thay đổi chính sách của chính quyền Bush đến mức nào. Có ba điểm làm tôi chú ý ở chính quyền Obama mà chúng đều có liên quan tới Biển Đông.

Thứ nhất, sự nhấn mạnh của chính phủ Bush về Iraq đã bị giảm nhẹ. Khi Obama quyết định triệt thoái khỏi Iraq và tập trung vào Afghanistan, phần nào, đó là sự kêu gọi Mỹ quay lại với châu Á Thái Bình Dương thay vì Trung Đông. Thực ra diễn tiến này có lẽ đã xảy ra 10 năm trước, nhưng rồi bỗng chốc có vụ 11/09, al-Qaeda chi phối chính quyền Bush. Nhưng nay ở mức độ nhất định, mối đe dọa này đã giảm bớt và sự trỗi dậy của Trung Quốc lại trở thành ưu tiên của Mỹ.

Thứ hai, ngay sau khi xảy ra vụ va chạm đầu năm ở Biển Đông liên quan tàu Impeccable, chính quyền Obama đã tuyên bố và có vẻ quả thực đã điều động thêm tàu Mỹ ra yểm trợ tại đó. Mỹ chứng tỏ họ không nhượng bộ.

Thứ ba, đã có thắc mắc liệu cam kết của Bush xây dựng căn cứ tại Guam có được tiếp tục thực hiện hay không. Nhưng hành động đầu tiên mà Hillary Clinton thực hiện trong chuyến thăm châu Á với tư cách ngoại trưởng là ký thỏa thuận về Guam khi bà thăm Nhật hồi tháng Hai.

Kết hợp tất cả những động thái này, theo tôi, chính quyền Obama có thể sẽ có thái độ mạnh mẽ hơn về Biển Đông so với chính phủ Bush trước đây. Người ta cứ nói Obama đang chủ trương đối thoại (engagement) hơn đối nghịch; dĩ nhiên ông ấy ủng hộ đối thoại. Nhưng khi ta quan sát diễn biến ở Biển Đông, chính quyền Obama có những quyết định cứng cựa, ít nhất là trong ngôn từ.

BBC:Ông hình dung suy nghĩ ở Bắc Kinh về thái độ của Mỹ là như thế nào?

Nếu tôi là Trung Quốc, tôi sẽ quan sát rất kỹ mỗi lần quan chức Mỹ thăm Việt Nam, mỗi lần tàu Mỹ cập cảng Việt Nam...Trên giấy tờ, Mỹ tiếp tục giữ vai trò trung lập. Nhưng Trung Quốc sẽ chú ý bất kỳ mối dây liên hệ nào, dù kinh tế hay chính trị, giữa Mỹ và Việt Nam.

Trong mắt Bắc Kinh, Mỹ đang nói nhiều ngôn ngữ. Mỹ nói phải đối thoại với Trung Quốc, nhưng Mỹ cũng theo đuổi những động thái cân bằng sức mạnh trong vùng. Trung Quốc đối diện với chiến lược phòng hờ (hedging) kinh điển: đối thoại với Trung Quốc nhưng đồng thời cũng tăng cường sức mạnh cho Mỹ. Đó không phải là sự kiềm chế công khai và cứng rắn. Vì thế, trên giấy tờ, Mỹ là trung lập, nhưng phần nào đó tôi thấy Mỹ ngả về Việt Nam một phần vì các công ty Mỹ quan tâm chuyện khai thác ở vùng biển do Việt Nam kiểm soát.

BBC:Có vẻ như trong mắt Trung Quốc, trong vấn đề Biển Đông, người này được đồng nghĩa với người kia mất. Tức là không thể xảy ra việc Trung Quốc nhượng bộ?

Thật khó trả lời. Một mặt, đây vẫn có thể là trò chơi mà tất cả đều thắng. Bắc Kinh đã đề nghị tạm gác đòi hỏi chủ quyền, hãy cùng nhau khai thác. Nhưng mặt khác, Biển Đông là vấn đề tranh chấp lãnh thổ và với người Trung Quốc, chủ quyền lãnh thổ rất nhạy cảm. Biển Đông phần nào đó giống như Đài Loan: lấy lại cái mà họ xem đã bị mất là vấn đề thể diện cho Trung Quốc.

Kết hợp điều đó với nhu cầu năng lượng, Biển Đông ngày càng quan trọng với Trung Quốc. Vì thế, có dấu hiệu rõ ràng Trung Quốc đang củng cố lực lượng quân sự ở Biển Đông. Cùng lúc, Mỹ cũng hăng hái hơn với Biển Đông. Tôi cho rằng tình hình Biển Đông đang trở nên xấu đi.

BBC: Quan điểm của Mỹ là không để căng thẳng tại đây biến thành đe dọa cho quyền lợi của họ. Theo ông, liệu Trung Quốc có thể đảm bảo cho cả quyền lợi của Trung Quốc và Mỹ? Ví dụ, thuyết phục các công ty dầu khí Mỹ hợp tác với Trung Quốc thay vì các nước khác.

Rất thú vị. Nếu Bắc Kinh bảo, quý vị muốn có thỏa thuận trong vùng biển tranh chấp thì hãy giao thiệp với chúng tôi, chúng tôi sẽ cấp phép, ai nấy đều vui vẻ. Chuyện đó có thể làm được, vì những quốc gia như Việt Nam hay Philippines không thể gây áp lực với công ty Mỹ, trong khi Trung Quốc có thể.

Nhưng mặc dù việc cung cấp năng lượng có thể được dàn xếp giữa Bắc Kinh và Washington, quyền lợi chiến lược của Mỹ còn lớn hơn thế. Sự biểu dương sức mạnh của Trung Quốc trên biển, dù có thể đem lại hợp tác kinh tế cho công ty Mỹ, lại sẽ cản trở những tính toán địa chính trị của Mỹ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/07/090717_southchinasea_comment.shtml

dongminh
18-07-2009, 10:15 AM
Mỹ hiện đang cố gắng tăng cường sự hiện diện của mình ở TBD cũng như khu vực biển Đông. Một mặt nối lại những mối quan hệ đã có sẵn với các động minh cũ như Thái, Phi, Sin....mặt khác còn tạo ảnh hưởng và quan hệ với nhưng nước khác trong vùng như VN. Ngoài ra, Mỹ tăng cường hiện diện ở đây còn vì kinh tế của các Công ty của nước họ đang làm ăn tại đây. Điều chủ yếu nữa là để kìm hãm sự bành trướng quân sự của TQ tại đây!

vietcong1980
26-07-2009, 06:41 PM
“Các xung đột trên biển và tranh chấp chủ quyền tại châu Á” 26/07/2009 06:33 (GMT + 7)(TuanVietNam) - Phát biểu mở đầu phiên điều trần, tại Ủy ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề "các xung đột trên biển và tranh chấp chủ quyền tại châu Á” hồi trung tuần tháng 7, Thượng nghị sĩ Jim Webb nói rằng Trung Quốc "không chỉ đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị mà còn tìm cách mở rộng cả lãnh thổ".

Trung tuần tháng 7 vừa rồi, Thượng nghị sỹ Mỹ Jim Webb, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã khai mạc phiên điều trần tại ủy ban về “Các xung đột trên biển và tranh chấp chủ quyền tại châu Á”.
Ông cho rằng các cuộc xung đột lãnh thổ trên biển Đông mở ra cái nhìn rõ hơn về các ý định của Trung Quốc trong khu vực, tác động đến khả năng đáp trả của các nước láng giềng cũng như vai trò của Mỹ trong khu vực.

Để giúp các độc giả có cái nhìn đa chiều về những vấn đề đang gây tranh cãi trong khu vực, Tuần Việt Nam xin giới thiệu những điểm chính trong bài phát biểu của thượng nghị sĩ Jim Webb.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/jim.jpg
Thượng nghị sỹ Mỹ Jim Webb

Phiên điều trần trên, một mặt nhằm xem xét lại một cách tổng thể bối cảnh lịch sử và các thách thức hiện nay của các vùng lãnh thổ đang tranh chấp trong khu vực, bao gồm các quần đảo Senkaku, Hoàng Sa và Trường Sa; mặt khác, tìm hiểu cách ứng xử này tác động như thế nào đến sự tự do đi lại trên biển của các tàu thuyền của Mỹ đang hoạt động tại khu vực, cũng như tác động đến chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á, vai trò của Mỹ, và các tổ chức như ASEAN có thể làm gì để giải quyết vấn đề.
Có hai nhóm chuyên gia đưa ra những lời chứng tập trung vào sự dính líu về kinh tế và chiến lược của cách hành xử về lâu về dài của Trung Quốc tại các vùng biển phía Đông và phía Nam nước này.

Nhóm thứ nhất gồm các quan chức chính quyền, trong đó có Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Scot Marciel và Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher.

Nhóm thứ hai gồm các chuyên gia bên ngoài, trong đó có Giáo sư Peter Dutton thuộc viện Nghiên cứu Biển Trung Quốc của trường Chiến tranh trên biển của Mỹ; ông Daniel Blumenthal, thành viên Viện Kinh doanh Mỹ; và ông Richard Cronin, hội viên cấp cao của Trung tâm Henry L.Stimson.
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/taumy.jpg
Tàu khu trục có tên lửa dẫn đường của Mỹ USS MacCain. Ảnh: Reuters.

Sau đây là phát biểu khai mạc của Thượng nghị sỹ Webb:
“Xin chào các bạn, cuộc điều trần hôm nay sẽ mang tính hướng dẫn. Tại cuộc điều trần giám sát đầu tiên của tiểu ban Các vấn đề tại Đông Á và Thái Bình Dương trong Quốc hội khóa 111 này, chúng ta sẽ nghiên cứu các tranh chấp lãnh thổ trên biển tại châu Á và các vấn đề chủ quyền tác động tới khu vực và các lợi ích của Mỹ như thế nào. Không chủ đề nào khác cho thấy rõ hơn các thách thức phức tạp và khổng lồ mà Mỹ đang phải đối mặt tại châu Á.
“Vấn đề lớn nhất là sự gia tăng sức mạnh chính trị, ngoại giao và kinh tế của Trung Quốc không chỉ trong khu vực mà cả trên thế giới. Sự phát triển của Trung Quốc đã thay đổi cán cân kinh tế khu vực, và tạo điều kiện cho nước này mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị của mình. Trên toàn Đông Á, từ Myanmar đến Việt Nam, chúng ta đã nghe thấy nhiều thông báo liên quan đến tác động của sự vươn dài của Trung Quốc...
“Trung Quốc đang tìm cách không chỉ mở rộng tầm ảnh hưởng về kinh tế và chính trị, mà còn mở rộng lãnh thổ. Việc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc đã trực tiếp hỗ trợ cho nỗ lực này....

“Điều đáng ngại nhất là việc Trung Quốc đòi chủ quyền tại các vùng biển phía Nam và Đông của nước này. Tuy nhiên, sự tập trung chú ý vào cuộc xung đột tiềm ẩn này đã làm lu mờ các cuộc xung đột khác trong khu vực.
“Trung Quốc còn đòi chủ quyền các quần đảo Senkaku, Trường Sa và Hoàng Sa. Bất chấp việc Nhật Bản đang kiểm soát quần đảo Senkaku kể từ sau chiến tranh thế giới II – và nhiều nước khác, trong đó có Mỹ, thừa nhận chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này – Trung Quốc vẫn công khai đòi các đảo Senkaku là thuộc chủ quyền của mình.

“Tại biển Đông, vô số các cuộc tranh cãi chưa được giải quyết liên quan đến một số quần đảo mà cả Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei... đều đòi là chủ quyền toàn vẹn hoặc một phần của mình. Các đòi hỏi chủ yếu tập trung vào đảo Trường Sa, gồm 21 hòn đảo nhỏ và đảo san hô vòng, 50 đảo san hô ngập dưới mặt biển và 28 bãi đá ngầm nổi một phần. Tổng diện tích đất tại quân đảo này nhỏ, song cũng vào khoảng 340.000 dặm vuông. Trung Quốc và Việt Nam cũng tranh giành chủ quyền đảo Hoàng Sa, một nhóm đảo nhỏ hơn.
“Các cuộc xung đột này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước thứ ba trong khu vực, và cần phải làm rõ rằng Mỹ là nước duy nhất vừa có tầm cỡ và có đủ sức mạnh để đối đầu với sự bất cân bằng về quyền lực mà Trung Quốc tạo ra.

Về điểm này, chúng ta có nghĩa vụ phải làm như vậy nếu muốn duy trì một sự cân bằng địa chiến lược trong khu vực, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các quốc gia châu Á, và bảo vệ tiếng nói của bất cứ quốc gia nào muốn một giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột này.

Sự tham gia của Mỹ vào các cuộc xung đột này cũng ảnh hưởng tới việc các quốc gia này sẽ nhìn nhận mối đe dọa đối với môi trường khu vực của họ như thế nào, và lựa chọn nào họ có thể đưa ra để giải quyết các mối đe dọa này trong khi tìm cách bảo vệ các lợi ích của mình. Trung Quốc đã bày tỏ mong muốn “trưng diện” các khả năng quân sự mới của mình và đôi khi cả sử dụng vũ lực để đòi các phần lãnh thổ trên biển.

“Thêm vào đó, nhiều quan sát viên nhận thấy rằng kiểu hăm dọa của Trung Quốc có thể cản trở sự phát triển tự do và lành mạnh của kinh tế khu vực. Ví dụ, việc Trung Quốc gần đây bắt giữ một số ngư dân Việt Nam gần đảo Hoàng Sa và những lời đe dọa công khai của họ đối với các công ty dầu khí của Mỹ đang hoạt động tại biển Đông cho thấy nguy cơ ngày càng gia tăng đối với ngành đánh cá và giao thương trên biển, cũng như hạn chế triển vọng khai thác nguồn tài nguyên biển. Các hành động này không được giải quyết có thể đe dọa sự phồn vinh của khu vực.
“Các cuộc xung đột trên cũng tác động đáng kể tới Mỹ khi chúng gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh khu vực. Cuộc khủng hoảng tên lửa trên eo biển Đài Loan năm 1995-1996 đã minh chứng rằng Mỹ là cường quốc duy nhất trên thế giới có khả năng đáp trả các hành động đe dọa của Trung Quốc.

Nhìn vào các sự kiện mới đây, dường như Mỹ đang phản ứng với các sự cố trên biển như đối với các thách thức chiến thuật bất thường, trong khi Trung Quốc dường như hành động với một tầm nhìn chiến lược. Các sự cố này bao gồm cuộc khủng hoảng EP-3 năm 2001, vụ một tàu ngầm Trung Quốc nổi lên mặt nước vào giữa nhóm tàu khu trục Kitty Hawk của Mỹ năm 2006, vụ tàu Trung Quốc quấy nhiễu chiến hạm USNS Impeccable của Mỹ hồi tháng ba năm nay, và vụ va chạm của một tàu ngầm Trung Quốc với hệ thống định vị của tàu John McCain của Mỹ tháng trước.

Tôi rất quan tâm lắng nghe các suy nghĩ của các nhân chứng của chúng ta về việc Mỹ nên đáp trả thế nào đối với các sự cố này.

Quốc Thái (lược dịch theo: http://webb.senate.gov/newsroom/)

http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7559/index.aspx

daagon
27-07-2009, 01:29 AM
Quan tâm thì sao , nước xa không cứu được lửa gần, cứ coi Gruzia là một bài học.

bay gio la may gio
27-07-2009, 07:45 AM
Thế thì cho nước xa thành gần đi, Nhật Hàn là một bài học.

vietcong1980
27-07-2009, 08:07 AM
Quan tâm thì sao , nước xa không cứu được lửa gần, cứ coi Gruzia là một bài học.
Việt Nam khác Gruzia nhiều lắm. Cứ đòi kết thân với Mỹ và Nato mà quay ngoắt công khai chống Nga thì đúng là hạ sách rồi !:not-worthy:. Cái thằng ở gần bao giờ cũng gây thiệt hại hơn nhiều so với cái thằng ở xa chứ. Việt Nam ta đâu có thế, ta vẫn muốn quan hệ tốt với TQ đó thôi:smilie_clap:

virut-07
28-07-2009, 10:13 PM
Tương lai chính sách Mỹ ở Biển Đông


http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/07/28/090728124648_iskander.jpg
Iskander Rehman
Viết riêng cho BBCVietnamese.com

Năm 2009 được đánh dấu bằng thái độ mạnh bạo hơn của Trung Quốc cả về ngoại giao và quân sự trên Biển Đông.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/04/23/090423151926_submarine466.jpg Trung Quốc đang biểu dương sức mạnh trên Biển Đông

Tranh chấp Trường Sa tái trỗi dậy phủ mờ quan hệ Trung Quốc – Philippines, và các ngư dân Việt Nam thường bị các tàu tuần tiễu Trung Quốc thu gom vì “đánh cá trong vùng biển Trung Quốc”.
Các công ty Anh, Mỹ đã chịu sức ép rút khỏi hoạt động kinh doanh năng lượng ngoài biển với Việt Nam. Trung Quốc cũng đẩy mạnh hoạt động hải quân, tăng gấp đôi số lượng tuần tra quanh Hoàng Sa và Trường Sa còn tranh chấp. Và khi tàu Mỹ USNS Impeccable bị tàu Trung Quốc đe dọa trên vùng biển quốc tế tháng Ba, vụ này đã trở thành tin đi đầu trên thế giới. Thực tế đây không phải là vụ riêng lẻ mà nằm trong một loạt va chạm trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông.

Làm sao giải thích sự mạnh bạo hơn của Trung Quốc? Theo tôi, có hai lý do chính.

Đầu tiên, như báo cáo hàng năm mới nhất của Lầu Năm Góc về quân đội Trung Quốc dự báo, hiện đại hóa của quân Trung Quốc đã giúp nước này có vị thế tốt hơn nhiều trong vùng, và vì lẽ đó đẻ ra sự tự tin hung hăng hơn trong vấn đề bảo vệ đòi hỏi chủ quyền đại dương.

Thứ hai, có thể Bắc Kinh đang muốn thử thách chính quyền Obama, các vụ khiêu khích là để đánh giá “độ rắn” của tổng thống Mỹ. Có thể quá sớm để nhìn thấy mô típ, nhưng vụ tàu USNS Impeccable incident có nhiều điểm tương tự với va chạm máy bay do thám EP-3 tháng Bảy 2001. Cả hai xảy ra bên ngoài căn cứ tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc ở Hải Nam, và đều diễn ra trong những tháng đầu tiên của tân chính phủ Mỹ.

Phản ứng của Obama

Chính phủ Obama chứng tỏ vừa cứng lại cũng thận trọng trong đối phó với Trung Quốc. Sau vụ tàu USNS Impeccable, Mỹ nhanh chóng đưa tàu chiến ra hộ tống các tàu khảo sát ở Biển Đông, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại hai quân đội để ngăn sự tái diễn thường xuyên.
Từ đó đến nay, trước sự bực bội của những thành phần diều hâu trong quân đội Trung Quốc, Mỹ vẫn tiếp tục hoạt động khảo sát cả trên biển và trên không, bên trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Trung Quốc. Như vậy, sự áp dụng nguyên tắc chủ quyền quốc gia của Trung Quốc mâu thuẫn trực tiếp với sự bảo vệ tự do đi lại của Mỹ.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/06/24/090624104703_michele.jpg
Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp với Trung Quốc hồi tháng Sáu, có bàn về Biển Đông

Bỏ qua những mắc míu pháp lý, thực tế là Trung Quốc trong lịch sử đã xem Biển Đông không khác gì “một cái hồ của Trung Quốc”, và nay có khả năng quân sự - ngoại giao để tiến tới thực hiện chiến lược địa chính trị một cách tự tin hơn.
Hoa Kỳ, nước đã dần dà giảm lực lượng hải quân trong vùng, và trong mắt các chiến lược gia Trung Quốc là có vẻ thể hiện dấu hiệu “quá tải của đế quốc” tại Iraq và Afghanistan, không khơi gợi sự kính nể như đã từng.
Nhưng điều này có thể sắp thay đổi. Sự triệt thoái khỏi Iraq và tập trung cho Afghanistan khiến Mỹ có thể tập trung hơn cho các điểm nóng quốc tế.
Cuộc điều trần mới đây trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ cho thấy tranh chấp Biển Đông đã trở thành vấn đề lớn cho chính quyền Obama. Tại đó, các viên chức bộ ngoại giao và quốc phòng liên tục nêu bật đe dọa mà sự cứng rắn quân sự của Trung Quốc đem đến cho ổn định vùng. Tất cả có vẻ đều ủng hộ chính sách “cây gậy và củ cà rốt” hiệu quả hơn.

Cây gậy, là vì Hoa Kỳ rõ ràng thể hiện họ sẽ không dung thứ cho sự quấy rối tàu của nước này bên trong Vùng EEZ của Trung Quốc. Cà rốt, là vì chính quyền Obama muốn tái thiết lập đối thoại với Trung Quốc, cũng như phục hồi đối thoại quân đội song phương mà đã bị tạm ngừng năm 2008.

Trong phiên điều trần ở Washington DC, các viên chức Mỹ tái khẳng định sự trung lập trong tranh chấp Biển Đông, nhưng cũng không thừa nhận nền tảng pháp lý mà Trung Quốc đặt ra cho tuyên bố chủ quyền ở vùng biển Việt Nam và Philippines. Hai nước này (Việt Nam, Philippines) công khai nhắc tới nhau như bạn bè và đối tác chiến lược trong vùng, một chuyện mà với Việt Nam là điều mới mẻ.

Thế cân bằng nhạy cảm

Hoa Kỳ đối diện thách thức vừa phải xoa dịu sự bất an của các nước châu Á mà cũng phải duy trì quan điểm trung lập trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Cho tới nay, chiến lược của Trung Quốc là đối phó với từng nước một ở Đông Nam Á, với hy vọng làm các nước khuất phục. Washington cần tăng nỗ lực làm cân bằng sân chơi ngoại giao bằng cách buộc Bắc Kinh ngồi xuống với cả khối Asean để tìm sự đồng thuận. Thật không may, tranh cãi lâu dài giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia khiến đồng thuận trong tương lai gần có vẻ khó thành hình.
Ta có thể tưởng tượng trong những năm sau này, các viên chức ngoại giao Mỹ sẽ kín đáo thúc đẩy việc dàn xếp tranh chấp giữa các nước trong Asean, hy vọng là làm như vậy sẽ đưa các nước thành viên đến với một giải pháp chung. Lý tưởng nhất, giải pháp ấy cần xây dựng trên Tuyên bố Hành xử Biển Đông của Asean năm 2002.

Chính sách của Mỹ với Biển Đông sẽ tiếp tục là hành động cân bằng tế nhị, giữa biểu đạt cứng cỏi công khai và những nỗ lực ngầm nhằm tái lập đối thoại.
Iskander Rehman

Chính sách của Mỹ với Biển Đông sẽ tiếp tục là hành động cân bằng tế nhị, giữa biểu đạt cứng cỏi công khai và những nỗ lực ngầm nhằm tái lập đối thoại, giữa tuyên bố trung lập và những nỗ lực củng cố đoàn kết Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc.

Với người ngoài, chính sách ấy có vẻ rối rắm phức tạp, nhưng có một điều đã được làm rõ: nếu Trung Quốc đã hy vọng gây bất ổn cho chính quyền Mỹ bằng những hành động nắn gân, thì họ đã thất bại.

Ít nhất vào lúc này, Biển Đông chưa chứng tỏ dấu hiệu trở thành ao hồ của Trung Quốc.
Iskander Rehman có bằng thạc sĩ Chính trị học ở Viện Chính trị học tại Paris, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở CERI (Centre d'Etudes et de Recherches Internationales) tại Paris. Ông hiện làm luận án về Chiến lược Biển của Ấn Độ. Bài viết này thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/07/090728_rehman_commentary.shtml

VietNam09
28-07-2009, 10:18 PM
Tổng tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ phải là ng đảng diều hâu thì TQ mới sợ
đảng bồ câu gà mờ kiểu này làm sao nó sợ
BUSH mà còn thì đảm bảo tàu mang kí hiệu USS đang đậu tại Philippin rồi

zeroxo
28-07-2009, 10:38 PM
đọc tựa tựa như mỹ sẽ duy trì tình hình căng thẳng giữa 2 phía vậy
làm vậy có lợi hơn cho mỹ :|

dek biết sao nữa

VietNam09
28-07-2009, 10:41 PM
đọc tựa tựa như mỹ sẽ duy trì tình hình căng thẳng giữa 2 phía vậy
làm vậy có lợi hơn cho mỹ :|

dek biết sao nữa
có lẽ thế !:banghead::banghead::banghead::banghead::banghead :

fdk1979
29-07-2009, 02:36 AM
Mỹ cũng giống Trung Quốc thôi, khác cái là Mỹ nó ở xa tít tắp, còn Trung Quốc nó sát bên mình.

vnsuluoc
29-07-2009, 02:33 PM
Trong bối cảnh Việt Nam càng lúc càng phải chịu sức ép của Trung Quốc, đặc biệt trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển Đông, giới phân tích thẩm định : Việt Nam cần nắm lấy cơ hội Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề an ninh chung tại vùng biển Đông Nam Á, để đối phó với sức uy hiếp đến từ Bắc Kinh.
In bài (http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:rfifrImprimer%28%29;)
Gửi bài (http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:_RfifrEnvoyer%28%27actu%27,%27vi%27%29;)
Bình luận bài (http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:_RfifrReagir%28%27actu%27,%27vi%27%29;)


http://www.rfi.fr/actuvi/images/115/ASEAN_US_TAC_432_090727.jpgNgoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại lễ ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác với ASEAN ngày 22/07/2009
(Nguồn : 14thaseansummit.org)

Trong vòng không đầy 10 ngày vào trung tuần tháng 07/2009, Hoa Kỳ liên tiếp tung ra ba tín hiệu hướng về phiá các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, theo một kịch bản càng lúc càng cụ thể.
Thoạt đầu là cuộc điều trần hôm 15/07/2009 tại Thượng Viện Mỹ về tranh chấp hải phận và vấn đề chủ quyền tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó hai phó trợ lý bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Hoa kỳ đã xác định chủ trương củng cố trở lại sự hiện diện của Mỹ trong vùng Đông Nam Á.
Chủ trương chung này đã được cụ thể hoá một tuần sau đó bằng sự kiện Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Thái Lan ký kết Hiệp định "bất tương xâm" với khối các nước Đông Nam Á Asean hôm 22/07.
''Chính sách Đông Nam Á'' mới của Hoa Kỳ cùng một lúc đã được cụ thể hoá hơn nữa với Hội nghị đầu tiên giữa Hoa Kỳ và 4 nước Hạ nguồn sông Mêkông là Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Thái Lan, bên lề Hội nghị Diễn đàn An ninh Khu vực Asean (ARF). Nhân cuộc họp đầu tiên này, phiá Hoa Kỳ đã công bố kế hoạch hợp tác, trị giá hơn 160 triệu đô la riêng cho năm 2009, để chi viện cho các chương trình môi trường, y tế và giáo dục trong vùng Hạ lưu sông Mêkông.
Theo các nhà quan sát, căn bản chính sách Đông Nam Á của chính quyền Barack Obama đã bộc lộ rõ trong cuộc điều trần tại Thượng Viện Mỹ ngày 15/07, trong đó hai đại diện cao cấp bộ Ngoại Giao và bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cùng với ba chuyên gia đã nêu bật xu hướng bành trướng thế lực đáng quan ngại của Trung Quốc trong vùng châu Á Thái Bình Dương, từ việc tăng cường tiềm lực hải quân, cho đến những hành động lấn chiếm hay uy hiếp cụ thể nhằm xác lập chủ quyền của họ trên những hòn đảo hay vùng biển đang tranh chấp với các láng giềng, không kể đến những hành vi xách nhiễu liên tiếp nhắm vào tàu hải quân Mỹ tại vùng Biển Đông.
Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đe dọa quyền tự do thông thương
Trong cuộc điều trần, các hành động gần đây của Trung Quốc nhằm chèn ép Việt Nam như hù dọa các tập đoàn dầu khí quốc tế không cho họ kinh doanh với Việt Nam hay việc chận bắt ngư dân Việt Nam, đã được các diễn giả nêu bật thành những thí dụ cho thấy là những hành động của Bắc Kinh đe dọa đến quyền tự do thông thương trong vùng, qua đó đụng chạm đến quyền lợi nước Mỹ.
Chính là xuất phát từ tình hình đó mà đại diện bộ Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ đã xác định rõ ràng là chính quyền Mỹ rất quan ngại trước chính sách bành trướng của Trung Quốc trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Dù chủ trương không can thiệp vào hồ sơ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam cũng như các nước khác, nhưng phiá Hoa Kỳ cho rằng các đòi hỏi của Bắc Kinh về lãnh hải chẳng hạn không phù hợp với luật lệ quốc tế.
Các hành động ngày càng lấn lướt của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á, và cả đối với Hải quân Mỹ, đe dọa an ninh chung của khu vực và quyền lợi thiết thân của Hoa Kỳ là quyền tự do lưu thông trên biển. Tình hình đó đòi hỏi Hoa Kỳ phải duy trì một lực lượng hải quân hùng mạnh trong vùng để bảo đảm quyền tự do đi lại, củng cố quan hệ với các đối tác từ Indonesia, Philippines, cho đến Malaysia, Việt Nam, và lẽ dĩ nhiên đối thoại với Trung Quốc để ngăn ngừa bất trắc.
Để tìm hiểu rõ hơn về ý nghĩa của các động thái ngoại giao gần đây của Hoa Kỳ hướng về Đông Nam Á, Ban Việt Ngữ RFI đã phỏng vấn giáo sư chính trị học Nguyễn Mạnh Hùng, thuộc Đại Học George Mason ở tiểu bang Virginia, và giáo sư Ngô Vĩnh Long chuyên gia về Trung Quốc và châu Á tại Đại Học Maine, Hoa Kỳ.
"Cần nắm lấy thời cơ Hoa Kỳ lưu tâm đến an ninh khu vực''
Đối với cả hai giáo sư, trong bối cảnh Việt Nam càng lúc càng phải chịu sức ép của Trung Quốc, đặc biệt trong vần đề tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển Đông, Việt Nam cần nắm lấy thời cơ Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề an ninh chung tại vùng Đông Nam Á, để đối phó với sức uy hiếp đến từ Bắc Kinh.
http://www.rfi.fr/actuvi/images/115/NguyenManhHung_200.jpgGiáo sư Nguyễn Mạnh Hùng
(Ảnh : Trọng Nghĩa/RFI)

Trả lời câu hỏi của RFI, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng đặc biệt ghi nhận mối quan tâm đặc biệt mà Hoa Kỳ dành cho Việt Nam trong hàng loạt những động thái hướng về Đông Nam Á trong thời gian gần đây mà rõ ràng nhất là cuộc họp giữa bà ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton với bốn đồng nhiệm Việt Nam Lào Cam Bốt và Thái Lan bên lề Hội nghị Asean ngày 23/07 vừa qua. Bên cạnh đó, công cuộc hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt vẫn tiến triển dù chậm chạp, mà dấu hiệu mới nhất là các cuộc thảo luận vào cuối tuần trước giữa không quân hai nước.
Trong tình hình Hoa Kỳ tuyên bố sẵn sàng củng cố lực lượng trong vùng, thắt chặt thêm quan hệ với các nước đối tác trong khu vực Đông Nam Á, để bảo đảm quyền tự do thông thương, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng Việt Nam cần tranh thủ cơ hội này để hạn chế sức ép đến từ Bắc Kinh.
Sau đây là bài phỏng vấn giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, trường Đại Học George Mason, Virginia.
Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng tại Hoa Kỳ



27/07/2009 Trọng Nghĩa


http://www.rfi.fr/actuvi/images/115/NgoVinhLong_umaine_200.jpgGiáo sư Ngô Vĩnh Long
(Nguồn : umaine.edu)

Cùng quan điểm với giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư Ngô Vĩnh Long đã ghi nhận tính chất quan trọng của các chuyển đổi mới đây trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với vùng Đông Nam Á, nhất là khi cuộc điều trần ở Thượng Viện Mỹ hôm 15/07 đã nêu bật những hành động ''quá trớn" của Trung Quốc không chỉ với các nước làng giềng, mà cả với Hải quân Mỹ.
Theo giáo sư Ngô Vĩnh Long, tín hiệu mà Hoa Kỳ bắn đi, không chỉ đơn thuần nhắm vào Trung Quốc để nước này giảm bớt các hành động quá đáng, mà còn nhắm tới các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, để các nước này biết rõ là Hoa Kỳ sẽ không từ nhiệm trong vai trò cường quốc duy nhất có khả năng tạo thế cân bằng với uy lực đang lên của Trung Quốc tại Châu Á.
Theo giáo sư Long, Việt Nam trong thế đang bị Trung Quốc ''ức hiếp'' cần phải nắm lấy thời cơ này để có chính sách thỏa đáng nhằm giải tỏa được sức ép từ phiá Bắc Kinh, bảo vệ được tư thế độc lập của mình.
Sau đây là bài phỏng vấn giáo sư Ngô Vĩnh Long, Đại Học Maine.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long tại Hoa Kỳ


Nguồn: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/115/article_4360.asp
bác nào thích nghe radio thì vào link ngốc mà nghe!!

ma_chien_huu
29-07-2009, 03:17 PM
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/07/28/090728124648_iskander.jpg Iskander Rehman
Viết riêng cho BBCVietnamese.com




Năm 2009 được đánh dấu bằng thái độ mạnh bạo hơn của Trung Quốc cả về ngoại giao và quân sự trên Biển Đông.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/04/23/090423151926_submarine466.jpgTrung Quốc đang biểu dương sức mạnh trên Biển Đông




Tranh chấp Trường Sa tái trỗi dậy phủ mờ quan hệ Trung Quốc – Philippines, và các ngư dân Việt Nam thường bị các tàu tuần tiễu Trung Quốc thu gom vì “đánh cá trong vùng biển Trung Quốc”.
Các công ty Anh, Mỹ đã chịu sức ép rút khỏi hoạt động kinh doanh năng lượng ngoài biển với Việt Nam. Trung Quốc cũng đẩy mạnh hoạt động hải quân, tăng gấp đôi số lượng tuần tra quanh Hoàng Sa và Trường Sa còn tranh chấp. Và khi tàu Mỹ USNS Impeccable bị tàu Trung Quốc đe dọa trên vùng biển quốc tế tháng Ba, vụ này đã trở thành tin đi đầu trên thế giới. Thực tế đây không phải là vụ riêng lẻ mà nằm trong một loạt va chạm trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông.

Làm sao giải thích sự mạnh bạo hơn của Trung Quốc? Theo tôi, có hai lý do chính.

Đầu tiên, như báo cáo hàng năm mới nhất của Lầu Năm Góc về quân đội Trung Quốc dự báo, hiện đại hóa của quân Trung Quốc đã giúp nước này có vị thế tốt hơn nhiều trong vùng, và vì lẽ đó đẻ ra sự tự tin hung hăng hơn trong vấn đề bảo vệ đòi hỏi chủ quyền đại dương.

Thứ hai, có thể Bắc Kinh đang muốn thử thách chính quyền Obama, các vụ khiêu khích là để đánh giá “độ rắn” của tổng thống Mỹ. Có thể quá sớm để nhìn thấy mô típ, nhưng vụ tàu USNS Impeccable incident có nhiều điểm tương tự với va chạm máy bay do thám EP-3 tháng Bảy 2001. Cả hai xảy ra bên ngoài căn cứ tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc ở Hải Nam, và đều diễn ra trong những tháng đầu tiên của tân chính phủ Mỹ.

