PDA

View Full Version : Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tranh chấp tại Biển Đông



tranbong
15-01-2009, 02:55 PM
(Xem hình ảnh tại File đính kèm)

Khủng hoảng kinh tế - tài chính bắt nguồn tại Mỹ đang ảnh hưởng sâu rộng lên toàn bộ nền kinh tế toàn cầu. Mỹ, Nhật và EU và một số nước phát triển đã chính thức loan báo về tình trạng suy thoái kinh tế. Dự báo của WB về tăng trưởng kinh tế thế giới từ 4% năm 2007 xuống còn 2,5% năm 2008 và có khả năng về 0-1% năm 2009. Nhiều nhận định cho rằng đáy của khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn ở phía trước. Các phản ứng dây chuyền đang chờ đợi. Cho dù khả năng nào đi nữa, khủng hoảng chữ V, chữ U hay chữ L thì cuộc khủng hoảng 2008 của kinh tế Mỹ, và kéo theo nó là cả kinh tế thế giới, cũng sẽ ảnh hưởng đến tương quan lực lượng, cục diện khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là quan hệ quốc tế tại Đông Nam Á và diễn biến xung quanh các tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Hiện có thể rút ra một số nhận định như sau:

1- Giá dầu và tăng trưởng kinh tế thế giới quan hệ chặt chẽ với nhau, tuy đối với từng nước, nhóm nước, mức độ liên quan có thể khác nhau (hình 1). Kinh tế Mỹ suy thoái, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, kéo theo nhu cầu về năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt suy giảm. Tuy cung vẫn duy trì-thậm chí giảm do OPEC cắt giảm sản lượng, hiệu quả khai thác không thay đổi, nhưng cầu giảm dẫn đến giá dầu trên thị trường tuột dốc. Giá dầu thô ngọt nhẹ giao dịch tại New York đã giảm từ đỉnh 147 USD/ thùng giữa tháng 8 năm 2008 xuống dưới 40 USD/thùng hiện nay (hình 2).
Thời kỳ giá dầu tăng kỷ lục vừa qua ngoài nguyên nhân do tương quan cung-cầu còn do các yếu tố như giá USD giảm; tâm lý coi dầu là một loại dự trữ trong thời kỳ lạm phát; hoạt động của giới đầu cơ, trong đó chủ yếu sử dụng các công cụ tài chính như buôn bán khống, ký hợp đồng tương lai (future contract), vay ngân hàng. Khủng hoảng tài chính toàn cầu không những làm thay đổi tương quan cung cầu mặt hàng quan trọng này mà trong thời gian tới còn làm giảm mạnh vai trò của các yếu tố (như trên) có thể đẩy giá dầu lên cao trở lại[1] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn1). Trong khi đó khả năng cắt giảm mạnh sản lượng của các nước thuộc tổ chức OPEC không cao, do bên cạnh yêu cầu phải cùng chia sẻ khó khăn với thế giới trong thời kỳ khủng hoảng, các nước này cũng đang phải đối mặt với thâm hụt ngân sách và “ăn dần” vào các quỹ tích trữ từ trước đến nay khi giá dầu cao. Theo Deutsche Bank, OPEC cần phải cắt giảm khoảng 2,5 triệu thùng dầu/ngày để tạo ra sự cân bằng nhưng các thành viên của tổ chức này cũng khó làm điều này do doanh thu quốc gia của họ đang giảm mạnh theo giá dầu[2] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn2), đồng thời ngân sách của các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ này đa số được xây dựng dựa trên giả định giá dầu thô thế giới trên dưới 100 USD/thùng. Cắt giảm sản lượng có thể phần nào đẩy giá lên nhưng tổng tiền thu được chưa hẳn đã nhiều hơn, kinh nghiệm năm 1998 và 2001 đã chỉ ra cho các nước này. Nhiều dự báo giá dầu khó có khả năng tăng lên như cũ trong thời gian ngắn và trung hạn tới, dao động mức 50-65 USD/ thùng đến hết 2009[3] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn3). Deutsche Bank thậm chí dự báo giá dầu có thể chỉ dao động khoảng 30-40 USD/thùng với 2 cơ sở là nhu cầu tiêu thụ dầu tụt giảm và OPEC cũng gặp vướng mắc trong việc cắt giảm sản lượng.
Trong dài hạn, giá dầu cơ bản phụ thuộc vào các yếu tố như: mức cầu về dầu trên thế giới (nhân tố cơ bản); chi phí khai thác dầu của các nước ngoài OPEC; mức độ đầu tư mới và chính sách về quota của OPEC; quota về mức thải CO2 của các nước; giá thành và độ sẵn sàng của các năng lượng thay thế khác. Kể cả giai đoạn “đỉnh” (peak) của công suất sản xuất dầu thế giới đến trong khoảng từ 2012-2015 - sau đó mức cầu sẽ tăng, cung giảm - nhiều tổ chức (Cơ quan năng lượng quốc tế Mỹ EIA, U.S. Geological Survey, CIA, BP) chủ yếu dự đoán trong dài hạn đến năm 2030, giá dầu thô thế giới dao động mức 40-70USD/thùng tính theo tỷ giá năm 2006.

