KID1485
18-11-2008, 10:33 PM
Tiếng Việt giàu và đẹp! Tôi đoan chắc rằng những người bi quan nhất cũng đồng thuận với ý kiến! Ấy thế mà không phải lúc nào, ở đâu... chúng ta cũng sẵn sàng khai thác hết cái đẹp của tiếng Việt thông qua viết đúng và nói đúng, ở đây là cách sử dụng tiếng Việt có dấu trên diễn đàn này.
Tôi có đứa cháu mà tôi hay nhớ đánh văn bản để làm ebook. Có lần, bắt hắn ta đánh cả buổi, hắn than "Đánh tiếng Việt có dấu lâu quá, sao không đánh không dấu, cũng đọc được mà, như viết e-mail ấy". Tôi gật gù, bảo hắn giải lao. Lúc ấy tôi mang ra một tờ giấy và cây viết, bảo nhờ hắn viết một bức thư ngắn thôi với yêu cầu: viết bằng tiếng Việt không dấu! Hắn loay hoay một hồi, chữ được chữ không. Chừng như không thể nào ngồi im lặng nữa, hắn nêu ý kiến: "Con thấy viết có dấu hay hơn chứ, dễ đọc". Tôi hỏi vặn lại: "Dễ đọc hay dễ viết?"
Qua câu chuyện trên, tôi nghiệm ra rằng con người hay làm theo chủ quan, theo cái mình có, mình biết và hơi lười (xin lỗi các bạn khi tôi nói vậy). Từ câu chuyện trên, rõ ràng đứa cháu tôi tự mâu thuẫn với chính mình. Lúc thì đòi đánh tiếng Việt không dấu nhưng rồi sau đó, trong một hoàn cảnh khác, lại muốn viết tiếng Việt có dấu. Mọi sự cũng do ta lựa chọn cái dễ, nhanh gọn mà làm. Còn sự thể ra sao, người đọc nghĩ gì, hiểu thế nào cũng mặc... Thế sao gọi là chia sẻ, trao đổi và giao lưu được?
Sau đây, mời bạn đọc một đoạn do chính người Việt viết:
"Anh xã oai, em tiếc lè em hông cóa bít nấu nhưng en thì bít zì zậy nhè mình nên kím osin đi". "Bè nhéc tui nhìu wé, tui mè không dzào nói mí câu dém bè bứt gứt ngùi kén móng te móng chưn sút đim không ngủ thì tụi nghịp. Thui, lèm bè tọ nghịn mụt lìn dzị". Một chatter sành sỏi có thể "dịch" những mẩu đối thoại trên như sau: "Anh xã ơi, em tiếc là em hông có biết nấu nhưng ăn thì biết vì vậy nhà mình nên kiếm osin đi". "Bà nhắc tôi nhiều quá, tôi mà không vào nói mấy câu dám bà bứt rứt ngồi cắn móng tay móng chân suốt đêm không ngủ thì tội nghiệp. Thôi, làm bà toại nguyện một lần vậy".
Đành rằng chúng ta có quyền tự do riêng, có chủ ý nhưng chúng ta cũng là một cộng đồng, vì vậy mà chúng ta cũng có luật chơi riêng. Tôi đề nghị chúng ta sử dụng tiếng Việt có dấu và hạn chế sử dụng tiếng lóng và ngôn ngữ địa phương!, nhằm góp phần xây dựng diễn đàn thành một diễn đàn văn minh, bổ ích và giúp cho các thành viên khác đọc bài của bạn một cách dễ dàng hơn.
Làm thế nào để gõ được tiếng Việt có dấu?
Để gõ được tiếng Việt có dấu, phải có 1 trong 2 yêu cầu sau đây:
1. Diễn đàn, nơi bạn gõ tiếng Việt có dấu, có tích hợp sẵn bộ gõ tiếng Việt (như diễn đàn của chúng ta, ấn F9 để Bật/Tắt và F8 để Ẩn/Hiện bộ gõ). Bộ gõ tiếng Việt trực tuyến tương thích với nhiều kiểu trình duyệt khác nhau. Nếu diễn đàn chưa tích hợp bộ gõ thì cần một phần mềm trung gian như điều kiện 2 bên dưới đây.
2. Sử dụng một phần mềm trung gian như Vietkey hay Unikey. Trong bài viết này, tôi xin hướng dẫn các bạn gõ tiếng Việt có dấu bằng phần mềm Unikey vì các đặc điểm: nhỏ gọn, chạy độc lập mà không cần cài đặt, tương thích với các hệ điều hành, mạnh mẽ và miễn phí.