Phản ứng của Obama

Chính phủ Obama chứng tỏ vừa cứng lại cũng thận trọng trong đối phó với Trung Quốc. Sau vụ tàu USNS Impeccable, Mỹ nhanh chóng đưa tàu chiến ra hộ tống các tàu khảo sát ở Biển Đông, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại hai quân đội để ngăn sự tái diễn thường xuyên.
Từ đó đến nay, trước sự bực bội của những thành phần diều hâu trong quân đội Trung Quốc, Mỹ vẫn tiếp tục hoạt động khảo sát cả trên biển và trên không, bên trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Trung Quốc. Như vậy, sự áp dụng nguyên tắc chủ quyền quốc gia của Trung Quốc mâu thuẫn trực tiếp với sự bảo vệ tự do đi lại của Mỹ.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/06/24/090624104703_michele.jpgTrợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp với Trung Quốc hồi tháng Sáu, có bàn về Biển Đông



Bỏ qua những mắc míu pháp lý, thực tế là Trung Quốc trong lịch sử đã xem Biển Đông không khác gì “một cái hồ của Trung Quốc”, và nay có khả năng quân sự - ngoại giao để tiến tới thực hiện chiến lược địa chính trị một cách tự tin hơn.
Hoa Kỳ, nước đã dần dà giảm lực lượng hải quân trong vùng, và trong mắt các chiến lược gia Trung Quốc là có vẻ thể hiện dấu hiệu “quá tải của đế quốc” tại Iraq và Afghanistan, không khơi gợi sự kính nể như đã từng.
Nhưng điều này có thể sắp thay đổi. Sự triệt thoái khỏi Iraq và tập trung cho Afghanistan khiến Mỹ có thể tập trung hơn cho các điểm nóng quốc tế.
Cuộc điều trần mới đây trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ cho thấy tranh chấp Biển Đông đã trở thành vấn đề lớn cho chính quyền Obama. Tại đó, các viên chức bộ ngoại giao và quốc phòng liên tục nêu bật đe dọa mà sự cứng rắn quân sự của Trung Quốc đem đến cho ổn định vùng. Tất cả có vẻ đều ủng hộ chính sách “cây gậy và củ cà rốt” hiệu quả hơn.

Cây gậy, là vì Hoa Kỳ rõ ràng thể hiện họ sẽ không dung thứ cho sự quấy rối tàu của nước này bên trong Vùng EEZ của Trung Quốc. Cà rốt, là vì chính quyền Obama muốn tái thiết lập đối thoại với Trung Quốc, cũng như phục hồi đối thoại quân đội song phương mà đã bị tạm ngừng năm 2008.

Trong phiên điều trần ở Washington DC, các viên chức Mỹ tái khẳng định sự trung lập trong tranh chấp Biển Đông, nhưng cũng không thừa nhận nền tảng pháp lý mà Trung Quốc đặt ra cho tuyên bố chủ quyền ở vùng biển Việt Nam và Philippines. Hai nước này (Việt Nam, Philippines) công khai nhắc tới nhau như bạn bè và đối tác chiến lược trong vùng, một chuyện mà với Việt Nam là điều mới mẻ.

Thế cân bằng nhạy cảm

Hoa Kỳ đối diện thách thức vừa phải xoa dịu sự bất an của các nước châu Á mà cũng phải duy trì quan điểm trung lập trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Cho tới nay, chiến lược của Trung Quốc là đối phó với từng nước một ở Đông Nam Á, với hy vọng làm các nước khuất phục. Washington cần tăng nỗ lực làm cân bằng sân chơi ngoại giao bằng cách buộc Bắc Kinh ngồi xuống với cả khối Asean để tìm sự đồng thuận. Thật không may, tranh cãi lâu dài giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia khiến đồng thuận trong tương lai gần có vẻ khó thành hình.
Ta có thể tưởng tượng trong những năm sau này, các viên chức ngoại giao Mỹ sẽ kín đáo thúc đẩy việc dàn xếp tranh chấp giữa các nước trong Asean, hy vọng là làm như vậy sẽ đưa các nước thành viên đến với một giải pháp chung. Lý tưởng nhất, giải pháp ấy cần xây dựng trên Tuyên bố Hành xử Biển Đông của Asean năm 2002.

Chính sách của Mỹ với Biển Đông sẽ tiếp tục là hành động cân bằng tế nhị, giữa biểu đạt cứng cỏi công khai và những nỗ lực ngầm nhằm tái lập đối thoại.
Iskander Rehman




Chính sách của Mỹ với Biển Đông sẽ tiếp tục là hành động cân bằng tế nhị, giữa biểu đạt cứng cỏi công khai và những nỗ lực ngầm nhằm tái lập đối thoại, giữa tuyên bố trung lập và những nỗ lực củng cố đoàn kết Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc.

Với người ngoài, chính sách ấy có vẻ rối rắm phức tạp, nhưng có một điều đã được làm rõ: nếu Trung Quốc đã hy vọng gây bất ổn cho chính quyền Mỹ bằng những hành động nắn gân, thì họ đã thất bại.

Ít nhất vào lúc này, Biển Đông chưa chứng tỏ dấu hiệu trở thành ao hồ của Trung Quốc.
Iskander Rehman có bằng thạc sĩ Chính trị học ở Viện Chính trị học tại Paris, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở CERI (Centre d'Etudes et de Recherches Internationales) tại Paris. Ông hiện làm luận án về Chiến lược Biển của Ấn Độ. Bài viết này thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

SONTHEKING
29-07-2009, 05:18 PM
Tình hình này thì chắc là phải nên như vậy , nhưng nói gì thì nói TQ cũng chỉ là 1 đất nước đang cố bành trướng sức mạnh của họ, còn kẻ thù lớn nhất của chúng ta với những âm mưu thôn tính không bao giờ thay đổi , Việt Nam ta hãy cố nắm bắt thời cơ , tùy thuộc thời điểm và dành lại thời thế để lấy lại những gì mình đã mất nhưng cũng phải luôn luôn đề cao cảnh giác những âm mưu tiềm ẩn của kẻ thù.

hoangtruongvn165
29-07-2009, 05:40 PM
Theo tôi, quan hệ với Mĩ vẫn ở 1 mức độ nào đó thôi, có thể là giai đoạn hiện tại, chúng ta đang cần tiêng nói của Mĩ để đối trọng với TQ. Mình có thể chắc chắn 1 điều nếu xảy ra Chiến Tranh, ngoài 2 nước Hàn Quốc với Nhật Mĩ sẽ không tham chiến cho bất cứ nước nào khác. Vì vậy hợp tác theo hướng nào có lợi, đó là phải lôi keo Nhật, Hàn và các nước Đông Nam Á cùng kí thỏa thuận hợp quân sự chiến lược như của NaTo để chống lại Nga ấy. Nếu làm được điều đó thì mới có cơ may kìm hãm đước TQ.

forum
29-07-2009, 08:46 PM
Giả thiết hợp tác quân sự với Nhật Bản hay Hàn Quốc có vẻ không tưởng với Việt Nam vì từ trước đến nay các lĩnh vực hợp tác chỉ bao gồm kinh tế, chính trị, giáo dục, môi trường. Hơn nữa, quân sự Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ. Nhật Bản và Hàn Quốc nằm quá xa Việt Nam bạn ạ, chỉ có thể thúc đẩy các hợp tác kinh tế thông qua hợp tác song phương và các diễn đàn Hội nghị cấp cao ASEAN-Hàn, ASEAN-Nhật thôi.

Đối với Việt Nam thì việc khả dĩ nhất có thể làm là củng cố các cơ chế hợp tác an ninh khu vực như ARF, bên cạnh đó là hợp tác quân sự song phương với các thành viên ASEAN qua các hoạt động tập trận chung trên biển, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật quân sự. Những việc làm này đã được chính phủ xúc tiến từ trước rồi.

Riêng đối với Mỹ, có hẳn một chủ đề nói về hợp tác quân sự Việt-Mỹ ở đây:

http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=9070

virut-07
30-07-2009, 11:38 AM
Mỹ đang tìm cách kìm chế Trung Quốc lộng quyền trên Biển Đông

http://admin.vitinfo.com.vn/Anh/Anhtieude/2009/7/29/LA63845_China_ship_ap_sat_USNS_Impeccable.jpg
Tàu hải quân Trung Quốc áp sát tàu khảo sát USNS Impeccable.

VIT (http://vit.com.vn/) - Trong khi quân đội Mỹ vẫn đang tập trung vào những hoạt động quân sự tại Trung Đông, thì những toan tính tranh giành trên Biển Đông của Trung Quốc có nguy cơ gây nên cuộc xung đột lớn.
Trong tháng 3, các tàu hải quân Trung Quốc đã đụng độ với một tàu khảo sát của Mỹ, tàu USNS Impeccable, tại vùng biển cách đảo Hải Nam 75 dặm, và trong tháng 6, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với thiết bị định vị kéo theo sau của tàu khu trục Hải quân Mỹ.
Hai vụ đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Mỹ là sự biểu hiện về những toan tính hiện nay giữa hai cường quốc này.
Bộ Quốc phòng Mỹ đã đồng ý tổ chức một cuộc đối thoại với Bộ Quốc phòng Trung Quốc trong tương lai gần với hy vọng tránh được những va chạm như vậy trong tương lai và thiết lập các cơ chế để giải quyết vấn đề này. Đây được cho là một bước đi tích cực.
Việc Trung Quốc dùng vũ lực tranh chấp chủ quyền đối với Biển Đông và các hòn đảo và đảo san hô chồng lấn với các hòn đảo của một số nước Đông Nam Á, vùng biển này là tuyến đường biển thương mại có tầm quan trọng chiến lược sống còn tại châu Á, đồng thời sự tranh giành nguồn tài nguyên phong phú và tăng cường sức mạnh quân sự đều có khả năng gây nên xung đột trên biển Đông.
Các vụ đụng độ trên biển gần đây đã phản ánh thái độ kiên quyết hơn của Bắc Kinh trong những năm gần đây và nhất là khi Trung Quốc đang hiện đại hoá lực lượng hải quân của họ. Gần đây, Bắc Kinh đã gây áp lực đối với Việt Nam và Philippine về những tuyên bố chủ quyền của họ đối với các vùng lãnh thổ đang tranh chấp (và đối với các dự án thăm dò dầu khí tại khu vực này của các công ty dầu khí phương Tây). Phản ứng của Trung Quốc với sự kiện tàu Impeccable cũng gây nên mối lo ngại, bất chấp luật pháp quốc tế, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng các tàu Mỹ cần phải xin phép trước khi đi vào Khu Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc.
Tuy nhiên, phản ứng của Mỹ đối với những hành động khiêu khích này lại hết sức ôn hoà. Chính phủ Mỹ đã chỉ gửi công hàm phản đối lên chính phủ Trung Quốc sau sự kiện tàu Impeccable, và tuyên bố vụ va chạm của tàu ngầm Trung Quốc là vô ý.
Sự tiếp cận như vậy cho thấy chiến lược đối với Trung Quốc của Mỹ vẫn còn khó khăn. Mỹ đã cố gắng thuyết phục Trung Quốc hợp tác trên một loạt các lợi ích chung, đồng thời cũng chuẩn bị đối phó với khả năng Trung Quốc lựa chọn giải pháp đối đầu. Tuy nhiên, với mong muốn duy trì các mối quan hệ với Bắc Kinh và để tránh căng thẳng, Mỹ muốn biện pháp ngăn chặn quân sự của họ phải được tiến hành kín đáo hơn là công khai. Với hy vọng Bắc Kinh sẽ có cái nhìn tích cực.
Tuy nhiên, chiến lược của Mỹ trong trường hợp này chưa đánh giá hết được các toan tính của Trung Quốc trên Biển Đông. Mối quan ngại chính không phải là Trung Quốc có thể sẽ có lựa chọn chiến lược nguy hiểm để đối đầu với Mỹ ở đó, mà Trung Quốc có thể sẽ có những hành động gây hấn - có thể thông qua sức ép về kinh tế và quân sự đối với các nước láng giềng phía nam - nếu họ tin là họ có thể hạn chế được sự phản đối và ảnh hưởng quốc tế của Mỹ.
Tờ Global Times, cơ quan ngôn luận của chính phủ trung ương Trung Quốc, gần đây đã đăng một bài viết cho biết 92% người sử dụng Internet cho rằng tranh chấp trên Biển Đông sẽ phải được giải quyết bằng vũ lực. Trong tháng này, một nhóm chuyên gia thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã kêu gọi tăng cường một chiến dịch quân sự có thể sẽ “nhằm vào sự kiêu ngạo của một hoặc hai quốc gia nhỏ, trong thực tế là dùng vũ lực giành lại một số hòn đảo và đá ngầm chiến lược, bao gồm cả các cuộc tấn công vào các giếng dầu bất hợp pháp.” Theo quan điểm của họ, yếu tố quyết định là Mỹ có thể sẽ không quyết tâm phản đối các hành động quân sự.
Để giải quyết quan niệm sai lầm này, Mỹ phải làm rõ các sứ mệnh chống lại các hành động xâm chiếm bất hợp pháp trên biển Đông. Đồng thời họ phải có những bước đi thận trọng để làm giảm nguy cơ Trung Quốc sẽ có những phản ứng dữ dội.
Bộ Quốc phòng Mỹ cần phải thông qua các cuộc đối thoại về các vấn đề trên biển để chuyển tải quyết tâm duy trì sự hiện diện của Mỹ tại Biển Đông. Tuy nhiên, do vấn đề này có ý nghĩa lớn hơn các vụ đụng độ trên biển, cho nên các nỗ lực này phải được gắn liền với các biện pháp khác. Quân đội Mỹ cần phải giải thích rõ những lợi ích của Mỹ tại khu vực này - bao gồm cả việc tự do đi lại qua vùng biển quan trọng này, và biện pháp giải quyết các xung đột lãnh thổ ở đây một cách hoà bình - và tái khẳng định Mỹ sẵn sàng bảo vệ những lợi ích đó. Mỹ cũng cần phải tăng cường hợp tác an ninh với các đối tác Đông Nam Á của họ.
Đồng thời, nước Mỹ cần phải làm rõ rằng họ không có ý phản đối những hiện diện có tính hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển này, và mời Trung Quốc tham gia sâu rộng hơn vào các sứ mệnh an ninh hàng hải chống cướp biển và phổ biến vũ khí. Sự kết hợp các biện pháp này sẽ tăng cường khả năng ngăn chặn của Mỹ trong khi vẫn khuyến khích Trung Quốc tham gia vào một cơ chế an ninh tập thể.

Nguồn tin (http://www.worldpoliticsreview.com/Article.aspx?id=4124)
Ngọc Linh (Theo Worldpoliticsreview)
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Trong tháng này, một nhóm chuyên gia thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã kêu gọi tăng cường một chiến dịch quân sự có thể sẽ “nhằm vào sự kiêu ngạo của một hoặc hai quốc gia nhỏ''

Nó nói 1 hoặc 2 quốc ra nhỏ là nó nói tới VN ta rồi .cái giọng điệu kiêu ngạo của thằng Khựa bẩn này ,bắt buộc chúng ta có phải hành động để đáp trả lại cái sự kiêu ngạo của nó..:banghead:

minhnhat2003
31-07-2009, 02:14 PM
Biết lo nghĩ, vì nước thế là tốt, nhưng đến lúc Mỹ với TQ nó bắt tay nhau Việt Nam ta thành cái khỉ mọc gì.

lạc đà say rượu
31-07-2009, 02:37 PM
Biết lo nghĩ, vì nước thế là tốt, nhưng đến lúc Mỹ với TQ nó bắt tay nhau Việt Nam ta thành cái khỉ mọc gì.
sợ mà không làm thì chỉ có nước ngồi chờ chết.
Thành công không đến với người quá cầu toàn hay lo sợ.
Chấp nhận rủi ro trong tính toán của ta thôi, chứ 1 mình VN cứ ngồi mà lo sợ thì không chống lại nổi khựa đâu.
Không chơi với mẽo thì ai đây. Nhật, Ấn.. cũng mạnh nhưng chắc tương lai gần chưa thể có uy thế bằng mẽo. đợi đến lúc ta vững mạnh, ấn - nhật vũng mạnh giúp ta thì biển Đông về tay khựa rồi.

minhnhat2003
01-08-2009, 10:46 AM
Cách tốt nhất bây giờ là kẽ thù truyền thống của TQ hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo thành khối NATO thứ 2 ở châu Á, lúc đấy mới yên tâm.

minhnhat2003
01-08-2009, 01:54 PM
Nó lợi dụng VN để tạo ảnh hưởng khắp thế giới, khựa là quốc gia mới nỗi muốn chứng tỏ ta đây, muôn đời nước nhỏ là quân cờ của nước lớn. Hị vọng mấy cha lãnh đạo sáng suốt đứng có như lũ lưu vong ăn tục nói phét nhiều quá.

proudvn08
01-08-2009, 02:29 PM
Cách tốt nhất bây giờ là kẽ thù truyền thống của TQ hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo thành khối NATO thứ 2 ở châu Á, lúc đấy mới yên tâm.


Uh, mình mà bắt tay được với mấy thằng như Đài loan, Phil và Mông cổ thì bọn Tàu ghẻ cũng khiếp vãi ra nhẩy . . . .:smilie_clap:!

ntt-dn
01-08-2009, 10:47 PM
tại sao asean +..(- tq) ko hợp tác lại với nhau như mấy cái liên minh quân sự trên thế giới ấy. Để chống lại tq chẳng hạn.

ma_chien_huu
11-08-2009, 02:09 PM
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/08/11/090811054230_map_226l.jpgTrung Quốc thiết lập hai tuyến phòng thủ tại Biển Đông


Kênh truyền hình CCTV-7 của Trung Quốc trong chương trình quốc phòng hàng tuần hôm 09/08 có cuộc thảo luận về hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại vùng Biển Đông để tìm hiểu sách lược của Mỹ nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Bắc Kinh trong khu vực này.
Khách mời là hai chuyên gia hàng đầu TQ trong lĩnh vực khoa học quốc phòng, giáo sư Trương Triệu Trung (张召忠) và Vương Bảo Phó (王宝付).
Ông Trương là giám đốc cơ quan Giáo dục Khoa học và Kỹ thuật Quân sự thuộc Học viện Quốc phòng, ông Vương là phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược cũng của học viện này.
Hai ông đã bàn về mục đích của cuộc tập trận mới rồi do Mỹ cầm trịch tại hải phận Philippines trên Biển Đông, trong đó xảy ra tai nạn tàu ngầm của TQ va chạm với khu trục hạm John S. McCain của Mỹ.
Cả hai giáo sư Trương và Vương đều thống nhất rằng mục đích của cuộc tập trận chung giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là nhằm thực tập hoạt động tác chiến chống tàu ngầm, nhằm vào tàu Trung Quốc.
Ông Vương nói Hoa Kỳ chú trọng công tác chống tàu ngầm, các cuộc tập trận tổ chức với đồng minh gần đây đều có hoạt động này, cho thấy bước chuyển trong tư duy chiến lược của Washington.
Ông Trương thì đề cập tới tầm quan trọng của hợp tác quân sự Mỹ-Philippines và vai trò của Manila trong nỗ lực kiềm chế Trung Quốc của Hoa Kỳ.
Hai vòng phòng thủ biển


Ngay từ đầu thế kỷ này, Bắc Kinh đã công khai bày tỏ nguyện vọng nâng cấp hải quân với mục tiêu thống lĩnh ảnh hưởng trong khu vực.
Trung Quốc không giấu giếm kế hoạch thiết lập hai vòng phòng thủ đảo biển, bao quát toàn bộ Biển Đông và khu vực Đông Nam Á.
Vòng phòng thủ thứ nhất (first island chain) chạy từ Đài Loan qua quần đảo Trường Sa tới Singapore ở cuối bán đảo Malaysia. Trong đó có cả các đảo thuộc Nhật Bản, Okinawa, Philippines và Brunei.
Vòng phòng thủ thứ hai (second island chain) thì mở rộng tới tận Australia.
Tham vọng của Bắc Kinh được nói là giành kiểm soát vòng thứ nhất vào năm 2010 và vòng thứ hai vào năm 2040.
Giới quan sát nói nếu việc này đạt được thì có nghĩa Trung Quốc giành kiểm soát phần lớn châu Á-Thái Bình Dương.

Trong cuộc thảo luận trên truyền hình Trung Quốc CCTV-7, giáo sư Trương Triệu Trung nhấn mạnh rằng đối với Hoa Kỳ, Philippines có ý nghĩa tối quan trọng trong vòng phòng thủ thứ nhất.

Các cuộc diễn tập cho thấy ý đồ chế ngự và tăng khả năng chống tàu ngầm tại khu vực hết sức tế nhị là Nam Hải (Biển Đông) tất nhiên khiến Trung Quốc quan ngại.
GS Trương Triệu Trung, Học viện Quốc phòng Trung Quốc


Ông nói các nhà hoạch định chính sách quân sự Mỹ muốn sử dụng các nước trong khu vực này, bắt đầu từ Philippines, để đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc.
"Các cuộc diễn tập cho thấy ý đồ chế ngự và tăng khả năng chống tàu ngầm tại khu vực hết sức tế nhị là Nam Hải (Biển Đông) tất nhiên khiến Trung Quốc quan ngại."
Giáo sư Trương cho rằng các quốc gia trong vòng phòng thủ thứ nhất mang ý nghĩa địa chính trị quan trọng.
Trong khu vực Đông Nam Á, Philippines, vịnh Cam Ranh của Việt Nam và eo biển Malacca đi qua Singapore tạo một tam giác chiến lược, cùng với một tam giác chiến lược khác ở Đông Bắc Á bao gồm Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Hai tam giác chiến lược này chế ngự cửa ngõ ra Thái Bình Dương và là địa bàn quan tâm chủ chốt của Hoa Kỳ.
Chính sách biển đảo của Mỹ


Theo ông Trương, thực tế định nghĩa các vòng đảo chiến lược xuất phát từ Hoa Kỳ, lần đầu tiên được Ngoại trưởng Mỹ John F. Dulles đưa ra năm 1951 nhằm chế ngự nước Trung Quốc mới.
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ đã dùng thiết bị dò âm dưới đáy biển tại khu vực này để xác định hoạt đ̣ộng của tàu ngầm Trung Quốc.
Giáo sư Trương nhận định rằng quan hệ Trung-Mỹ tuy phát triển mạnh và tích cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và ngoại giao, riêng trong lĩnh vực quân sự, Mỹ không hề thay đổi lập trường. Ông cũng cho rằng tuy có hợp tác, nhưng sự ganh đua giữa Mỹ và Trung Quốc về quốc phòng vẫn còn đó.
Về phần mình, giáo sư Vương nói Hoa Kỳ chưa bao giờ từ bỏ chính sách biển đảo của mình và Mỹ cùng với Nhật Bản luôn coi Thái Bình Dương là sân chơi riêng của họ đồng thời không muốn thấy Trung Quốc vươn ra ngoài vòng đảo thứ nhất.
Theo ông, các tranh chấp phức tạp tại khu vực này đang mang lại thách thức lớn cho Trung Quốc về mặt an ninh.
Trung Quốc phải kiểm soát đường lưu thông, thí dụ qua eo biển Malacca, vì điều này ảnh hưởng sống còn tới phát triển của Trung Quốc.
Ông Vương Bảo Phó cho rằng Trung Quốc, với tư cách một quốc gia hàng hải, phải có quyền tiếp cập tự do trong Thái Bình Dương.
Các chuyên gia thống nhất rằng hải quân Trung Quốc phải được ngày càng củng cố, hiện đại hóa, để đi xa bờ, bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc.

hoanghungcz
29-08-2009, 09:10 PM
Lê Tuấn Huy – Bài ngửa ở Biển Đông và bài bản về tư duy


Trong thời gian 11 – 24/06/2009, tàu khảo sát Bruce C. Heezen của Hải quân Hoa Kỳ đã vào hải phận Việt Nam. Giới quan sát cho rằng đây là bước đi chính trị của Hà Nội. Tuy nhiên, đó không phải là chuyện đột ngột. Trước khi Hội nghị Trung ương lần thứ Tư (15 – 24/01/2007) bế mạc, mà một trong những điểm đáng chú ý là nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020, đã có thông tin Việt Nam chấp nhận để tàu Mỹ vào tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh.
Trên hai năm rưỡi đó, để chính thức hóa một quyết định nhân đạo liên quan đến biển Đông với phía Mỹ, là những biến động ngoại giao có tương tác chiều sâu với đường hướng bảo vệ tổ quốc. Và, bên dưới khoảng thời gian và tương tác này, là những vấn đề của tư duy chiến lược.
1. Cục diện mới ở biển Đông
Khởi đầu chuỗi diễn biến nóng ở biển Đông, ngày 05/03/2009, Thủ tướng Malaysia tuyên bố chủ quyền đối với đá Hoa Lau và vùng biển phụ cận thuộc Trường Sa. Tiếp theo, ngày 10/03/2009, Philippines thông qua Luật về Đường cơ sở (Baselines Law) để xác định lãnh hải. Khi hạn định đăng ký thềm lục địa mở rộng với Liên hiệp quốc đang gần kề (13/05/2009), hai động thái này thể hiện ý nguyện khẳng định chủ quyền biển.
Thế nhưng, đến vụ đụng độ giữa tàu Impeccable của Mỹ với năm tàu Trung Quốc vào ngày 08/03/2009, thì cả trên bề mặt diễn tiến lẫn thực chất vấn đề đã không còn đơn giản như vậy.
Sau sự việc, Hoa Kỳ đã lập tức điều chiến hạm đến hỗ trợ hoạt động quan trắc. Đáp lại, Hoa lục cho xuất bến tàu tuần ngư lớn nhất, vốn được đóng lại từ tàu chiến. Có điều là, thay vì chỉ đến vùng biển đã xảy ra chạm trán hoặc nơi hiện có hoạt động hải thám của Hoa Kỳ, Bắc Kinh lại nhanh chóng cho tàu đến Hoàng Sa, Trường Sa. Và, trước khi họ đến những nơi có trong hải trình “tuần ngư”, thì ngày 12/03/2009, Việt Nam đã phải phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền vì tổ chức tour du lịch đến đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa.
Các tàu Mỹ, Hoa tiếp tục có những va chạm riêng rẽ sau đó nhưng thiệt hại lớn nhất lại là Việt Nam, do có lệnh cấm đánh bắt trên biển kéo dài hai tháng rưỡi mà Trung Quốc đưa ra, từ ngày 15/06/2009, với phạm vi bao gồm cả một số vùng thuộc chủ quyền Việt Nam mà họ tranh chấp.
Toàn bộ diễn biến vẫn đang tiến triển này không những khẳng định chiếc lược và sách lược “Nam hải” của Trung Quốc đối với các bên liên quan, mà còn mở ra cục diện mới tại đây.
Về chiến lược, Trung Quốc trước sau như một, không những muốn chiếm tuyệt đại bộ phận biển, đảo phía nam, mà còn có tham vọng biến biển Đông thành ao nhà, đẩy các thế lực đại dương khác ra khỏi vùng.
Về sách lược và chiến thuật, cùng với việc lâu nay vẫn giữ cho các tranh chấp ở dạng song phương, họ dùng phương cách đúng đắn, là chọn đúng đối tượng cho từng thái độ ứng xử, theo từng diễn tiến, trong thế sẵn sàng đối kháng với các quốc gia nhỏ trong vùng, đặc biệt là với Việt Nam. Đồng thời, ứng với thế và lực hiện nay, họ tránh đối kháng với thế lực lớn, dù vẫn có hành động khẳng định mình.
Về cục diện, trong bối cảnh mà việc xác quyết và bảo vệ lãnh hải trở thành vấn đề phải trực diện đối với các nước trong vùng, khiến cho từ đây về sau, tuy từng lúc có khác nhau nhưng khu vực biển Đông khó có thể bình ổn như trước, thì việc tăng cường thám sát bằng hải quân cho thấy đã đến lúc Hoa Kỳ tái hiện diện quân sự ở Đông Nam Á. Nếu thế, cuộc chơi “ao nhà” sẽ khó khăn hơn nhưng đồng thời cũng khiến cho Trung Quốc tăng cường hơn nữa áp lực quân sự để đạt vị thế mong muốn. Cũng sẽ không dừng lại ở Hoa Kỳ và Hoa lục, vì với thông lệ tự do lưu thông trên các vùng biển quốc tế, và để bảo đảm từ xa các quyền lợi của mình, các quốc gia khác cũng có thể hiện diện tại khu vực như những thế lực biển.
Như vậy, thành tố Trung Hoa đã thay đổi, thành tố Hoa Kỳ đang thay đổi, các thành tố khác bên ngoài sẽ thay đổi. Thế nên, các thành tố bên trong của tranh chấp biển Đông cũng không thể đứng yên, mà sẽ vận động theo hướng ít nhiều tạo thế liên minh với Hoa Kỳ và đưa tranh chấp ra quốc tế.
Nói vắn tắt, đã khởi sự một cục diện đa thành tố, với xu hướng gia tăng về quân sự và gắn kết về liên minh, khiến tranh chấp biển Đông ngày càng mang tính quốc tế.
2. Tình thế của Việt Nam trong diễn tiến chính trị thế giới
Ở bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào, không chỉ bằng chứng hiện thực và bằng chứng pháp lý mới quan trọng, mà thế và lực của quốc gia cũng giữ vai trò không kém. Với tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa, dù “có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý”, Việt Nam lại không có đủ cả thế và lực để xác lập chủ quyền thực tế trên toàn bộ hai quần đảo này.
Sau khi Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988), trên thực tế, lực của Việt Nam khó có thể chống đỡ trước đe dọa quân sự trên biển. Sự vươn dậy ở tầm toàn cầu của phương bắc càng khiến gia tăng khoảng cách này.
Do yếu về lực, chiến lược của Việt Nam chủ yếu xoay quanhthế.
Cùng với sự sụp đổ của khối Xô-viết, thế đứng của Việt Nam không còn được như trước. Sau khi rút khỏi Campuchia (1989) và gia nhập ASEAN (1995), Việt Nam đã tạo được vị thế mới trong đối thoại an ninh biển Đông. Quy tắc Ứng xử biển Đông (tức Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại biển Nam Trung Hoa, Declaration On The Conduct Of Parties In The South China Sea, 2002) là kết quả từ đó. Đối với Hà Nội, đây là thành công lớn, không những ở việc các bên cam kết không sử dụng vũ lực, mà còn ở chỗ biến tranh chấp biển vừa thành một quan hệ đa phương vừa thành một quan hệ đối trọng, giữa các nước nhỏ phía nam với quốc gia lớn phía bắc.
Thế nhưng, quy tắc này đã nhanh chóng chứng tỏ tính vô hiệu. Các nước Đông Nam Á không những không tạo thành tiếng nói chung mà còn hoàn toàn im lặng khi có sự vụ vi phạm quy tắc, mà phía bị thiệt hại phần lớn là Việt Nam. Quả thật, dù đã có cơ chế đa phương nhưng Việt Nam vẫn ở vào thế “đối thoại” song phương, trong trạng thái thuần nhu, mà không có lấy sự hậu thuẫn – chí ít là về mặt “tinh thần” – của bất kỳ thế lực nào.
Trước khi có mặt trong khối ASEAN, Việt Nam đã chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991) và Hoa Kỳ (1995). Không như thế giới đơn diện trước đây của phe xã hội chủ nghĩa, trong thế giới đa diện, hai đối tác này đã dần tạo nên tình thế mới đối với Việt Nam. Dù đều tăng tốc trên mọi mặt trong vài năm qua, nhưng những biến động sách lược và chiến thuật vẫn khiến cho các quan hệ này thăng trầm, mà lắm khi Việt Nam phải đối ứng bị động.
Ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc ký Hiệp định Phân định vịnh Bắc bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá. Nhưng chính vào thời điểm hai hiệp định này có hiệu lực (07/2004) trở đi, Hoa lục lại khởi sự lối hành xử ngang tàng hơn trên biển, mà hầu như động thái sau luôn tăng phần nguy hiểm hơn trước.
Thế chênh vênh đó buộc Việt Nam phải tìm cách cân bằng. Việc Washington cùng trong tháng 12/2006, không những thông qua Quy chế Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (Permanent Normal Trade Relations, PNTR) mà còn âm thầm bỏ cấm vận vũ khí đối với Hà Nội (trong khi không giải tỏa cho Bắc Kinh), là những điểm nổi bật trong chuỗi sự kiện dồn dập cho thấy sự nồng ấm nhanh chóng giữa hai nước. Nhưng cũng nhanh chóng sau đó, từ giữa năm 2007, chiều hướng ngược lại cũng tiến triển, từ sự bất đồng về nhân quyền, mà đến gần đây mới giảm đi.
Cho đến trước khi có những diễn biến nóng trên biển Đông, trong quan hệ chính trị nói chung và tương quan trên biển nói riêng, có thể nói, chiến lược đi dây của Hà Nội đã thành công. E ngại đối tác này ngả hẳn sang một bên khiến cả Washington lẫn Bắc Kinh đều không có những động thái cứng rắn trong các vấn đề thuộc “tầm ngắm” họ. Điều đó làm tăng vị thế “cửa giữa” của Việt Nam. Thế nhưng tới đây, mọi sự có thể không còn được như trước.
3. Tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông
Thời chiến tranh nóng hay chiến tranh lạnh, quan hệ đồng minh hình thành một cách cơ hữu. Vào thời hợp tác và hòa hoãn như hiện nay, thường không như thế. Sự hậu thuẫn của quốc gia này dành cho quốc gia khác – chính thức hay không chính thức, trong các vấn đề quốc tế hay quốc nội, thường trực hay hay tiềm tàng – thường trên cơ sở tương đồng nhất định về văn hóa hay thể chế mà không gắn chặt vào lợi ích của nhóm quốc gia cơ hữu. Đồng minh kiểu này có tầng sâu ở văn hóa chính trị.
Trong tương quan biển Đông, vốn đã bị đặt vào thế phải tranh chấp, Việt Nam lại không có đồng minh cơ hữu lẫn đồng minh thể chế khi mà đồng minh lớn nhất về chính trị lẫn văn hóa chính là chủ thể muốn tước đoạt biển, đảo. Việt Nam cũng hầu như không có được sự hậu thuẫn của công luận thế giới trong vấn đề này, và đó cũng là một phần hậu quả từ việc thiếu vắng tương tác đồng minh.
Yếu về lực, bị động về thế và không có đồng minh thể chế, Việt Nam trông cậy nhiều vào sự tự giác của các bên tranh chấp nhằm “không làm phức tạp thêm tình hình biển Đông”. Thế nhưng, từng chiến thắng trước một Việt Nam Cộng hòa cạn lực, bí thế và không còn sự hậu thuẫn của đồng minh cơ hữu, lẽ ra ngày nay, giới lãnh đạo đã hiểu ngay từ đầu, rằng với kẻ mạnh và đầy quyết tâm, việc giữ nguyên hiện trạng ở những nơi có tầm quan trọng chiến lược, mà theo họ sẽ có lợi cho kẻ yếu, thì chỉ là chuyện không tưởng.
Trong những năm qua, khi Việt Nam chú tâm vận dụng tổng hợp các chiến thuật để bảo đảm thế cân bằng đối ngoại và đạt mục đích đối nội, thì Trung Hoa đã “âm thầm” trở thành một thế lực đại dương. Bên cạnh tác động chiến lược châu lục, căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Hải Nam, căn cứ tại Hoàng Sa và Hạm đội Nam Hải – mạnh nhất trong ba hạm đội của họ, là mối đe dọa trực tiếp đối với Việt Nam. Phần Hoa Kỳ, sau khi đóng cửa căn cứ không quân Clark (1991) và căn cứ hải quân Subic (1992) ở Philippines, với việc Liên Xô tan rã (1991), thế lực trên biển duy nhất còn lại lúc đó đã chấp nhận rời khỏi Đông Nam Á. Sự thể này nay chấm dứt, họ không thể kéo dài sự giậm chân chiến lược dù có đến được “cửa ngõ” nào đó hay không.
Bên cạnh đó, chiến lược của Hà Nội dùng ASEAN như một đối trọng với nước lớn trong tranh chấp biển vốn đã không hữu dụng, nay vô dụng trước sự vượt bậc của Trung Quốc, và sắp tới có thể sẽ phản tác dụng trước sự nổi lên khả dĩ củaPhilippines.
Tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông sẽ còn được tiếp tục nhận diện, nhưng đến đây đã có thể thấy rằng trong bối cảnh đa thành tố, có sự gia tăng về quân sự và tính chất quốc tế, thì sự yếu kém về thế và lực, cùng với việc không có quan hệ đồng minh đã khiến cho các giải pháp như trước nay ngày càng trở nên ảo chứ không thực, càng khiến cho việc bảo vệ chủ quyền biển ngày một mong manh. Đó là cái giá phải trả cho sự trì trệ về chiến lược và sách lược trên biển. Việc bám víu quá lâu – mà nói khác đi, là lạm dụng – vào chiến lược đi dây đã biến Việt Nam thành một thành tố tĩnh trong một cục diện động và các thành tố động, khiến Hà Nội gần như bế tắc trong lựa chọn chiến lược bạn – thù[1] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn1). Điều này chủ yếu xuất phát từ việc đánh giá chiến lược không đầy đủ đối với tương quan địa chính trị.
4. Cách nhìn địa lý trong đánh giá địa chính trị
4.1. “Cửa ngõ” Việt Nam
Cách nhìn thịnh hành cho rằng Việt Nam có một vị trí đặc biệt, là cửa ngõ của Đông Nam Á. Trong bối cảnh hiện nay, vị trí chiến lược của Việt Nam có vẻ càng đắc địa hơn. Nhưng điều này lại khiến sinh ra một số ảo giác, cả trong tiếp cận chiến lược lẫn việc thực thi sách lược.
Trước tiên, ta thấy rằng vị trí địa lý của một quốc gia là không thể thay đổi, nhưng vị thế địa lý và vị thế địa chính trị thì lại có thể.
Ở đây, xin phân biệt về mặt từ ngữ. “Vị trí địa lý” chỉ nơi chốn của đối tượng, được xác lập bằng chính liên hệ nơi chốn với – và của – những đối tượng xung quanh. “Vị thế địa lý” nói đến quan hệ địa lý, tức quan hệ nảy sinh từ vị trí địa lý, của chủ thể một vị trí địa lý với một hay nhiều chủ thể của vị trí địa lý khác. Vị thế địa lý là một khía cạnh của “vị thế địa chính trị”, tức những quan hệ chính trị phát sinh quanh một vị trí hay vị thế địa lý, do có những tương tác chính trị rộng lớn hơn so với tương quan xung quanh.
Như vậy, trong khi vị trí địa lý là một vấn đề thuần tự nhiên, có độ biến đổi hết sức thấp, thì vị thế địa lý và vị thế địa chính trị xác định từ vị trí đó, là những hiện tượng xã hội và có tính lịch sử, tức có sự biến đổi theo thời gian, tùy vào tương quan của các liên hệ không thuần địa lý.
Tất nhiên, tách bạch giữa ba phạm vi này là sai lầm về phương pháp luận, nhưng nhập nhằng giữa chúng lại là một sai lầm lớn hơn.
Việt Nam quả đã giữ vị trí đặc biệt tại Đông Nam Á kể từ Chiến tranh Thế giới II. Khi đó, Nhật đã dùng Đông Dương làm bàn đạp để thôn tính các nước phía tây và nam bán đảo này[2] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn2). Với việc định hình một dải liền lạc và rộng lớn của phe xã hội chủ nghĩa, từ năm 1954, Việt Nam trở thành cánh cửa mà hai bên đều muốn mở ra cho mình và chốt lại với bên kia. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí của Việt Nam hầu như không được chú trọng. Cho đến gần đây, nó lại thường xuyên được nói đến.
Nhưng đúng ra, khi nói đến “cửa ngõ”, ta đang nói đến vị thế địa lý chứ không còn là vị trí địa lý. Việt Nam vẫn luôn ở chốn đó nhưng vị thế thì có thể thế này mà cũng có thể thế kia, tùy vào một hoặc một số tương quan trong không gian, thời gian được xét đến.
Và trong hiện thực, có một thực tế lịch sử xuyên suốt hơn so với giai đoạn từ thế chiến II đến khi chấm dứt chiến tranh lạnh, là cái được gọi là “cửa ngõ” Việt Nam thường liên quan chủ yếu đến Trung Quốc, chứ không phải lúc nào cũng liên quan đến cả vùng hay cả thế giới. Đất Việt đã là cánh cửa mà triều đại nào ở phương bắc cũng muốn mở tung. Dưới thời cộng sản chủ nghĩa, điều đó cũng không hề thay đổi dù biện pháp có khác biệt ở từng thời kỳ.
Ngoài trường hợp Nhật đưa quân chiếm đóng các nước khác từ Đông Dương, trước đó, khi các nước thực dân bắt đầu mở rộng sự đô hộ sang phương đông, Việt Nam không phải là địa bàn đầu tiên để từ đấy họ bung ra cả vùng hay tiến lên phía bắc. Còn ngày nay, với vị trí nằm lọt trong không gian được bao bọc bởi Trung Hoa và các nước Đông Nam Á kia, thì ngoài Miến Điện, Lào và Campuchia, các nước khác trong tiểu vùng này, dù mức độ có khác nhau nhưng khi so với Việt Nam, đều có quan hệ gần hơn với Hoa Kỳ và châu Âu; do vậy, phương Tây hẳn là không phải dùng đến cửa Việt Nam để mở đường chinh phục Đông Nam Á, mà chính là Việt Nam đã từng (và có lẽ vẫn sẽ tiếp tục) cần đến ngõ ASEAN trong những toan tính với phương Tây.
Ngay cả Trung Quốc, nay cũng xâm nhập phương nam không chỉ qua cửa Việt. Thậm chí, Lào và Campuchia mới là địa bàn mà họ “thôn tính mềm” trước tiên, để từ đó siết chặt gọng kìm đối với Việt Nam, cho dù hai quốc gia này có thể chỉ là “quá độ”. Ngoài ra, do có sự cách biệt nhất định về văn hóa hoặc địa lý giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á còn lại, nên đối với các nước khác, đều không nhất thiết thâm nhập tiểu vùng này duy chỉ từ Việt Nam, xét cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm. Nếu có nước nào đó xem Việt Nam như cửa ngõ (giả định như Pháp, Ấn, Nga hay các nước Đông Âu…) để thúc đẩy quan hệ kinh tế, văn hóa với cả vùng, thì chủ yếu là do sự thuận lợi từ quan hệ lịch sử, chứ không phải vì Việt Nam là cửa nhất thiết phải qua về mặt địa lý.
Ảo giác về một vị thế lớn lao bất biến xuất phát chính từ việc đồng nhất vị trí địa lý với vị thế của nó ở những tương quan và thời kỳ cụ thể, rồi từ đó lại quy ngược về vị trí và quy kết thành vị thế địa chính trị.
Muốn đánh giá vị thế địa lý hay vị thế địa chính trị của một quốc gia hay một vùng, thì điều đầu tiên, đơn giản là nhận định đúng về vị trí địa lý “chưa chính trị” của nó.
Trước khi là cửa ngõ hay bất kỳ cái gì khác, Việt Nam, tự thân, chỉ là nước cực đông của bán đảo Trung Ấn, nơi chuyển tiếp duyên hải giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, có biên giới với Trung Hoa, Lào, Campuchia, và là một trong những quốc gia có bờ biển tạo nên vành đai của biển Đông. Việt Nam chỉ thành “cửa ngõ” khi đặt trong tương quan với những quốc gia nào đó, đi cùng những tính toán chiến lược của họ trong thời kỳ nhất định.
Từ sự định vị tự thân để bước sang những phạm vi không còn thuần địa lý, sẽ thấy rằng với vị trí này, Việt Nam tiếp nhận từ bên ngoài được rất nhiều về văn hóa và kinh tế, chính trị và quân sự, nhưng cũng phải đương đầu với từng ấy nguy cơ.
Một mặt, ta liền kề với một Hán tộc có xu hướng bành trướng và đồng hóa. Mặt khác, với một đất nước hẹp chiều ngang, bờ biển chạy suốt theo chiều dài lãnh thổ sẽ là một sườn để hở đối với bên ngoài. Mối đe dọa trên bộ ngàn đời từ phương bắc chỉ tạm ngưng lại khi chính họ cũng chịu số phận bị chinh phạt của chủ nghĩa thực dân từ hướng biển. Thế nhưng, nay lại đang hình thành nguy cơ của “chủ nghĩa thực dân đỏ” từ cả trên bộ lẫn trên biển, ở thế gọng kìm nhiều mặt. Chưa hết, khác với các quốc gia chuyển tiếp châu thổ kế cận, ta có vị trí chuyển tiếp duyên hải ở ngay vùng biển có hải trình huyết mạch đối với nhiều cường quốc chính trị và kinh tế, thì tranh chấp và xâu xé là nguy cơ luôn tiềm ẩn, đợi dịp để bùng phát.
4.2. Và những cửa ngõ không Việt Nam
Tương tự, các nước khác tại Đông Nam Á cũng có vị trí địa lý tự thân của họ (hình 1), từ đó mà nảy sinh những vị thế địa lý tương ứng và định hình các vấn đề địa chính trị cụ thể. Có thể kể đến một số nước trong đó.