2- Giá dầu (và khí đốt) giảm, đồng thời khủng hoảng tài chính, tiền tệ khiến nguồn tín dụng toàn cầu khó tiếp cận, cùng với xu hướng “co lại”, phòng ngừa trong đầu tư quốc tế, các công ty dầu khí trên thế giới đã bắt đầu xem xét lại các kế hoạch đầu tư dự án mới và giảm quy mô các dự án hiện tại[4] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn4). Các công ty dầu khí nhỏ của Trung Đông, Châu Phi đang đối mặt với khó khăn về tài chính, sẽ buộc phải sáp nhập hoặc bị các tập đoàn dầu khí lớn mua lại[5] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn5). Trong khí đó, chi phí thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng cao, đặc biệt do khai thác từ dễ đến khó nên các dự án mới đều cần công nghệ cao và chi phí lớn. Đơn cử như dự án 5 tỷ USD mới triển khai tại Alberta của Canada có khả năng bị đình hoãn do chỉ hòa vốn trong điều kiện giá dầu thô thế giới là 65 USD/ thùng[6] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn6). Trong bối cảnh đó, việc thăm dò và khai thác dầu khí trên biển - đòi hỏi chi phí lớn hơn trên đất liền, đặc biệt tại các vùng nước sâu- nhiều khả năng sẽ ít được triển khai. Các tập đoàn dầu khí lớn - dưới góc độ kinh tế- sẽ ưu tiên các dự án đang thực hiện, hạn chế dự án mới, việc mua lại các công ty nhỏ đang khó khăn (sở hữu các dự án đang dang dở) sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn.

