NguoivietTK21
02-02-2011, 06:59 PM
http://binhthuantoday.com/uploads/News/pic/1296570729.nv.gif (http://binhthuantoday.com/uploads/News/pic/1296570729.nv.gif)Du khách tham quan tháp Pô Sha Inư. (ảnh: Đình Hòa)
Du khách tham quan tháp Pô Sha Inư. (ảnh: Đình Hòa) Đôi lần, nhân những đêm trăng, chọn thời khắc bảng lảng hoàng hôn, tôi cùng vài người bạn chí cốt lên Lầu Ông Hoàng uống rượu. Chúng tôi ngồi giữa đỉnh đồi Bà Nài, bên cạnh Tháp Chăm Phố Hài, hướng về phía Đông gần đó là tòa lâu đài đổ nát của Công tước De Montpensier Ferdinand d'Orléans, cháu nội của hoàng đế Pháp Louis Philippe I.
Xa hơn một chút về phía biển là ngọn đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ thiên thu giữa sơn thủy hữu tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông. nhưng không biết chỗ nào từng là nơi tình tự của Mộng Cầm và Hàn Mặc Tử. Từ độ cao trên một trăm mét so với mặt biển, nhìn về hướng Tây Nam là trung tâm thành phố đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được Tháp Nước đứng lặng lẽ gần trăm năm bên bờ sông Cà Ty duyên dáng, mềm mại chảy ngang qua thành phố Phan Thiết.
http://www.baobinhthuan.com.vn//data/news/2011/1/36675/duonglen.gifDu khách tham quan tháp Pô Sha Inư. (ảnh: Đình Hòa)
Tháp Chăm Phố Hài, “chứng nhân” của lịch sử, một biểu tượng kiên cường không chịu khuất phục trước thiên nhiên. Đây là nơi ngụ của thần Shiva, một trong ba ngôi tối linh của Ấn Độ giáo, vừa là thần hủy diệt, vừa là thần sáng tạo; bởi theo quan niệm Ấn Độ giáo, hủy diệt chỉ là hành động tất yếu để đi đến sáng tạo. Phải chăng vì vậy mà khi công chúa Pô Sah Inư gặp duyên tình oan trái vì khác tôn giáo với lãnh chúa Pô Sahaniempar theo đạo Hồi ở vùng đất Hamu Kăm (Ma Lâm ngày nay), thần Shiva giữ đúng nguyên tắc của mình, không can dự vào, mặc cho công chúa chịu đau khổ đến cuối cuộc đời. Và cũng chính từ hủy diệt mà sinh ra sáng tạo, công chúa Pô Sah Inư đã toàn tâm tập trung vào việc lớn của cộng đồng là xây dựng các công trình thủy lợi và dạy dân làm nông nghiệp. Vào thế kỷ 15, nhân dân tôn công chúa là thần, lập đền thờ bên cạnh ngôi tháp của thần Shiva ở Phố Hài; tuy đã thành phế tích năm trăm năm nay, nhưng bà con người Chăm vẫn thường xuyên về đây thành tâm cúng bái, làm lễ cầu an, cầu mưa.