http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/08/LTH1-400x375.jpg Hình 1: Vị trí các nước Đông Nam Á (Nguồn: southchinasea.org; có chỉnh lý)


Miến Điện là nước cực tây của bán đảo Trung Ấn, có biên giới trên bộ giáp với Trung Hoa, Ấn Độ, Banglasesh, Thái Lan và Lào, có toàn bộ biên giới phía nam là duyên hải hướng ra biển Andaman thuộc Ấn Độ dương, và là quốc gia Đông Nam Á chuyển tiếp sang Nam Á[3] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn3).

Lào là lãnh thổ không tiếp giáp với biển, có biên giới với Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia.

Malaysia là quốc gia nằm trong vành đai các nhóm hải đảo, bán đảo phía nam và đông Đông Nam Á, gồm hai phần lãnh thổ ngăn cách bởi biển Đông; có biên giới với Thái Lan, Singapore, Indonesia và Brunei. Ngoài những vùng duyên hải hướng về biển Đông, sườn phía tây của Tây Malaysia là bờ hướng ra eo Malacca.

Indonesia là một quần đảo trải theo chiều đông-tây, nằm về phía nam của Malaysia và Philippines, là nơi tiếp giáp với lục địa Úc châu qua vùng biển phía nam thuộc Ấn Độ dương và biển Timor. Ngoài các quốc gia liên quan vừa nhắc, Indonesia ngăn cách với Singapore bằng một vùng nước hẹp thuộc eo Malacca. Indonesia còn có biên giới trên bộ với Malaysia, Papua New Guinea và Đông Timor.
Philippines ở vị trí cực đông của Đông Nam Á và được biển bao bọc, là một nhóm đảo trải theo chiều bắc-nam. Cực bắc Philippines là các nhóm đảo nhỏ phía nam Đài Loan, cũng là vùng nước nối biển Đông ở mạn tây với biển Philippines ở mạn đông.
Sơ lược như trên đã có thể thấy rằng, ngoài những nước nhỏ hay nước có địa giới hoặc hải giới khuất lấp, các nước khác tại Đông Nam Á, gồm cả Thái Lan, đều có những điểm rất đáng chú ý về vị trí, và từ đó, là vị thế của họ.
Cũng như Việt Nam, hầu hết các nước này đều nắm giữ cửa ngõ nào đó ở khu vực. Tuy vậy, trong khi Việt Nam, dù có thể kiểm soát hải lộ thuận lợi nhất trong hải trình ngang qua biển Đông[4] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn4) nhưng cũng chỉ là cái ngõ trung chuyển và có thể thay thế, thì họ nắm giữ những cánh cửa trực tiếp và không thể bỏ qua.
Như thế, với vị trí của Việt Nam, “cửa ngõ” vốn không là vị thế tự thân, bất biến và vĩnh viễn. Không những thế, Việt Nam cũng không phải là cửa ngõ độc nhất, cốt tử và không thể thay thế. Vì điều này mà trong cục diện mới, có khi chính “cửa ngõ” Việt Nam lại gặp phải thất lợi từ những “cửa ngõ” khác trên bàn cờ chính trị mà Hà Nội cũng tham gia vào với chủ đích riêng.
4.3. Bối cảnh địa chính trị và tiếp cận đối ứng
Bối cảnh địa chính trị quanh Việt Nam hiện nay, nhìn chung, hình thành ở những nét lớn sau.
Trước tiên là việc Trung Quốc quyết liệt lấp chỗ trống về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự mà nước Nga, hậu thân của Liên Xô, đã tạo ra khi rút ảnh hưởng khỏi Việt Nam. Không những thế, nước này còn muốn lấp cả chỗ trống của thế lực toàn cầu tại Đông Nam Á, do đã có thay đổi chiến lược từ các nước trong khu vực và Hoa Kỳ. Hậu thuẫn cho những mục đích này là sức mạnh siêu cường đang lên của phương bắc, mà một trong những trọng tâm là chia sẻ các đại dương, với mục tiêu trước mắt là biển Đông.
Song song, do việc hướng lên phía bắc, tây và đông vừa chưa phục vụ cho những lợi ích chiến lược sát sườn, vừa gặp nhiều trở ngại hơn về điều kiện địa lý hoặc vì cả thế và lực ở những nơi này đều lớn; và đồng thời, cho dù đang trổi dậy mạnh mẽ, Bắc Kinh cũng không thể cùng lúc tạo ra cho mình nhiều đối trọng không mong muốn, nên họ sẽ hướng sự bành trướng cố hữu xuống phương nam, một cách tối đa, và không chỉ với Đông Nam Á mà cả với Nam Á. Ở phạm vi này, với tư thế của người bảo trợ thể chế, cái giá địa chính trị mà Hoa lục nhận được từ tập đoàn quân nhân Miến, là Myanmar trở thành cửa ngõ để họ thâm nhập vào cả hai hướng, là đường thông và địa bàn chính để Trung Hoa tạo chỗ đứng tại Ấn Độ dương, “tiếp cận” Ấn Độ từ hướng biển và hiện diện tại một đầu cửa ngõ của eo Malacca. Đấy là chưa kể những quốc gia lân cận ở bắc Ấn cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng từ Bắc Kinh, có thể tác động tiêu cực đến cục diện an ninh.
Viễn cảnh sẽ đó khiến hình thành trận địa nhằm giữ thế cân bằng chính trị và quân sự đã hình thành ở châu Á, cả trên bộ và trên biển.
Trước mắt, Ấn Độ sẽ tập trung nhiều hơn cho vùng vịnh Bengal và biển Andaman. Nhưng xa hơn, phạm vi hiện hiện của họ có thể sẽ phải mở rộng, vì nếu Trung Hoa đã thực hiện những bước đi chiến lược để đứng chân tại vùng biển đông và đông nam Ấn Độ, thì nước này không thể không tính đến chuyện đối ứng, tại vùng biển nam Trung Quốc.
Phần Nhật Bản, ngoài vùng biển Đông Bắc Á, cũng sẽ khó bỏ qua sự quan tâm truyền thống đối với phía nam, nơi có cánh cửa vận chuyển sinh tử của đất nước giàu kinh tế nhưng nghèo tài nguyên này. Sự trở dậy của Quân đội và Hải quân Nhật trong những năm gần đây[5] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn5) và sự ganh đua công khai của họ đối với ảnh hưởng của Hải quân Trung Quốc[6] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn6) đã là tiền đề cho điều đó.
Thậm chí, còn tiềm tàng một Nam Hàn đứng ra chia sẻ gánh nặng an ninh với đồng minh, dự phần bảo vệ hải lộ có ảnh hưởng đến sự giao thương và thịnh vượng của họ.
Đối với các nước Đông Nam Á không thiên cộng sản, một mặt, họ giữ lấy vị thế đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ như lá bài an ninh cho riêng khu vực của họ; mặt khác thì dựa vào nguyên tắc đồng thuận cả khối để chơi trò cục bộ, thực chất là vừa bảo vệ quyền lợi quốc nội vừa giành lấy quyền lợi quốc tế từ tranh chấp biển.

Hoàng Sa và Trường Sa cũng giữ vị thế là thành tố độc lập tương đối, góp phần tạo nên bối cảnh địa chính trị của khu vực, vì không những là đối tượng mà các thành tố khác xoay quanh, với “thế trận” đã bày ra trên đó, hai quần đảo này còn khiến chuyển hóa các tương quan chính trị và quân sự của vùng chứ không chỉ cố định theo bối cảnh địa chính trị chung chung.

Đài Loan là một trong số những thành tố có thể tạo chuyển hóa như thế, và không ai có thể bỏ qua họ trong các tính toán chiến lược vùng.
Phần Australia, quốc gia Tây phương có vị trí gần gũi với Đông Nam Á, vào đầu và giữa những năm 1990 đã có chính sách hòa nhập vào tiểu vùng này, nhưng ngoài Indonesia[7] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn7), họ hầu như bị khước từ. Trong bối cảnh mới, việc tái hòa nhập có thể sẽ diễn ra, lần này thiết yếu hơn, thông qua cơ chế nào đó của an ninh vùng.
Còn nước Nga, trong điều kiện thể chế hiện nay, và do chiến lược lấy lại vị thế siêu cường đối trọng từ việc củng cố lại vị trí tại không gian Sô Viết cũ và châu Âu nên, ít ra là trong ngắn hạn và trung hạn, họ không vung vãi tiềm lực đang cần tập trung.
Nhưng dù sao, có hay không có Nga, dự phóng như vừa nói cũng đã quá đủ để biển Đông có thể trở thành điểm hút quân sự.
Như thế, hiện nay, cục diện địa chính trị đối với Việt Nam là hết sức phức tạp và khó khăn, đòi hỏi sự tiếp cận tỉnh táo và lạnh đầu.

Tiếp cận cửa ngõ cho thấy ta quan trọng đối với Đông Nam Á, với châu Á và cả thế giới. Tiếp cận chuyển tiếp cho thấy Đông Nam Á, châu Á và cả thế giới quan trọng đối với ta. Tiếp cận đầu cho thấy người cần và có lợi ở ta, trong việc bảo vệ ta. Tiếp cận sau cho thấy ta cần và có lợi từ người, và ta phải tự bảo vệ mình trong tương quan với người. Vấn đề là cần kết hợp đúng mức, đúng lúc các tiếp cận, và không áp đặt cái cục bộ lên toàn cục một cách phi lịch sử và phi địa lý.
Cần phải nói rằng tiếp cận cửa ngõ theo kiểu như trước nay là một cách nhìn què cụt, có nhiều tác dụng giáo dục lòng tự hào nhưng ít giá trị nhận thức chiến lược. Nó chưa nhận diện hết vị trí tự thân[8] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn8) thì đã vội đặt thành vị thế với người khác. Mà đó cũng chỉ là vị thế khiếm khuyết, khi vị trí và vị thế của các chủ thể xung quanh hoặc có liên quan cũng chưa được nhận diện hết. Ở đây, thay tiếp cận “đơn cửa” truyền thống bằng tiếp cận “đa cửa”, là cần thiết[9] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftn9).
Cách nhìn đa cửa đòi hỏi ta nhìn nhận đúng vị trí và vị thế của mình trong tương quan với mỗi đối tác địa lý, theo từng điều kiện lịch sử, cùng lúc với việc nhìn nhận đúng vị trí và vị thế của họ trong bối cảnh tương ứng. Thực chất, tiếp cận như thế đã bao hàm cả nghĩa “cửa ngõ” và “chuyển tiếp”. Theo đó, về mặt phương pháp luận, mỗi đơn thể (với đặc trưng tự thân) được đặt trong toàn thể (với đặc trưng tổng hòa), và ngược lại. Về mặt nhận thức chiến lược và vận dụng sách lược, chiến thuật, nó cho ta biết mình là ai, hiện đang đứng ở đâu trong thế giới này, có thể làm được gì và không thể làm được gì, việc gì tự lực được và việc gì phải hợp lực… Và cũng cho biết như thế khi nhận diện về người, mà nói ngắn gọn, là biết đúng người và biết đúng ta.
Việt Nam đã thành công trong việc đưa ASEAN vào quỹ đạo đa phương (bằng Quy tắc Ứng xử biển Đông) và trong chiến lược đi dây (ở mức giữ cho cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều dừng lại ở giới hạn cần thiết), nhưng lại không thành công trong việc bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển mà xét trên tương quan quốc tế, chính là do đã gần như tuyệt đối hóa cách nhìn đơn cửa.
Đặt mình vào vị thế trung tâm Đông Nam Á từ vị trí cửa ngõ, xem mình như nhân tố không thể thay thế trong bàn cờ địa chính trị của khu vực và châu lục khiến dễ nghĩ rằng ta có thể chủ động đặt các thành tố khác vào thế trận đi dây của chính ta, với những điều kiện và cái giá thuận lợi hơn so với họ. Thế nhưng, như đã nói, khi ta tĩnh trong thế đi dây quá lâu thì các yếu tố khác buộc phải động, và điều đó có thể nảy sinh những tình huống khôn lường.

[1] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref1) Ở đây, xin hiểu “bạn – thù” chỉ như một cặp đối ứng từ ngữ, không theo nghĩa cổ xúy sự vận động chiến lược theo hướng thù địch lẫn nhau. Tuy nhiên, với những người làm chiến lược, không thể ảo tưởng rằng khi có những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, vì yêu chuộng hòa bình, ta không xem ai là đối phương hay đối địch.
[2] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref2) Ngày 07/12/1941, Nhật từ Đông Dương đưa quân sang Thái Lan, đánh chiếm toàn bộ Malaysia, bọc hậu, thôn tính Singapore (15/12/1941), để rồi sau đó, tháng 03/1942, Indonesia cũng chịu chung số phận. Xem: Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 200-202.
Xin nói thêm, vẫn cần thấy rằng lần đó, Đông Dương cũng chỉ là bàn đạp tại chỗ, trong một thế trận đã rồi, vì mặt trận châu Á – Thái bình dương đã được quyết định tức thời bằng trận Trân Châu cảng vào đúng ngày 07/12/1941, và Pháp cũng đã trao sẵn Đông Dương cho Nhật từ tháng 09/1940.
[3] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref3) Theo cách phân chia chung, Châu Á có bốn vùng, là Tây Á (hay Tây Nam Á), Trung Á, Nam Á, và Đông Á & Đông Nam Á.
[4] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref4) Xem: Doãn Mạnh Hùng, “Tây Nguyên là yếu huyệt trên bộ, vậy đâu là yếu huyệt trên bỉển?”
http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090506_taynguyenyeuhuyet.htm (http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090506_taynguyenyeuhuyet.htm)
[5] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref5) Sau sự kiện 11/09, Nhật thông qua ba luật, cho phép đưa quân ra nước ngoài chống khủng bố và giữ gìn hòa bình, đồng thời nâng cấp lực lượng quân sự. Tháng 01/2007, Quốc hội Nhật thông qua việc tái lập Bộ Quốc phòng thay cho Cục Phòng vệ. Năm 2010, dự kiến sẽ đưa thông qua hiến pháp mới, cho phép Nhật tuyên chiến.
[6] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref6) Hạ tuần tháng 12/2008, Trung Quốc điều ba chiến hạm thuộc Hạm đội Nam Hải đến vịnh Aden để tham gia chống cướp biển Somalia. Đây là lần đầu tiên Hải quân Trung Hoa hiện diện ở tầm toàn cầu, khiến thế giới có phần bất ngờ. Ngay sau đó, Nhật Bản đã có hành động có tầm mức tương tự. Tháng 01/2009, Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Nhật ra quyết định phái tàu chiến đến vịnh Aden. Trung tuần tháng Ba, hai chiến hạm nhổ neo (cùng hai máy bay do thám). Dự luật cho phép Hải quân Nhật tham gia hoạt động này được Hạ viện thông qua vào tháng Tư. Và ngày 19/06, Hạ viện cũng đã thu đủ số phiếu để bác kết quả chống lại dự luật tại Thượng viện, vừa biểu quyết trong cùng ngày.
[7] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref7) Tháng 12/1995, Australia và Indonesia đã ký một thỏa ước an ninh, nhưng việc Úc tham gia tái thiết Đông Timor đã khiến liên hệ này gián đoạn. Đến tháng 11/2006, hai nước mới ký một văn kiện khác thay thế, có hiệu lực vào tháng 02/2008.
[8] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref8) “Chưa nhận diện hết” theo nghĩa không đi đến chỗ nhìn nhận nó một cách đúng mức, còn việc xác định vị trí địa lý là điều đã được thực hiện chính xác từ lâu.
[9] (http://www.talawas.org/?p=9605#_ftnref9) Việc phê phán tiếp cận “đơn cửa” và đề xuất tiếp cận “đa cửa” đã từng được tác giả khác nêu lên. Xem: Hoằng Danh, “Lựa chọn chính trị (3): của Hoa Kỳ, qua chuyện đối lập Việt Nam, trong bối cảnh địa-chính trị” http://talawas.org/talaDB/suche.php?res=10255&rb=0401 (http://talawas.org/talaDB/suche.php?res=10255&rb=0401)
Nguồn: http://www.talawas.de/ (http://www.talawas.de/)

hoanghungcz
29-08-2009, 09:12 PM
5. Những trạng huống khả dĩ của cuộc chơi đi dây mới, hay tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông
Tình trạng cài răng lược về quan hệ thể chế và liên hệ đồng minh, đồng chí, trong bối cảnh tranh chấp khi lạnh khi nóng, cùng với việc thi thố đồng thời nhiều đối sách ngoại giao, chính trị, quân sự, khiến cho viễn cảnh can dự của nhiều chủ thể vào biển Đông đồng nghĩa với việc có một cuộc chơi “đa dây”.
Tất nhiên, theo cách nhìn của giới thẩm quyền Việt Nam, khi không đủ cả thế và lực thì trạng thái tốt nhất là như hiện nay. Tức là, dù có lúc căng thẳng, thậm chí gặp tổn thất nhất định, nhưng không có xung đột quân sự với Trung Quốc khiến thay đổi hiện trạng biển, đảo, thì ta và bạn vẫn gắn bó. Còn với Mỹ, dù có thân thiện đến đâu, thậm chí là đi đến hợp tác nhất định về quân sự, nhưng do đối nghịch về ý thức hệ nên nước này vẫn chỉ là đối tác cơ hội, như một đối trọng dự phòng và từ xa để giữ nguyên trạng cho biển Đông và nguyên trạng cho quan hệ với Trung Quốc.
Về phía Hoa Kỳ, kịch bản tốt nhất vẫn là Việt Nam trở thành đồng minh đầy đủ trên mặt trận chống lại sự bành trướng hải dương của Trung Hoa. Nhưng đương nhiên, họ cũng có thể vận dụng thể thức đối tác tương ứng mà Việt Nam chủ trương với họ. Với quan hệ kiểu này, họ vẫn không thất thế trên biển nhưng có phần bị động trước sự bất định triền miên, có chủ ý của Việt Nam. Tuy vậy, siêu cường này không thiếu đồng minh để chấm dứt sự bị động của họ. Việc “xuất hiện” Philippines có lẽ không nằm ngoài bước đi đó.
Về địa lý, sau khi qua khỏi một trong các eo từ phía đông bắc, thì cùng với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam và Philippines, mà cụ thể là các cảng chiến lược, nằm trong số những điểm nút ngoại vi phía đông của eo Malacca. Trong khi Việt Nam có vịnh Cam Ranh và có thể kiểm soát một phần hải lộ từ bắc về nam của hải trình biển Đông, thì Philippines có vịnh Manila, vịnh Subic, và có thể kiểm soát một phần hải trình này vào mùa gió mùa tây nam[1] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn1).
Cũng về địa lý, Philippines có thể hợp với đảo Đài Loan tạo thành một cửa ngõ và kiểm soát điểm chốt đông bắc của tuyến Đông Nam Á – Đông Bắc Á tại eo Luzon (hình 2). Eo biển này là vùng nước rộng khoảng 250 km, gồm ba eo “con”, thứ tự theo hướng nam bắc là eo Babuyan, eo Balintang, và eo Bashi. Eo thứ ba có một bên là Đài Loan, còn hai eo đầu chỉ gồm các đảo của Philippines[2] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn2). Ngoài ra, với vị trí của một cung đảo ở cực đông tiểu vùng, Philippines không chỉ trực tiếp nối liền với Thái bình dương mà còn dễ dàng tiếp cận Trường Sa. Do vậy, nước này có vị thế hết sức quan trọng đối với bất kỳ thế lực nào muốn đứng chân tại biển Đông.

http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/08/LTH2-400x347.jpg Hình 2: Biển Đông và những “cánh cửa” trực tiếp sang các vùng biển xung quanh (Nguồn: en.wikipedia.org; có chỉnh lý)

Không kể Thái Lan và Indonesia, Philippines là đồng minh gần gũi nhất của Hoa Kỳ trong vùng. Dù đòi hỏi chủ quyền tại Trường Sa khiêm tốn hơn so với Việt Nam và Trung Quốc nhưng họ lại có một thái độ rất tự tin và chủ động, tỏ ra không hề kém cạnh hai thành tố tranh chấp kia ngay ở thời điểm nóng về thềm lục địa. Điều đó có thể lý giải không chỉ vì những đảo đòi hỏi chủ quyền đều nằm trong phạm vi đường cơ sở của họ, mà còn vì mối liên hệ đồng minh mà họ có.
Thực tế, họ đã bắt đầu tạo nên cục diện Philippines, khi vào tháng Ba qua, chẳng bao lâu sau khi thông qua Luật về Đường cơ sở, họ đã đề nghị với phía Trung Quốc về hội đàm Trường Sa, theo mô hình đàm phán sáu bên về hạt nhân Triều Tiên. Mới đây, ngày 04/08/2009, chỉ vài hôm trước khi hết hạn kháng nghị hồ sơ thềm lục địa của các nước (sau 90 ngày kể từ 13/05/2009), Philippines đã phản đối hồ sơ của Việt Nam và hồ sơ chung Việt Nam – Malaysia, dù trước đó họ đã được cho là sẽ không chống lại.
Một khi Phillippines nổi lên như một yếu tố chính trong tranh chấp ở nam biển Đông thì Việt Nam sẽ phải chấp nhận một cuộc chơi đi dây mới, nhiều người chơi và luật chơi hơn, nhiều khó khăn và hiểm nghèo hơn.
Trước tiên trong đó, chính là cuộc chơi của Hoa Kỳ, giữa Việt Nam với Philippines (và có thể với các nước Đông Á khác có tranh chấp trên biển). Với vai trò đồng minh thể chế, sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đối với Philippines là điều khó nghi ngờ. Đồng thời, Việt Nam vẫn là một đồng minh tiềm tàng trong chiến lược ngăn chặn Trung Quốc trên biển, nên vẫn là một đối tác để Hoa Kỳ đu đưa.
Trừ trường hợp không quan trọng những tính toán sách lược hay chiến lược với Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ phải giữ cho đầu dây của mình tạo được sự cân bằng. Tình huống xấu nhất của cục diện này là Hoa Kỳ ngả hẳn về Philippines, chẳng hạn do sự cân bằng đó bị mất, do vai trò đồng minh cơ hội của Việt Nam không còn nữa… Khi đó, chẳng những mất cơ may thắng lợi hoặc cùng thắng trong tranh chấp với Philippines và những nước phía nam khác, ta chắc chắn sẽ thất bại trong tranh chấp với Trung Quốc vì đối với họ, khả năng dàn xếp “nội bộ” với Việt Nam về một giải pháp đôi bên cùng thắng là bất khả.

Hoa Kỳ cũng có thể đi dây giữa Việt Nam với Trung Quốc. Đây là điều bình thường trong quan hệ đặt biệt giữa ba quốc gia này, khi mỗi chủ thể đều cùng lúc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tựa lưng vừa đối mặt với hai chủ thể kia. Khách quan mà nói, sau sự kiện Hoàng Sa năm 1974, đến nay, các nước đi của Hoa Kỳ với Trung Quốc không gây phương hại đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Nhưng trong cục diện mới, điều đó có thể thay đổi.
Kiềm tỏa sự độc chiếm của Trung Quốc là một trong hai mục tiêu chính của Hoa Kỳ tại biển Đông. Điều đó cũng nhằm phục vụ cho mục tiêu còn lại, là bảo đảm cho nhu cầu và quyền tự do hải hành trên vùng biển quốc tế có tuyến hải lưu quan trọng bậc nhất thế giới. Ở cả hai mục tiêu này, Hoa Kỳ đều cần đến quan hệ đồng minh với các nước phía nam Trung Hoa, đặc biệt là mục tiêu đầu. Với mục tiêu đó, sẽ thành công cao nhất nếu Việt Nam là đồng minh của họ. Nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ khi có sự “thiên vị” của Việt Nam thì mới có được thành công.
Trong trường hợp xấu nhất, Việt Nam nghiêng nhiều hay nghiêng hẳn về Trung Quốc, mức độ hoàn thành mục tiêu thứ nhất sẽ thấp nhất đối với Hoa Kỳ, nhưng cũng là nguy hiểm nhất đối với Việt Nam. Khi đó, bên cạnh việc chịu sự “bảo hộ” tuyệt đối của Trung Quốc, Việt Nam chẳng những mất một quan hệ đồng minh tiềm tàng, đối trọng khả dĩ với tham vọng của Hoa lục ở biển Đông, mà còn có thể bị đồng minh hờ này đem ra đổi chác.
Với lựa chọn như thế của Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ phải thích ứng, giảm mức độ của mục tiêu thứ nhất. Nếu vậy, đối với Bắc Kinh, một mặt, Washington mặc cho việc biến vịnh Bắc Bộ và vùng lân cận thành ao nhà; nhưng mặt khác, sẽ tăng cường hậu thuẫn cho các đồng minh thực ở phía nam để giữ vững ảnh hưởng ở trung và hạ biển Đông. Đối với Hà Nội, do không còn giá trị đồng minh, một mặt họ sẽ mặc cả với Bắc Kinh bằng quyền lợi của Việt Nam để đổi lấy quyền lợi tối đa có thể được trên vùng biển gần Việt Nam mà họ nay không có nhiều cơ hội để gia tăng ảnh hưởng; mặt khác, sẽ là sự hậu thuẫn cao nhất dành cho các đồng minh phía nam trong tranh chấp với Việt Nam, với mục đích là mở rộng tối đa vùng lãnh hải mà họ có thể duy trì sức mạnh, nhằm bảo đảm cao nhất cho mục tiêu thứ hai trên biển Đông.
Tương tự, khả dĩ Trung Quốc cũng đi dây giữa Hoa Kỳ với Việt Nam. Trong điều kiện chưa hoặc không thể độc chiếm hoàn toàn biển Đông, chia sẻ ảnh hưởng với Hoa Kỳ là điều họ buộc lòng phải chọn. Trong thời gian phải “chịu đựng” đó, tăng cường tối đa và củng cố phạm vi kiểm soát của mình trên biển là chiến lược của họ. Vùng biển quanh Hoàng Sa, quanh những đảo mà họ chiếm đóng tại Trường Sa, cùng với vùng “phụ cận” tiếp giáp với Việt Nam mà họ kiểm soát, là những đối tượng hàng đầu cho sự tăng cường đó. Thỏa hiệp nhất định với Hoa Kỳ để củng cố những phạm vi này, là điều họ đương nhiên tính đến. Một khi Hà Nội không là đồng minh của mình, do ưu thế mà Bắc Kinh có được từ việc kiểm soát Hoàng Sa, Washington không cớ gì mà không “hy sinh” quyền lợi của Việt Nam nhằm đổi lấy nhượng bộ nào đó từ Trung Quốc. Với vị thế chỉ vừa nổi lên trên biển mà Hoa lục đã có thể trắng trợn đề nghị Hoa Kỳ chia đôi Thái bình dương, thì việc đưa những đề xuất “chia sẻ” khác, khả thi hơn, hẳn là cũng chẳng cần phải giấu giếm.