3- Đối với Trung Quốc, nền kinh tế tăng trưởng hai con số liên tục kéo theo nhu cầu năng lượng nhảy vọt (hình 3), (Trung Quốc chiếm 52% trong tổng mức tăng trưởng tiêu thụ năng lượng của thế giới năm 2007 – theo BP), biến quốc gia này thành nước nhập siêu về dầu khí kể từ năm 1992 (h4).
Vấn đề năng lượng luôn là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Trung Quốc, thông qua các tập đoàn dầu khí quốc gia như CNPC, CNOOC, Sinopec, từng bước thâm nhập, đầu tư thăm dò, khai thác, chế xuất, mua lại cổ phần tại các nước giàu tài nguyên dầu khí của Châu Phi (Angola, Sudan, Nigeria, Equatorial Guinea, Kenya), các nước Trung Đông (Iran, Iraq, Sirya), Nam Mỹ (Ecuado, Venezuela), Canada, Indonesia; hợp tác xây dựng đường ống dẫn từ Mianma, Nga, các nước Trung Á (Kazakhxtan); tăng cường thăm dò và khai thác tại Biển Hoa Đông (cả hợp tác với Nhật, Đài Loan); liên tục ép các nước trong tranh chấp Biển Đông “gác tranh chấp, cùng khai thác” dầu khí tại đây, tất cả nhằm đa dạng hóa nguồn cung và đảm bảo an ninh năng lượng.
Bên cạnh các thách thức, khủng hoảng kinh tế toàn cầu và giá dầu mỏ, khí đốt giảm mạnh mang lại nhiều cơ hội cho Trung quốc. Trung Quốc được giảm nhẹ sức ép về năng lượng. Thứ nhất, thị trường xuất khẩu và nguồn đầu tư, tín dụng từ bên ngoài của Trung quốc co hẹp dẫn đến kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, nhu cầu về năng lượng giảm theo[7] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn7). Thứ hai, đây là cơ hội cho Trung quốc đa dạng hóa nguồn cung do các nước xuất khẩu dầu mỏ càng cần đa phương hóa xuất khẩu do cầu tại các nước phát triển OECD giảm. Thứ ba, Trung quốc là quốc gia nhập siêu dầu nên sẽ được lợi lớn khi giá dầu giảm mạnh (riêng việc giá dầu giảm từ 147 USD xuống còn 50 USD/ thùng đã giúp quốc gia này tiết kiệm gần 370 triệu USD/ngày). Thứ tư, như phân tích tại điểm 2, đây là cơ hội cho Trung Quốc mua lại các công ty dầu khí đang khó khăn trên thế giới (Châu Phi, Trung Đông) với giá hời. Ngoài ra, Trung Quốc còn tranh thủ được cơ hội này để tích trữ dầu chiến lược[8] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn8).
Trong khi ngành dầu khí quốc tế đang co cụm thì các tập đoàn dầu khí của Trung Quốc mạnh về tài chính sau một thời gian tích lũy khi giá dầu cao, lại có hậu thuẫn chắc về chính trị, ngoại giao đang lộ rõ ý định vươn lên nắm bắt các cơ hội mới. Ngày 23 tháng 11 năm 2008, báo chí Trung Quốc và quốc tế đưa tin Tập đoàn dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) [9] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn9) sẽ cùng các đối tác khác đầu tư 200 tỷ Nhân dân tệ (29 tỷ USD) cho phát triển dầu khí ở Biển Đông tại các khu vực nước sâu đến 3000m trong giai đoạn 2009-2020. Trong đó, CNOOC sẽ đầu tư 15 tỷ nhân dân tệ (khoảng 2,4 tỷ USD) để nghiên cứu và chế tạo tàu khoan và các thiết bị khoan dầu cho phép hoạt động tại các khu vực nước sâu đến 3000m trên biển (mức kỹ thuật tối đa hiện nay là 1485m). Theo báo The Standard của Hongkong và Tổ hợp tình báo thị trường Industrial Info Resources thì các đối tác có thể trong dự án này là các đối tác đang cùng làm ăn với CNOOC như Devon Energy, Anadarko Energy và Husky Energy. Tuy tính khả thi của dự án này chưa được kiểm chứng, cổ phiếu của CNOOC tăng mạnh 3,2% ngay sau khi có tin trên, trong bối cảnh chứng khoán Châu Á đi xuống.