Không biết công tước De Monpensier có bị dẫn dắt bởi thần Shiva không mà ông đã đến đây để dựng nên tòa lâu đài tráng lệ trong khung cảnh còn hiển hiện những dấu tích suy tàn của quá khứ lịch sử. Để từ đó, dân gian truyền khẩu về một huyền thoại mới, sau truyền thuyết về công chúa Pô Sah Inư năm trăm năm, như là hồn cốt để định danh Lầu Ông Hoàng. Mùa đông năm 1910, trên đường đi du ngoạn, ghé qua Phố Hài, công tước De Monpensier làm quen với một người con gái vùng biển có nước da rám nắng mặn mòi quyến rũ, rồi đem lòng yêu thương. Không thể đem người yêu về nước Pháp được, vì ông đã có gia đình riêng, ông bèn cho xây dựng một lâu đài cách Tháp Chăm Phố Hài chừng 800m về hướng Đông, với danh nghĩa là nơi nghỉ mát và săn bắn, nhưng thực ra đây là “vườn địa đàng”, nơi ông và người yêu gặp gỡ nhau mỗi năm, sống với nhau những ngày hạnh phúc. Vài năm sau, người con gái Việt đó sinh hạ một bé gái xinh đẹp có gương mặt Á Đông giống mẹ. Sinh xong thì bị hậu sản mất. Công tước khóc than cho người yêu vắn số, cho mối tình tử biệt. Một hầu cận của ông, người dân tộc Chăm, nói với ông rằng, vì công tước đến vùng đất do thần Shiva ngự trị, xây cất lâu đài mà không xin phép thần; mặt khác, lâu đài lại áng ngay cửa quay về hướng Đông của Tháp, nên Thần đã sử dụng quyền năng quở phạt công tước phải chịu mất đi một phần trái tim của mình, nhưng bù lại, đã trao cho ông một sinh linh mới mẻ. Nghe theo lời người hầu, trước khi đem con gái về Pháp nuôi dưỡng, công tước mang lễ vật đến cầu xin thần Shiva phù hộ cho giọt máu duy nhất của mối tình Pháp - Việt được lớn lên trưởng thành. Sau đó, ông giao quyền quản lý lâu đài cho một người bạn và vì không muốn khơi lại nỗi đau đớn cũ, ông thề vĩnh viễn không trở lại đồi Bà Nài, nơi chôn chặt mối duyên tình hạnh phúc ngắn ngủi của ông. Nghe nói, sau này, người con gái của công tước có tìm về đồi Bà Nài, đứng khóc hồi lâu bên lâu đài đổ nát rồi quay về Pháp. Từ đó, không ai nghe tin tức gì về họ nữa… Có lẽ đây cũng là một huyền thoại đẹp tiếp sau huyền thoại về mối tình đớn đau của công chúa Pô Sha Inư và lãnh chúa Pô Sahaniempar xa xưa.
Ngày nay, cả khu vực xung quanh lâu đài được mọi người gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Chỉ tiếc rằng, ngành quản lý văn hóa và du lịch của địa phương không có những chỉ dẫn cụ thể chính xác nên người người đến đây đều lầm tưởng cụm lô cốt của chế độ cũ để lại, cách Tháp Chăm về hướng Nam khoảng 100m, là lâu đài của công tước De Monpensier. Vì vậy, hình ảnh phế tích lâu đài được đưa lên mạng truyền thông là một lô cốt có tháp canh khá cao xấu xí với nhiều lỗ châu mai và lỗ chỗ vết đạn…
Vừa rồi, tôi có trở lại để chụp hình Lầu Ông Hoàng làm tư liệu, thấy khu phế tích lâu đài không còn như cũ nữa. Người dân địa phương đã chiếm hết khu phế tích này để làm nhà ở. Có hai ngôi nhà được xây ngay giữa nền lâu đài.
Trong kháng chiến chống Pháp, lâu đài bị phá hủy. Sau 1975, mọi người lo cho cái ăn còn chưa xong, nên không ai rỗi hơi đi tìm di tích của một thời. Vậy là thời gian vô tình dần làm hoang phế Lầu Ông Hoàng trong kí ức của cộng đồng. Đến khi con người dư ăn, dư mặc, thì nhu cầu hưởng thụ về văn hóa đòi hỏi phải được đáp ứng ngày càng cao hơn, cấp bách hơn. Nhà nước phải bỏ ra kinh phí lớn để trùng tu các di tích lịch sử - văn hóa, kết hợp với khai thác du lịch. Di tích được trùng tu đầu tiên ở khu vực Lầu Ông Hoàng là Tháp Chăm Phố Hài. Du khách khắp nơi nghe tiếng Lầu Ông Hoàng đến thăm Tháp Chăm và hỏi lâu đài Ông Hoàng ở đâu? Không có câu trả lời chính xác. Đến lúc này, “quy luật của sự tiện lợi” phát huy tác dụng. Trong vòng một cây số quanh Tháp Chăm còn nhiều nền móng của các công trình kiến trúc tương đối lớn được xây dựng từ những thập niên đầu thế kỉ XX. Để “tiện lợi”, khỏi mất công đi tìm kiếm, xác thực đâu là công trình lâu đài của Ông Hoàng, người ta bèn chọn ngay cụm lô cốt có tháp canh và hệ thống hầm ngầm liên hoàn kiên cố (giống như những hồ nước ngầm dưới nền lâu đài) sát cạnh Tháp Chăm, để giới thiệu đây là phế tích lâu đài Ông Hoàng.