Trung Quốc cũng có nhiều khả năng đi dây giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác có mặt trong tranh chấp. Xé lẻ ASEAN, vô hiệu hóa giải pháp đa phương, đơn độc hóa Việt Nam trong tranh chấp vẫn luôn là chiến lược và sách lược của Hoa lục. Bằng ưu thế chính trị và kinh tế, ngoại giao và quân sự, bất kỳ lợi lộc nào có được từ hợp tác với Việt Nam cũng có thể dễ dàng bị họ làm cho suy yếu hoặc triệt tiêu, khi so sánh với lợi lộc tương ứng nếu hợp tác với Trung Quốc.
Phần các nước Đông Nam Á, ngoài Campuchia và Lào, Việt Nam chưa bao giờ là đồng minh thân cận của họ, xét cả về thể chế lẫn văn hóa, lịch sử lẫn hiện tại. Trước sức ép từ sự bành trướng của Trung Hoa, khi so với Việt Nam, họ ở một vị trí địa lý ít nguy hiểm hơn nhưng lại có một liên hệ đồng minh vững vàng hơn. Do vậy, thật khó tìm được lý do để họ phải vì Việt Nam mà đưa ra những lựa chọn không có lợi ích trực tiếp đối với họ. Liên hệ đồng minh song phương nào đó mà Việt Nam có thể tạo lập với một trong những nước này, nếu không xem chỉ như bước đệm để có một liên hệ đồng minh thực chất hơn, thì cũng chỉ là nhất thời, thiếu hiệu quả, sớm muộn sẽ đứt lìa trước những sức ép hay liên hệ khác, thực chất hơn mà nước đó có được từ nước Đông Nam Á khác, từ Hoa Kỳ hay Trung Hoa…
Chưa hết, Đài Loan cũng là một thành tố tiềm ẩn. Trên trường quốc tế, vị thế chính trị của họ rất yếu nhưng không thể vì thế mà Việt Nam có thể xem thường, vì vị thế chiến lược và quân sự của họ trong tranh chấp biển Đông lại không như vậy. Việc trấn đóng và bước đầu xây dựng đảo Ba Bình như một căn cứ[3] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn3), cùng với lực lượng hải quân đã không ngừng hiện đại hóa từ những năm 1990, Đài là một thế lực mạnh ở Trường Sa.
Sự có mặt của Đài Loan ở nơi thuộc nhóm đảo trung tâm của Trường Sa tạo nên một tình thế zigzag. Với tư cách đồng minh sống còn của hòn đảo đang muốn giành sự độc lập đầy đủ này, có thể xem như Hoa Kỳ đã đứng một chân vào vị trí mà Đài trấn giữ, và thế đan xen đó tiềm ẩn những tình huống “khác thường”. Trong thời điểm nổi sóng khi đăng ký thềm lục địa mở rộng, Đài dường như không nổi bật so với các nước có tranh chấp khác, nhưng họ sẽ là một trong những quân bài năng động nhất khi đến thời điểm. Không thể chính danh như một quốc gia để đưa tranh chấp ra quốc tế như Philippines, nhưng với mối nối của Hoa Kỳ, khi cần, hai chủ thể này có thể tạo thế liên kết[4] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn4). Với tuyên bố chủ quyền trên toàn thể Trường Sa và có các đồng minh thể chế – dù chỉ ẩn tàng nhưng ổn định và vững chắc – Đài Loan cũng có thể trở thành một đầu chung dây với Việt Nam, mà các thế lực khác đi trên đó.
Như thế, trong cục diện mới đang định hình ở biển Đông, thế đi dây của Việt Nam đã vỡ, vì khác với trước, khi Hà Nội chủ động giăng một sợi dây và đi trên đó, nay thì chính mình bị đặt thụ động vào nhiều đầu dây.
Các lựa chọn cũng sẽ gay gắt hơn nhiều. Trừ khi diễn biến trên biển Đông chỉ dừng lại như hiện nay, tức dù có những đụng độ cục bộ và có sự hiện diện nhất định của Hoa Kỳ nhưng hiện trạng trấn đóng và xung đột không thay đổi; bằng không, dù có những dị biệt nhất định, ngoài Việt Nam, các nước nhỏ khác có tranh chấp chắn chắc sẽ nghiêng hẳn về Mỹ như thế lực chính hậu thuẫn cho họ.
Ở tình huống đó, trừ khi Trung Quốc từ bỏ hẳn dã tâm thôn tính nốt Trường Sa và biển Đông, cuối cùng thì Việt Nam sẽ hoặc là cùng nằm trong nhóm đồng minh này, hoặc nghiêng hẳn về Trung Quốc. Khả năng thứ ba, Hà Nội tiếp tục giữ tính “độc lập”, thì sẽ phải chơi cuộc chơi đơn độc, để vừa chống lại sự tước đoạt chủ quyền biển của Trung Quốc vừa kháng cự trước sự tranh giành quyền kiểm soát biển Đông của các thế lực đại dương khác. Còn khả năng thứ tư, Việt Nam tạo liên hệ đồng minh với các thế lực khác ngoài các thành tố vừa nêu, là bất khả, vì hoặc là các thành tố đó chung cuộc cũng quy về nhóm đồng minh đông và nam biển Đông, hoặc là thế và lực của họ không đủ để trở thành một thành tố riêng lẻ, độc lập và có ảnh hưởng trong khu vực.
Từ việc đặt trong hiện thực tình thế chính trị, bối cảnh địa chính trị và trong cục diện mới ở biển Đông, cho đến những tình huống khả dĩ giả định của cục diện này, có thể nói, Việt Nam đang đứng trước những thử thách chưa từng có trong lịch sử của mình. Nhiều quân bài hiện thực đang di chuyển trên bàn cờ sinh tử về chủ quyền biển và vận mệnh dân tộc, đòi hỏi chính quân bài tư duy phải vận động đúng với quy luật của hiện thực đó.
6. Ý thức hệ và dân tộc
Trong tình trạng chung ở Việt Nam, từ tư duy ngoại giao đến tư duy địa chính trị và tư duy chiến lược vẫn mang đậm nét ý thức hệ. Với một châu Á và thế giới chuyển biến quá nhanh, quy chiếu này đã đóng khung tiếp cận, khống chế nhận thức, khiến việc đối ứng trở nên bất xứng trầm trọng. Trong vấn đề chủ quyền, tư duy địa chính trị và tư duy chiến lược là cái trực tiếp cần thay đổi, nhưng điều này sẽ không thực hiện được nếu tư duy ý thức hệ làm nền đó vẫn còn chưa thay đổi.
Cần khẳng định dứt khoát, rằng lãnh thổ và chủ quyền, trước hết và quyết định, là vấn đề quốc gia-dân tộc, mà không phảilà vấn đề ý thức hệ. Trong quan hệ với Trung Hoa, điều đó lại càng không.
Khi xét đến tận cùng, như mọi vấn đề khác, lãnh thổ và chủ quyền cũng không tránh khỏi gắn với một hệ quy chiếu. Tuy nhiên, cũng như mọi vấn đề khác, ý thức hệ không phải là hệ quy chiếu duy nhất, mà cũng không có nội hàm hoặc vai trò bất biến. Khi “đặc trưng của thời đại” là cuộc đấu tranh giữa hai phe, lãnh thổ và chủ quyền cũng đi liền với nó. Nhưng khi đặc trưng đó không còn là một mất một còn về chính trị, mà là toàn cầu hóa về kinh tế, thì lãnh thổ và chủ quyền lại hoàn nguyên về quan hệ tự thân của nó.
Giới khoa học Việt Nam nói chung và khoa học xã hội nói riêng, biết rõ việc tuyệt đối hóa ý thức hệ và cột chặt tư duy vào nó đã có tác dụng ngược như thế nào. Các sử gia là những người đầu tiên đã tự cởi trói khỏi “tiếp cận hình thái”, biến thể chính trị của ý thức hệ trong tư duy sử học[5] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn5). Khi nhận thức hiện thực của quá khứ, việc nhất mực phân ranh bạn – thù trên cơ sở giai cấp cùng lắm chỉ khiến lịch sử trở thành những câu chuyện như nhau và cứng nhắc[6] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn6); nhưng khi nhận thức hiện thực đương đại, đặt biệt là vấn đề chủ quyền, việc áp đặt đường ranh ta – địch trên cơ sở đối đầu ý thức hệ chắc chắn đem đến nhiều hậu quả, vì đã lấy cái ranh giới ảo từ lịch sử (mà nay đã qua đi) làm cái cần bảo vệ, thay cho ranh giới thực về chủ quyền. Người Trung Hoa, ngược lại, luôn lấy cái ranh giới ảo về giai cấp để bảo đảm cho ranh giới thực về lãnh thổ.
Khi tiếp xúc với các giới chức và lãnh đạo Việt Nam, đặt biệt vào thời điểm có vấn đề về lãnh thổ hay chủ quyền, người bạn phương bắc thường nhấn mạnh đến đại cuộc. Chữ “đại cuộc” này thường được hiểu là đại cuộc của chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, lịch sử Trung Hoa từ khi có Đảng Cộng sản, đối với bên ngoài, chưa bao giờ họ đặt đại cuộc của chủ nghĩa xã hội lên trên cái đại cuộc đại Hán.
Nếu vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, họ đã không viện cớ Liên Xô “xét lại” để đối đầu, gây ra cuộc xung đột biên giới Trung – Xô (1969), và sau đó là liên kết hoàn toàn với “tên đế quốc đầu sỏ” để chống lại nhà nước Xô Viết. Nếu vì sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, họ đã không phá vỡ sự hợp nhất và hợp lực cả khối, hòng đạt vị thế ngang ngửa với hai siêu cường kia qua việc giành lấy vị trí lãnh đạo thế giới thứ ba[7] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn7). Nếu vì tinh thần quốc tế vô sản, họ đã không lợi dụng sự giúp đỡ Việt Nam để dời cột mốc, nắn dòng chảy, âm thầm mở rộng bờ cõi vốn đã rộng lớn của họ, từ mảnh đất nhỏ nhoi của người đồng chí đang đứng nơi tiền phương của chủ nghĩa xã hội, mà vốn cũng đã chịu sự chia cắt để tạo nên vùng đệm an toàn cho nước họ. Đó là chưa kể, vì “đại cuộc”, họ có thể “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, có thể hy sinh cả một dân tộc khác để thí điểm mô hình nhanh nhất đi đến chủ nghĩa cộng sản[8] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn8).
Ngày nay cũng thế, đồng minh gần gũi nhất của họ, cả ở vị trí địa lý lẫn trên trường quốc tế, cả về ý thức hệ lẫn đường hướng phát triển xã hội, lại là đối tượng bị họ uy hiếp nhất. Đơn giản là vì với Việt Nam, hệ ý thức để quy chiếu là “chủ nghĩa”, thì đối với họ là “trung Hoa” [9] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftn9). Đối ứng thích hợp là chúng ta phải trả quan hệ lãnh thổ và chủ quyền về với hệ quy chiếu của chính nó: quốc gia-dân tộc.
Hệ quy chiếu giai cấp đã đưa đến tiếp cận đồng chí, trong khi lẽ ra, với quy chiếu quốc gia-dân tộc, sẽ đưa đến tiếp cận đồng minh.
Khi gặp vấn đề, tiếp cận đồng chí khiến ta cứ loay hoay với bạn để thu xếp về lãnh thổ và chủ quyền, trong khi với tiếp cận đồng minh, ta sẽ mạnh dạn đến với các đối tác khác để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền đó.
Thực tế, đã có những kiểu mẫu nổi bật cho việc thay tiếp cận đồng chí bằng tiếp cận đồng minh mà những người cộng sản đã làm và đem đến thành công lớn. Đó là quan hệ đồng minh của Liên Xô với Mỹ, Anh trong Thế chiến II, là quan hệ đồng minh của Trung Quốc với Hoa Kỳ để chống lại Liên Xô trong những năm 1970-1980.
Như thế, cũng như vấn đề về tư duy địa chính trị ở trên, tư duy về lãnh thổ và chủ quyền cũng cần có sự kết hợp đúng đắn và vận dụng đúng lúc các tiếp cận. Cho đến lúc này, sau khi đã thu xếp xong biên giới trên bộ, nếu tiếp tục xem tiếp cận đồng chí là cái quyết định, thì sẽ là sai lầm rất lớn.
(Còn 1 kì)
[1] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref1) Xem: Nguyễn Mạnh Hùng, Tài liệu đã dẫn.
[2] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref2) Trong trận chiến Thái bình dương của Nhật đã nói ở trên, cùng ngày tấn công vào Trân Châu cảng, họ không những đưa quân sang Thái để nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ những nước áng ngữ Malacca, mà còn đổ bộ lên các đảo ở bắc Philippines để kiểm soát eo Luzon. Ý đồ khóa chặt hai cửa ngõ của biển Đông, một thông sang Ấn Độ dương, một sang Thái bình dương là quá rõ.
[3] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref3) Tháng 12/2007, Đài Loan hoàn tất việc xây dựng đường băng trên đảo, và ngày 21/02/2008, máy bay vận tải quân sự C-130 Hercules của họ đã hạ cánh xuống đây lần đầu tiên.
[4] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref4) Có một tình huống đặc biệt nữa đối với Đài Loan nhưng tôi không đề cập chính thức trong bài, vì xem ra viễn cảnh đó còn xa hơn viễn cảnh có những xung đột bất lợi cho Việt Nam. Đó là với tư cách “nguyên quốc”, Trung Quốc xem như cũng đã đứng một chân vào vị trí của Đài Loan trên Trường Sa. Trong trường hợp họ quy tập được lãnh thổ này, cái gì “của” Đài Loan đương nhiên thành của họ.
[5] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref5) Tên gọi đầy đủ là “tiếp cận hình thái kinh tế xã hội”, lấy căn cứ là sự tiến hóa xã hội theo năm hình thái kinh tế xã hội để phân kỳ và ghi nhận lịch sử toàn thế giới và từng dân tộc, trong khi tiếp cận “tiếp cận (theo nền) văn minh” lấy yếu tố văn hóa, văn minh làm cơ sở để nhận thức từng đối tượng lịch sử.
[6] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref6) Biểu hiện là ở đâu cũng thế, thời nào cũng vậy, ngoài những chuyện cung đình, gia tộc, chinh chiến, thì “cốt truyện” xuyên suốt vẫn là giai cấp thống trị (chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư sản) nắm chính quyền, bóc lột và áp bức nhân dân (nô lệ, nông dân, công nhân), khiến cho giai cấp bị trị phải vùng lên…
[7] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref7) Khi tìm hiểu về giai đoạn chủ nghĩa xã hội trước đổi mới ở Trung Quốc, có thể tham khảo những cuốn sách ít nhiều đã thành “kinh điển” như:
- Vương Minh [nguyên Uỷ viên BCT và Bí thư BCHTƯ Đảng CSTQ], Nửa thế kỷ tồn tại của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự phản bội của Mao Trạch Đông, Tài liệu tham khảo nước ngoài, lưu hành nội bộ, 1978.
- O. Vlađmirốp, V. Riadanxép, Những trang tiểu sử chính trị của Mao Trạch Đông, Tài liệu tham khảo, lưu hành nội bộ, 1978; Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1983.
- P. P. Vlađmirốp, Nhật ký Diên An (2 tập), Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1981, 1982.
- Phơrenxơ Varơnai, Chủ nghĩa Mao chống phong trào cộng sản thế giới, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1982.
- M. X. Culesốp, Bắc Kinh chống lại phong trào gỉai phóng dân tộc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982.
- T. R. Rakhimốp, Số phận các dân tộc không phải Hán tộc ở nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982.
- A. Cudơlốp. Hoạt động phá hoại của bọn Mao-ít ở Đông Nam Á, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984.
- M. A. Ilin, Bắc Kinh – kẻ thù của hòa bình, hòa dịu và hợp tác quốc tế, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984.
- Nhiều tác giả, Mao – tấn thảm kịch của Đảng Cộng sản Trung Quốc (5 tập), Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984-1985.
Tất nhiên, ngày nay, đọc những tài liệu này, ta đủ khách quan để tách bóc thái độ bôi đen và tô hồng khỏi dữ liệu lịch sử; đồng thời, tất cả những nội dung đó cũng không hề và không thể bôi xóa những thành tựu hết sức to lớn mà Trung Quốc đã đạt được từ cải tổ tiên phong của họ. Thế nhưng, chính việc bóc tách đó lại càng cho thấy tính xuyên suốt trong “đại cuộc” của họ.
[8] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref8) Xem:
- Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Sự thật và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979.
- Thành Tín, Mô hình Bắc Kinh, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1979.
- Phrăngxoa Giayô, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1981.
- U. Bớcsét, Tam giác Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1986.
[9] (http://www.talawas.org/?p=9610#_ftnref9) Thử hỏi một cách giản dị, nếu thật lòng về ý thức hệ, với tư cách một đàn anh khoáng đạt, họ có dám “hy sinh” Hoàng Sa và Trường Sa để vỗ yên Việt Nam không, mà lại đòi ta phải vì “đại cuộc” mà hy sinh lợi ích dân tộc? Do vậy, trong số những trạng huống của cuộc chơi mới ở biển Đông, có một khả năng mà tôi không đưa vào vì hoàn toàn bất khả ngay từ lý thuyết. Đó là khi Trung Quốc giao trả Hoàng Sa cho Việt Nam và từ bỏ yêu sách đối với Trường Sa. Nếu như vậy, giữa hai nước không còn mâu thuẫn về quốc gia-dân tộc, và phân bố lực lượng tại Đông Nam Á sẽ nhanh chóng an bài theo tiêu chí ý thức hệ.


Nguồn: http://www.talawas.de/ (http://www.talawas.de/)

lạc đà say rượu
29-08-2009, 09:25 PM
Đặt mình vào vị thế trung tâm Đông Nam Á từ vị trí cửa ngõ, xem mình như nhân tố không thể thay thế trong bàn cờ địa chính trị của khu vực và châu lục khiến dễ nghĩ rằng ta có thể chủ động đặt các thành tố khác vào thế trận đi dây của chính ta, với những điều kiện và cái giá thuận lợi hơn so với họ. Thế nhưng, như đã nói, khi ta tĩnh trong thế đi dây quá lâu thì các yếu tố khác buộc phải động, và điều đó có thể nảy sinh những tình huống khôn lường.

Hãy biết mình có gì, biết người cần gì. cái gì có thể đem đổi.
Sử dụng quan hệ quốc tế khéo léo. không thể dựa hẳn vào một quốc gia nào, nhưng dựa vào một cộng đồng các quốc gia cũng đủ tạo nên một áp lực mạnh để ngăn chặn tham vọng của khựa. và trên hết tự bản thân ta phải cố gắng, phải biết mình là ai.

hoanghungcz
30-08-2009, 02:01 AM
7. Quyền lợi Trung Quốc và Việt Nam
Trong chiến lược bành trướng hiện đại, vừa “cứng” vừa “mềm” của Hoa lục, vùng đất duyên hải phương nam trở thành hướng khả thi nhất, không chỉ vì Việt Nam yếu kém thế lực, đơn độc, mà còn vì Hà Nội có niềm tin đồng chí vào Bắc Kinh; không chỉ vì đối với họ, Việt Nam là chủ thể đặc biệt của “Nam hải”, cả về vị trí lẫn phạm vi tranh chấp, mà còn vì cái lịch sử dang dở mà họ nay muốn hoàn thành trước thời cơ ngàn năm có một. Và, cùng với những nguyên do đó, như đã rõ, biển Đông là nơi đầu tiên mà Hoa lục muốn làm chủ trên con đường vươn ra đại dương.
Trong bối cảnh đại dương ngày càng đóng vai trò lớn về kinh tế, chính trị và quân sự, thì một khi nhìn nhận quyền lợi của Hoa Kỳ tại biển Đông[1] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn1), ta cũng phải thấy và tôn trọng quyền lợi của Trung Hoa tại vùng biển phía nam của họ.
Về kinh tế, cũng như Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, cơn khát dầu của Hoa lục đòi hỏi một đường tiếp liệu và giao thương thông suốt. Đồng thời, quyền lợi của họ đối với các nguồn tài nguyên trong vùng biển này cũng là điều cần xét đến.
Về chính trị và quân sự, khi vị thế còn chưa ngang ngửa với siêu cường hàng đầu, và cũng do khác biệt về thể chế so với số đông của thế giới, một cường quốc đang lên và quá nhiều tham vọng như họ cần đến những vùng đệm quanh các đường biên, kể cả hải biên, để có sự cách ly an toàn với những thế lực khác.
Hải biên Trung Quốc có hơn một phần ba chiều dài quay về nam[2] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn2), kết hợp với hướng lục địa trải liên tục về tây và ứng với vùng tây nam chiếu từ trên bộ của họ, là tiểu lục địa Ấn Độ và Ấn Độ dương. Do vậy, với Hoa lục, “Nam hải” không đơn thuần nối vùng biển Đông Bắc Á và vùng biển Nam Á, mà chính là nơi kết nối đại dương với lục địa của những vùng đầy những tranh chấp và đối thủ mà họ muốn khuất phục.
Và như thế, chưa kể diện rộng của Ấn Độ dương, khi làm chủ, hay ít ra là hiện diện mạnh cùng lúc ở biển Andaman và biển Đông, Hoa lục sẽ tạo nên một gọng kìm, cương tỏa cả bán đảo Trung – Ấn, và trở thành một thế lực tại chỗ kiểm soát được cả hai ngõ trực tiếp vào Malacca,
Đấy là chưa kể trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Hoa còn có hẳn một dự phóng có thể thay đổi cả lịch sử hàng hải lẫn tương quan địa chính trị thế giới. Năm 2005, họ đưa đề nghị hợp tác với Thái Lan trong dự án đào kênh qua eo đất Kra, với chi phí 20 tỷ USD[3] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn3). Eo đất này là đoạn hẹp nhất (44 km) trên bán đảo Malay mà một bên là vịnh Thái Lan và bên kia là biển Andaman. Nó nằm trọn phần chủ quyền của Thái Lan trong khi những đoạn khác có thêm Myanmar hoặc Maylasia sở hữu (hình 2). Từ sau năm 1973, các cường quốc đã ngừng dự tính chung sức xây kênh đào này. Nay thì một mình Trung Hoa đề xuất, nếu thành công, với hải trình rút ngắn, an toàn và thuận tiện hơn rất nhiều, thì cái chốt đông – tây từ Malacca sẽ phải dịch chuyển về đây và, hợp cùng sự hiện diện tại biển Đông và Andaman, yết hầu mới coi như đã nằm gọn trong tay lòng bàn họ[4] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn4) (hình 3).

http://www.talawas.org/wp-content/uploads//2009/08/LTH3-400x282.jpg Hình 3: Các tuyến hàng hải ngang qua Đông Nam Á. Tuyến đầu qua eo Malacca, hai tuyến sau qua ngõ Indonesia, số 4 là tuyến sau khi có kênh Kra (Nguồn: southchinasea.org; có chỉnh lý)

Trong lúc sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á giảm đi từ sau chiến tranh lạnh, còn quyền lực mềm Trung Hoa thì lại gia tăng đáng kể tại vùng đất kéo dài từ Miến Điện sang Việt Nam, thì những trù tính liên hoàn đó cho thấy chiến lược đại dương toàn cầu của Hoa lục ngoài việc đã đi rất sớm, còn rất hoàn hảo và rất quyết tâm.
Do vị trí địa lý của mình và trong bối cảnh đó, sống hòa thuận và hòa bình với Trung Hoa luôn là nguyện vọng của nước Việt. Qua những gì đã trải nghiệm nhiều ngàn năm, ngày nay, ta ở vào tư thế sẵn sàng và thật lòng hòa hảo tối đa với Trung Quốc để duy trì sự bình yên (thậm chí, không nhọc lòng đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay an ninh của Đông Nam Á). Và trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã theo đuổi một chính sách hòa hảo như vậy.
Hơn nữa, theo cách nhìn ý thức hệ, sự hiện diện của Hoa Kỳ ở biển Đông cũng là một đe dọa đối với Việt Nam. Trong trường hợp đó, chính Trung Quốc lại là người có thể kiềm chế họ. Việt Nam được lợi khi đối trọng này cân bằng.
Với vị thế cường quốc đang lên, với quyền lợi khả dĩ trên biển Đông, và với cả vai trò “đối trọng ý thức hệ trên biển”, nếu Trung Hoa có nổi lên như một cường quốc đại dương, Việt Nam (và các nước khác) đương nhiên phải chấp nhận, tôn trọng và thích ứng với cục diện đó. Thế nhưng, hình thái của bất kỳ quan hệ nào cũng không bao giờ đến chỉ từ chủ ý của một phía. Và điều đó, tiếc thay, lại ứng với tất cả những biểu hiện trong tương quan Việt – Hoa.
Trong khi quan niệm hòa hảo của Hà Nội là tình anh em và sự bảo trợ cho nhau của những người láng giềng có chung ý thức hệ, thì hòa hảo theo kiểu Bắc Kinh là đối tác phương nam phải thuần phục, chịu mất đất, mất biển và chấp nhận vị thế sân sau, ao nhà của họ. Ngặt hơn nữa, cái sân sau, ao nhà này lại là bước đầu tiên không thể nào bỏ qua trong cái chiến lược đại dương có ý chí mang sức mạnh dồn nén của mấy ngàn năm bỏ quên biển. Không như Hoa Kỳ, không “có” Việt Nam mà vẫn không “mất” Đông Nam Á, Trung Quốc không chiếm hữu “Nam hải” thì không thể hoàn thành giấc mộng biển cả.
Cũng khác biệt như thế, việc bảo đảm quyền lợi của Hoa Kỳ được đặt trên cơ sở tôn trọng chủ quyền biển và hợp tác an ninh với các nước quanh biển Đông, đồng thời tôn trọng quyền tự do đi lại trên hải phận quốc tế đối với mọi chủ thể; thì quyền lợi của Trung Quốc lại xuất phát từ sự chiếm đoạt, ngang ngược và độc tôn hải hành. Việc thừa nhận và tôn trọng quyền lợi Trung Hoa trên biển Đông thực tế đã bị chính họ dịch chuyển, không còn là vấn đề về quyền lợi hợp pháp và hợp lý, mà là chuyện về tham vọng quá đỗi của họ.
Khi xét đến thế “đối trọng ý thức hệ trên biển” cũng vậy. Không phải tự Hà Nội muốn duy trì mãi sự cân bằng có lợi cho mình, trong tình hữu hảo với Bắc Kinh mà được. Cả ba đều có thể phá thế hiện nay, như đã đề cập.
Trong các trạng huống của cuộc đi dây mới, với giả định Hà Nội nghiêng về Washington, nếu tình hình không cho phép tiếp tục có khoảng tiệm tiến dai dẳng (xem như để mọi thứ của chiều hướng đó dần đi vào “bình thường”), thì nội tình của bộ máy quyền lực Việt Nam có thể biến động. Nhưng với chọn lựa Bắc Kinh làm chỗ dựa, biến động này chắc hẳn còn lớn hơn, vì từ bao đời nay, đề kháng và phản kháng trước họa xâm lăng và đồng hóa từ phương bắc vẫn là một đặc trưng của dân tộc Việt. Với tham vọng và quy chiếu của phương bắc, khi nghiêng hẳn về họ, đồng nghĩa với việc Việt Nam chấp nhận làm chư hầu và lãnh hải bị thôn tính.
8. Tự lực và đồng minh
Với những gì đã trình bày, có thể nhận thấy rằng lúc này, trong tương quan biển Đông, quan hệ đồng minh trở thành điều sống còn đối với Việt Nam.
Từ khi loài người định hình các hình thức cộng đồng, do có sự khác biệt về địa bàn, dân số, sự hưng thịnh…, và vì các lý do về chính trị, quân sự, kinh tế…, việc liên kết hay phân ly giữa các khối người trở thành một trong những đặc điểm tồn tại của họ. Khi đã có quốc gia-dân tộc, điều này càng rõ rệt. Trừ trường hợp có một thế giới hoàn toàn thanh bình và công bằng, hoặc trong trường hợp có sự đồng hóa, thì hậu thuẫn của cộng đồng này đối với cộng đồng khác không bao giờ là thừa hay có vai trò phá hoại. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, liên kết này càng có vai trò quan trọng hơn và thể hiện ở mọi mặt, ở hình thức đặc thù của từng lĩnh vực tương tác. Với tương tác chính trị và quân sự, hình thức đó là liên hệ đồng minh hoặc đồng chí.
Dù mức độ nào, trung lập là trạng thái tốt nhất đối với những vùng lãnh thổ chuyển tiếp khi quanh nó có sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, không phải một quốc gia tự muốn trung lập là được, mà vị thế đó không những phải được tất cả các bên liên quan thừa nhận và tôn trọng, trên cơ sở cân bằng trong tương quan địa chính trị cũng như thế và lực của họ; mà còn không khiến xâm hại đến chủ quyền và lãnh thổ của nước trung lập. Trong lịch sử đương đại, chỉ có Thụy Sĩ đáp ứng được những tiêu chí tạo nên sự cân bằng như thế.
Ở vị trí liền kề, Campuchia từng trung lập (1960-1970) và hưởng lợi từ đó, nay Việt Nam có thể tương tự như thế không? Cho đến lúc này, trên lý thuyết, Hà Nội vẫn có thể chuyển hướng để định vị thế mới cho mình, thông qua vận động ngoại giao và dàn xếp chiến lược. Nhưng muốn thành công, việc này vừa đòi hỏi Việt Nam phải thực thi chính sách trung lập trên trường quốc tế và trong vấn đề ý thức hệ, vừa đòi hỏi các nước liên quan chấp nhận vùng đệm chiến lược này, cũng như không yêu sách gì về chính trị và lãnh thổ đối với nó. Ở cả hai vế chủ thể đó, trên thực tế, nhiều khả năng là bất khả.
Về lý trí, ít nhất có ba nguyên do trực tiếp khiến cho đến nay, dù ít nhiều nhận ra tình thế biển rất thúc bách nhưng Hà Nội vẫn hết sức dè dặt về liên hệ đồng minh. Một là vấn đề ý thức hệ, hai là tương quan “láng giềng gần” với phương bắc, và ba là mối lo Trung Quốc càng ra tay cứng rắn hơn một khi thế cờ tay ba ngã ngũ.
Nguyên do đầu, đã nói ở trên, khiến những người làm chiến lược bế tắc trong đường hướng bạn – thù, tảng lờ các tương quan lịch đại, né tránh những nhận thức cơ bản nhất về các mâu thuẫn khả dĩ giữa ta với đối phương và đối tác. Cùng với mối lo Bắc Kinh “làm càn”, ý thức hệ khiến Hà Nội chỉ dừng lại ở quan niệm đối tác chiến lược mà không phải là đồng minh chiến lược.
Vấn đề “láng giềng gần”, như cũng đã nói, Việt Nam không nề hà sự tôn trọng đối với Trung Hoa với tư cách một cường quốc, cũng như sẵn lòng hợp tác tích cực về kinh tế, văn hóa, và cả ngoại giao (chẳng hạn, giữ cùng quan điểm với họ trong các vấn đề quốc tế), thậm chí, chấp nhận “thông lệ” lịch sử, là các quốc gia “vĩ đại” thường có vùng ảnh hưởng quanh biên giới. Nhưng còn chủ quyền lãnh thổ và lợi ích dân tộc, là cái mà bất kỳ ai cũng tuyệt đối không thể đánh đổi, dù phải bảo đảm cho nó bằng những chiến lược, sách lược “khó chịu” nhất. Và cũng đồng thời, trong tương quan chính trị, đặc biệt khi đó là những đường hướng mang yếu tố đối chọi, thì không phải mong muốn chính trị, mà thực tế chính trị mới là cái quyết định.
Ngoài Trung Quốc, trên hai năm trở lại đây, “đối tác chiến lược” của Việt Nam ngày một nhiều. Và ngoài Nga, các nước khác trong số này đều ít nhiều có yếu tố “cân bằng” lại với Trung Quốc. Không rõ trong toan tính của người những làm chiến lược Việt Nam, trong số đó, đâu là đối tác chiến lược ở tầm chiến lược, đâu là đối tác chiến lược ở tầm chiến thuật. Nhưng có một điều có thể biết, là những động thái mở rộng đối tác chiến lược mà không đem lại kết quả chiến lược, thì chỉ khiến cho Bắc Kinh nhận ra cái chiến lược “chiến lược một nửa” đó và càng tức giận hơn, chỉ khiến cho Bắc Kinh nhận ra vị thế lạc lõng của Việt Nam và càng muốn “ra tay” hơn. Hành xử hung hãn của họ thời gian qua đã rõ ràng thể hiện điều đó.
Có hai ý kiến được đưa ra để củng cố quan điểm cho rằng trong đối sách với Trung Quốc, Việt Nam không cần hoặc không nên có quan hệ đồng minh.
Đầu tiên là việc đề cập đến nội lực, xem đó gần như là cái duy nhất để chú trọng phát triển, nhằm đương đầu với tham vọng lãnh hải của phương bắc.
Phát triển nội lực để xây dựng một quốc gia thịnh vượng, đủ sức đối mặt với mọi thách thức là một quan điểm hoàn toàn đúng, nhưng “mở rộng” thêm từ đây, rằng phải tự lực chứ không cần đến ngoại lực, không cần đến đồng minh, là hoàn toàn sai, vì:
Thứ nhất, như trên đã nói, liên hệ đồng minh, dù là đồng minh về văn hóa, thể chế, hay đồng minh về chính trị, quân sự, là một thực tế khách quan trong quan hệ giữa các quốc gia. Khi có tranh chấp hoặc xung đột, điều đó càng không thể tránh khỏi. Một đất nước vĩ đại như Nga, trải rộng từ tây sang đông mà vẫn muốn có những đồng minh nhỏ bé trong không gian Sô Viết cũ. Siêu cường như Mỹ mà vẫn không thể một mình đương đầu với thế lực khủng bố. Trung Quốc tưởng chừng tự mình “tả xung hữu đột”, nhưng trong tính toán chiến lược vẫn cần đến các “đàn em” phương nam.
Thứ hai, trong những yếu tố góp phần phát triển nội lực, có bối cảnh và thời gian. Trong tình thế hết sức yếu kém trước một Trung Hoa đang trở thành siêu cường và lăm le nuốt lấy biển Đông, nơi mà vì điều đó cũng đang trở thành điểm hút của nhiều thế lực vượt trội hơn hẳn Việt Nam, nếu nói chúng ta phải tự lực hay đợi đủ nội lực để đáp lại nguy cơ bành trướng, thì về mặt nhận thức, đó chẳng qua chỉ là sự lặp lại máy móc, phi lịch sử và phi thực tế một khái niệm xác thực. Về mặt chiến lược, nó lấy cái dài hạn thay cho cái cấp bách, nhầm lẫn giữa tương quan kinh tế-xă hội với tương quan chính trị-quân sự. Còn về chiến thuật, đó chẳng khác nào tự trói tay trước một đối thủ vũ trang hiện đại đầy mình.
Về lâu dài, xây dựng và phát triển nội lực là cực kỳ quan trọng, nhưng trước mắt, không có ngoại lực ta không thể thoát khỏi tình thế hiện nay. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trong ngắn hạn thì không chú trọng nội lực, còn trong dài hạn thì triệt tiêu ngoại lực hay liên hệ đồng minh.
Ý kiến thứ hai trưng dẫn cuộc chiến Gruzia – Nga (2008) như một minh chứng, rằng việc tạo liên minh với nơi khác trong khi liền kề với nước lớn đang uy hiếp mình là sai, vì nếu có chiến tranh xảy ra, nước nhỏ vẫn chịu thiệt và đồng minh cũng không can dự vào.
Thật ra, với những nhà làm chiến lược có lý trí, có lẽ không ai lại nghĩ rằng ở thời nay, tạo quan hệ đồng minh là để những nước này lập tức tham chiến, bất kể nguyên nhân, thời cuộc và chiến cuộc. Liên minh với các cường quốc càng không phải như vậy. Trong trường hợp có yếu tố Mỹ – Nga, lại càng hơn thế. Quyền lợi toàn cầu, trước nguy cơ của một cuộc đối đầu hay chiến tranh thế giới, luôn được đặt cao hơn quyền lợi và xung đột cục bộ của một quốc gia có vị thế nhỏ. Với liên minh phòng vệ, quan hệ đồng minh là để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho các quốc gia của liên minh, chứ không phải là tăng nguy cơ cho nhiều nước và giảm cơ hội hòa hoãn. Nhưng dù sao, cùng với việc xử trí khéo léo về sách lược và chiến thuật, liên hệ đồng minh là điều kiện chiến lược không thể thiếu, vì đó không những là thế lực răn đe từ xa và hỗ trợ về quốc phòng, mà còn là lực lượng ngoại giao, chính trị và kinh tế trực tiếp hậu thuẫn cho quốc gia đồng minh, khi vô sự cũng như hữu sự.
Quay lại trường hợp Gruzia, có thể nước này đã có những bước đi không thích hợp, nhưng ngoài việc phải tính đến động cơ bảo toàn lãnh thổ của họ cũng như thái độ hậu thuẫn tuyệt đối của Nga cho việc ly khai, nên thấy rằng nếu không có liên hệ đồng minh với Mỹ và châu Âu, thì bằng sức mạnh siêu cường và những ảnh hưởng đối với không gian hậu Sô Viết, Nga thừa khả năng đánh chiếm toàn bộ Gruzia hoặc kéo dài cuộc chiến, chứ không chỉ tự giới hạn trong một tháng. Đó là chưa kể những trợ giúp to lớn về kinh tế, chính trị và quân sự sau chiến tranh mà Gruzia sẽ không nhận được nếu không có đồng minh.
Như vậy, có thể tóm lại rằng, tôn trọng vị thế và quyền lợi của nước lớn và láng giềng, hòa hảo và hòa hoãn với họ trên cơ sở bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, phát triển nội lực trên tất cả các mặt, mở rộng đối tác chiến lược và xây dựng quan hệ đồng minh chiến lược là những việc mà cả trước mắt và lâu dài, một quốc gia cần thực hiện đồng thời trong chiến lược tồn tại của mình, khi ở giữa các thế lực không cùng chiều về quyền lợi đang hiện diện đan chéo nhau.
Cụ thể, trong cục diện địa chính trị ngày nay, xét tất cả những gì đã nói, với tư cách siêu cường chính trị – quân sự, cả trên bộ lẫn trên biển, đủ sức và sẵn lòng đối trọng với những thách thức nhắm vào thế cân bằng chiến lược toàn cầu,thì Hoa Kỳ là đồng minh mà Việt Nam cần có. Họ không phải là đối tác duy nhất trong chiến lược kiềm chế và đối trọng với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng là đối tác khả dụng nhất và quyết định nhất.