4- Đối với Khu vực Đông Á, Đông Nam Á: khác với khủng hoảng tài chính năm 1997-1998, các nước ASEAN không là tâm bão, chịu ảnh hưởng trực tiếp tương đối của khủng hoảng thế chấp, tín dụng, tài chính của Mỹ (Riêng Singapore là một trong những trung tâm tài chính hàng đầu của thế giới nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng tài chính tương đối mạnh và đã chính thức rơi vào suy thoái tháng 11/2008). Đa số các quốc gia thành viên ASEAN đều có độ mở kinh tế cao, trong đó phần lớn là thương mại ngoại khối (extra-ASEAN trade). Trừ Lào và Mianma có thương mại ngoại khối chiếm lần lượt 20% và 41% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, thương mại ngoại khối của các nước còn lại đều chiếm từ 71%-81% (hình 6). Các đối tác chính của ASEAN chủ yếu là các nước, trung tâm kinh tế đang rơi vào suy thoái, khủng hoảng kinh tế hiện nay như Nhật, Mỹ, EU, kim ngạch thương mại với ba trung tâm kinh tế này chiếm gần 35% tổng thương mại của ASEAN, còn nếu chỉ tính thương mại ngoại khối thì thị phần của ba trung tâm kinh tế này là gần 50% (hình 7). Vì thế, ảnh hưởng gián tiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu 2008 đối với các nước ASEAN sẽ lâu dài và rất đáng kể. Xuất khẩu, tín dụng, đầu tư (trực tiếp và gián tiếp) sẽ giảm mạnh trong thời gian tới. Thêm vào đó, để bảo vệ thị trường nội địa, giảm thất nghiệp, hạn chế suy thoái, chính quyền mới của Mỹ nhiều khả năng sẽ tăng cường các biện pháp bảo hộ thương mại, do đó xuất khẩu của các nước ASEAN sang thị trường chính này càng bị ảnh hưởng hơn. Nhiều khả năng (đặc biệt trong trường hợp khủng hoảng kinh tế lan rộng sang khu vực Đông Nam Á) ASEAN sẽ tăng cường hợp tác, kêu gọi giúp đỡ từ Bắc Kinh và hướng đến thị trường nội địa Trung Quốc.

Khủng hoảng kinh tế-tài chính quốc tế hiện nay vừa là "nguy cơ" song đồng thời cũng là "cơ hội" cho Trung Quốc. Từ Khang Ninh - Viện trưởng Học viện Quản lý Kinh tế Đại học Đông Nam (Trung Quốc) nhận định: Trung Quốc giúp các nước khác vượt qua khủng hoảng thì có thể mưu cầu lợi ích cho mình, giành lấy quyền phát ngôn lớn hơn trong một hệ thống quốc tế mới, sẽ trở thành người được lợi lớn nhất qua cuộc khủng hoảng này[10] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn10).

Trung Quốc tuy cũng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng lần này, nhưng với dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới (hơn 2000 tỷ USD tháng 11/2008), thị trường nội địa rộng lớn –gói kích thích 4000 tỷ nhân dân tệ (xấp xỉ 585 tỷ USD) đầu tháng 11 vừa qua của chính phủ Trung Quốc chủ yếu để kích cầu nội địa - quốc gia này vẫn được hy vọng sẽ là động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Theo dự báo của nhiều tổ chức (World Bank, Global Insight, World Overview, EIA), tính đến yếu tố khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, kinh tế Trung Quốc hạ cánh năm 2009 với mức tăng trưởng 7-8% và tăng trưởng trung bình 6-9%/năm trong vòng 10-15 năm tới. Tuy chính sách của các nước ASEAN là “cân bằng ảnh hưởng” của các cường quốc bên ngoài[11] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn11), nhiều khả năng quan hệ quốc tế tại Đông Nam Á sắp tới sẽ có những chuyển biến tương tự như sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998. Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng mềm, trong khi Mỹ bận chống khủng hoảng kinh tế và các ưu tiên khác nên vai trò sẽ suy giảm tương đối[12] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn12).