Những ngọn đồi đẹp chung quanh chỗ nhóm lãng tử chúng tôi ngồi uống rượu dưới trăng này, giống như một trang sách mở của thiên nhiên đang vận động theo dòng thời gian, đã ghi chép những gì mà con người qua bao thời đại đã để lại bằng dấu vết vật chất hay những câu chuyện đã trở thành huyền thoại trong trí nhớ của cộng đồng. Tất cả đã cùng hiển hiện chung quanh đồi Bà Nài, dưới sự thực thi quyền năng hủy diệt của thần Shiva ngụ trong ngôi tháp hơn một ngàn năm tuổi kia. Đó là đền thờ công chúa Chăm Pô Sha Inư không còn dấu tích trên mặt đất; là lâu đài của Ông Hoàng người Pháp đã bị hủy hoại; là những lô cốt còn sót lại của một thời chiến tranh giết chóc cùng những âm hồn binh lính chưa tan của cả hai bên chiến tuyến; là linh hồn của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông, triều thần nhà Nguyễn, đang còn phiêu lãng quanh ngôi mộ của mình dưới chân núi Cố; là nghĩa trang rộng lớn, nơi yên nghỉ của trăm ngàn người thuộc mọi giai tầng, tôn giáo, lứa tuổi, ngành nghề… trong xã hội. Đặc biệt, là sự lưu truyền vĩnh hằng của những huyền thoại đẹp về những mối tình tan vỡ…
Những ai đã từng đến đây, nếu có chung mối đồng cảm, sự quan hoài về lẽ nhân sinh, sẽ dễ dàng nhận ra được sự tập trung nhiều chứng tích chồng lớp lên nhau với mật độ cao, như muốn hiển lộ chứng minh cho sự biến dịch vô thường của trời đất, của kiếp người, nhằm làm sáng tỏ chân lý tối hậu của cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của cái sinh ra và mất đi, những cuộc hạnh ngộ rồi chia li, những sung sướng rồi khổ đau, những hạnh phúc rồi tuyệt vọng… Và dù rằng, khi còn sống, con người có tranh đoạt, chém giết lẫn nhau vì những động cơ, vì lí do bất kì nào chăng nữa, thì cuối cùng cũng phải trở về bên nhau, nằm bên nhau, “sống” hòa với cát bụi thời gian để cùng xanh một màu cỏ với mùa xuân. Tiếp nhận được điều đó sẽ giúp chúng ta thấy yêu hơn cuộc sống này, biết sống và sống tốt đẹp hơn… Tôi chợt nghĩ, Lầu Ông Hoàng có lẽ là nơi hội đủ các điều kiện cần có để hình thành một đất nước hòa bình của thế giới bên kia.
Có đêm nơi đây, chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, trước mặt là biển, phía sau lưng là cả một “thành phố bóng tối” - nghĩa trang Phan Thiết, nơi chứng thực sức mạnh hủy diệt cuộc sống cũ để làm cho cuộc sống mới tiếp tục sinh sôi phát triển, như hệ quả vận hành nguyên lý quyền năng của thần Shiva. Ngắm những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết – Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên những màu sắc của cõi bình yên lặng lẽ; tôi chợt lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử, tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng… Bỗng nghe bạn tôi hát vang lên giữa mênh mông đất trời như để tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh: “Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân… Lầu Ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng...”. Đó chính là lời bài hát lừng danh “Hàn Mặc Tử” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Chỉ tiếc là ngành văn hóa đã quên chọn bài hát này khi phát hành tuyển tập những ca khúc hay về Bình Thuận. Hát ca khúc này, đôi lúc quên tựa, nhiều người bèn gọi đó là bài “Đường lên dốc đá”.