9. Sự trở lại của Hoa Kỳ và Việt Nam
Sau vụ đụng độ Impeccable, về phía Hoa Kỳ, trên bề mặt chiến lược, tình hình diễn tiến rất nhanh.
Khi lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc trên biển Đông còn chưa kết thúc (31/07/2009), thì vào ngày 15/07/2009, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã mở phiên điều trần về Tranh chấp Biển và Tranh cãi Chủ quyền tại Đông Á (Maritime Disputes And Sovereignty Issues In East Asia). Có thể nói, chưa bao giờ quan điểm của lập pháp, hành pháp và giới nghiên cứu Hoa Kỳ về vấn đề này lại được trình bày một cách chính thức, tập trung và rõ ràng đến vậy, với những nhận định không nghiêng về Trung Quốc.
Sự kiện trên còn chưa kịp nguội thì tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum, ARF) lần thứ 16, diễn ra ngày 23/07/2009, Ngoại trưởng H. Clinton đã ký vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia)[5] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn5), đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ ở vùng này.
Ngay trước đó, trong chuyến thăm năm ngày đến Ấn Độ (18/07 – 22/07/2009) của Ngoại trưởng Mỹ, hai bên đã có những thỏa thuận cả về quân sự lẫn dân sự ấn tượng, mà thực chất là định hình quan hệ đồng minh. Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược của Hoa Kỳ quanh vành đai bán đảo Trung – Ấn và các cung đảo Đông Nam Á đã tạo thành một thế liên hoàn, tiếp nối với vành đai Đông Bắc Á.
Trong cục diện chính trị hải dương mới này, quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ có thể vẫn như trước nay được không? Về chủ quan, Hà Nội muốn điều đó, tức vẫn ở “cửa giữa”, nhưng thông qua cơ chế ASEAN để nhận thêm lợi ích từ Washington do Hoa Kỳ đã chuyển hướng chiến lược. Về khách quan, điều này bất khả.
Dù có sự gắn liền địa lý biển với Việt Nam, thì việc Hoa Kỳ có nhiều lợi ích ở biển Đông cũng không đồng nghĩa với việc những lợi ích này song trùng ở Việt Nam, nên việc bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ ở biển Đông không có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Việt Nam.
Tương tự, dù Việt Nam có chân trong Hiệp hội Đông Nam Á, nếu Hoa Kỳ cam kết bảo vệ ASEAN cũng không có nghĩa là đương nhiên bảo vệ Việt Nam, không chỉ vì ASEAN là một khối không thuần nhất và khập khểnh, mà còn vì Việt Nam có chấp nhận sự bảo vệ ấy hay không. Một thực tế mà ta thấy hết sức rõ ràng, là bản thân ASEAN, với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ”, cũng khước từ sự bảo vệ, cho dù dưới hình thức yếu ớt nhất, cho thành viên của nó trước đe dọa về lãnh thổ. Và, ví như Myanmar, có vị thế địa lý quan trọng với cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ, lẫn Thái Lan và Malaysia…, nhưng không vì là thành viên ASEAN mà mặc định có phần trong chiến lược thân hữu của Hoa Kỳ.
Tại cuộc điều trần vừa nói của Thượng viện Hoa Kỳ, thái độ của siêu cường này đối với tranh chấp tại biển Đông đã được minh định. Họ khẳng định sự mù mờ trong tuyên bố chủ quyền của Hoa lục và nhận định rằng Việt Nam là nước trực tiếp chịu nhiều thiệt thòi do yêu sách lãnh hải đó, nhưng cũng nói rằng họ trung lập giữa các tranh chấp. Song song đó, họ dứt khoát về quyền lợi của Hoa Kỳ, quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế, phản đối việc dùng vũ lực và dọa nạt. Cùng với việc khuyến khích ASEAN thống nhất lập trường và hành động đa phương, họ cũng sẵn sàng hậu thuẫn cho đồng minh và đối tác, dù nói rằng sự hiện diện của họ chỉ để kiềm chế chứ không nên để xảy ra những tính toán sai lầm[6] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn6).
Đường hướng đó kiên quyết nhưng cũng mềm dẻo, vừa bao quát đối tượng nhưng cũng cụ thể với các đối tác. Nó không mập mờ nhưng đủ lưng chừng để xử thế linh hoạt, tùy chủ thể và trạng huống. Nó chứa đựng khả năng để Washington định hình một liên minh cơ hữu và trọn vẹn, dù là dưới hình thức không hiệp ước, với các chủ thể có liên quan để chống lại sự cưỡng đoạt và bành trướng của Bắc Kinh trên biển; mà cũng dành sẵn cơ hội để họ đi dây trên khắp các thế trận, với mọi đối tượng, nhằm bảo đảm tự do hải hành và sự thống lĩnh truyền thống của họ trên đại dương.
Với tư cách thành viên ASEAN và đối tác tham gia vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của khối này, quan hệ hiện nay giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chỉ một bước là đã có thể rất gần nhưng cũng có thể rất xa. Nếu gần, Việt Nam sẽ có đầy đủ tư thế chung mà thân hữu của Hoa Kỳ có. Nếu xa, chỉ với một từ “đồng minh” làm tiêu chí, thì Việt Nam đã nằm ngoài quan hệ chiến lược của Hoa Kỳ với khối Đông Nam Á.
Hiện, dù có những đe dọa lãnh thổ, Việt Nam vẫn tỏ rõ có nhiều liên hệ đồng chí với Trung Hoa, trong khi các động thái đồng minh với Hoa Kỳ vẫn hết sức giới hạn. Nếu đó chỉ là màn kịch lớn mà Hà Nội và Washington cùng diễn để tránh kinh động đến Bắc Kinh khiến họ có thể có những hành xử đã rồi, thì quả là chiến thuật ở tầm cao. Nhưng nếu đúng là nhận thức chính trị vẫn được đặt cơ sở trên những khái niệm đạo đức – ý thức hệ, thì viễn cảnh u ám hơn là điều mà nhiều khả năng Việt Nam khó tránh khỏi.
10. Luật pháp quốc tế và pháp lý đặc thù
Như vậy, trong cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh hải, ngoài nội lực và một hệ thống chứng lý khả tín và khả thi, Việt Nam cần đến sự hậu thuẫn của đồng minh và ủng hộ của công luận. Thời gian vừa qua, đất nước không bị cô lập nhưng rõ ràng là cô độc. Nguyên nhân của điều này không chỉ vì hoạt động đối nội và đối ngoại về chủ quyền lãnh thổ hoàn toàn không xứng với tầm mức của vấn đề, mà còn vì có những chuẩn mực không tương ứng giữa ta với bên ngoài.
Rất rõ ràng, con đường bảo vệ chủ quyền không tốn kém xương máu và nhẹ nhàng nhất, căn cơ và triển vọng nhất, là con đường pháp lý. Chúng ta sẽ phải dựa vào luật pháp quốc tế để đấu tranh kiên quyết hơn trên mặt trận này. Mà đã là luật pháp quốc tế thì phải là những chuẩn mực phổ quát, không phải là những tiêu chí nội bộ và riêng biệt của một hay một nhóm quốc gia.
Vậy mà, đối với công chúng thế giới, Trung Quốc và Việt Nam là anh em hữu hảo, tương đồng nhau về hệ thống chính trị – pháp lý, xác tín chung và mạnh mẽ nhiều giá trị được cho là đặc thù. Do vậy, một khi ta nhất mực và đồng tâm với Trung Hoa, trong cách nhìn và cách quyết của những hành xử theo tiêu chí đó, thì e là trong cách nhìn và cách quyết của bên ngoài cũng sẽ như thế, rằng những người bạn có thể tự xử trí nội bộ với nhau được, theo đúng những giá trị có chung đó[7] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn7). Nói cách khác, trước công luận toàn cầu, một khi ta còn chưa hòa nhập thật sự và đầy đủ vào những giá trị pháp lý phổ quát, thì còn khó có thể yêu cầu từ đó sự hậu thuẫn thật sự và hiệu quả bằng luật pháp quốc tế.
11. Thay đổi tư duy
Tóm lại, trên bàn cờ đã đến hồi diễn tiến nhanh và phức tạp của biển Đông, thời cơ có đến nhưng lại trực tiếp chứa đựng nhiều bất trắc đối với Việt Nam. Con cờ tư duy không thể không biến hóa để thích ứng với nó. Thay đổi tư duy là điều kiện đầu tiên, từ đó mới có được những bước đi chiến lược và sách lược thích hợp.
Không chỉ là một tư duy địa chính trị mới, thực tế và cụ thể, thấy những vấn đề đơn thể nhưng cũng nhìn được những cái toàn thể; tư duy chiến lược nên tránh nếp nghĩ bị ảnh hưởng quá lâu bởi những lập luận có tính tuyên truyền, khi đặt mình vào trung tâm mà xem nhẹ những thành tố khác. Tư duy dân tộc cần được đặt ở vị trí thích đáng và hiệu quả hơn so với tư duy ý thức hệ, để tránh lặp lại những sai sót của quá khứ, khi ta thuần lòng với giá trị giai cấp còn người dốc lòng với cơ đồ đại tộc. Cũng thế, khi cuộc đấu tranh pháp lý sẽ cùng với đấu tranh chính trị – quân sự và đấu tranh ngoại giao trở thành ba mặt trận để bảo vệ chủ quyền, thì tư duy pháp lý phổ quát cũng là điều cần hướng đến, thay cho tư duy pháp luật “nội bộ”.
Sự thay đổi đó đã đến lúc phải quyết đoán, không chỉ vì sự lạc hậu và trì trệ bên trong về tư duy đã đến lúc không thể cứ kéo dài, mà còn vì áp lực bên ngoài không không tiếp tục cho phép. Trung Quốc thì đã rõ. Hoa Kỳ cũng cho thấy sự nhanh chóng và cả quyết trên mọi hành động chiến lược, sách lược, và với mọi đối tác. Ngay cả Ấn Độ, có đặc tính “thâm trầm” và giữ khoảng cách với Mỹ nhưng nay, trước đổi thay quyết liệt của cục diện, cũng đã không ngần ngại tăng cường thế lực và tham gia một cách kiên quyết vào các hoạt động an ninh tại vùng biển Andaman – Ấn Độ dương[8] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftn8)…

Chần chừ, với Việt Nam lúc này, đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô, và đem lại lợi thế cho cả Trung Quốc lẫn các thành tố khác tại biển Đông.
Trước đây, vì chưa phá được thế cô lập, Hà Nội cần bắc chiếc cầu ASEAN để đến với Washington và các thủ đô phương Tây. Nay, vẫn áp dụng cách đó để tiếp cận đồng minh với Hoa Kỳ, nếu không phải vì tránh kích động Trung Hoa, thì e rằng sách lược không hợp thời này sẽ không mang lại nhiều hiệu quả. Con đường vòng Malaysia (hay bất cứ đối tác nào khác) mà hiện nay Hà Nội đang đi chỉ làm mất thêm thời gian và nguồn lực ngoại giao, khiến lộ rõ ngõ hẹp chính trị và vị thế yếu ớt. Điều đó cũng đương nhiên tạo thêm ưu thế cho Trung Quốc, Malaysia và các đối tác khác, đồng thời cũng không hoàn toàn bảo đảm được rằng không khiến Bắc Kinh kích động. Đó là chưa kể họ có thừa khả năng để tạo áp lực hay “tăng cường hợp tác” với các đối tác nhỏ trong vùng, gây tác hại cho quan hệ với Việt Nam.
Với thế liên hoàn địa lý giữa Nam Á – Đông Nam Á – Đông Bắc Á, có nhiều cửa ngõ và hải trình chiến lược, cộng với sự hiện diện của nhiều thế lực kinh tế, chính trị, quân sự của châu lục và thế giới, cả đương thời lẫn đang lên, việc tái phân bố lực lượng trên biển sẽ được định hình, khởi đi từ biển Đông. Trong bối cảnh “biển-chính trị” này, với vị trí của mình, Việt Nam không thể muốn hay không muốn duy trì nó, mà phải đối ứng với nó, cũng như không thể thích hay không thích đối tác này hay đối tác khác, mà phải có những tương quan khả thi với từng đối tác.
Cục diện mới sẽ dừng lại ở mức độ hiện nay hay tiếp tục diễn biến theo những kịch bản khác nhau, là tùy thuộc vào những thành tố chính có liên quan. Còn các trạng huống giả định đối với Việt Nam có thành hiện thực hay không, tốt hay xấu, là tùy thuộc vào Việt Nam – vào tư duy Việt Nam.
© 2009 Lê Tuấn Huy
© 2009 talawas blog
[1] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref1) Xem tổng quan mới nhất về vấn đề này, do một người Việt viết: Pham Thuy Trang, Eastern Sea Disputes and United States Interests, http://csis.org/files/publication/issuesinsights_v09n13.pdf (http://csis.org/files/publication/issuesinsights_v09n13.pdf).
[2] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref2) Các con số về diện tích, chu vi, bờ biển của nước này không được thống nhất trong các tài liệu, do họ có nhiều tranh chấp về lãnh thổ. Hoa lục nói có bờ biển dài 18.000 km (xem: website chính thức của chính quyền Trung Quốc http://english.gov.cn/2006-02/08/content_182551.htm (http://english.gov.cn/2006-02/08/content_182551.htm)), trong khi một số nguồn khác ghi là 14.500 km (ví dụ, tại website của CIA https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ch.html (https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ch.html)). Vậy, xin người Việt lưu ý khi viết về con số này, vì 18.000 km có thể đã gồm cả đường bờ biển tạo nên từ Hoàng Sa và Trường Sa (?).
[3] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref3) Xem lịch sử của kênh đào dự phóng này tại website của Dự án http://www.thai-canal.org/hist%20E.htm (http://www.thai-canal.org/hist%20E.htm).
[4] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref4) Theo trang Wikipidia, năm 2005, dự định của Trung Quốc đã được báo cáo cho Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ khi đó. Sau, tin này bị rò rỉ và xuất hiện trên tờ Washington Times. Xem: Thai Canal, http://en.wikipedia.org/wiki/Thai_Canal (http://en.wikipedia.org/wiki/Thai_Canal).
Theo một nhà báo người Ấn có tiếng làm việc cho phân xã Ấn Độ của Thông tấn xã Kuweit, dự án kênh Kra đang được Trung Quốc tài trợ xây dựng. Xem: Dipanjan Roy Chaudhury, China: Boosting Maritime Capabilities in the Indian Ocean (08/2007), http://www.worldpress.org/Asia/2908.cfm (http://www.worldpress.org/Asia/2908.cfm).
[5] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref5) Liên hiệp châu Âu cũng ký vào lần này. Đây không phải là hiệp ước mới, mà là văn bản do năm nước sáng lập viên ASEAN đề xướng và ký kết vào ngày 14/02/1976. Hiện đã có mười nước ASEAN và mười bảy đối tác (có Trung Quốc) ký vào.
[6] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref6) Nguyên bản của các diễn giả có thể tải về từ trang của sự kiện này, trên website Thượng viện Hoa Kỳ http://foreign.senate.gov/hearings/2009/hrg090715p.html (http://foreign.senate.gov/hearings/2009/hrg090715p.html). Phát biểu đề dẫn của Thượng nghị sỉ Jim Webb có tại http://webb.senate.gov/newsroom/record.cfm?id=315847& (http://webb.senate.gov/newsroom/record.cfm?id=315847&).
[7] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref7) Trên thực tế, cách nhìn loại này đã được nâng lên tầm học thuật từ lâu. S. Huntington, trong luận thuyết về “sự xung đột giữa các nền văn minh” đã cho rằng tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam là xung đột nội bộ của cùng một nền văn minh. Theo ông, các tranh chấp tại Đông Á khó có thể dẫn đến hành động quân sự trực tiếp, ngoài một số địa bàn ngoại lệ như… biển Đông. Và chủ trương của học giả này, là để tránh bùng nổ, các nước lớn nên đứng ngoài xung đột trong nội bộ của nền văn minh khác. Xem: Samuel Huntington, Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2003, tr. 238, 336, 470.
[8] (http://www.talawas.org/?p=9637#_ftnref8) Ngày 05/08/2009, một tàu Bắc Hàn tự ý thả neo trong vùng biển Andaman đã bị tàu Ấn truy đuổi và khám xét triệt để. Hành động đó cho thấy Ấn Độ đang “trực chiến” tại địa bàn của mình để thực hiện Nghị quyết 1874 của Liên hiệp quốc nhằm ngăn ngừa nước này phát tán kỹ thuật hạt nhân, mà hiện đang bị nghi ngờ là cho Myanmar.

lạc đà say rượu
30-08-2009, 02:46 AM
Chần chừ, với Việt Nam lúc này, đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô, và đem lại lợi thế cho cả Trung Quốc lẫn các thành tố khác tại biển Đông.

Tại sao phải chần chừ? Biết mà khó nói.

dzienhong
31-08-2009, 12:19 AM
Cả nhà xem tạm -bài hay
http://bauxitevietnam.info/c/6772.html

Bài này được đăng lúc 13:32 ngày Chủ Nhật, 30/08/2009 trong mục Chủ quyền đất nước (http://bauxitevietnam.info/category/chuquyen/).
Bài ngửa ở Biển Đông và bài bản về tư duy