5- Đối với Các nước lớn khác tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, kinh tế Nhật vừa bước ra khỏi thời kỳ suy thoái kéo dài đã phải đối mặt với những khó khăn mới do các tác động dây chuyền, liên quan của cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 và cũng chính thức suy thoái trong tháng 11/2008. Trong khi Liên bang Nga mới chỉ phần nào khôi phục được vị thế cường quốc nhờ có một thời kỳ tăng trưởng ấn tượng dựa trên giá dầu mỏ và khí đốt tăng cao. Khác với xu thế chung của thế giới về mối liên quan tỷ lệ nghịch giữa giá dầu khí và tăng trưởng (hình 1), kinh tế Nga (và các nước SNG) lại tăng trưởng tỷ lệ thuận với giá dầu khí. Thập kỷ đầu sau khi Liên Xô tan rã, giá dầu thế giới giảm trầm trọng, xấp xỉ 10USD/ thùng, kinh tế Nga suy thoái. Sau khủng hoảng 1998, kinh tế Nga tăng trưởng mạnh nhờ giá dầu mỏ và khí đốt thế giới tăng cao (giá trị xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt chiếm 60-65% xuất khẩu của Nga giai đoạn 2000-2007). Các nỗ lực chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Nga để bớt phụ thuộc vào năng lượng và tài nguyên đến nay vẫn không mang lại kết quả như mong đợi. Vì thế nếu trong thập kỷ tới khi giá dầu xuống thấp, Nga sẽ đối mặt với các khó khăn mới[13] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn13). Dự trữ ngoại tệ giảm hơn 140 tỷ đôla trong vòng hơn 3 tháng (từ 597 tỷ đôla đầu tháng 8 xuống 450 tỷ đôla vào đầu tháng 11[14] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn14)), thị trường chứng khoán tụt dốc- giảm gần 70% từ giữa tháng 8/2008, các nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy - rút 33 tỷ USD tháng 8-9/2008. Đồng rúp mấy giá gần 11% trong vòng 2-3 tháng qua. Nga sẽ thâm hụt ngân sách năm 2009 nếu giá dầu thô trung bình dưới 70 USD/ thùng và rơi vào khủng hoảng kinh tế nếu giảm xuống còn 40 USD/thùng[15] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn15). Trong khi quan hệ Nga-Mỹ, Phương Tây vẫn đang xấu sau sự kiện Nam Ossetia tháng 8-2008, các nguyên nhân của căng thẳng vẫn hiện hữu. Do đó, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách nhằm cải thiện quan hệ với Phương Tây, Nga sẽ càng cần tăng cường hợp tác với Trung Quốc, trong đó có mục tiêu đa dạng hóa xuất khẩu năng lượng. Gần đây, có tin hai bên dự kiến ký kết thỏa thuận về việc Trung Quốc cấp tín dụng 25 tỷ USD cho Nga, trả bằng dầu khí, để xây dựng đường ống dẫn sang Trung Quốc[16] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn16) . Cán cân quan hệ Nga-Trung nhiều khả năng càng lệch về phía Trung Quốc hơn. Nga sẽ ngày càng “lép vế” trong quan hệ song phương này.

6- Tranh chấp Biển Đông
Trung Quốc cũng thành công trong việc sử dụng “các biện pháp mềm” ve vãn Phi-líp-pin. Kim ngạch thương mại Trung-Phi từ $3.3 tỷ US năm 2000 lên $17,6 tỷ US năm 2005, với cán cân thương mại $8,1 tỷ US nghiêng về phía Phi-líp-pin. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào sang thăm Phi-líp-pin vào tháng 4 năm 2005, hứa hẹn đưa kim ngạch thương mại song phương lên $30 tỷ US vào năm 2010, cấp tín dụng ưu đãi trị giá chục tỷ USD cho Phi-líp-pin. Từ năm 2003 đến nay Viện trợ cho Phi-líp-pin của Trung quốc gấp ba lần của Mỹ. “Đoàn kết bề ngoài của ASEAN” đối với vấn đề quần đảo Trường Sa bị phá vỡ khi Trung Quốc thuyết phục thành công Philippines ‘gác tranh chấp, cùng khai thác”, cùng thăm dò địa chất và đánh cá chung tại khu vực xung quanh Trường Sa (tháng 9-2004) –khu vực 9 điểm tọa độ phía tây quần đảo Trường Sa ăn vào cả vùng nước gần Philippines vốn nằm ngoài phạm vi tranh chấp. Tháng 5 năm 2004, PetroVietnam cũng tham gia và ký kết Thỏa thuận giữa ba tập đoàn dầu khí quốc gia của 3 nước về thăm dò địa chấn chung trong thời hạn 3 năm. Các quốc gia Đông Nam Á khác cũng tích cực cấp phép tìm kiếm và thăm dò dầu mỏ và khí đốt (hình 9).

=> Khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu nhiều khả năng sẽ tác động mạnh đến các tranh chấp tại Biển Đông trong thập kỷ tới. Dựa trên các phân tích tại các điểm trên có thể rút ra một số xu hướng sau sắp tới của tình hình Biển Đông:

a) Theo điểm 2, nhiều khả năng các tập đoàn dầu khí quốc tế sẽ hạn chế thăm dò và khai thác dầu khí tại các vùng nước ở Biển Đông. Đơn giản là không hiệu quả - chi phí đầu vào cao trong khi giá thị trường đầu ra giảm - trong khi mua lại các công ty nhỏ, khó khăn nhưng sở hữu nhiều dự án tốt, đang dang dở tại các khu vực khác mang nhiều lợi ích hơn.

b) Theo điểm 3, Khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu một mặt giúp Trung quốc giảm nhẹ sức ép về năng lượng. Mặt khác, trong khi các công ty dầu khí quốc tế hạn chế hoạt động và tiềm lực của các công ty dầu khí của các nước tranh chấp khác có giới hạn (Việt Nam, Phi-líp-pin, Malaysia) thì chỉ các tập đoàn dầu khí nhà nước của Trung Quốc còn có khả năng hoạt động mạnh tại Biển Đông.

c) Theo điểm 4 và 5, vai trò và ảnh hưởng của Trung Quốc tại Đông Nam Á sẽ tăng đáng kể, tương ứng với sự suy giảm tương đối về vai trò của Mỹ và các cường quốc khác trong quan hệ quốc tế khu vực này, đồng thời mặt hợp tác (bao gồm chống khủng hoảng kinh tế) giữa các cường quốc, giữa Trung Quốc và các nước ASEAN có cơ hội nổi trội. Trung Quốc sẽ ngày càng có nhiều đòn bẩy hơn, đặc biệt trong quan hệ với các nước cùng tranh chấp tại Biển Đông.
Kể từ sau sự kiện xung đột Trung-Phi tại khu vực Vành Khăn năm 1995, không có đụng độ “nóng” nào đáng kể trên Biển Đông. Trong vòng thập kỷ tới, nếu không có biến động lớn, Trung Quốc sẽ vẫn chủ yếu sử dụng “sức mạnh mềm” trong quan hệ quốc tế nói chung và tranh chấp Biển Đông nói riêng. Thứ nhất, Bắc Kinh muốn các nước trong khu vực tin vào “sự trỗi dậy” và “phát triển hòa bình” của Trung Quốc. Bắc Kinh muốn tháo ngòi nổ cho mối quan ngại đang lan rộng tại châu Á về việc tăng cường tiềm lực quân sự của mình và nỗi lo rằng sức mạnh quân sự sẽ được sử dụng trong các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc có với nhiều quốc gia láng giềng. Trong bối cảnh này, Biển Đông là một viên đá thử nhạy cảm[18] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn18). Thứ hai, trong lịch sử Trung Quốc sử dụng sức mạnh trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ chỉ khi môi trường quốc tế có chiều hướng thay đổi theo hướng bất lợi cho TQ hoặc khi có nhu cầu cấp bách về đối nội[19] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn19). Cán cân lực lượng khu vực càng ngày càng chuyển biến theo hướng có lợi hơn cho TQ. Về logic, thời gian càng lâu càng chín muồi hơn cho Bắc Kinh.

Phi-líp-pin - một trong ba nước “tích cực” trong tranh chấp Biển Đông- nhiều khả năng sẽ “hợp tác” nhiều hơn với TQ trong phát triển năng lượng Biển Đông. Do: i) Để đáp ứng yêu cầu của Liên hợp quốc trước tháng 6 năm 2009, trong trường hợp (nhiều khả năng) Quốc hội Phi-líp-pin thông qua đường cơ sở mà không bao gồm quần đảo Kalayan (phần Trường Sa mà Phi đòi chủ quyền), chỉ coi là các đảo nhỏ và hưởng quy chế đảo (regime of islands) (option 2 hình 10), thì sẽ mở rộng đường cho Chính phủ trong việc hợp tác cùng khai thác các vùng biển xung quanh Trường Sa; ii) Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu, Phi-líp-pin càng cần Trung Quốc trong phát triển kinh tế, chống suy thoái và có “tiền sử” dễ dính “quyền lực mềm” của Bắc Kinh.