Ngô Đình Miên
(Theo Bình Thuận)
Du khách tham quan tháp Pô Sha Inư. (ảnh: Đình Hòa) Đôi lần, nhân những đêm trăng, chọn thời khắc bảng lảng hoàng hôn, tôi cùng vài người bạn chí cốt lên Lầu Ông Hoàng uống rượu. Chúng tôi ngồi giữa đỉnh đồi Bà Nài, bên cạnh Tháp Chăm Phố Hài, hướng về phía Đông gần đó là tòa lâu đài đổ nát của Công tước De Montpensier Ferdinand d'Orléans, cháu nội của hoàng đế Pháp Louis Philippe I.
Xa hơn một chút về phía biển là ngọn đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ thiên thu giữa sơn thủy hữu tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông. nhưng không biết chỗ nào từng là nơi tình tự của Mộng Cầm và Hàn Mặc Tử. Từ độ cao trên một trăm mét so với mặt biển, nhìn về hướng Tây Nam là trung tâm thành phố đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được Tháp Nước đứng lặng lẽ gần trăm năm bên bờ sông Cà Ty duyên dáng, mềm mại chảy ngang qua thành phố Phan Thiết.
http://www.baobinhthuan.com.vn//data/news/2011/1/36675/duonglen.gifDu khách tham quan tháp Pô Sha Inư. (ảnh: Đình Hòa)
Tháp Chăm Phố Hài, “chứng nhân” của lịch sử, một biểu tượng kiên cường không chịu khuất phục trước thiên nhiên. Đây là nơi ngụ của thần Shiva, một trong ba ngôi tối linh của Ấn Độ giáo, vừa là thần hủy diệt, vừa là thần sáng tạo; bởi theo quan niệm Ấn Độ giáo, hủy diệt chỉ là hành động tất yếu để đi đến sáng tạo. Phải chăng vì vậy mà khi công chúa Pô Sah Inư gặp duyên tình oan trái vì khác tôn giáo với lãnh chúa Pô Sahaniempar theo đạo Hồi ở vùng đất Hamu Kăm (Ma Lâm ngày nay), thần Shiva giữ đúng nguyên tắc của mình, không can dự vào, mặc cho công chúa chịu đau khổ đến cuối cuộc đời. Và cũng chính từ hủy diệt mà sinh ra sáng tạo, công chúa Pô Sah Inư đã toàn tâm tập trung vào việc lớn của cộng đồng là xây dựng các công trình thủy lợi và dạy dân làm nông nghiệp. Vào thế kỷ 15, nhân dân tôn công chúa là thần, lập đền thờ bên cạnh ngôi tháp của thần Shiva ở Phố Hài; tuy đã thành phế tích năm trăm năm nay, nhưng bà con người Chăm vẫn thường xuyên về đây thành tâm cúng bái, làm lễ cầu an, cầu mưa.