Tải Unikey v3.6 tại đây (http://www.echip.com.vn/echiproot/Softwares/unikey/UniKeyNT36.zip)
Sau khi tải chương trình về, bạn giải nén rồi chạy chương trình. Trong bảng điều khiển, bạn chọn bảng mã là Unicode, kiểu gõ tuỳ ý (Telex hay VNI)
http://img.photobucket.com/albums/v609/tovanhung/unikey.jpg
Khi chương trình hoạt động, nó sẽ hiển thị bên dưới thanh trạng thái. Nếu chương trình có ký hiệu là chữ V thì tức là bạn có thể gõ được tiếng Việt. Nếu muốn tắt bộ gõ đi, bạn bấm chuột (hoặc Ctrl + Shift) vào biểu tượng này, lúc đó, biểu tượng chữ V sẽ được thay bằng E http://img.photobucket.com/albums/v609/tovanhung/unikey-minhhoa.jpg
Sau đây là cách gõ chữ Việt tương ứng theo ba kiểu gõ Telex, VNI, VIQR và một số lưu ý.
* Các chữ cái đặc biệt của tiếng Việt được gõ qua bàn phím bằng cách gõ chữ cái latin tương ứng rồi gõ liền đó một phím thứ hai (xem bảng dưới).
* Các từ có dấu thanh của tiếng Việt được gõ qua bàn phím bằng cách gõ từ không dấu và liền đó gõ một phím nhất định khác... (xem bảng dưới).
http://i339.photobucket.com/albums/n465/hoangsa_org/Thac%20mac/tvietcgo.jpg
Lưu ý:
* Dấu của một từ có thể được gõ vào ngay sau nguyên âm mang dấu, nhưng để tránh điền dấu sai nên đánh sau từ, dấu sẽ được tự động đánh vào vị trí phù hợp.
* Trong trường hợp gõ nhầm dấu, có thể sửa lại bằng cách chuyển con trỏ tới cuối từ đó và gõ luôn vào phím dấu đúng mà không cần phải xoá cả từ đi gõ lại.
* Để gõ vào những chữ cái hoặc chữ số đã được dùng làm phím đánh dấu thì gõ phím đó liền hai lần, ví dụ: aw tạo ă, nhưng aww tạo aw, hoặc aaa tạo aa...
* Để viết nhanh nên dùng cách gõ Telex, vì các phím dấu được chọn một cách khoa học, phù hợp với sự phân bố các dấu và các tổ hợp thường gặp.
Trước cơn bão của nền văn hoá nước ngoài, chúng ta, những người Việt Nam, hãy cùng nhau giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt bạn nhé! (*)
Chú ý: Không nên bật đồng thời cùng lúc hai chế độ gõ tiếng Việt của diễn đàn và của máy tính để tránh gây xung đột
Tham khảo bài viết của tác giả tovanhung tại http://www.thuvien-ebook.com
KID1485
12-12-2008, 02:25 AM
Tài liệu tham khảo bao gồm:
- Ngữ pháp tiếng Việt - NXB Khoa học xã hội - 1983;
- Tiếng Việt thực hành (dùng cho sinh viên không chuyên ngữ) - NXB Giáo dục - 1997;
- Ngữ văn các lớp 6,7,8,9 - NXB Giáo dục - 2006
Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.
Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.
Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:
1. Dấu chấm
Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.
VD: Anh ấy nói rằng: "Sẽ tới một ngày ta đòi nợ non sông!".
2. Dấu chấm hỏi
Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn (câu hỏi) nhất là trong trường hợp đối thoại.
VD:
- Bạn có biết gì về tình hình Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay?
- Tôi không biết. Còn bạn?
Cần chú ý:
a/ Dấu chấm hỏi có thể dùng trong câu tường thuật, đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị sự nghi ngờ.
VD:
- Chúng ta đã mất Trường Sa (?)
- Chúng ta vẫn còn giữ được một số đảo!
b/ Không dùng dấu chấm hỏi trong trường hợp có từ nghi vấn trong cấu tạo của câu ghép với nghĩa nêu lên một tiền đề cho ý kiến tiếp theo.
VD: Trung Quốc là nước như thế nào, ai cũng biết.
c/ Nếu muốn tỏ thái độ khinh bỉ, mỉa mai, đồng thời hoài nghi thì dùng dấu chấm than và dấu hỏi trong một ngoặc đơn.
VD: Người ta đồn rằng hắn là kẻ lừa đảo (!?).
3. Dấu chấm than
Dấu chấm than thường được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh.
VD:
- Câu cảm thán: Trời! Biển đảo Tổ quốc ta đẹp quá!
- Câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh: Việt Nam ơi xin nắm chặt tay!
Dấu chấm than còn có thể đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị thái độ mỉa mai hay dùng cùng với dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn để vừa biểu thị thái độ mỉa mai, vừa hoài nghi.
VD: Hắn tự hào vì người ta không tìm được hắn (!)