Thời điểm cho Việt Nam cần có những điều chỉnh chính sách thích hợp./.
-----------------------------------

[1] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref1)What Caused the Big Slide in Oil Prices, Time Magazine 14/11/2008.
[2] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref2) Bloomberg, 20/11/2008.
[3] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref3) International Energy Outlook 2008 - IEA
[4] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref4) Toni Johnson (file://///bios/13408/toni_johnson.html), The Oil Investment Dilemma, Council on Foreign Relations, 11/11/2008.
[5] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref5)Credit crisis threatens small firms, The National, 20/9/2008.
Credit crisis may spur oil mergers in Africa, Reuter, 15/9/2008.
[6] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref6) Oilweek, 6/10/2008
[7] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref7) Slowdown Depresses China's Fuel Demand, The Wall Street Journal, 18/11/2008.
[8] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref8) China Builds Up Oil Supply (http://asianenergy.blogspot.com/2008/11/china-builds-up-oil-supply.html), Reuters (http://www.reuters.com/article/ousiv/idUSTRE4AB2P620081112) 12/11/ 2008.
[9] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref9) CNOOC là một trong những công ty dầu khí quốc gia hàng đầu của Trung Quốc - riêng tiền mặt của CNOOC qua một thời kỳ tích lũy khi giá dầu cao đến tháng 7/2008 đã đạt 44 tỷ nhân dân tệ (6,4 tỷ USD).
[10] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref10) "Thời báo Hoàn cầu" của Trung Quốc ngày 3/11.
[11] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref11) Xem thêm Evelyn Goh, “Great Powers and Hierarchical Order in Southeast Asia: Analyzing Regional Security Strategies”, International Security, Vol. 32, No. 3 (Winter 2007/08), pp.113-157
[12] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref12) Trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998 tại Đông Nam Á, Trong khi Mỹ không có hành động nào đáng kể thì Trung Quốc lập tức trợ giúp tài chính hơn 10 tỷ USD cho các nước Đông Nam Á như Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines. Kết quả là thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc sau chiến tranh lạnh suy giảm mạnh -ít nhất là không còn trong câu chữ của các quan chức ASEAN- ảnh hưởng (mềm) của Trung Quốc tăng đáng kể
[13] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref13)RGE Monitor, 19/11/2008.
[14] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref14) Báo Độc lập của Nga, 17/11/2008.
[15] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref15) Falling Oil Prices May Send Russian Budget into Deficit (http://www.theotherrussia.org/2008/10/17/falling-oil-prices-may-send-russian-budget-into-deficit/),
[16] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref16) Báo Thương gia của Nga - Kommersant, 22/10/2008
[17] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref17) Tranh chấp gây trở ngại cho việc thu thập đầy đủ số liệu về trữ lượng dầu khí tại Biển Đông. Trung Quốc dự báo trữ lượng 213 tỷ thùng, trong khi Mỹ (U.S. Geological Survey) dự báo chỉ 28 tỷ thùng.
[18] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref18) Michael Richardson (http://hoangsa.org/forum/../TQ/analysts.php), “A Southward Thrust for China’s Energy Diplomacy in the South China Sea”,China Brief, Volume 8, Issue 21 (November 7, 2008).
Gần đây TQ có những hành động tự kiềm chế. Tháng 10/2008, Chính phủ TQ chỉ thị cho các lực lượng bảo vệ bờ biển và nghề cá cho ngăn các tàu thuyền đánh bắt không hoạt động trong các vùng biển còn đang tranh chấp với các quốc gia láng giềng.
[19] (http://hoangsa.org/forum/#_ftnref19) Xem M. Taylor Fravel, “Power Shifts and Escalation: Explaining China’Use of Force in Territorial Disputes”.
International Security, Vol. 32, No. 3 (Winter 2007/08), pp.44-83 Blooberg 15/10/2008.