Lê Tuấn Huy
Hiện, dù có những đe dọa lãnh thổ, Việt Nam vẫn tỏ rõ có nhiều liên hệ đồng chí với Trung Hoa, trong khi các động thái đồng minh với Hoa Kỳ vẫn hết sức giới hạn. Nếu đó chỉ là màn kịch lớn mà Hà Nội và Washington cùng diễn để tránh kinh động đến Bắc Kinh khiến họ có thể có những hành xử đã rồi, thì quả là chiến thuật ở tầm cao. Nhưng nếu đúng là nhận thức chính trị vẫn được đặt cơ sở trên những khái niệm đạo đức – ý thức hệ, thì viễn cảnh u ám hơn là điều mà nhiều khả năng Việt Nam khó tránh khỏi.
Trong thời gian 11 – 24/06/2009, tàu khảo sát Bruce C. Heezen của Hải quân Hoa Kỳ đã vào hải phận Việt Nam. Giới quan sát cho rằng đây là bước đi chính trị của Hà Nội. Tuy nhiên, đó không phải là chuyện đột ngột. Trước khi Hội nghị Trung ương lần thứ Tư (15 – 24/01/2007) bế mạc, mà một trong những điểm đáng chú ý là nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020, đã có thông tin Việt Nam chấp nhận để tàu Mỹ vào tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh.
Trên hai năm rưỡi đó, để chính thức hóa một quyết định nhân đạo liên quan đến biển Đông với phía Mỹ, là những biến động ngoại giao có tương tác chiều sâu với đường hướng bảo vệ Tổ quốc. Và, bên dưới khoảng thời gian và tương tác này, là những vấn đề của tư duy chiến lược.
1. Cục diện mới ở biển Đông
Khởi đầu chuỗi diễn biến nóng ở biển Đông, ngày 05/03/2009, Thủ tướng Malaysia tuyên bố chủ quyền đối với đá Hoa Lau và vùng biển phụ cận thuộc Trường Sa. Tiếp theo, ngày 10/03/2009, Philippines thông qua Luật về Đường cơ sở (Baselines Law) để xác định lãnh hải. Khi hạn định đăng ký thềm lục địa mở rộng với Liên hiệp quốc đang gần kề (13/05/2009), hai động thái này thể hiện ý nguyện khẳng định chủ quyền biển.
Thế nhưng, đến vụ đụng độ giữa tàu Impeccable của Mỹ với năm tàu Trung Quốc vào ngày 08/03/2009, thì cả trên bề mặt diễn tiến lẫn thực chất vấn đề đã không còn đơn giản như vậy.
Sau sự việc, Hoa Kỳ đã lập tức điều chiến hạm đến hỗ trợ hoạt động quan trắc. Đáp lại, Hoa lục cho xuất bến tàu tuần ngư lớn nhất, vốn được đóng lại từ tàu chiến. Có điều là, thay vì chỉ đến vùng biển đã xảy ra chạm trán hoặc nơi hiện có hoạt động hải thám của Hoa Kỳ, Bắc Kinh lại nhanh chóng cho tàu đến Hoàng Sa, Trường Sa. Và, trước khi họ đến những nơi có trong hải trình “tuần ngư”, thì ngày 12/03/2009, Việt Nam đã phải phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền vì tổ chức tour du lịch đến đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa.
Các tàu Mỹ, Hoa tiếp tục có những va chạm riêng rẽ sau đó nhưng thiệt hại lớn nhất lại là Việt Nam, do có lệnh cấm đánh bắt trên biển kéo dài hai tháng rưỡi mà Trung Quốc đưa ra, từ ngày 15/06/2009, với phạm vi bao gồm cả một số vùng thuộc chủ quyền Việt Nam mà họ tranh chấp.
Toàn bộ diễn biến vẫn đang tiến triển này không những khẳng định chiến lược và sách lược “Nam hải” của Trung Quốc đối với các bên liên quan, mà còn mở ra cục diện mới tại đây.
Về chiến lược, Trung Quốc trước sau như một, không những muốn chiếm tuyệt đại bộ phận biển, đảo phía Nam, mà còn có tham vọng biến biển Đông thành ao nhà, đẩy các thế lực đại dương khác ra khỏi vùng.
Về sách lược và chiến thuật, cùng với việc lâu nay vẫn giữ cho các tranh chấp ở dạng song phương, họ dùng phương cách đúng đắn, là chọn đúng đối tượng cho từng thái độ ứng xử, theo từng diễn tiến, trong thế sẵn sàng đối kháng với các quốc gia nhỏ trong vùng, đặc biệt là với Việt Nam. Đồng thời, ứng với thế và lực hiện nay, họ tránh đối kháng với thế lực lớn, dù vẫn có hành động khẳng định mình.
Về cục diện, trong bối cảnh mà việc xác quyết và bảo vệ lãnh hải trở thành vấn đề phải trực diện đối với các nước trong vùng, khiến cho từ đây về sau, tuy từng lúc có khác nhau nhưng khu vực biển Đông khó có thể bình ổn như trước, thì việc tăng cường thám sát bằng hải quân cho thấy đã đến lúc Hoa Kỳ tái hiện diện quân sự ở Đông Nam Á. Nếu thế, cuộc chơi “ao nhà” sẽ khó khăn hơn nhưng đồng thời cũng khiến cho Trung Quốc tăng cường hơn nữa áp lực quân sự để đạt vị thế mong muốn. Cũng sẽ không dừng lại ở Hoa Kỳ và Hoa lục, vì với thông lệ tự do lưu thông trên các vùng biển quốc tế, và để bảo đảm từ xa các quyền lợi của mình, các quốc gia khác cũng có thể hiện diện tại khu vực như những thế lực biển.
Như vậy, thành tố Trung Hoa đã thay đổi, thành tố Hoa Kỳ đang thay đổi, các thành tố khác bên ngoài sẽ thay đổi. Thế nên, các thành tố bên trong của tranh chấp biển Đông cũng không thể đứng yên, mà sẽ vận động theo hướng ít nhiều tạo thế liên minh với Hoa Kỳ và đưa tranh chấp ra quốc tế.
Nói vắn tắt, đã khởi sự mộtcục diệnđa thành tố,với xu hướng gia tăng về quân sự và gắn kết về liên minh, khiến tranh chấp biển Đông ngày càng mang tính quốc tế.
2. Tình thế của Việt Nam trong diễn tiến chính trị thế giới
Ở bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào, không chỉ bằng chứng hiện thực và bằng chứng pháp lý mới quan trọng, mà thế và lực của quốc gia cũng giữ vai trò không kém. Với tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa, dù “có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý”, Việt Nam lại không có đủ cả thế và lực để xác lập chủ quyền thực tế trên toàn bộ hai quần đảo này.
Sau khi Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988), trên thực tế, lực của Việt Nam khó có thể chống đỡ trước đe dọa quân sự trên biển. Sự vươn dậy ở tầm toàn cầu của phương Bắc càng khiến gia tăng khoảng cách này.
Do yếu về lực, chiến lược của Việt Nam chủ yếu xoay quanhthế.
Cùng với sự sụp đổ của khối Xô-viết, thế đứng của Việt Nam không còn được như trước. Sau khi rút khỏi Campuchia (1989) và gia nhập ASEAN (1995), Việt Nam đã tạo được vị thế mới trong đối thoại an ninh biển Đông. Quy tắc Ứng xử biển Đông (tức Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại biển Nam Trung Hoa, Declaration On The Conduct Of Parties In The South China Sea, 2002) là kết quả từ đó. Đối với Hà Nội, đây là thành công lớn, không những ở việc các bên cam kết không sử dụng vũ lực, mà còn ở chỗ biến tranh chấp biển vừa thành một quan hệ đa phương vừa thành một quan hệ đối trọng, giữa các nước nhỏ phía Nam với quốc gia lớn phía bắc.
Thế nhưng, quy tắc này đã nhanh chóng chứng tỏ tính vô hiệu. Các nước Đông Nam Á không những không tạo thành tiếng nói chung mà còn hoàn toàn im lặng khi có sự vụ vi phạm quy tắc, mà phía bị thiệt hại phần lớn là Việt Nam. Quả thật, dù đã có cơ chế đa phương nhưng Việt Nam vẫn ở vào thế “đối thoại” song phương, trong trạng thái thuần nhu, mà không có lấy sự hậu thuẫn – chí ít là về mặt “tinh thần” – của bất kỳ thế lực nào.
Trước khi có mặt trong khối ASEAN, Việt Nam đã chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991) và Hoa Kỳ (1995). Không như thế giới đơn diện trước đây của phe xã hội chủ nghĩa, trong thế giới đa diện, hai đối tác này đã dần tạo nên tình thế mới đối với Việt Nam. Dù đều tăng tốc trên mọi mặt trong vài năm qua, nhưng những biến động sách lược và chiến thuật vẫn khiến cho các quan hệ này thăng trầm, mà lắm khi Việt Nam phải đối ứng bị động.
Ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc ký Hiệp định Phân định vịnh Bắc bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá. Nhưng chính vào thời điểm hai hiệp định này có hiệu lực (07/2004) trở đi, Hoa lục lại khởi sự lối hành xử ngang tàng hơn trên biển, mà hầu như động thái sau luôn tăng phần nguy hiểm hơn trước.
Thế chênh vênh đó buộc Việt Nam phải tìm cách cân bằng. Việc Washington cùng trong tháng 12/2006, không những thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (Permanent Normal Trade Relations, PNTR) mà còn âm thầm bỏ cấm vận vũ khí đối với Hà Nội (trong khi không giải tỏa cho Bắc Kinh), là những điểm nổi bật trong chuỗi sự kiện dồn dập cho thấy sự nồng ấm nhanh chóng giữa hai nước. Nhưng cũng nhanh chóng sau đó, từ giữa năm 2007, chiều hướng ngược lại cũng tiến triển, từ sự bất đồng về nhân quyền, mà đến gần đây mới giảm đi.
Cho đến trước khi có những diễn biến nóng trên biển Đông, trong quan hệ chính trị nói chung và tương quan trên biển nói riêng, có thể nói, chiến lược đi dây của Hà Nội đã thành công. E ngại đối tác này ngả hẳn sang một bên khiến cả Washington lẫn Bắc Kinh đều không có những động thái cứng rắn trong các vấn đề thuộc “tầm ngắm” họ. Điều đó làm tăng vị thế “cửa giữa” của Việt Nam. Thế nhưng tới đây, mọi sự có thể không còn được như trước.
3. Tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông
Thời chiến tranh nóng hay chiến tranh lạnh, quan hệ đồng minh hình thành một cách cơ hữu. Vào thời hợp tác và hòa hoãn như hiện nay, thường không như thế. Sự hậu thuẫn của quốc gia này dành cho quốc gia khác – chính thức hay không chính thức, trong các vấn đề quốc tế hay quốc nội, thường trực hay hay tiềm tàng – thường trên cơ sở tương đồng nhất định về văn hóa hay thể chế mà không gắn chặt vào lợi ích của nhóm quốc gia cơ hữu. Đồng minh kiểu này có tầng sâu ở văn hóa chính trị.
Trong tương quan biển Đông, vốn đã bị đặt vào thế phải tranh chấp, Việt Nam lại không có đồng minh cơ hữu lẫn đồng minh thể chế khi mà đồng minh lớn nhất về chính trị lẫn văn hóa chính là chủ thể muốn tước đoạt biển, đảo. Việt Nam cũng hầu như không có được sự hậu thuẫn của công luận thế giới trong vấn đề này, và đó cũng là một phần hậu quả từ việc thiếu vắng tương tác đồng minh.
Yếu về lực, bị động về thế và không có đồng minh thể chế, Việt Nam trông cậy nhiều vào sự tự giác của các bên tranh chấp nhằm “không làm phức tạp thêm tình hình biển Đông”. Thế nhưng, từng chiến thắng trước một Việt Nam cộng hòa cạn lực, bí thế và không còn sự hậu thuẫn của đồng minh cơ hữu, lẽ ra ngày nay, giới lãnh đạo đã hiểu ngay từ đầu, rằng với kẻ mạnh và đầy quyết tâm, việc giữ nguyên hiện trạng ở những nơi có tầm quan trọng chiến lược, mà theo họ sẽ có lợi cho kẻ yếu, thì chỉ là chuyện không tưởng.
Trong những năm qua, khi Việt Nam chú tâm vận dụng tổng hợp các chiến thuật để bảo đảm thế cân bằng đối ngoại và đạt mục đích đối nội, thì Trung Hoa đã “âm thầm” trở thành một thế lực đại dương. Bên cạnh tác động chiến lược châu lục, căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Hải Nam, căn cứ tại Hoàng Sa và Hạm đội Nam Hải – mạnh nhất trong ba hạm đội của họ, là mối đe dọa trực tiếp đối với Việt Nam. Phần Hoa Kỳ, sau khi đóng cửa căn cứ không quân Clark (1991) và căn cứ hải quân Subic (1992) ở Philippines, với việc Liên Xô tan rã (1991), thế lực trên biển duy nhất còn lại lúc đó đã chấp nhận rời khỏi Đông Nam Á. Sự thể này nay chấm dứt, họ không thể kéo dài sự giậm chân chiến lược dù có đến được “cửa ngõ” nào đó hay không.
Bên cạnh đó, chiến lược của Hà Nội dùng ASEAN như một đối trọng với nước lớn trong tranh chấp biển vốn đã không hữu dụng, nay vô dụng trước sự vượt bậc của Trung Quốc, và sắp tới có thể sẽ phản tác dụng trước sự nổi lên khả dĩ củaPhilippines.
Tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông sẽ còn được tiếp tục nhận diện, nhưng đến đây đã có thể thấy rằng trong bối cảnh đa thành tố, có sự gia tăng về quân sự và tính chất quốc tế, thì sự yếu kém về thế và lực, cùng với việc không có quan hệ đồng minh đã khiến cho các giải pháp như trước nay ngày càng trở nên ảo chứ không thực, càng khiến cho việc bảo vệ chủ quyền biển ngày một mong manh. Đó là cái giá phải trả cho sự trì trệ về chiến lược và sách lược trên biển. Việc bám víu quá lâu – mà nói khác đi, là lạm dụng – vào chiến lược đi dây đã biến Việt Nam thành một thành tố tĩnh trong một cục diện động và các thành tố động, khiến Hà Nội gần như bế tắc trong lựa chọn chiến lược bạn – thù[1] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref1). Điều này chủ yếu xuất phát từ việc đánh giá chiến lược không đầy đủ đối với tương quan địa chính trị.
4. Cách nhìn địa lý trong đánh giá địa chính trị
4.1. “Cửa ngõ” Việt Nam
Cách nhìn thịnh hành cho rằng Việt Nam có một vị trí đặc biệt, là cửa ngõ của Đông Nam Á. Trong bối cảnh hiện nay, vị trí chiến lược của Việt Nam có vẻ càng đắc địa hơn. Nhưng điều này lại khiến sinh ra một số ảo giác, cả trong tiếp cận chiến lược lẫn việc thực thi sách lược.
Trước tiên, ta thấy rằng vị trí địa lý của một quốc gia là không thể thay đổi, nhưng vị thế địa lý và vị thế địa chính trị thì lại có thể.
Ở đây, xin phân biệt về mặt từ ngữ. “Vị trí địa lý” chỉ nơi chốn của đối tượng, được xác lập bằng chính liên hệ nơi chốn với – và của – những đối tượng xung quanh. “Vị thế địa lý” nói đến quan hệ địa lý, tức quan hệ nảy sinh từ vị trí địa lý, của chủ thể một vị trí địa lý với một hay nhiều chủ thể của vị trí địa lý khác. Vị thế địa lý là một khía cạnh của “vị thế địa chính trị”, tức những quan hệ chính trị phát sinh quanh một vị trí hay vị thế địa lý, do có những tương tác chính trị rộng lớn hơn so với tương quan xung quanh.
Như vậy, trong khi vị trí địa lý là một vấn đề thuần tự nhiên, có độ biến đổi hết sức thấp, thì vị thế địa lý và vị thế địa chính trị xác định từ vị trí đó, là những hiện tượng xã hội và có tính lịch sử, tức có sự biến đổi theo thời gian, tùy vào tương quan của các liên hệ không thuần địa lý.
Tất nhiên, tách bạch giữa ba phạm vi này là sai lầm về phương pháp luận, nhưng nhập nhằng giữa chúng lại là một sai lầm lớn hơn.
Việt Nam quả đã giữ vị trí đặc biệt tại Đông Nam Á kể từ Chiến tranh Thế giới II. Khi đó, Nhật đã dùng Đông Dương làm bàn đạp để thôn tính các nước phía tây và nam bán đảo này[2] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref2). Với việc định hình một dải liền lạc và rộng lớn của phe xã hội chủ nghĩa, từ năm 1954, Việt Nam trở thành cánh cửa mà hai bên đều muốn mở ra cho mình và chốt lại với bên kia. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí của Việt Nam hầu như không được chú trọng. Cho đến gần đây, nó lại thường xuyên được nói đến.
Nhưng đúng ra, khi nói đến “cửa ngõ”, ta đang nói đến vị thế địa lý chứ không còn là vị trí địa lý. Việt Nam vẫn luôn ở chốn đó nhưng vị thế thì có thể thế này mà cũng có thể thế kia, tùy vào một hoặc một số tương quan trong không gian, thời gian được xét đến.
Và trong hiện thực, có một thực tế lịch sử xuyên suốt hơn so với giai đoạn từ Thế chiến II đến khi chấm dứt chiến tranh lạnh, là cái được gọi là “cửa ngõ” Việt Nam thường liên quan chủ yếu đến Trung Quốc, chứ không phải lúc nào cũng liên quan đến cả vùng hay cả thế giới. Đất Việt đã là cánh cửa mà triều đại nào ở phương Bắc cũng muốn mở tung. Dưới thời cộng sản chủ nghĩa, điều đó cũng không hề thay đổi dù biện pháp có khác biệt ở từng thời kỳ.
Ngoài trường hợp Nhật đưa quân chiếm đóng các nước khác từ Đông Dương, trước đó, khi các nước thực dân bắt đầu mở rộng sự đô hộ sang phương Đông, Việt Nam không phải là địa bàn đầu tiên để từ đấy họ bung ra cả vùng hay tiến lên phía Bắc. Còn ngày nay, với vị trí nằm lọt trong không gian được bao bọc bởi Trung Hoa và các nước Đông Nam Á kia, thì ngoài Miến Điện, Lào và Campuchia, các nước khác trong tiểu vùng này, dù mức độ có khác nhau nhưng khi so với Việt Nam, đều có quan hệ gần hơn với Hoa Kỳ và châu Âu; do vậy, phương Tây hẳn là không phải dùng đến cửa Việt Nam để mở đường chinh phục Đông Nam Á, mà chính là Việt Nam đã từng (và có lẽ vẫn sẽ tiếp tục) cần đến ngõ ASEAN trong những toan tính với phương Tây.
Ngay cả Trung Quốc, nay cũng xâm nhập phương Nam không chỉ qua cửa Việt. Thậm chí, Lào và Campuchia mới là địa bàn mà họ “thôn tính mềm” trước tiên, để từ đó siết chặt gọng kìm đối với Việt Nam, cho dù hai quốc gia này có thể chỉ là “quá độ”. Ngoài ra, do có sự cách biệt nhất định về văn hóa hoặc địa lý giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á còn lại, nên đối với các nước khác, đều không nhất thiết thâm nhập tiểu vùng này duy chỉ từ Việt Nam, xét cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm. Nếu có nước nào đó xem Việt Nam như cửa ngõ (giả định như Pháp, Ấn, Nga hay các nước Đông Âu…) để thúc đẩy quan hệ kinh tế, văn hóa với cả vùng, thì chủ yếu là do sự thuận lợi từ quan hệ lịch sử, chứ không phải vì Việt Nam là cửa nhất thiết phải qua về mặt địa lý.
Ảo giác về một vị thế lớn lao bất biến xuất phát chính từ việc đồng nhất vị trí địa lý với vị thế của nó ở những tương quan và thời kỳ cụ thể, rồi từ đó lại quy ngược về vị trí và quy kết thành vị thế địa chính trị.
Muốn đánh giá vị thế địa lý hay vị thế địa chính trị của một quốc gia hay một vùng, thì điều đầu tiên, đơn giản là nhận định đúng về vị trí địa lý “chưa chính trị” của nó.
Trước khi là cửa ngõ hay bất kỳ cái gì khác, Việt Nam, tự thân, chỉ là nước cực đông của bán đảo Trung Ấn, nơi chuyển tiếp duyên hải giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, có biên giới với Trung Hoa, Lào, Campuchia, và là một trong những quốc gia có bờ biển tạo nên vành đai của biển Đông. V iệt Nam chỉ thành “cửa ngõ” khi đặt trong tương quan với những quốc gia nào đó, đi cùng những tính toán chiến lược của họ trong thời kỳ nhất định.
Từ sự định vị tự thân để bước sang những phạm vi không còn thuần địa lý, sẽ thấy rằng với vị trí này, Việt Nam tiếp nhận từ bên ngoài được rất nhiều về văn hóa và kinh tế, chính trị và quân sự, nhưng cũng phải đương đầu với từng ấy nguy cơ.
Một mặt, ta liền kề với một Hán tộc có xu hướng bành trướng và đồng hóa. Mặt khác, với một đất nước hẹp chiều ngang, bờ biển chạy suốt theo chiều dài lãnh thổ sẽ là một sườn để hở đối với bên ngoài. Mối đe dọa trên bộ ngàn đời từ phương Bắc chỉ tạm ngưng lại khi chính họ cũng chịu số phận bị chinh phạt của chủ nghĩa thực dân từ hướng biển. Thế nhưng, nay lại đang hình thành nguy cơ của “chủ nghĩa thực dân đỏ” từ cả trên bộ lẫn trên biển, ở thế gọng kìm nhiều mặt. Chưa hết, khác với các quốc gia chuyển tiếp châu thổ kế cận, ta có vị trí chuyển tiếp duyên hải ở ngay vùng biển có hải trình huyết mạch đối với nhiều cường quốc chính trị và kinh tế, thì tranh chấp và xâu xé là nguy cơ luôn tiềm ẩn, đợi dịp để bùng phát.
4.2. Và những cửa ngõ không Việt Nam
Tương tự, các nước khác tại Đông Nam Á cũng có vị trí địa lý tự thân của họ (hình 1), từ đó mà nảy sinh những vị thế địa lý tương ứng và định hình các vấn đề địa chính trị cụ thể. Có thể kể đến một số nước trong đó.
file:///C:/DOCUME%7E1/QuocNam/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/08/baingua1.jpg)
Hình 1: Vị trí các nước Đông Nam Á (Nguồn: southchinasea.org; có chỉnh lý)
Miến Điện là nước cực Tây của bán đảo Trung Ấn, có biên giới trên bộ giáp với Trung Hoa, Ấn Độ, Banglasesh, Thái Lan và Lào, có toàn bộ biên giới phía Nam là duyên hải hướng ra biển Andaman thuộc Ấn Độ dương, và là quốc gia Đông Nam Á chuyển tiếp sang Nam Á[3] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref3).
Lào là lãnh thổ không tiếp giáp với biển, có biên giới với Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia.
Malaysia là quốc gia nằm trong vành đai các nhóm hải đảo, bán đảo phía Nam và Đông Đông Nam Á, gồm hai phần lãnh thổ ngăn cách bởi biển Đông; có biên giới với Thái Lan, Singapore, Indonesia và Brunei. Ngoài những vùng duyên hải hướng về biển Đông, sườn phía Tây của Tây Malaysia là bờ hướng ra eo Malacca.
Indonesia là một quần đảo trải theo chiều Đông-Tây, nằm về phía Nam của Malaysia và Philippines, là nơi tiếp giáp với lục địa Úc châu qua vùng biển phía Nam thuộc Ấn Độ dương và biển Timor. Ngoài các quốc gia liên quan vừa nhắc, Indonesia ngăn cách với Singapore bằng một vùng nước hẹp thuộc eo Malacca. Indonesia còn có biên giới trên bộ với Malaysia, Papua New Guinea và Đông Timor.
Philippines ở vị trí cực Đông của Đông Nam Á và được biển bao bọc, là một nhóm đảo trải theo chiều Bắc-Nam. Cực Bắc Philippines là các nhóm đảo nhỏ phía Nam Đài Loan, cũng là vùng nước nối biển Đông ở mạn Tây với biển Philippines ở mạn Đông.
Sơ lược như trên đã có thể thấy rằng, ngoài những nước nhỏ hay nước có địa giới hoặc hải giới khuất lấp, các nước khác tại Đông Nam Á, gồm cả Thái Lan, đều có những điểm rất đáng chú ý về vị trí, và từ đó, là vị thế của họ.
Cũng như Việt Nam, hầu hết các nước này đều nắm giữ cửa ngõ nào đó ở khu vực. Tuy vậy, trong khi Việt Nam, dù có thể kiểm soát hải lộ thuận lợi nhất trong hải trình ngang qua biển Đông[4] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref4) nhưng cũng chỉ là cái ngõ trung chuyển và có thể thay thế, thì họ nắm giữ những cánh cửa trực tiếp và không thể bỏ qua.
Như thế, với vị trí của Việt Nam, “cửa ngõ” vốn không là vị thế tự thân, bất biến và vĩnh viễn. Không những thế, Việt Nam cũng không phải là cửa ngõ độc nhất, cốt tử và không thể thay thế. Vì điều này mà trong cục diện mới, có khi chính “cửa ngõ” Việt Nam lại gặp phải thất lợi từ những “cửa ngõ” khác trên bàn cờ chính trị mà Hà Nội cũng tham gia vào với chủ đích riêng.
4.3. Bối cảnh địa chính trị và tiếp cận đối ứng
Bối cảnh địa chính trị quanh Việt Nam hiện nay, nhìn chung, hình thành ở những nét lớn sau.
Trước tiên là việc Trung Quốc quyết liệt lấp chỗ trống về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự mà nước Nga, hậu thân của Liên Xô, đã tạo ra khi rút ảnh hưởng khỏi Việt Nam. Không những thế, nước này còn muốn lấp cả chỗ trống của thế lực toàn cầu tại Đông Nam Á, do đã có thay đổi chiến lược từ các nước trong khu vực và Hoa Kỳ. Hậu thuẫn cho những mục đích này là sức mạnh siêu cường đang lên của phương Bắc, mà một trong những trọng tâm là chia sẻ các đại dương, với mục tiêu trước mắt là biển Đông.
Song song, do việc hướng lên phía Bắc, Tây và Đông vừa chưa phục vụ cho những lợi ích chiến lược sát sườn, vừa gặp nhiều trở ngại hơn về điều kiện địa lý hoặc vì cả thế và lực ở những nơi này đều lớn; và đồng thời, cho dù đang trổi dậy mạnh mẽ, Bắc Kinh cũng không thể cùng lúc tạo ra cho mình nhiều đối trọng không mong muốn, nên họ sẽ hướng sự bành trướng cố hữu xuống phương Nam, một cách tối đa, và không chỉ với Đông Nam Á mà cả với Nam Á. Ở phạm vi này, với tư thế của người bảo trợ thể chế, cái giá địa chính trị mà Hoa lục nhận được từ tập đoàn quân nhân Miến Điện, là Myanmar trở thành cửa ngõ để họ thâm nhập vào cả hai hướng, là đường thông và địa bàn chính để Trung Hoa tạo chỗ đứng tại Ấn Độ dương, “tiếp cận” Ấn Độ từ hướng biển và hiện diện tại một đầu cửa ngõ của eo Malacca. Đấy là chưa kể những quốc gia lân cận ở Bắc Ấn cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng từ Bắc Kinh, có thể tác động tiêu cực đến cục diện an ninh.
Viễn cảnh sẽ đó khiến hình thành trận địa nhằmgiữ thế cân bằng chính trị và quân sự đã hình thành ở châu Á, cả trên bộ và trên biển.
Trước mắt, Ấn Độ sẽ tập trung nhiều hơn cho vùng vịnh Bengal và biển Andaman. Nhưng xa hơn, phạm vi hiện hiện của họ có thể sẽ phải mở rộng, vì nếu Trung Hoa đã thực hiện những bước đi chiến lược để đứng chân tại vùng biển Đông và Đông Nam Ấn Độ, thì nước này không thể không tính đến chuyện đối ứng, tại vùng biển Nam Trung Quốc.
Phần Nhật Bản, ngoài vùng biển Đông Bắc Á, cũng sẽ khó bỏ qua sự quan tâm truyền thống đối với phía Nam, nơi có cánh cửa vận chuyển sinh tử của đất nước giàu kinh tế nhưng nghèo tài nguyên này. Sự trở dậy của quân đội và hải quân Nhật trong những năm gần đây[5] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref5) và sự ganh đua công khai của họ đối với ảnh hưởng của hải quân Trung Quốc[6] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref6) đã là tiền đề cho điều đó.
Thậm chí, còn tiềm tàng một Nam Hàn đứng ra chia sẻ gánh nặng an ninh với đồng minh, dự phần bảo vệ hải lộ có ảnh hưởng đến sự giao thương và thịnh vượng của họ.
Đối với các nước Đông Nam Á không thiên cộng sản, một mặt, họ giữ lấy vị thế đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ như lá bài an ninh cho riêng khu vực của họ; mặt khác thì dựa vào nguyên tắc đồng thuận cả khối để chơi trò cục bộ, thực chất là vừa bảo vệ quyền lợi quốc nội vừa giành lấy quyền lợi quốc tế từ tranh chấp biển.
Hoàng Sa và Trường Sa cũng giữ vị thế là thành tố độc lập tương đối, góp phần tạo nên bối cảnh địa chính trị của khu vực, vì không những là đối tượng mà các thành tố khác xoay quanh, với “thế trận” đã bày ra trên đó, hai quần đảo này còn khiến chuyển hóa các tương quan chính trị và quân sự của vùng chứ không chỉ cố định theo bối cảnh địa chính trị chung chung.
Đài Loan là một trong số những thành tố có thể tạo chuyển hóa như thế, và không ai có thể bỏ qua họ trong các tính toán chiến lược vùng.
Phần Australia, quốc gia Tây phương có vị trí gần gũi với Đông Nam Á, vào đầu và giữa những năm 1990 đã có chính sách hòa nhập vào tiểu vùng này, nhưng ngoài Indonesia[7] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref7), họ hầu như bị khước từ. Trong bối cảnh mới, việc tái hòa nhập có thể sẽ diễn ra, lần này thiết yếu hơn, thông qua cơ chế nào đó của an ninh vùng.
Còn nước Nga, trong điều kiện thể chế hiện nay, và do chiến lược lấy lại vị thế siêu cường đối trọng từ việc củng cố lại vị trí tại không gian Xô Viết cũ và châu Âu nên, ít ra là trong ngắn hạn và trung hạn, họ không vung vãi tiềm lực đang cần tập trung.
Nhưng dù sao, có hay không có Nga, dự phóng như vừa nói cũng đã quá đủ để biển Đông có thể trở thành điểm hút quân sự.
Như thế, hiện nay, cục diện địa chính trị đối với Việt Nam là hết sức phức tạp và khó khăn, đòi hỏi sự tiếp cận tỉnh táo và lạnh đầu.
Tiếp cận cửa ngõ cho thấy ta quan trọng đối với Đông Nam Á, với châu Á và cả thế giới. Tiếp cận chuyển tiếp cho thấy Đông Nam Á, châu Á và cả thế giới quan trọng đối với ta. Tiếp cận đầu cho thấy người cần và có lợi ở ta, trong việc bảo vệ ta. Tiếp cận sau cho thấy ta cần và có lợi từ người, và ta phải tự bảo vệ mình trong tương quan với người. Vấn đề là cần kết hợp đúng mức, đúng lúc các tiếp cận, và không áp đặt cái cục bộ lên toàn cục một cách phi lịch sử và phi địa lý.
Cần phải nói rằng tiếp cận cửa ngõ theo kiểu như trước nay là một cách nhìn què cụt, có nhiều tác dụng giáo dục lòng tự hào nhưng ít giá trị nhận thức chiến lược. Nó chưa nhận diện hết vị trí tự thân[8] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref8) thì đã vội đặt thành vị thế với người khác. Mà đó cũng chỉ là vị thế khiếm khuyết, khi vị trí và vị thế của các chủ thể xung quanh hoặc có liên quan cũng chưa được nhận diện hết. Ở đây, thay tiếp cận “đơn cửa” truyền thống bằng tiếp cận “đa cửa”, là cần thiết[9] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref9).
Cách nhìn đa cửa đòi hỏi ta nhìn nhận đúng vị trí và vị thế của mình trong tương quan với mỗi đối tác địa lý, theo từng điều kiện lịch sử, cùng lúc với việc nhìn nhận đúng vị trí và vị thế của họ trong bối cảnh tương ứng. Thực chất, tiếp cận như thế đã bao hàm cả nghĩa “cửa ngõ” và “chuyển tiếp”. Theo đó, về mặt phương pháp luận, mỗi đơn thể (với đặc trưng tự thân) được đặt trong toàn thể (với đặc trưng tổng hòa), và ngược lại. Về mặt nhận thức chiến lược và vận dụng sách lược, chiến thuật, nó cho ta biết mình là ai, hiện đang đứng ở đâu trong thế giới này, có thể làm được gì và không thể làm được gì, việc gì tự lực được và việc gì phải hợp lực… Và cũng cho biết như thế khi nhận diện về người, mà nói ngắn gọn, là biết đúng người và biết đúng ta.
Việt Nam đã thành công trong việc đưa ASEAN vào quỹ đạo đa phương (bằng Quy tắc ưng xử biển Đông) và trong chiến lược đi dây (ở mức giữ cho cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều dừng lại ở giới hạn cần thiết), nhưng lại không thành công trong việc bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển mà xét trên tương quan quốc tế, chính là do đã gần như tuyệt đối hóa cách nhìn đơn cửa.
Đặt mình vào vị thế trung tâm Đông Nam Á từ vị trí cửa ngõ, xem mình như nhân tố không thể thay thế trong bàn cờ địa chính trị của khu vực và châu lục khiến dễ nghĩ rằng ta có thể chủ động đặt các thành tố khác vào thế trận đi dây của chính ta, với những điều kiện và cái giá thuận lợi hơn so với họ. Thế nhưng, như đã nói, khi ta tĩnh trong thế đi dây quá lâu thì các yếu tố khác buộc phải động, và điều đó có thể nảy sinh những tình huống khôn lường.
5. Những trạng huống khả dĩ của cuộc chơi đi dây mới, hay tình thế của Việt Nam trong cục diện mới ở biển Đông
Tình trạng cài răng lược về quan hệ thể chế và liên hệ đồng minh, đồng chí, trong bối cảnh tranh chấp khi lạnh khi nóng, cùng với việc thi thố đồng thời nhiều đối sách ngoại giao, chính trị, quân sự, khiến cho viễn cảnh can dự của nhiều chủ thể vào biển Đông đồng nghĩa với việc có một cuộc chơi “đa dây”.
Tất nhiên, theo cách nhìn của giới cầm quyền Việt Nam, khi không đủ cả thế và lực thì trạng thái tốt nhất là như hiện nay. Tức là, dù có lúc căng thẳng, thậm chí gặp tổn thất nhất định, nhưng không có xung đột quân sự với Trung Quốc khiến thay đổi hiện trạng biển, đảo, thì ta và bạn vẫn gắn bó. Còn với Mỹ, dù có thân thiện đến đâu, thậm chí là đi đến hợp tác nhất định về quân sự, nhưng do đối nghịch về ý thức hệ nên nước này vẫn chỉ là đối tác cơ hội, như một đối trọng dự phòng và từ xa để giữ nguyên trạng cho biển Đông và nguyên trạng cho quan hệ với Trung Quốc.
Về phía Hoa Kỳ, kịch bản tốt nhất vẫn là Việt Nam trở thành đồng minh đầy đủ trên mặt trận chống lại sự bành trướng hải dương của Trung Hoa. Nhưng đương nhiên, họ cũng có thể vận dụng thể thức đối tác tương ứng mà Việt Nam chủ trương với họ. Với quan hệ kiểu này, họ vẫn không thất thế trên biển nhưng có phần bị động trước sự bất định triền miên, có chủ ý của Việt Nam. Tuy vậy, siêu cường này không thiếu đồng minh để chấm dứt sự bị động của họ. Việc “xuất hiện” Philippines có lẽ không nằm ngoài bước đi đó.
Về địa lý, sau khi qua khỏi một trong các eo từ phía Đông Bắc, thì cùng với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam và Philippines, mà cụ thể là các cảng chiến lược, nằm trong số những điểm nút ngoại vi phía Đông của eo Malacca. Trong khi Việt Nam có vịnh Cam Ranh và có thể kiểm soát một phần hải lộ từ Bắc về Nam của hải trình biển Đông, thì Philippines có vịnh Manila, vịnh Subic, và có thể kiểm soát một phần hải trình này vào mùa gió mùa Tây Nam[10] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref10).
Cũng về địa lý, Philippines có thể hợp với đảo Đài Loan tạo thành một cửa ngõ và kiểm soát điểm chốt Đông Bắc của tuyến Đông Nam Á – Đông Bắc Á tại eo Luzon (hình 2). Eo biển này là vùng nước rộng khoảng 250 km, gồm ba eo “con”, thứ tự theo hướng Nam Bắc là eo Babuyan, eo Balintang, và eo Bashi. Eo thứ ba có một bên là Đài Loan, còn hai eo đầu chỉ gồm các đảo của Philippines[11] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref11). Ngoài ra, với vị trí của một cung đảo ở cực Đông tiểu vùng, Philippines không chỉ trực tiếp nối liền với Thái bình Dương mà còn dễ dàng tiếp cận Trường Sa. Do vậy, nước này có vị thế hết sức quan trọng đối với bất kỳ thế lực nào muốn đứng chân tại biển Đông.
file:///C:/DOCUME%7E1/QuocNam/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image003.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/08/baingua2.jpg)
Hình 2: Biển Đông và những “cánh cửa” trực tiếp sang các vùng biển xung quanh (Nguồn: en.wikipedia.org; có chỉnh lý)
Không kể Thái Lan và Indonesia, Philippines là đồng minh gần gũi nhất của Hoa Kỳ trong vùng. Dù đòi hỏi chủ quyền tại Trường Sa khiêm tốn hơn so với Việt Nam và Trung Quốc nhưng họ lại có một thái độ rất tự tin và chủ động, tỏ ra không hề kém cạnh hai thành tố tranh chấp kia ngay ở thời điểm nóng về thềm lục địa. Điều đó có thể lý giải không chỉ vì những đảo đòi hỏi chủ quyền đều nằm trong phạm vi đường cơ sở của họ, mà còn vì mối liên hệ đồng minh mà họ có.
Thực tế, họ đã bắt đầu tạo nên cục diện Philippines, khi vào tháng Ba qua, chẳng bao lâu sau khi thông qua Luật về Đường cơ sở, họ đã đề nghị với phía Trung Quốc về hội đàm Trường Sa, theo mô hình đàm phán sáu bên về hạt nhân Triều Tiên. Mới đây, ngày 04/08/2009, chỉ vài hôm trước khi hết hạn kháng nghị hồ sơ thềm lục địa của các nước (sau 90 ngày kể từ 13/05/2009), Philippines đã phản đối hồ sơ của Việt Nam và hồ sơ chung Việt Nam – Malaysia, dù trước đó họ đã được cho là sẽ không chống lại.
Một khi Phillippines nổi lên như một yếu tố chính trong tranh chấp ở Nam biển Đông thì Việt Nam sẽ phải chấp nhận một cuộc chơi đi dây mới, nhiều người chơi và luật chơi hơn, nhiều khó khăn và hiểm nghèo hơn.
Trước tiên trong đó, chính là cuộc chơi của Hoa Kỳ, giữa Việt Nam với Philippines (và có thể với các nước Đông Á khác có tranh chấp trên biển). Với vai trò đồng minh thể chế, sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đối với Philippines là điều khó nghi ngờ. Đồng thời, Việt Nam vẫn là một đồng minh tiềm tàng trong chiến lược ngăn chặn Trung Quốc trên biển, nên vẫn là một đối tác để Hoa Kỳ đu đưa.
Trừ trường hợp không quan trọng những tính toán sách lược hay chiến lược với Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ phải giữ cho đầu dây của mình tạo được sự cân bằng. Tình huống xấu nhất của cục diện này là Hoa Kỳ ngả hẳn về Philippines, chẳng hạn do sự cân bằng đó bị mất, do vai trò đồng minh cơ hội của Việt Nam không còn nữa… Khi đó, chẳng những mất cơ may thắng lợi hoặc cùng thắng trong tranh chấp với Philippines và những nước phía Nam khác, ta chắc chắn sẽ thất bại trong tranh chấp với Trung Quốc vì đối với họ, khả năng dàn xếp “nội bộ” với Việt Nam về một giải pháp đôi bên cùng thắng là bất khả.
Hoa Kỳ cũng có thể đi dây giữa Việt Nam với Trung Quốc. Đây là điều bình thường trong quan hệ đặt biệt giữa ba quốc gia này, khi mỗi chủ thể đều cùng lúc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tựa lưng vừa đối mặt với hai chủ thể kia. Khách quan mà nói, sau sự kiện Hoàng Sa năm 1974, đến nay, các nước đi của Hoa Kỳ với Trung Quốc không gây phương hại đến chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Nhưng trong cục diện mới, điều đó có thể thay đổi.
Kiềm tỏa sự độc chiếm của Trung Quốc là một trong hai mục tiêu chính của Hoa Kỳ tại biển Đông. Điều đó cũng nhằm phục vụ cho mục tiêu còn lại, là bảo đảm cho nhu cầu và quyền tự do hải hành trên vùng biển quốc tế có tuyến hải lưu quan trọng bậc nhất thế giới. Ở cả hai mục tiêu này, Hoa Kỳ đều cần đến quan hệ đồng minh với các nước phía Nam Trung Hoa, đặc biệt là mục tiêu đầu. Với mục tiêu đó, sẽ thành công cao nhất nếu Việt Nam là đồng minh của họ. Nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ khi có sự “thiên vị” của Việt Nam thì mới có được thành công.
Trong trường hợp xấu nhất, Việt Nam nghiêng nhiều hay nghiêng hẳn về Trung Quốc, mức độ hoàn thành mục tiêu thứ nhất sẽ thấp nhất đối với Hoa Kỳ, nhưng cũng là nguy hiểm nhất đối với Việt Nam. Khi đó, bên cạnh việc chịu sự “bảo hộ” tuyệt đối của Trung Quốc, Việt Nam chẳng những mất một quan hệ đồng minh tiềm tàng, đối trọng khả dĩ với tham vọng của Hoa lục ở biển Đông, mà còn có thể bị đồng minh hờ này đem ra đổi chác.
Với lựa chọn như thế của Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ phải thích ứng, giảm mức độ của mục tiêu thứ nhất. Nếu vậy, đối với Bắc Kinh, một mặt, Washington mặc cho việc biến vịnh Bắc Bộ và vùng lân cận thành ao nhà; nhưng mặt khác, sẽ tăng cường hậu thuẫn cho các đồng minh thực ở phía Nam để giữ vững ảnh hưởng ở trung và hạ biển Đông. Đối với Hà Nội, do không còn giá trị đồng minh, một mặt họ sẽ mặc cả với Bắc Kinh bằng quyền lợi của Việt Nam để đổi lấy quyền lợi tối đa có thể được trên vùng biển gần Việt Nam mà họ nay không có nhiều cơ hội để gia tăng ảnh hưởng; mặt khác, sẽ là sự hậu thuẫn cao nhất dành cho các đồng minh phía Nam trong tranh chấp với Việt Nam, với mục đích là mở rộng tối đa vùng lãnh hải mà họ có thể duy trì sức mạnh, nhằm bảo đảm cao nhất cho mục tiêu thứ hai trên biển Đông.
Tương tự, khả dĩ Trung Quốc cũng đi dây giữa Hoa Kỳ với Việt Nam. Trong điều kiện chưa hoặc không thể độc chiếm hoàn toàn biển Đông, chia sẻ ảnh hưởng với Hoa Kỳ là điều họ buộc lòng phải chọn. Trong thời gian phải “chịu đựng” đó, tăng cường tối đa và củng cố phạm vi kiểm soát của mình trên biển là chiến lược của họ. Vùng biển quanh Hoàng Sa, quanh những đảo mà họ chiếm đóng tại Trường Sa, cùng với vùng “phụ cận” tiếp giáp với Việt Nam mà họ kiểm soát, là những đối tượng hàng đầu cho sự tăng cường đó. Thỏa hiệp nhất định với Hoa Kỳ để củng cố những phạm vi này, là điều họ đương nhiên tính đến. Một khi Hà Nội không là đồng minh của mình, do ưu thế mà Bắc Kinh có được từ việc kiểm soát Hoàng Sa, Washington không cớ gì mà không “hy sinh” quyền lợi của Việt Nam nhằm đổi lấy nhượng bộ nào đó từ Trung Quốc. Với vị thế chỉ vừa nổi lên trên biển mà Hoa lục đã có thể trắng trợn đề nghị Hoa Kỳ chia đôi Thái bình Dương, thì việc đưa những đề xuất “chia sẻ” khác, khả thi hơn, hẳn là cũng chẳng cần phải giấu giếm.
Trung Quốc cũng có nhiều khả năng đi dây giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác có mặt trong tranh chấp. Xé lẻ ASEAN, vô hiệu hóa giải pháp đa phương, đơn độc hóa Việt Nam trong tranh chấp vẫn luôn là chiến lược và sách lược của Hoa lục. Bằng ưu thế chính trị và kinh tế, ngoại giao và quân sự, bất kỳ lợi lộc nào có được từ hợp tác với Việt Nam cũng có thể dễ dàng bị họ làm cho suy yếu hoặc triệt tiêu, khi so sánh với lợi lộc tương ứng nếu hợp tác với Trung Quốc.
Phần các nước Đông Nam Á, ngoài Campuchia và Lào, Việt Nam chưa bao giờ là đồng minh thân cận của họ, xét cả về thể chế lẫn văn hóa, lịch sử lẫn hiện tại. Trước sức ép từ sự bành trướng của Trung Hoa, khi so với Việt Nam, họ ở một vị trí địa lý ít nguy hiểm hơn nhưng lại có một liên hệ đồng minh vững vàng hơn. Do vậy, thật khó tìm được lý do để họ phải vì Việt Nam mà đưa ra những lựa chọn không có lợi ích trực tiếp đối với họ. Liên hệ đồng minh song phương nào đó mà Việt Nam có thể tạo lập với một trong những nước này, nếu không xem chỉ như bước đệm để có một liên hệ đồng minh thực chất hơn, thì cũng chỉ là nhất thời, thiếu hiệu quả, sớm muộn sẽ đứt lìa trước những sức ép hay liên hệ khác, thực chất hơn mà nước đó có được từ nước Đông Nam Á khác, từ Hoa Kỳ hay Trung Hoa…
Chưa hết, Đài Loan cũng là một thành tố tiềm ẩn. Trên trường quốc tế, vị thế chính trị của họ rất yếu nhưng không thể vì thế mà Việt Nam có thể xem thường, vì vị thế chiến lược và quân sự của họ trong tranh chấp biển Đông lại không như vậy. Việc trấn đóng và bước đầu xây dựng đảo Ba Bình như một căn cứ[12] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref12), cùng với lực lượng hải quân đã không ngừng hiện đại hóa từ những năm 1990, Đài là một thế lực mạnh ở Trường Sa.
Sự có mặt của Đài Loan ở nơi thuộc nhóm đảo trung tâm của Trường Sa tạo nên một tình thế zigzag. Với tư cách đồng minh sống còn của hòn đảo đang muốn giành sự độc lập đầy đủ này, có thể xem như Hoa Kỳ đã đứng một chân vào vị trí mà Đài trấn giữ, và thế đan xen đó tiềm ẩn những tình huống “khác thường”. Trong thời điểm nổi sóng khi đăng ký thềm lục địa mở rộng, Đài dường như không nổi bật so với các nước có tranh chấp khác, nhưng họ sẽ là một trong những quân bài năng động nhất khi đến thời điểm. Không thể chính danh như một quốc gia để đưa tranh chấp ra quốc tế như Philippines, nhưng với mối nối của Hoa Kỳ, khi cần, hai chủ thể này có thể tạo thế liên kết[13] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref4). Với tuyên bố chủ quyền trên toàn thể Trường Sa và có các đồng minh thể chế – dù chỉ ẩn tàng nhưng ổn định và vững chắc – Đài Loan cũng có thể trở thành một đầu chung dây với Việt Nam, mà các thế lực khác đi trên đó.
Như thế, trong cục diện mới đang định hình ở biển Đông, thế đi dây của Việt Nam đã vỡ, vì khác với trước, khi Hà Nội chủ động giăng một sợi dây và đi trên đó, nay thì chính mình bị đặt thụ động vào nhiều đầu dây.
Các lựa chọn cũng sẽ gay gắt hơn nhiều. Trừ khi diễn biến trên biển Đông chỉ dừng lại như hiện nay, tức dù có những đụng độ cục bộ và có sự hiện diện nhất định của Hoa Kỳ nhưng hiện trạng trấn đóng và xung đột không thay đổi; bằng không, dù có những dị biệt nhất định, ngoài Việt Nam, các nước nhỏ khác có tranh chấp chắn chắc sẽ nghiêng hẳn về Mỹ như thế lực chính hậu thuẫn cho họ.
Ở tình huống đó, trừ khi Trung Quốc từ bỏ hẳn dã tâm thôn tính nốt Trường Sa và biển Đông, cuối cùng thì Việt Nam sẽ hoặc là cùng nằm trong nhóm đồng minh này, hoặc nghiêng hẳn về Trung Quốc. Khả năng thứ ba, Hà Nội tiếp tục giữ tính “độc lập”, thì sẽ phải chơi cuộc chơi đơn độc, để vừa chống lại sự tước đoạt chủ quyền biển của Trung Quốc vừa kháng cự trước sự tranh giành quyền kiểm soát biển Đông của các thế lực đại dương khác. Còn khả năng thứ tư, Việt Nam tạo liên hệ đồng minh với các thế lực khác ngoài các thành tố vừa nêu, là bất khả, vì hoặc là các thành tố đó chung cuộc cũng quy về nhóm đồng minh Đông và Nam biển Đông, hoặc là thế và lực của họ không đủ để trở thành một thành tố riêng lẻ, độc lập và có ảnh hưởng trong khu vực.
Từ việc đặt trong hiện thực tình thế chính trị, bối cảnh địa chính trị và trong cục diện mới ở biển Đông, cho đến những tình huống khả dĩ giả định của cục diện này, có thể nói, Việt Nam đang đứng trước những thử thách chưa từng có trong lịch sử của mình. Nhiều quân bài hiện thực đang di chuyển trên bàn cờ sinh tử về chủ quyền biển và vận mệnh dân tộc, đòi hỏi chính quân bài tư duy phải vận động đúng với quy luật của hiện thực đó.