Không biết công tước De Monpensier có bị dẫn dắt bởi thần Shiva không mà ông đã đến đây để dựng nên tòa lâu đài tráng lệ trong khung cảnh còn hiển hiện những dấu tích suy tàn của quá khứ lịch sử. Để từ đó, dân gian truyền khẩu về một huyền thoại mới, sau truyền thuyết về công chúa Pô Sah Inư năm trăm năm, như là hồn cốt để định danh Lầu Ông Hoàng. Mùa đông năm 1910, trên đường đi du ngoạn, ghé qua Phố Hài, công tước De Monpensier làm quen với một người con gái vùng biển có nước da rám nắng mặn mòi quyến rũ, rồi đem lòng yêu thương. Không thể đem người yêu về nước Pháp được, vì ông đã có gia đình riêng, ông bèn cho xây dựng một lâu đài cách Tháp Chăm Phố Hài chừng 800m về hướng Đông, với danh nghĩa là nơi nghỉ mát và săn bắn, nhưng thực ra đây là “vườn địa đàng”, nơi ông và người yêu gặp gỡ nhau mỗi năm, sống với nhau những ngày hạnh phúc. Vài năm sau, người con gái Việt đó sinh hạ một bé gái xinh đẹp có gương mặt Á Đông giống mẹ. Sinh xong thì bị hậu sản mất. Công tước khóc than cho người yêu vắn số, cho mối tình tử biệt. Một hầu cận của ông, người dân tộc Chăm, nói với ông rằng, vì công tước đến vùng đất do thần Shiva ngự trị, xây cất lâu đài mà không xin phép thần; mặt khác, lâu đài lại áng ngay cửa quay về hướng Đông của Tháp, nên Thần đã sử dụng quyền năng quở phạt công tước phải chịu mất đi một phần trái tim của mình, nhưng bù lại, đã trao cho ông một sinh linh mới mẻ. Nghe theo lời người hầu, trước khi đem con gái về Pháp nuôi dưỡng, công tước mang lễ vật đến cầu xin thần Shiva phù hộ cho giọt máu duy nhất của mối tình Pháp - Việt được lớn lên trưởng thành. Sau đó, ông giao quyền quản lý lâu đài cho một người bạn và vì không muốn khơi lại nỗi đau đớn cũ, ông thề vĩnh viễn không trở lại đồi Bà Nài, nơi chôn chặt mối duyên tình hạnh phúc ngắn ngủi của ông. Nghe nói, sau này, người con gái của công tước có tìm về đồi Bà Nài, đứng khóc hồi lâu bên lâu đài đổ nát rồi quay về Pháp. Từ đó, không ai nghe tin tức gì về họ nữa… Có lẽ đây cũng là một huyền thoại đẹp tiếp sau huyền thoại về mối tình đớn đau của công chúa Pô Sha Inư và lãnh chúa Pô Sahaniempar xa xưa.
Ngày nay, cả khu vực xung quanh lâu đài được mọi người gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Chỉ tiếc rằng, ngành quản lý văn hóa và du lịch của địa phương không có những chỉ dẫn cụ thể chính xác nên người người đến đây đều lầm tưởng cụm lô cốt của chế độ cũ để lại, cách Tháp Chăm về hướng Nam khoảng 100m, là lâu đài của công tước De Monpensier. Vì vậy, hình ảnh phế tích lâu đài được đưa lên mạng truyền thông là một lô cốt có tháp canh khá cao xấu xí với nhiều lỗ châu mai và lỗ chỗ vết đạn…
Vừa rồi, tôi có trở lại để chụp hình Lầu Ông Hoàng làm tư liệu, thấy khu phế tích lâu đài không còn như cũ nữa. Người dân địa phương đã chiếm hết khu phế tích này để làm nhà ở. Có hai ngôi nhà được xây ngay giữa nền lâu đài.
Trong kháng chiến chống Pháp, lâu đài bị phá hủy. Sau 1975, mọi người lo cho cái ăn còn chưa xong, nên không ai rỗi hơi đi tìm di tích của một thời. Vậy là thời gian vô tình dần làm hoang phế Lầu Ông Hoàng trong kí ức của cộng đồng. Đến khi con người dư ăn, dư mặc, thì nhu cầu hưởng thụ về văn hóa đòi hỏi phải được đáp ứng ngày càng cao hơn, cấp bách hơn. Nhà nước phải bỏ ra kinh phí lớn để trùng tu các di tích lịch sử - văn hóa, kết hợp với khai thác du lịch. Di tích được trùng tu đầu tiên ở khu vực Lầu Ông Hoàng là Tháp Chăm Phố Hài. Du khách khắp nơi nghe tiếng Lầu Ông Hoàng đến thăm Tháp Chăm và hỏi lâu đài Ông Hoàng ở đâu? Không có câu trả lời chính xác. Đến lúc này, “quy luật của sự tiện lợi” phát huy tác dụng. Trong vòng một cây số quanh Tháp Chăm còn nhiều nền móng của các công trình kiến trúc tương đối lớn được xây dựng từ những thập niên đầu thế kỉ XX. Để “tiện lợi”, khỏi mất công đi tìm kiếm, xác thực đâu là công trình lâu đài của Ông Hoàng, người ta bèn chọn ngay cụm lô cốt có tháp canh và hệ thống hầm ngầm liên hoàn kiên cố (giống như những hồ nước ngầm dưới nền lâu đài) sát cạnh Tháp Chăm, để giới thiệu đây là phế tích lâu đài Ông Hoàng.