Cát vàng 500 năm
26-02-2009, 10:20 AM
Bài viết rất hay. Cảm ơn

Cát vàng 500 năm
26-02-2009, 10:22 AM
Viẹt nam cần làm gì bây giờ ? Tôi tháy khó quá. Các bác nhà ta thì im re rồi ???

hoangsatruongsax
26-02-2009, 10:46 AM
Thứ hai, trong lịch sử Trung Quốc sử dụng sức mạnh trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ chỉ khi môi trường quốc tế có chiều hướng thay đổi theo hướng bất lợi cho TQ hoặc khi có nhu cầu cấp bách về đối nội[19] (http://hoangsa.org/forum/#_ftn19). Cán cân lực lượng khu vực càng ngày càng chuyển biến theo hướng có lợi hơn cho TQ. Về logic, thời gian càng lâu càng chín muồi hơn cho Bắc Kinh.

Cái này thì em không đồng ý,khủng hoảng ở thế giới thì chưa rõ bao lâu,nhưng ở Mỹ thì cùng lắm là 5 năm,TQ đang bắt buộc phải chạy đua với thoi gian để giành ảnh hưởng khu vực từ Mỹ.Chỉ cần Mỹ phục hồi thì chắc chắn Philipin sẽ lại quay mũi giáo về TQ

Việc VN cần làm lúc này thì em chỉ nghĩ dc điều dơn giản nhất là đoàn kết người dân với nhau,cùng cố găng vượt qua khó khăn,thắt chặt wan hệ với Nhật để tránh thế bị cô lập...hy vọng chúng ta sẽ vượt wa sóng gió của 5 năm tới 8-|

vankiemlong
08-03-2009, 12:42 PM
sao minh ko thue cac tap doan dau khi lon cua nga ,my tham do roi bat dau cho khai thac.gap van de nhay cam TQ dau co the len tieng dc.TQ co thay gap ap luc voi viet nam ,chu nga va my thi no dau co the.minh co bang chung ve lanh tho cua minh doi voi hoang sa ma ,lo gi

Cong_bang_o_dau
08-03-2009, 04:30 PM
Tôi thất buồn lắm, các bác lãnh đạo nhà ta có quan tâm gì mất chuyện mất biển và đảo đâu. Các bác lắm tiền rồi, cần gì quan tâm nữa. cơ chế sinh ra con người mà. Chỉ tiếc cho mất người yêu nước, cho nhân dân và thế hệ mai sau thôi

Cong_bang_o_dau
08-03-2009, 04:32 PM
Tôi thấy buồn lắm, các bác lãnh đạo nhà ta có quan tâm gì mất chuyện mất biển và đảo đâu. Các bác lắm tiền rồi, cần gì quan tâm nữa. cơ chế sinh ra con người mà. Chỉ tiếc cho mất người yêu nước, cho nhân dân và thế hệ mai sau thôi
http://hoangsa.org/forum/styles/baothyBlue_Zindo/khungbv/admin_07.gif

champions
08-03-2009, 04:54 PM
sao minh ko thue cac tap doan dau khi lon cua nga ,my tham do roi bat dau cho khai thac.gap van de nhay cam TQ dau co the len tieng dc.TQ co thay gap ap luc voi viet nam ,chu nga va my thi no dau co the.minh co bang chung ve lanh tho cua minh doi voi hoang sa ma ,lo gi
BT của Anh đã bị Khựa dọa bắn -> chạy. Exon Mobil của Mĩ đã bị Khựa gửi fax chửi -> chạy nốt#-o

lạc đà say rượu
09-03-2009, 07:10 AM
mình đồng ý vụ khai thác quặng ở tây nguyên. các bố ở bộ chính trị mình bị nó ép quá
(chủ trương lớn) như lời ông Dũng thì không biết mình đổi lại được cái gì(bí mật mà) nhưng mà không giải thích vụ nầy thoả đáng trước dân thì mình thấy nó giống vụ áp phe của con buôn quá
chán hẳn