dzienhong
31-08-2009, 12:21 AM
Phân 2

6. Ý thức hệ và dân tộc
Trong tình trạng chung ở Việt Nam, từ tư duy ngoại giao đến tư duy địa chính trị và tư duy chiến lược vẫn mang đậm nét ý thức hệ. Với một châu Á và thế giới chuyển biến quá nhanh, quy chiếu này đã đóng khung tiếp cận, khống chế nhận thức, khiến việc đối ứng trở nên bất xứng trầm trọng. Trong vấn đề chủ quyền, tư duy địa chính trị và tư duy chiến lược là cái trực tiếp cần thay đổi, nhưng điều này sẽ không thực hiện được nếu tư duy ý thức hệ làm nền đó vẫn còn chưa thay đổi.
Cần khẳng định dứt khoát, rằng lãnh thổ và chủ quyền, trước hết và quyết định, là vấn đề quốc gia-dân tộc, mà không phảilà vấn đề ý thức hệ. Trong quan hệ với Trung Hoa, điều đó lại càng không.
Khi xét đến tận cùng, như mọi vấn đề khác, lãnh thổ và chủ quyền cũng không tránh khỏi gắn với một hệ quy chiếu. Tuy nhiên, cũng như mọi vấn đề khác, ý thức hệ không phải là hệ quy chiếu duy nhất, mà cũng không có nội hàm hoặc vai trò bất biến. Khi “đặc trưng của thời đại” là cuộc đấu tranh giữa hai phe, lãnh thổ và chủ quyền cũng đi liền với nó. Nhưng khi đặc trưng đó không còn là một mất một còn về chính trị, mà là toàn cầu hóa về kinh tế, thì lãnh thổ và chủ quyền lại hoàn nguyên về quan hệ tự thân của nó.
Giới khoa học Việt Nam nói chung và khoa học xã hội nói riêng, biết rõ việc tuyệt đối hóa ý thức hệ và cột chặt tư duy vào nó đã có tác dụng ngược như thế nào. Các sử gia là những người đầu tiên đã tự cởi trói khỏi “tiếp cận hình thái”, biến thể chính trị của ý thức hệ trong tư duy sử học[14] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref14). Khi nhận thức hiện thực của quá khứ, việc nhất mực phân ranh bạn – thù trên cơ sở giai cấp cùng lắm chỉ khiến lịch sử trở thành những câu chuyện như nhau và cứng nhắc[15] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref15); nhưng khi nhận thức hiện thực đương đại, đặt biệt là vấn đề chủ quyền, việc áp đặt đường ranh ta – địch trên cơ sở đối đầu ý thức hệ chắc chắn đem đến nhiều hậu quả, vì đã lấy cái ranh giới ảo từ lịch sử (mà nay đã qua đi) làm cái cần bảo vệ, thay cho ranh giới thực về chủ quyền. Người Trung Hoa, ngược lại, luôn lấy cái ranh giới ảo về giai cấp để bảo đảm cho ranh giới thực về lãnh thổ.
Khi tiếp xúc với các giới chức và lãnh đạo Việt Nam, đặt biệt vào thời điểm có vấn đề về lãnh thổ hay chủ quyền, người bạn phương Bắc thường nhấn mạnh đến đại cuộc. Chữ “đại cuộc” này thường được hiểu là đại cuộc của chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, lịch sử Trung Hoa từ khi có Đảng Cộng sản, đối với bên ngoài, chưa bao giờ họ đặt đại cuộc của chủ nghĩa xã hội lên trên cái đại cuộc đại Hán.
Nếu vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, họ đã không viện cớ Liên Xô “xét lại” để đối đầu, gây ra cuộc xung đột biên giới Trung – Xô (1969), và sau đó là liên kết hoàn toàn với “tên đế quốc đầu sỏ” để chống lại nhà nước Xô Viết. Nếu vì sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, họ đã không phá vỡ sự hợp nhất và hợp lực cả khối, hòng đạt vị thế ngang ngửa với hai siêu cường kia qua việc giành lấy vị trí lãnh đạo thế giới thứ ba[16] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref16). Nếu vì tinh thần quốc tế vô sản, họ đã không lợi dụng sự giúp đỡ Việt Nam để dời cột mốc, nắn dòng chảy, âm thầm mở rộng bờ cõi vốn đã rộng lớn của họ, từ mảnh đất nhỏ nhoi của người đồng chí đang đứng nơi tiền phương của chủ nghĩa xã hội, mà vốn cũng đã chịu sự chia cắt để tạo nên vùng đệm an toàn cho nước họ. Đó là chưa kể, vì “đại cuộc”, họ có thể “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, có thể hy sinh cả một dân tộc khác để thí điểm mô hình nhanh nhất đi đến chủ nghĩa cộng sản[17] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref17).
Ngày nay cũng thế, đồng minh gần gũi nhất của họ, cả ở vị trí địa lý lẫn trên trường quốc tế, cả về ý thức hệ lẫn đường hướng phát triển xã hội, lại là đối tượng bị họ uy hiếp nhất. Đơn giản là vì với Việt Nam, hệ ý thức để quy chiếu là “chủ nghĩa”, thì đối với họ là “trung Hoa” [18] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref18). Đối ứng thích hợp là chúng ta phải trả quan hệ lãnh thổ và chủ quyền về với hệ quy chiếu của chính nó: quốc gia-dân tộc.
Hệ quy chiếu giai cấp đã đưa đến tiếp cận đồng chí, trong khi lẽ ra, với quy chiếu quốc gia-dân tộc, sẽ đưa đến tiếp cận đồng minh.
Khi gặp vấn đề, tiếp cận đồng chí khiến ta cứ loay hoay với bạn để thu xếp về lãnh thổ và chủ quyền, trong khi với tiếp cận đồng minh, ta sẽ mạnh dạn đến với các đối tác khác để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền đó.
Thực tế, đã có những kiểu mẫu nổi bật cho việc thay tiếp cận đồng chí bằng tiếp cận đồng minh mà những người cộng sản đã làm và đem đến thành công lớn. Đó là quan hệ đồng minh của Liên Xô với Mỹ, Anh trong Thế chiến II, là quan hệ đồng minh của Trung Quốc với Hoa Kỳ để chống lại Liên Xô trong những năm 1970-1980.
Như thế, cũng như vấn đề về tư duy địa chính trị ở trên, tư duy về lãnh thổ và chủ quyền cũng cần có sự kết hợp đúng đắn và vận dụng đúng lúc các tiếp cận. Cho đến lúc này, sau khi đã thu xếp xong biên giới trên bộ, nếu tiếp tục xem tiếp cận đồng chí là cái quyết định, thì sẽ là sai lầm rất lớn.
7. Quyền lợi Trung Quốc và Việt Nam
Trong chiến lược bành trướng hiện đại, vừa “cứng” vừa “mềm” của Hoa lục, vùng đất duyên hải phương Nam trở thành hướng khả thi nhất, không chỉ vì Việt Nam yếu kém thế lực, đơn độc, mà còn vì Hà Nội có niềm tin đồng chí vào Bắc Kinh; không chỉ vì đối với họ, Việt Nam là chủ thể đặc biệt của “Nam hải”, cả về vị trí lẫn phạm vi tranh chấp, mà còn vì cái lịch sử dang dở mà họ nay muốn hoàn thành trước thời cơ ngàn năm có một. Và, cùng với những nguyên do đó, như đã rõ, biển Đông là nơi đầu tiên mà Hoa lục muốn làm chủ trên con đường vươn ra đại dương.
Trong bối cảnh đại dương ngày càng đóng vai trò lớn về kinh tế, chính trị và quân sự, thì một khi nhìn nhận quyền lợi của Hoa Kỳ tại biển Đông[19] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref19), ta cũng phải thấy và tôn trọng quyền lợi của Trung Hoa tại vùng biển phía Nam của họ.
Về kinh tế, cũng như Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, cơn khát dầu của Hoa lục đòi hỏi một đường tiếp liệu và giao thương thông suốt. Đồng thời, quyền lợi của họ đối với các nguồn tài nguyên trong vùng biển này cũng là điều cần xét đến.
Về chính trị và quân sự, khi vị thế còn chưa ngang ngửa với siêu cường hàng đầu, và cũng do khác biệt về thể chế so với số đông của thế giới, một cường quốc đang lên và quá nhiều tham vọng như họ cần đến những vùng đệm quanh các đường biên, kể cả hải biên, để có sự cách ly an toàn với những thế lực khác.
Hải biên Trung Quốc có hơn một phần ba chiều dài quay về Nam[20] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref20), kết hợp với hướng lục địa trải liên tục về Tây và ứng với vùng Tây Nam chiếu từ trên bộ của họ, là tiểu lục địa Ấn Độ và Ấn Độ Dương. Do vậy, với Hoa lục, “Nam hải” không đơn thuần nối vùng biển Đông Bắc Á và vùng biển Nam Á, mà chính là nơi kết nối đại dương với lục địa của những vùng đầy những tranh chấp và đối thủ mà họ muốn khuất phục.
Và như thế, chưa kể diện rộng của Ấn Độ Dương, khi làm chủ, hay ít ra là hiện diện mạnh cùng lúc ở biển Andaman và biển Đông, Hoa lục sẽ tạo nên một gọng kìm, cương tỏa cả bán đảo Trung – Ấn, và trở thành một thế lực tại chỗ kiểm soát được cả hai ngõ trực tiếp vào Malacca,
Đấy là chưa kể trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Hoa còn có hẳn một dự phóng có thể thay đổi cả lịch sử hàng hải lẫn tương quan địa chính trị thế giới. Năm 2005, họ đưa đề nghị hợp tác với Thái Lan trong dự án đào kênh qua eo đất Kra, với chi phí 20 tỷ USD[21] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref21). Eo đất này là đoạn hẹp nhất (44 km) trên bán đảo Malay mà một bên là vịnh Thái Lan và bên kia là biển Andaman. Nó nằm trọn phần chủ quyền của Thái Lan trong khi những đoạn khác có thêm Myanmar hoặc Maylasia sở hữu (hình 2). Từ sau năm 1973, các cường quốc đã ngừng dự tính chung sức xây kênh đào này. Nay thì một mình Trung Hoa đề xuất, nếu thành công, với hải trình rút ngắn, an toàn và thuận tiện hơn rất nhiều, thì cái chốt Đông – Tây từ Malacca sẽ phải dịch chuyển về đây và, hợp cùng sự hiện diện tại biển Đông và Andaman, yết hầu mới coi như đã nằm gọn trong lòng bàn tay họ[22] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref22) (hình 3).
file:///C:/DOCUME%7E1/QuocNam/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/08/baingua3.jpg)
Hình 3: Các tuyến hàng hải ngang qua Đông Nam Á. Tuyến đầu qua eo Malacca, hai tuyến sau qua ngõ Indonesia, số 4 là tuyến sau khi có kênh Kra (Nguồn: southchinasea.org; có chỉnh lý)
Trong lúc sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á giảm đi từ sau chiến tranh lạnh, còn quyền lực mềm Trung Hoa thì lại gia tăng đáng kể tại vùng đất kéo dài từ Miến Điện sang Việt Nam, thì những trù tính liên hoàn đó cho thấy chiến lược đại dương toàn cầu của Hoa lục ngoài việc đã đi rất sớm, còn rất hoàn hảo và rất quyết tâm.
Do vị trí địa lý của mình và trong bối cảnh đó, sống hòa thuận và hòa bình với Trung Hoa luôn là nguyện vọng của nước Việt. Qua những gì đã trải nghiệm nhiều ngàn năm, ngày nay, ta ở vào tư thế sẵn sàng và thật lòng hòa hảo tối đa với Trung Quốc để duy trì sự bình yên (thậm chí, không nhọc lòng đến quyền lợi của Hoa Kỳ hay an ninh của Đông Nam Á). Và trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã theo đuổi một chính sách hòa hảo như vậy.
Hơn nữa, theo cách nhìn ý thức hệ, sự hiện diện của Hoa Kỳ ở biển Đông cũng là một đe dọa đối với Việt Nam. Trong trường hợp đó, chính Trung Quốc lại là người có thể kiềm chế họ. Việt Nam được lợi khi đối trọng này cân bằng.
Với vị thế cường quốc đang lên, với quyền lợi khả dĩ trên biển Đông, và với cả vai trò “đối trọng ý thức hệ trên biển”, nếu Trung Hoa có nổi lên như một cường quốc đại dương, Việt Nam (và các nước khác) đương nhiên phải chấp nhận, tôn trọng và thích ứng với cục diện đó. Thế nhưng, hình thái của bất kỳ quan hệ nào cũng không bao giờ đến chỉ từ chủ ý của một phía. Và điều đó, tiếc thay, lại ứng với tất cả những biểu hiện trong tương quan Việt – Hoa.
Trong khi quan niệm hòa hảo của Hà Nội là tình anh em và sự bảo trợ cho nhau của những người láng giềng có chung ý thức hệ, thì hòa hảo theo kiểu Bắc Kinh là đối tác phương Nam phải thuần phục, chịu mất đất, mất biển và chấp nhận vị thế sân sau, ao nhà của họ. Ngặt hơn nữa, cái sân sau, ao nhà này lại là bước đầu tiên không thể nào bỏ qua trong cái chiến lược đại dương có ý chí mang sức mạnh dồn nén của mấy ngàn năm bỏ quên biển. Không như Hoa Kỳ, không “có” Việt Nam mà vẫn không “mất” Đông Nam Á, Trung Quốc không chiếm hữu “Nam hải” thì không thể hoàn thành giấc mộng biển cả.
Cũng khác biệt như thế, việc bảo đảm quyền lợi của Hoa Kỳ được đặt trên cơ sở tôn trọng chủ quyền biển và hợp tác an ninh với các nước quanh biển Đông, đồng thời tôn trọng quyền tự do đi lại trên hải phận quốc tế đối với mọi chủ thể; thì quyền lợi của Trung Quốc lại xuất phát từ sự chiếm đoạt, ngang ngược và độc tôn hải hành. Việc thừa nhận và tôn trọng quyền lợi Trung Hoa trên biển Đông thực tế đã bị chính họ dịch chuyển, không còn là vấn đề về quyền lợi hợp pháp và hợp lý, mà là chuyện về tham vọng quá đỗi của họ.
Khi xét đến thế “đối trọng ý thức hệ trên biển” cũng vậy. Không phải tự Hà Nội muốn duy trì mãi sự cân bằng có lợi cho mình, trong tình hữu hảo với Bắc Kinh mà được. Cả ba đều có thể phá thế hiện nay, như đã đề cập.
Trong các trạng huống của cuộc đi dây mới, với giả định Hà Nội nghiêng về Washington, nếu tình hình không cho phép tiếp tục có khoảng tiệm tiến dai dẳng (xem như để mọi thứ của chiều hướng đó dần đi vào “bình thường”), thì nội tình của bộ máy quyền lực Việt Nam có thể biến động. Nhưng với chọn lựa Bắc Kinh làm chỗ dựa, biến động này chắc hẳn còn lớn hơn, vì từ bao đời nay, đề kháng và phản kháng trước họa xâm lăng và đồng hóa từ phương Bắc vẫn là một đặc trưng của dân tộc Việt. Với tham vọng và quy chiếu của phương bắc, khi nghiêng hẳn về họ, đồng nghĩa với việc Việt Nam chấp nhận làm chư hầu và lãnh hải bị thôn tính.
8. Tự lực và đồng minh
Với những gì đã trình bày, có thể nhận thấy rằng lúc này, trong tương quan biển Đông, quan hệ đồng minh trở thành điều sống còn đối với Việt Nam.
Từ khi loài người định hình các hình thức cộng đồng, do có sự khác biệt về địa bàn, dân số, sự hưng thịnh…, và vì các lý do về chính trị, quân sự, kinh tế…, việc liên kết hay phân ly giữa các khối người trở thành một trong những đặc điểm tồn tại của họ. Khi đã có quốc gia-dân tộc, điều này càng rõ rệt. Trừ trường hợp có một thế giới hoàn toàn thanh bình và công bằng, hoặc trong trường hợp có sự đồng hóa, thì hậu thuẫn của cộng đồng này đối với cộng đồng khác không bao giờ là thừa hay có vai trò phá hoại. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, liên kết này càng có vai trò quan trọng hơn và thể hiện ở mọi mặt, ở hình thức đặc thù của từng lĩnh vực tương tác. Với tương tác chính trị và quân sự, hình thức đó là liên hệ đồng minh hoặc đồng chí.
Dù mức độ nào, trung lập là trạng thái tốt nhất đối với những vùng lãnh thổ chuyển tiếp khi quanh nó có sự xung đột về lợi ích. Tuy nhiên, không phải một quốc gia tự muốn trung lập là được, mà vị thế đó không những phải được tất cả các bên liên quan thừa nhận và tôn trọng, trên cơ sở cân bằng trong tương quan địa chính trị cũng như thế và lực của họ; mà còn không khiến xâm hại đến chủ quyền và lãnh thổ của nước trung lập. Trong lịch sử đương đại, chỉ có Thụy Sĩ đáp ứng được những tiêu chí tạo nên sự cân bằng như thế.
Ở vị trí liền kề, Campuchia từng trung lập (1960-1970) và hưởng lợi từ đó, nay Việt Nam có thể tương tự như thế không? Cho đến lúc này, trên lý thuyết, Hà Nội vẫn có thể chuyển hướng để định vị thế mới cho mình, thông qua vận động ngoại giao và dàn xếp chiến lược. Nhưng muốn thành công, việc này vừa đòi hỏi Việt Nam phải thực thi chính sách trung lập trên trường quốc tế và trong vấn đề ý thức hệ, vừa đòi hỏi các nước liên quan chấp nhận vùng đệm chiến lược này, cũng như không yêu sách gì về chính trị và lãnh thổ đối với nó. Ở cả hai vế chủ thể đó, trên thực tế, nhiều khả năng là bất khả.
Về lý trí, ít nhất có ba nguyên do trực tiếp khiến cho đến nay, dù ít nhiều nhận ra tình thế biển rất thúc bách nhưng Hà Nội vẫn hết sức dè dặt về liên hệ đồng minh. Một là vấn đề ý thức hệ, hai là tương quan “láng giềng gần” với phương Bắc, và ba là mối lo Trung Quốc càng ra tay cứng rắn hơn một khi thế cờ tay ba ngã ngũ.
Nguyên do đầu, đã nói ở trên, khiến những người làm chiến lược bế tắc trong đường hướng bạn – thù, tảng lờ các tương quan lịch đại, né tránh những nhận thức cơ bản nhất về các mâu thuẫn khả dĩ giữa ta với đối phương và đối tác. Cùng với mối lo Bắc Kinh “làm càn”, ý thức hệ khiến Hà Nội chỉ dừng lại ở quan niệm đối tác chiến lược mà không phải là đồng minh chiến lược.
Vấn đề “láng giềng gần”, như cũng đã nói, Việt Nam không nề hà sự tôn trọng đối với Trung Hoa với tư cách một cường quốc, cũng như sẵn lòng hợp tác tích cực về kinh tế, văn hóa, và cả ngoại giao (chẳng hạn, giữ cùng quan điểm với họ trong các vấn đề quốc tế), thậm chí, chấp nhận “thông lệ” lịch sử, là các quốc gia “vĩ đại” thường có vùng ảnh hưởng quanh biên giới. Nhưng còn chủ quyền lãnh thổ và lợi ích dân tộc, là cái mà bất kỳ ai cũng tuyệt đối không thể đánh đổi, dù phải bảo đảm cho nó bằng những chiến lược, sách lược “khó chịu” nhất. Và cũng đồng thời, trong tương quan chính trị, đặc biệt khi đó là những đường hướng mang yếu tố đối chọi, thì không phải mong muốn chính trị, mà thực tế chính trị mới là cái quyết định.
Ngoài Trung Quốc, trên hai năm trở lại đây, “đối tác chiến lược” của Việt Nam ngày một nhiều. Và ngoài Nga, các nước khác trong số này đều ít nhiều có yếu tố “cân bằng” lại với Trung Quốc. Không rõ trong toan tính của người những làm chiến lược Việt Nam, trong số đó, đâu là đối tác chiến lược ở tầm chiến lược, đâu là đối tác chiến lược ở tầm chiến thuật. Nhưng có một điều có thể biết, là những động thái mở rộng đối tác chiến lược mà không đem lại kết quả chiến lược, thì chỉ khiến cho Bắc Kinh nhận ra cái chiến lược “chiến lược một nửa” đó và càng tức giận hơn, chỉ khiến cho Bắc Kinh nhận ra vị thế lạc lõng của Việt Nam và càng muốn “ra tay” hơn. Hành xử hung hãn của họ thời gian qua đã rõ ràng thể hiện điều đó.
Có hai ý kiến được đưa ra để củng cố quan điểm cho rằng trong đối sách với Trung Quốc, Việt Nam không cần hoặc không nên có quan hệ đồng minh.
Đầu tiên là việc đề cập đến nội lực, xem đó gần như là cái duy nhất để chú trọng phát triển, nhằm đương đầu với tham vọng lãnh hải của phương Bắc.
Phát triển nội lực để xây dựng một quốc gia thịnh vượng, đủ sức đối mặt với mọi thách thức là một quan điểm hoàn toàn đúng, nhưng “mở rộng” thêm từ đây, rằng phải tự lực chứ không cần đến ngoại lực, không cần đến đồng minh, là hoàn toàn sai, vì:
Thứ nhất, như trên đã nói, liên hệ đồng minh, dù là đồng minh về văn hóa, thể chế, hay đồng minh về chính trị, quân sự, là một thực tế khách quan trong quan hệ giữa các quốc gia. Khi có tranh chấp hoặc xung đột, điều đó càng không thể tránh khỏi. Một đất nước vĩ đại như Nga, trải rộng từ Tây sang Đông mà vẫn muốn có những đồng minh nhỏ bé trong không gian Xô Viết cũ. Siêu cường như Mỹ mà vẫn không thể một mình đương đầu với thế lực khủng bố. Trung Quốc tưởng chừng tự mình “tả xung hữu đột”, nhưng trong tính toán chiến lược vẫn cần đến các “đàn em” phương Nam.
Thứ hai, trong những yếu tố góp phần phát triển nội lực, có bối cảnh và thời gian. Trong tình thế hết sức yếu kém trước một Trung Hoa đang trở thành siêu cường và lăm le nuốt lấy biển Đông, nơi mà vì điều đó cũng đang trở thành điểm hút của nhiều thế lực vượt trội hơn hẳn Việt Nam, nếu nói chúng ta phải tự lực hay đợi đủ nội lực để đáp lại nguy cơ bành trướng, thì về mặt nhận thức, đó chẳng qua chỉ là sự lặp lại máy móc, phi lịch sử và phi thực tế một khái niệm xác thực. Về mặt chiến lược, nó lấy cái dài hạn thay cho cái cấp bách, nhầm lẫn giữa tương quan kinh tế-xă hội với tương quan chính trị-quân sự. Còn về chiến thuật, đó chẳng khác nào tự trói tay trước một đối thủ vũ trang hiện đại đầy mình.
Về lâu dài, xây dựng và phát triển nội lực là cực kỳ quan trọng, nhưng trước mắt, không có ngoại lực ta không thể thoát khỏi tình thế hiện nay. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trong ngắn hạn thì không chú trọng nội lực, còn trong dài hạn thì triệt tiêu ngoại lực hay liên hệ đồng minh.
Ý kiến thứ hai trưng dẫn cuộc chiến Gruzia – Nga (2008) như một minh chứng, rằng việc tạo liên minh với nơi khác trong khi liền kề với nước lớn đang uy hiếp mình là sai, vì nếu có chiến tranh xảy ra, nước nhỏ vẫn chịu thiệt và đồng minh cũng không can dự vào.
Thật ra, với những nhà làm chiến lược có lý trí, có lẽ không ai lại nghĩ rằng ở thời nay, tạo quan hệ đồng minh là để những nước này lập tức tham chiến, bất kể nguyên nhân, thời cuộc và chiến cuộc. Liên minh với các cường quốc càng không phải như vậy. Trong trường hợp có yếu tố Mỹ – Nga, lại càng hơn thế. Quyền lợi toàn cầu, trước nguy cơ của một cuộc đối đầu hay chiến tranh thế giới, luôn được đặt cao hơn quyền lợi và xung đột cục bộ của một quốc gia có vị thế nhỏ. Với liên minh phòng vệ, quan hệ đồng minh là để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho các quốc gia của liên minh, chứ không phải là tăng nguy cơ cho nhiều nước và giảm cơ hội hòa hoãn. Nhưng dù sao, cùng với việc xử trí khéo léo về sách lược và chiến thuật, liên hệ đồng minh là điều kiện chiến lược không thể thiếu, vì đó không những là thế lực răn đe từ xa và hỗ trợ về quốc phòng, mà còn là lực lượng ngoại giao, chính trị và kinh tế trực tiếp hậu thuẫn cho quốc gia đồng minh, khi vô sự cũng như hữu sự.
Quay lại trường hợp Gruzia, có thể nước này đã có những bước đi không thích hợp, nhưng ngoài việc phải tính đến động cơ bảo toàn lãnh thổ của họ cũng như thái độ hậu thuẫn tuyệt đối của Nga cho việc ly khai, nên thấy rằng nếu không có liên hệ đồng minh với Mỹ và châu Âu, thì bằng sức mạnh siêu cường và những ảnh hưởng đối với không gian hậu Xô Viết, Nga thừa khả năng đánh chiếm toàn bộ Gruzia hoặc kéo dài cuộc chiến, chứ không chỉ tự giới hạn trong một tháng. Đó là chưa kể những trợ giúp to lớn về kinh tế, chính trị và quân sự sau chiến tranh mà Gruzia sẽ không nhận được nếu không có đồng minh.
Như vậy, có thể tóm lại rằng, tôn trọng vị thế và quyền lợi của nước lớn và láng giềng, hòa hảo và hòa hoãn với họ trên cơ sở bảo toàn chủ quyền lãnh thổ, phát triển nội lực trên tất cả các mặt, mở rộng đối tác chiến lược và xây dựng quan hệ đồng minh chiến lược là những việc mà cả trước mắt và lâu dài, một quốc gia cần thực hiện đồng thời trong chiến lược tồn tại của mình, khi ở giữa các thế lực không cùng chiều về quyền lợi đang hiện diện đan chéo nhau.
Cụ thể, trong cục diện địa chính trị ngày nay, xét tất cả những gì đã nói, với tư cách siêu cường chính trị – quân sự, cả trên bộ lẫn trên biển, đủ sức và sẵn lòng đối trọng với những thách thức nhắm vào thế cân bằng chiến lược toàn cầu,thì Hoa Kỳ là đồng minh mà Việt Nam cần có. Họ không phải là đối tác duy nhất trong chiến lược kiềm chế và đối trọng với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng là đối tác khả dụng nhất và quyết định nhất.
9. Sự trở lại của Hoa Kỳ và Việt Nam
Sau vụ đụng độ Impeccable, về phía Hoa Kỳ, trên bề mặt chiến lược, tình hình diễn tiến rất nhanh.
Khi lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc trên biển Đông còn chưa kết thúc (31/07/2009), thì vào ngày 15/07/2009, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã mở phiên điều trần về Tranh chấp biển và tranh cãi chủ quyền tại Đông Á (Maritime Disputes And Sovereignty Issues In East Asia). Có thể nói, chưa bao giờ quan điểm của lập pháp, hành pháp và giới nghiên cứu Hoa Kỳ về vấn đề này lại được trình bày một cách chính thức, tập trung và rõ ràng đến vậy, với những nhận định không nghiêng về Trung Quốc.
Sự kiện trên còn chưa kịp nguội thì tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum, ARF) lần thứ 16, diễn ra ngày 23/07/2009, Ngoại trưởng H. Clinton đã ký vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia)[23] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref23), đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ ở vùng này.
Ngay trước đó, trong chuyến thăm năm ngày đến Ấn Độ (18/07 – 22/07/2009) của Ngoại trưởng Mỹ, hai bên đã có những thỏa thuận cả về quân sự lẫn dân sự ấn tượng, mà thực chất là định hình quan hệ đồng minh. Như vậy, quan hệ đối tác chiến lược của Hoa Kỳ quanh vành đai bán đảo Trung – Ấn và các cung đảo Đông Nam Á đã tạo thành một thế liên hoàn, tiếp nối với vành đai Đông Bắc Á.
Trong cục diện chính trị hải dương mới này, quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ có thể vẫn như trước nay được không? Về chủ quan, Hà Nội muốn điều đó, tức vẫn ở “cửa giữa”, nhưng thông qua cơ chế ASEAN để nhận thêm lợi ích từ Washington do Hoa Kỳ đã chuyển hướng chiến lược. Về khách quan, điều này bất khả.
Dù có sự gắn liền địa lý biển với Việt Nam, thì việc Hoa Kỳ có nhiều lợi ích ở biển Đông cũng không đồng nghĩa với việc những lợi ích này song trùng ở Việt Nam, nên việc bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ ở biển Đông không có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Việt Nam.
Tương tự, dù Việt Nam có chân trong Hiệp hội Đông Nam Á, nếu Hoa Kỳ cam kết bảo vệ ASEAN cũng không có nghĩa là đương nhiên bảo vệ Việt Nam, không chỉ vì ASEAN là một khối không thuần nhất và khập khểnh, mà còn vì Việt Nam có chấp nhận sự bảo vệ ấy hay không. Một thực tế mà ta thấy hết sức rõ ràng, là bản thân ASEAN, với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ”, cũng khước từ sự bảo vệ, cho dù dưới hình thức yếu ớt nhất, cho thành viên của nó trước đe dọa về lãnh thổ. Và, ví như Myanmar, có vị thế địa lý quan trọng với cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ, lẫn Thái Lan và Malaysia…, nhưng không vì là thành viên ASEAN mà mặc định có phần trong chiến lược thân hữu của Hoa Kỳ.
Tại cuộc điều trần vừa nói của Thượng viện Hoa Kỳ, thái độ của siêu cường này đối với tranh chấp tại biển Đông đã được minh định. Họ khẳng định sự mù mờ trong tuyên bố chủ quyền của Hoa lục và nhận định rằng Việt Nam là nước trực tiếp chịu nhiều thiệt thòi do yêu sách lãnh hải đó, nhưng cũng nói rằng họ trung lập giữa các tranh chấp. Song song đó, họ dứt khoát về quyền lợi của Hoa Kỳ, quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế, phản đối việc dùng vũ lực và dọa nạt. Cùng với việc khuyến khích ASEAN thống nhất lập trường và hành động đa phương, họ cũng sẵn sàng hậu thuẫn cho đồng minh và đối tác, dù nói rằng sự hiện diện của họ chỉ để kiềm chế chứ không nên để xảy ra những tính toán sai lầm[24] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref24).
Đường hướng đó kiên quyết nhưng cũng mềm dẻo, vừa bao quát đối tượng nhưng cũng cụ thể với các đối tác. Nó không mập mờ nhưng đủ lưng chừng để xử thế linh hoạt, tùy chủ thể và trạng huống. Nó chứa đựng khả năng để Washington định hình một liên minh cơ hữu và trọn vẹn, dù là dưới hình thức không hiệp ước, với các chủ thể có liên quan để chống lại sự cưỡng đoạt và bành trướng của Bắc Kinh trên biển; mà cũng dành sẵn cơ hội để họ đi dây trên khắp các thế trận, với mọi đối tượng, nhằm bảo đảm tự do hải hành và sự thống lĩnh truyền thống của họ trên đại dương.
Với tư cách thành viên ASEAN và đối tác tham gia vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của khối này, quan hệ hiện nay giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chỉ một bước là đã có thể rất gần nhưng cũng có thể rất xa. Nếu gần, Việt Nam sẽ có đầy đủ tư thế chung mà thân hữu của Hoa Kỳ có. Nếu xa, chỉ với một từ “đồng minh” làm tiêu chí, thì Việt Nam đã nằm ngoài quan hệ chiến lược của Hoa Kỳ với khối Đông Nam Á.
Hiện, dù có những đe dọa lãnh thổ, Việt Nam vẫn tỏ rõ có nhiều liên hệ đồng chí với Trung Hoa, trong khi các động thái đồng minh với Hoa Kỳ vẫn hết sức giới hạn. Nếu đó chỉ là màn kịch lớn mà Hà Nội và Washington cùng diễn để tránh kinh động đến Bắc Kinh khiến họ có thể có những hành xử đã rồi, thì quả là chiến thuật ở tầm cao. Nhưng nếu đúng là nhận thức chính trị vẫn được đặt cơ sở trên những khái niệm đạo đức – ý thức hệ, thì viễn cảnh u ám hơn là điều mà nhiều khả năng Việt Nam khó tránh khỏi.
10. Luật pháp quốc tế và pháp lý đặc thù
Như vậy, trong cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh hải, ngoài nội lực và một hệ thống chứng lý khả tín và khả thi, Việt Nam cần đến sự hậu thuẫn của đồng minh và ủng hộ của công luận. Thời gian vừa qua, đất nước không bị cô lập nhưng rõ ràng là cô độc. Nguyên nhân của điều này không chỉ vì hoạt động đối nội và đối ngoại về chủ quyền lãnh thổ hoàn toàn không xứng với tầm mức của vấn đề, mà còn vì có những chuẩn mực không tương ứng giữa ta với bên ngoài.
Rất rõ ràng, con đường bảo vệ chủ quyền không tốn kém xương máu và nhẹ nhàng nhất, căn cơ và triển vọng nhất, là con đường pháp lý. Chúng ta sẽ phải dựa vào luật pháp quốc tế để đấu tranh kiên quyết hơn trên mặt trận này. Mà đã là luật pháp quốc tế thì phải là những chuẩn mực phổ quát, không phải là những tiêu chí nội bộ và riêng biệt của một hay một nhóm quốc gia.
Vậy mà, đối với công chúng thế giới, Trung Quốc và Việt Nam là anh em hữu hảo, tương đồng nhau về hệ thống chính trị – pháp lý, xác tín chung và mạnh mẽ nhiều giá trị được cho là đặc thù. Do vậy, một khi ta nhất mực và đồng tâm với Trung Hoa, trong cách nhìn và cách quyết của những hành xử theo tiêu chí đó, thì e là trong cách nhìn và cách quyết của bên ngoài cũng sẽ như thế, rằng những người bạn có thể tự xử trí nội bộ với nhau được, theo đúng những giá trị có chung đó[25] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref25). Nói cách khác, trước công luận toàn cầu, một khi ta còn chưa hòa nhập thật sự và đầy đủ vào những giá trị pháp lý phổ quát, thì còn khó có thể yêu cầu từ đó sự hậu thuẫn thật sự và hiệu quả bằng luật pháp quốc tế.
11. Thay đổi tư duy
Tóm lại, trên bàn cờ đã đến hồi diễn tiến nhanh và phức tạp của biển Đông, thời cơ có đến nhưng lại trực tiếp chứa đựng nhiều bất trắc đối với Việt Nam. Con cờ tư duy không thể không biến hóa để thích ứng với nó. Thay đổi tư duy là điều kiệnđầu tiên, từ đó mới có được những bước đi chiến lược và sách lược thích hợp.
Không chỉ là một tư duy địa chính trị mới, thực tế và cụ thể, thấy những vấn đề đơn thể nhưng cũng nhìn được những cái toàn thể; tư duy chiến lược nên tránh nếp nghĩ bị ảnh hưởng quá lâu bởi những lập luận có tính tuyên truyền, khi đặt mình vào trung tâm mà xem nhẹ những thành tố khác. Tư duy dân tộc cần được đặt ở vị trí thích đáng và hiệu quả hơn so với tư duy ý thức hệ, để tránh lặp lại những sai sót của quá khứ, khi ta thuần lòng với giá trị giai cấp còn người dốc lòng với cơ đồ đại tộc. Cũng thế, khi cuộc đấu tranh pháp lý sẽ cùng với đấu tranh chính trị – quân sự và đấu tranh ngoại giao trở thành ba mặt trận để bảo vệ chủ quyền, thì tư duy pháp lý phổ quát cũng là điều cần hướng đến, thay cho tư duy pháp luật “nội bộ”.
Sự thay đổi đó đã đến lúc phải quyết đoán, không chỉ vì sự lạc hậu và trì trệ bên trong về tư duy đã đến lúc không thể cứ kéo dài, mà còn vì áp lực bên ngoài không không tiếp tục cho phép. Trung Quốc thì đã rõ. Hoa Kỳ cũng cho thấy sự nhanh chóng và cả quyết trên mọi hành động chiến lược, sách lược, và với mọi đối tác. Ngay cả Ấn Độ, có đặc tính “thâm trầm” và giữ khoảng cách với Mỹ nhưng nay, trước đổi thay quyết liệt của cục diện, cũng đã không ngần ngại tăng cường thế lực và tham gia một cách kiên quyết vào các hoạt động an ninh tại vùng biển Andaman – Ấn Độ dương[26] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html#ref26)…
Chần chừ, với Việt Nam lúc này, đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô, và đem lại lợi thế cho cả Trung Quốc lẫn các thành tố khác tại biển Đông.
Trước đây, vì chưa phá được thế cô lập, Hà Nội cần bắc chiếc cầu ASEAN để đến với Washington và các thủ đô phương Tây. Nay, vẫn áp dụng cách đó để tiếp cận đồng minh với Hoa Kỳ, nếu không phải vì tránh kích động Trung Hoa, thì e rằng sách lược không hợp thời này sẽ không mang lại nhiều hiệu quả. Con đường vòng Malaysia (hay bất cứ đối tác nào khác) mà hiện nay Hà Nội đang đi chỉ làm mất thêm thời gian và nguồn lực ngoại giao, khiến lộ rõ ngõ hẹp chính trị và vị thế yếu ớt. Điều đó cũng đương nhiên tạo thêm ưu thế cho Trung Quốc, Malaysia và các đối tác khác, đồng thời cũng không hoàn toàn bảo đảm được rằng không khiến Bắc Kinh kích động. Đó là chưa kể họ có thừa khả năng để tạo áp lực hay “tăng cường hợp tác” với các đối tác nhỏ trong vùng, gây tác hại cho quan hệ với Việt Nam.
Với thế liên hoàn địa lý giữa Nam Á – Đông Nam Á – Đông Bắc Á, có nhiều cửa ngõ và hải trình chiến lược, cộng với sự hiện diện của nhiều thế lực kinh tế, chính trị, quân sự của châu lục và thế giới, cả đương thời lẫn đang lên, việc tái phân bố lực lượng trên biển sẽ được định hình, khởi đi từ biển Đông. Trong bối cảnh “biển-chính trị” này, với vị trí của mình, Việt Nam không thể muốn hay không muốn duy trì nó, mà phải đối ứng với nó, cũng như không thể thích hay không thích đối tác này hay đối tác khác, mà phải có những tương quan khả thi với từng đối tác.
Cục diện mới sẽ dừng lại ở mức độ hiện nay hay tiếp tục diễn biến theo những kịch bản khác nhau, là tùy thuộc vào những thành tố chính có liên quan. Còn các trạng huống giả định đối với Việt Nam có thành hiện thực hay không, tốt hay xấu, là tùy thuộc vào Việt Nam – vào tư duy Việt Nam.
LTH
Bauxite Việt Nam có hiệu chỉnh thêm về các lỗi chính tả.
Nguồn: talawas 30/08/2009