Những ngọn đồi đẹp chung quanh chỗ nhóm lãng tử chúng tôi ngồi uống rượu dưới trăng này, giống như một trang sách mở của thiên nhiên đang vận động theo dòng thời gian, đã ghi chép những gì mà con người qua bao thời đại đã để lại bằng dấu vết vật chất hay những câu chuyện đã trở thành huyền thoại trong trí nhớ của cộng đồng. Tất cả đã cùng hiển hiện chung quanh đồi Bà Nài, dưới sự thực thi quyền năng hủy diệt của thần Shiva ngụ trong ngôi tháp hơn một ngàn năm tuổi kia. Đó là đền thờ công chúa Chăm Pô Sha Inư không còn dấu tích trên mặt đất; là lâu đài của Ông Hoàng người Pháp đã bị hủy hoại; là những lô cốt còn sót lại của một thời chiến tranh giết chóc cùng những âm hồn binh lính chưa tan của cả hai bên chiến tuyến; là linh hồn của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông, triều thần nhà Nguyễn, đang còn phiêu lãng quanh ngôi mộ của mình dưới chân núi Cố; là nghĩa trang rộng lớn, nơi yên nghỉ của trăm ngàn người thuộc mọi giai tầng, tôn giáo, lứa tuổi, ngành nghề… trong xã hội. Đặc biệt, là sự lưu truyền vĩnh hằng của những huyền thoại đẹp về những mối tình tan vỡ…
Những ai đã từng đến đây, nếu có chung mối đồng cảm, sự quan hoài về lẽ nhân sinh, sẽ dễ dàng nhận ra được sự tập trung nhiều chứng tích chồng lớp lên nhau với mật độ cao, như muốn hiển lộ chứng minh cho sự biến dịch vô thường của trời đất, của kiếp người, nhằm làm sáng tỏ chân lý tối hậu của cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của cái sinh ra và mất đi, những cuộc hạnh ngộ rồi chia li, những sung sướng rồi khổ đau, những hạnh phúc rồi tuyệt vọng… Và dù rằng, khi còn sống, con người có tranh đoạt, chém giết lẫn nhau vì những động cơ, vì lí do bất kì nào chăng nữa, thì cuối cùng cũng phải trở về bên nhau, nằm bên nhau, “sống” hòa với cát bụi thời gian để cùng xanh một màu cỏ với mùa xuân. Tiếp nhận được điều đó sẽ giúp chúng ta thấy yêu hơn cuộc sống này, biết sống và sống tốt đẹp hơn… Tôi chợt nghĩ, Lầu Ông Hoàng có lẽ là nơi hội đủ các điều kiện cần có để hình thành một đất nước hòa bình của thế giới bên kia.
Có đêm nơi đây, chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, trước mặt là biển, phía sau lưng là cả một “thành phố bóng tối” - nghĩa trang Phan Thiết, nơi chứng thực sức mạnh hủy diệt cuộc sống cũ để làm cho cuộc sống mới tiếp tục sinh sôi phát triển, như hệ quả vận hành nguyên lý quyền năng của thần Shiva. Ngắm những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết – Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên những màu sắc của cõi bình yên lặng lẽ; tôi chợt lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử, tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng… Bỗng nghe bạn tôi hát vang lên giữa mênh mông đất trời như để tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh: “Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân… Lầu Ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng...”. Đó chính là lời bài hát lừng danh “Hàn Mặc Tử” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Chỉ tiếc là ngành văn hóa đã quên chọn bài hát này khi phát hành tuyển tập những ca khúc hay về Bình Thuận. Hát ca khúc này, đôi lúc quên tựa, nhiều người bèn gọi đó là bài “Đường lên dốc đá”.
Ngô Đình Miên
(Theo Bình Thuận)