Chú giải:
[1] Ở đây, xin hiểu “bạn – thù” chỉ như một cặp đối ứng từ ngữ, không theo nghĩa cổ xúy sự vận động chiến lược theo hướng thù địch lẫn nhau. Tuy nhiên, với những người làm chiến lược, không thể ảo tưởng rằng khi có những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, vì yêu chuộng hòa bình, ta không xem ai là đối phương hay đối địch.
[2] Ngày 07/12/1941, Nhật từ Đông Dương đưa quân sang Thái Lan, đánh chiếm toàn bộ Malaysia, bọc hậu, thôn tính Singapore (15/12/1941), để rồi sau đó, tháng 03/1942, Indonesia cũng chịu chung số phận. Xem: Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr. 200-202.
Xin nói thêm, vẫn cần thấy rằng lần đó, Đông Dương cũng chỉ là bàn đạp tại chỗ, trong một thế trận đã rồi, vì mặt trận châu Á – Thái bình dương đã được quyết định tức thời bằng trận Trân Châu cảng vào đúng ngày 07/12/1941, và Pháp cũng đã trao sẵn Đông Dương cho Nhật từ tháng 09/1940.
[3] Theo cách phân chia chung, Châu Á có bốn vùng, là Tây Á (hay Tây Nam Á), Trung Á, Nam Á, và Đông Á & Đông Nam Á.
[4] Xem: Doãn Mạnh Hùng, “Tây Nguyên là yếu huyệt trên bộ, vậy đâu là yếu huyệt trên biển?”
http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090506_taynguyenyeuhuyet.htm
[5] Sau sự kiện 11/09, Nhật thông qua ba luật, cho phép đưa quân ra nước ngoài chống khủng bố và giữ gìn hòa bình, đồng thời nâng cấp lực lượng quân sự. Tháng 01/2007, Quốc hội Nhật thông qua việc tái lập Bộ Quốc phòng thay cho Cục Phòng vệ. Năm 2010, dự kiến sẽ đưa thông qua hiến pháp mới, cho phép Nhật tuyên chiến.
[6] Hạ tuần tháng 12/2008, Trung Quốc điều ba chiến hạm thuộc Hạm đội Nam Hải đến vịnh Aden để tham gia chống cướp biển Somalia. Đây là lần đầu tiên Hải quân Trung Hoa hiện diện ở tầm toàn cầu, khiến thế giới có phần bất ngờ. Ngay sau đó, Nhật Bản đã có hành động có tầm mức tương tự. Tháng 01/2009, Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Nhật ra quyết định phái tàu chiến đến vịnh Aden. Trung tuần tháng Ba, hai chiến hạm nhổ neo (cùng hai máy bay do thám). Dự luật cho phép Hải quân Nhật tham gia hoạt động này được Hạ viện thông qua vào tháng Tư. Và ngày 19/06, Hạ viện cũng đã thu đủ số phiếu để bác kết quả chống lại dự luật tại Thượng viện, vừa biểu quyết trong cùng ngày.
[7] Tháng 12/1995, Australia và Indonesia đã ký một thỏa ước an ninh, nhưng việc Úc tham gia tái thiết Đông Timor đã khiến liên hệ này gián đoạn. Đến tháng 11/2006, hai nước mới ký một văn kiện khác thay thế, có hiệu lực vào tháng 02/2008.
[8] “Chưa nhận diện hết” theo nghĩa không đi đến chỗ nhìn nhận nó một cách đúng mức, còn việc xác định vị trí địa lý là điều đã được thực hiện chính xác từ lâu.
[9] Việc phê phán tiếp cận “đơn cửa” và đề xuất tiếp cận “đa cửa” đã từng được tác giả khác nêu lên. Xem: Hoằng Danh, “Lựa chọn chính trị (3): của Hoa Kỳ, qua chuyện đối lập Việt Nam, trong bối cảnh địa-chính trị” http://talawas.org/talaDB/suche.php?res=10255&rb=0401
[10] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Xem: Nguyễn Mạnh Hùng, Tài liệu đã dẫn.
[11] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Trong trận chiến Thái bình dương của Nhật đã nói ở trên, cùng ngày tấn công vào Trân Châu cảng, họ không những đưa quân sang Thái để nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ những nước áng ngữ Malacca, mà còn đổ bộ lên các đảo ở bắc Philippines để kiểm soát eo Luzon. Ý đồ khóa chặt hai cửa ngõ của biển Đông, một thông sang Ấn Độ dương, một sang Thái bình dương là quá rõ.
[12] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Tháng 12/2007, Đài Loan hoàn tất việc xây dựng đường băng trên đảo, và ngày 21/02/2008, máy bay vận tải quân sự C-130 Hercules của họ đã hạ cánh xuống đây lần đầu tiên.
[13] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Có một tình huống đặc biệt nữa đối với Đài Loan nhưng tôi không đề cập chính thức trong bài, vì xem ra viễn cảnh đó còn xa hơn viễn cảnh có những xung đột bất lợi cho Việt Nam. Đó là với tư cách “nguyên quốc”, Trung Quốc xem như cũng đã đứng một chân vào vị trí của Đài Loan trên Trường Sa. Trong trường hợp họ quy tập được lãnh thổ này, cái gì “của” Đài Loan đương nhiên thành của họ.
[14] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Tên gọi đầy đủ là “tiếp cận hình thái kinh tế xã hội”, lấy căn cứ là sự tiến hóa xã hội theo năm hình thái kinh tế xã hội để phân kỳ và ghi nhận lịch sử toàn thế giới và từng dân tộc, trong khi tiếp cận “tiếp cận (theo nền) văn minh” lấy yếu tố văn hóa, văn minh làm cơ sở để nhận thức từng đối tượng lịch sử.
[15] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Biểu hiện là ở đâu cũng thế, thời nào cũng vậy, ngoài những chuyện cung đình, gia tộc, chinh chiến, thì “cốt truyện” xuyên suốt vẫn là giai cấp thống trị (chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư sản) nắm chính quyền, bóc lột và áp bức nhân dân (nô lệ, nông dân, công nhân), khiến cho giai cấp bị trị phải vùng lên…
[16] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Khi tìm hiểu về giai đoạn chủ nghĩa xã hội trước đổi mới ở Trung Quốc, có thể tham khảo những cuốn sách ít nhiều đã thành “kinh điển” như:
- Vương Minh [nguyên Uỷ viên BCT và Bí thư BCHTƯ Đảng CSTQ], Nửa thế kỷ tồn tại của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự phản bội của Mao Trạch Đông, Tài liệu tham khảo nước ngoài, lưu hành nội bộ, 1978.
- O. Vlađmirốp, V. Riadanxép, Những trang tiểu sử chính trị của Mao Trạch Đông, Tài liệu tham khảo, lưu hành nội bộ, 1978; Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1983.
- P. P. Vlađmirốp, Nhật ký Diên An (2 tập), Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1981, 1982.
- Phơrenxơ Varơnai, Chủ nghĩa Mao chống phong trào cộng sản thế giới, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1982.
- M. X. Culesốp, Bắc Kinh chống lại phong trào giải phóng dân tộc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982.
- T. R. Rakhimốp, Số phận các dân tộc không phải Hán tộc ở nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982.
- A. Cudơlốp. Hoạt động phá hoại của bọn Mao-ít ở Đông Nam Á, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984.
- M. A. Ilin, Bắc Kinh – kẻ thù của hòa bình, hòa dịu và hợp tác quốc tế, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984.
- Nhiều tác giả, Mao – tấn thảm kịch của Đảng Cộng sản Trung Quốc (5 tập), Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1984-1985.
Tất nhiên, ngày nay, đọc những tài liệu này, ta đủ khách quan để tách bóc thái độ bôi đen và tô hồng khỏi dữ liệu lịch sử; đồng thời, tất cả những nội dung đó cũng không hề và không thể bôi xóa những thành tựu hết sức to lớn mà Trung Quốc đã đạt được từ cải tổ tiên phong của họ. Thế nhưng, chính việc bóc tách đó lại càng cho thấy tính xuyên suốt trong “đại cuộc” của họ.
[17] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Xem:
- Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Sự thật và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979.
- Thành Tín, Mô hình Bắc Kinh, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1979.
- Phrăngxoa Giayô, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1981.
- U. Bớcsét, Tam giác Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1986.
[18] (http://bauxitevietnam.info/c/6772.html) Thử hỏi một cách giản dị, nếu thật lòng về ý thức hệ, với tư cách một đàn anh khoáng đạt, họ có dám “hy sinh” Hoàng Sa và Trường Sa để vỗ yên Việt Nam không, mà lại đòi ta phải vì “đại cuộc” mà hy sinh lợi ích dân tộc? Do vậy, trong số những trạng huống của cuộc chơi mới ở biển Đông, có một khả năng mà tôi không đưa vào vì hoàn toàn bất khả ngay từ lý thuyết. Đó là khi Trung Quốc giao trả Hoàng Sa cho Việt Nam và từ bỏ yêu sách đối với Trường Sa. Nếu như vậy, giữa hai nước không còn mâu thuẫn về quốc gia-dân tộc, và phân bố lực lượng tại Đông Nam Á sẽ nhanh chóng an bài theo tiêu chí ý thức hệ.
[19] Xem tổng quan mới nhất về vấn đề này, do một người Việt viết: Pham Thuy Trang, Eastern Sea Disputes and United States Interests, http://csis.org/files/publication/issuesinsights_v09n13.pdf.
[20] Các con số về diện tích, chu vi, bờ biển của nước này không được thống nhất trong các tài liệu, do họ có nhiều tranh chấp về lãnh thổ. Hoa lục nói có bờ biển dài 18.000 km (xem: website chính thức của chính quyền Trung Quốc http://english.gov.cn/2006-02/08/content_182551.htm), trong khi một số nguồn khác ghi là 14.500 km (ví dụ, tại website của CIA https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ch.html). Vậy, xin người Việt lưu ý khi viết về con số này, vì 18.000 km có thể đã gồm cả đường bờ biển tạo nên từ Hoàng Sa và Trường Sa (?).
[21] Xem lịch sử của kênh đào dự phóng này tại website của Dự án http://www.thai-canal.org/hist%20E.htm.
[22] Theo trang Wikipidia, năm 2005, dự định của Trung Quốc đã được báo cáo cho Donald Rumsfeld, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ khi đó. Sau, tin này bị rò rỉ và xuất hiện trên tờ Washington Times. Xem: Thai Canal, http://en.wikipedia.org/wiki/Thai_Canal.
Theo một nhà báo người Ấn có tiếng làm việc cho phân xã Ấn Độ của Thông tấn xã Kuweit, dự án kênh Kra đang được Trung Quốc tài trợ xây dựng. Xem: Dipanjan Roy Chaudhury, China: Boosting Maritime Capabilities in the Indian Ocean (08/2007), http://www.worldpress.org/Asia/2908.cfm.
[23] Liên hiệp châu Âu cũng ký vào lần này. Đây không phải là hiệp ước mới, mà là văn bản do năm nước sáng lập viên ASEAN đề xướng và ký kết vào ngày 14/02/1976. Hiện đã có mười nước ASEAN và mười bảy đối tác (có Trung Quốc) ký vào.
[24] Nguyên bản của các diễn giả có thể tải về từ trang của sự kiện này, trên website Thượng viện Hoa Kỳ http://foreign.senate.gov/hearings/2009/hrg090715p.html. Phát biểu đề dẫn của Thượng nghị sỉ Jim Webb có tại http://webb.senate.gov/newsroom/record.cfm?id=315847&.
[25] Trên thực tế, cách nhìn loại này đã được nâng lên tầm học thuật từ lâu. S. Huntington, trong luận thuyết về “sự xung đột giữa các nền văn minh” đã cho rằng tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam là xung đột nội bộ của cùng một nền văn minh. Theo ông, các tranh chấp tại Đông Á khó có thể dẫn đến hành động quân sự trực tiếp, ngoài một số địa bàn ngoại lệ như… biển Đông. Và chủ trương của học giả này, là để tránh bùng nổ, các nước lớn nên đứng ngoài xung đột trong nội bộ của nền văn minh khác. Xem: Samuel Huntington, Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2003, tr. 238, 336, 470.
[26] Ngày 05/08/2009, một tàu Bắc Hàn tự ý thả neo trong vùng biển Andaman đã bị tàu Ấn truy đuổi và khám xét triệt để. Hành động đó cho thấy Ấn Độ đang “trực chiến” tại địa bàn của mình để thực hiện Nghị quyết 1874 của Liên hiệp quốc nhằm ngăn ngừa nước này phát tán kỹ thuật hạt nhân, mà hiện đang bị nghi ngờ là cho Myanmar.
Còn trước đó, ngày 01/07/2009, tàu Kang Nam 1 của Bắc Hàn, sau mười bốn ngày “bất định” ngoài khơi Trung Quốc và biển Đông, đã phải quay đầu về bến do có sự giám sát chặt chẽ của tàu chiến Mỹ vì bị nghi ngờ vận chuyển vũ khí cấm sang Myanmar.

hoanghungcz
31-08-2009, 02:43 AM
Khác với những năm 197x thì khi tiến đánh VN năm 1979 đã khiến cho rất nhiều người dân Trung Quốc bất ngờ và ngỡ ngàng vì trước đó trong con mắt người dân TQ Việt Nam luôn là người bạn tốt. Thế nhưng trong thời điểm hiện tại thì tư tưởng dân tộc đang dâng cao tại TQ và như nhiều nhà phân tích thì TQ đã hội tụ đủ các thành tố để thành chủ nghĩa phát xít ( dân tộc chủ nghĩa, độc tài, toàn trị, phát triển kinh tế trong thời gian dài, cố trở thành cường quốc, ...). Cho nên nếu TQ có tiến hành các kế hoặc quân sự thì họ sẽ chẳng cần phải chuẩn bị dư luận trong nước. Trong các nước xung quanh thì chỉ có mỗi VN là TQ cảm thấy dễ nuốt nhất, anh Nga thì cho kẹo TQ cũng không dám động vào chú gấu này, anh Ấn thì cũng chả dễ mà xơi thứ cari này cay lắm, anh Nhật thì có anh Mẽo chống lưng và hơn nữa là mặc dù bộ quốc phòng Nhật mới thành lập nhưng tiềm lực của anh này cũng chả thua kém nhiều so với TQ. Theo kết quả điều tra trên mạng thì cư dân TQ 90% cho rằng nên đánh VN. Hay kế hoạch đánh VN trong vòng 30 ngày và gần đây là việc đánh VN để dằn mặt Triều Tiên. Thế nhưng để đánh VN thì sự đồng thuận ở trong nước đâu đã phải là tất cả. Cái mà chính phủ TQ nhìn vào là tiềm lực của VN, liệu TQ đá một phát, Vn có đấm lại một nhát không? Cái thứ hai là phản ứng của quốc tế, liệu khi đánh VN chiếm nốt mấy cái đảo ở Trường Sa có là cái cớ để các thế lực đang muốn đè TQ can thiệp hay không?

Với ước mộng cường quốc của mình, TQ bị bao vây tứ phía và cách dễ nhất là phá vây xuống phía Nam và thằng cản chân lại là chú Việt Nam. Nếu là vào năm 1988 thì để đánh chiếm các đảo của VN sẽ chẳng bị tổn thất gì nhưng vào thời điểm này thì đâu có đơn giản. Với các thứ vũ khí mà gân đây Vn đã trang bị như 6 tàu ngầm Kilo ($1.8 tỷ đô la), 8 máy bay Su-30MK2 ($400 triệu đô la) và đặc biệt là VN không mua kèm theo các thứ vũ khí đi kèm theo. Liệu có phải là các thứ vũ khí được trang bị cho máy bay và tàu ngầm VN mua của nước khác ( Mẽo, Ấn, ...) chứ có ai dở hơi lại mua mèo về bắt chuột mà chọn con mèo gẫy hết vuốt, rụng hết răng. Cùng với vị thế địa lý thuận tiện VN bây giờ mặc dù có thể bị mất các đảo khi bị tiến đánh nhưng TQ cũng không thể yên ổn mà giữ đảo. Với tinh thần bài Hoa và lo ngại một nước phát xít TQ chắc chắn các nước trên thế giới sẽ can thiệp. Nhẹ thì tiếp tế vũ khí, tin tức tình báo mà nặng hơn nữa cấm vận TQ, chặn đường tiếp liệu thì với một đất nước nhập nguyên liệu thô như TQ chỉ có đường mà đói. Hoặc trong trường hợp gây hấn với các nước khác trong DNA thì việc các cường quốc khác can thiệp bằng quân sự là điều có thể sẩy ra. Cho nên việc sử dụng vũ lục để tiến chiếm Trường Sa là điều khó có thể sẩy ra trong vòng 10 năm tới.

Thế nhưng nếu với VN không thể đánh được thì TQ lại sử dụng cái kiểu " tằm ăn rỗi " thì mới là khó chống lại. Trung Quốc thời gian vừa qua đã sử dụng cách này một cách có hiệu quả, đầu tiên là tập trận cấm tàu bè qua lại, đe dọa các công ty quốc tế vào thăm dò dầu khí trong vùng biển của VN, cấm đánh cá trong vùng biển " lưỡi bò", đâm thuyền bỏ chạy, bắt thuyền đòi chuộc tiền,... Nếu trong tương lai phía TQ khác thác dầu trong vùng lưỡi bò và cụ thể là vùng Tư Chính - Vũng mây, cấm đánh cá trong vòng 6 tháng, gây hấn với tàu hải quân VN như đã làm với tàu của Mỹ,... Khi đó chắc chắn VN sẽ chỉ có hai lựa chọn hoặc chống lại TQ hoặc thỏa hiệp với TQ ( như kiểu Hiệp định khai thác nghề cá Vịnh Bắc Bộ ).

Bài viết của tác giả Lê Tuấn Huy là một bài phân tích khá hay và đầy đủ về tình hình Biển Đông. Trong thời gian gần tới đây cái thế đi trên giây của VN sẽ chẳng có tác dụng mấy nếu phía TQ leo thang trong việc đòi hỏi quyền lợi ở Biển Đông. VN sẽ phải chọn lựa giữa hai phương pháp chống lại TQ và thỏa hiệp với TQ.
Nếu là các bạn! Các bạn sẽ chọn phương pháp nào? Chúng ta hãy thể hiện tinh thần rõ ràng và gây áp lực để chính phủ có các quyết sách hợp lòng dân, đừng để cho mọi việc đã rồi, lại ân hận. Chả biết có khi nào dất nước Việt Nam lại được nhà cầm quyền tổ chức một hội nghị Diên Hồng như nhà Trần đã làm không? Một chế độ phong kiến mà còn quan tâm đến ý kiến người dân thì một chính phủ vì dân vì nước tại sao nguyện vọng của người dân lại là một giấc mơ???

VietNamAndFuture
31-08-2009, 09:22 AM
Nếu là các bạn! Các bạn sẽ chọn phương pháp nào? Chúng ta hãy thể hiện tinh thần rõ ràng và gây áp lực để chính phủ có các quyết sách hợp lòng dân, đừng để cho mọi việc đã rồi, lại ân hận. Chả biết có khi nào dất nước Việt Nam lại được nhà cầm quyền tổ chức một hội nghị Diên Hồng như nhà Trần đã làm không? Một chế độ phong kiến mà còn quan tâm đến ý kiến người dân thì một chính phủ vì dân vì nước tại sao nguyện vọng của người dân lại là một giấc mơ???

Theo ý mình thì : Chúng ta lựa chọn cái gì thì cũng đâu có ai cần biết. Bạn phải hỏi là liệu các bác lãnh đạo chọn cái gì. Chọn theo TQ thì mất nước.Theo Mỹ thì mất Đảng và ở VN Đảng và Ghế Ngồi là 2 điều quan trọng nhất....

Chúng ta gây áp lực??. Bạn lên cẩn thận không lại bị.... điều 88

Đảng còn bác Hồ thì còn là Đảng của dân....Tiếc rằng Bác không thể bất tử

anteo
01-09-2009, 12:17 AM
Tôi không tán thành quan điểm của tác giả.
1. Tác giả viết rằng Grudia nếu không có quan hệ đồng minh với Mỹ và phương Tây đã bị Nga đánh chiếm toàn bộ chứ không phải chỉ giới hạn trong một tháng.
Cần nhắc lại cuộc chiến Iraq năm 1995. Tại sao Mỹ không đánh thẳng vào Batda khi đó mà phải đợi gần chục năm sau? Đó là vì khi đó Mỹ phát động cuộc chiến với lý do Iraq xâm lược Kuwait nên sau khi Iraq bị đánh bại, phải rút khỏi Kuwait thì Mỹ cũng không tấn công tiếp mà thực hiện các biện pháp bao vây, cấm vận. Phải đến khi Mỹ chứng minh trước Hội đồng Bảo an là Iraq đã vi phạm lệnh cấm của LHQ, tự ý sản xuất vũ khí hạt nhân thì họ mới có cớ để xếp chính quyền Iraq khi đó vào diện bất hợp pháp và phát động tấn công lật đổ chính quyền này. (Sau này, khi không tìm thấy vũ khí hạt nhân ở Iraq và khi cuốn băng vốn được đại sứ Mỹ tại LHQ trình hội đồng bảo an như bằng chứng cho việc Iraq có vũ khí hạt nhân bị phát hiện là giả mạo thì Saddam đã bị treo cổ, sự đã rồi!). Tại sao Mỹ phải tìm cách chứng minh chính quyền Iraq không tuân thủ luật pháp quốc tế, ủng hộ khủng bố... thì mới tấn công? Đó là vì điều mà chúng ta vẫn gọi là Danh chính ngôn thuận. Chính phủ Mỹ cần sự ủng hộ, hay ít nhất là không phản đối của dư luận quốc tế và, quan trọng hơn, dư luận trong nước. Cũng tương tự như vậy là trường hợp của chính phủ Taliban ở Apganistan. Chỉ sau vụ 11/9/2001, chính phủ Mỹ mới có cái cớ để xếp Taliban vào diện khủng bố, đe dọa an ninh nước Mỹ và do đó mới có lý do tấn công Taliban. Vì vậy mà có người cho rằng vụ 11/9 là do chính CIA thực hiện nhằm tạo cớ tấn công Taliban. (Tuy nhiên, tôi không tin vào giả thiết này vì dù sao CIA cũng là người Mỹ. Người Mỹ giết người Mỹ, phá hoại nước Mỹ thì thật khó tin).
Trở lại trường hợp của Grudia. Nga cũng chỉ tấn công Grudia sau khi quân đội Tbilisi tấn công Nam Osetia và Apkhadia, giết hại người sắc tộc Nga ở hai khu vực này (ít nhất là theo tuyên truyền của phía Nga). Do đó, Nga cũng chỉ tiến công quân Grudia ở hai khu vực này nhằm "ngăn chặn thảm sát dân thường". Cũng vì thế, với lý do Tbilisi phân biệt sắc tộc, Nga tuyên bố ủng hộ hai nước cộng hòa ly khai này (họ vừa kỷ niệm 1 năm ngày "độc lập"). Trên thực tế là sau cuộc chiến, Tbilisi thiệt đủ đường, mất trắng hai khu vực này và uy tín của tổng thống Saakatsvili sụt giảm nghiêm trọng.
Như vậy là rõ ràng, làm đồng minh với các nước phương Tây cũng chưa đủ để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
2. Tác giả viết rằng Việt Nam cần kết liên minh (allied, ở đây phải hiểu rõ là liên minh quân sự) và phân tích rằng liên minh với Mỹ là khả dụng nhất và quyết định nhất.
Vấn đề là Mỹ có chịu làm đồng minh với Việt Nam hay không? Chính tác giả cũng viết rằng Mỹ sẽ chỉ quan tâm đến lợi ích của họ mà không phải là lợi ích của Việt Nam. Điều đó là hoàn toàn chính xác! Vậy, lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á là gì? Rõ ràng một mục tiêu lớn của Mỹ ở Đông Nam Á là ngăn chặn Trung Quốc lớn mạnh, lấn át ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực. Vì lẽ đó, Mỹ đã xây dựng một hệ thống chặt chẽ bao vây Trung Quốc từ Australia, New Zealand, Singapore, Thái Lan đến Philippin, rồi Nhật Bản và Hàn Quốc. Và như chính tác giả đã viết, vị trí địa - chính trị của Việt Nam ngày nay không hẳn là quá quan trọng như mọi người vẫn nghĩ (điều này thì tôi đồng ý). Chính vì vậy mà lợi ích của việc liên minh với Việt Nam đối với Mỹ là không lớn. Thêm nữa, lợi ích của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc là hơn hẳn lợi ích trong quan hệ với Việt Nam. Mỹ không dại gì đẩy Trung Quốc vào đường cùng. Việc Mỹ liên minh với các quốc gia nói trên có lý do từ thời chiến tranh lạnh, đã là sản phẩm của quá khứ nên ngày nay Trung Quốc cũng không thể phản đối. Nay Việt Nam không có lý do gì để bỗng nhiên công khai kết liên minh với Mỹ, điều đó chỉ gây ra sự phản đối của Trung Quốc và không có lợi. Thêm nữa, kết liên minh với Mỹ là đi ngược lai chủ trương không liên kết của nước ta, cũng không phải là cách làm khôn ngoan khi gây ra sự khó chịu cho các nước bạn không liên kết (mà đứng đầu tổ chức Không liên kết là Ấn Độ).

hoanghungcz
01-09-2009, 12:51 AM
Cám ơn các phân tích rất hay của bác! Thế nhưng trong trường hợp của Grudia tác giả đã nhấn mạnh:
" Với liên minh phòng vệ, quan hệ đồng minh là để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho các quốc gia của liên minh, chứ không phải là tăng nguy cơ cho nhiều nước và giảm cơ hội hòa hoãn. Nhưng dù sao, cùng với việc xử trí khéo léo về sách lược và chiến thuật, liên hệ đồng minh là điều kiện chiến lược không thể thiếu, vì đó không những là thế lực răn đe từ xa và hỗ trợ về quốc phòng, mà còn là lực lượng ngoại giao, chính trị và kinh tế trực tiếp hậu thuẫn cho quốc gia đồng minh, khi vô sự cũng như hữu sự."
Sự thật thì với tiềm lực của con gấu Nga thì việc chiếm toàn bộ anh tý hon Grudia là việc trong tầm tay. Thế nhưng cái mà bác đã dẫn là " Danh chính ngôn thuận " là đúng vì họ sợ quốc tế phản ứng và đặc biệt là các nước đồng minh với Grudia, mà cụ thể ở đây là Mỹ. Cũng sau cuộc chiến này thì sự viện trợ của các nước đồng minh là có thật và rất nhiều. Xét về lâu dài thì hai mảnh đất tuyên bố độc lập của Grudia chưa chắc đã bền lâu. Như vậy thì việc liên minh quân sự không hẳn là không có tác dụng, thế nhưng cái mà Mỹ và Grudia không phải là liên minh quân sự, Grudia đang cố gắng vào NATO mà thôi .

Việc Mỹ muốn kiềm chế TQ là có thật và Mỹ sẽ làm tất cả những gì có thể để hạn chế TQ, cho nên việc Mỹ muốn lợi dụng Việt nam để nhằm mục đích đó cũng là có thật. Ngược lại phía Vn cũng lợi dụng điều này, chỉ có điều VN đang dò dẫm, ném đá dò đường mà thôi. Việc VN mua tàu ngầm và máy bay không kèm vũ khí theo tôi là một ẩn số??? Với việc âm thầm dỡ bỏ lệnh cấm vấn vũ khí của Mỹ liệu có liên quan gì đến vấn đề này không?
Bản thân tôi và cũng như tất cả người VN chúng ta không bao giờ muốn VN lại là một bãi chiến trường cho bất cứ phía nào tham chiến. Thế nhưng để cho TQ e dè khi có ý định xâm chiếm biển đảo của VN thì phải cần những nhà lãnh đạo tài giỏi. Phải nâng cao khả năng răn đe của quân đội Việt Nam và trước hết là cần sự đồng thuận nơi nhân dân. Còn với kiểu nhìn đâu cũng thấy " phản động " và đặc biệt toàn là bọn " phản động " có học được nhà nước đào tạo ( luật sư, nhà báo,...) thì e rằng khó mà chống lại dã tâm của Trung Quốc.
Một lần nữa cám ơn sự phản biện của bác.

anteo
01-09-2009, 10:21 PM
Đúng là Grudia chưa vào được khối NATO, vì vậy chưa nhận được "cái ô bảo hộ" của khối này khi bị tấn công. Nhưng chính vì thế mà cần đặt câu hỏi: vì sao NATO vẫn chưa kết nạp Grudia? Và như vậy thì Mỹ có kết đồng minh với Việt Nam không (trong trường hợp Việt Nam ứng xử như Grudia)? Hay lại chờ sau khi Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa rồi mới lại viện trợ cho Việt Nam như đã viện trợ cho Grudia?
Vì vậy, bản thân tôi hoàn toàn ủng hộ việc xích lại gần Mỹ, nhưng "gào toáng" lên như anh Grudia thì... lợi bất cập hại!

chickenct
12-01-2010, 09:39 AM
Theo lời của Vanga (nhà tiên tri nổi tiếng nhất thế giới), trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.
Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3: Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.
Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu

nếu đúng như bà vanga này tiên đoán thì trước tháng 11 thì TQ nó sẽ đánh ta thôi .khơi mào chiến tranh thế giới