4. Dấu chấm lửng
Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có thể dùng từ này (viết tắt "v.v...") hoặc dùng 3 dấu chấm (...). Dấu chấm lửng dùng để:
a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn...
b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng,... trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.
VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào, bắp cải,... đều lên giá.
c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi... không... còn... đủ... sức... nữa!
d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù... Thế là xong!
e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng... chai mặt.
KID1485
12-12-2008, 02:54 AM
5. Dấu hai chấm
Dấu hai chấm dùng để:
a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để,...
VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
- Viết đúng chính tả;
- Trình bày dễ nhìn;
- Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.
b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó
VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay với lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang)
VD:
Bạn tôi hỏi:
- Cậu rảnh hay sao mà lại tham gia vô mấy cái rắc rối đó?
Tôi đáp:
- Tôi không rảnh lắm nhưng tranh thủ chút thời gian vì tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho Hoàng Sa Trường Sa, cho đất nước.
6. Dấu gạch ngang
Dấu gạch ngang dùng để:
a/ Chỉ ranh giới của thành phần chú thích
VD: Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã - một người đã giành cả đời để nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa - sắp tới sẽ phát hành một cuốn sách mới
b/ Đặt trước những lời đối thoại
VD:
- Anh đi đâu thế?
- Tôi đi loanh quanh đây thôi.
c/ Đặt ở đầu những thành phần liệt kê
VD:Thi đua yêu nước để:
- Diệt giặc đói;
- Diệt giặc dốt;
- Diệt giặc ngoại xâm.
d/ Đặt giữa hai, ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại để chị một diên danh, một liên số
VD: Cầu truyền hình Hà Nội - Huế - TP. HCM đã sẵn sàng.
Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945 có nhiều tác phẩm đáng để đọc.
e/ Dùng trong trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài
VD: Lê-nin, pô-li-me,...
7. Dấu ngoặc đơn
a. Dùng để ngăn cách thành phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu.
VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.
b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu này có sự khác nhau như sau:
- Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.
VD: Chồng chị - anh Nguyễn Văn Dậu - tuy mới hai mươi sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
(Ngô Tất Tố)
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (Có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)
- Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.
VD: - Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
- Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)
8. Dấu ngoặc kép
a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.
VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".
b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp này không dùng dấu hai chấm trước đó. Chữ cái đầu âm tiết của từ trong danh ngôn, tục ngữ, lời dẫn... cần được viết hoa.
VD: Câu "Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ" là có ý khuyên người ta cẩn trọng trong ăn ở, đừng để tiếng xấu ở đời.
c/ Dùng để biểu thị thái độ mỉa mai, chế diễu của người viết hoặc trích dẫn từ, ngữ của người khác hoặc đánh dấu một từ được dùng với nghĩa đặc biệt, khác với nghĩa thông thường..
VD: Xem chừng các anh chị ở đây đều theo chiều hướng "trăm năm cô đơn" hết cả rồi!
Tham khảo tại diễn đàn NamDinhOnline.Net (http://www.namdinhonline.net/forum/showthread.php?t=8097)
KID1485
07-10-2010, 02:45 AM
Một số lưu ý để viết tiếng Việt chuẩn hơn
http://www.webtrangsuc.com/ControlPanel/Photos/bang%20chu%20cai%20tieng%20viet.jpg
Hàng ngày, bạn vẫn dùng tiếng Việt để ghi chép bài tập, viết thư, soạn email hay chat với bạn bè. Cuộc sống vẫn diễn ra bình thường. Nhưng nếu một ngày kia, bạn có một người bạn ngoại quốc đến Việt Nam và anh ta muốn học tiếng Việt. Bạn có đủ tự tin rằng tiếng Việt của bạn đủ chuẩn để dạy cho anh bạn ấy không?
Đó là một giả định mà HH. đặt ra để các bạn cùng suy nghĩ. Nếu như tiếng Việt của bạn không chuẩn thì cậu bạn ngoại quốc kia sẽ học được gì từ bạn? Và khi anh ta dùng cái tiếng Việt mà bạn dạy ấy đi giao tiếp với người khác, người ta sẽ cho anh ấy biết rằng anh ấy nói, viết chuẩn đến đâu. Và rồi, anh bạn ngoại quốc sẽ quay lại nói gì với bạn nhỉ? “Tiếng Việt của bạn không được truẩn nắm!” (chuẩn lắm). Lúc đó, bạn sẽ nghĩ sao khi mình là người Việt Nam mà dùng tiếng Việt không đúng?
Câu chuyện trên chỉ là một ví dụ mà thôi. Điều mà HH. muốn chia sẻ với các bạn qua câu chuyện này là chúng ta nên dùng tiếng Việt một cách chuẩn mực để gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Trong khi càng ngày càng có không ít người người nước ngoài yêu mến Việt Nam, muốn học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ 2 của họ thì chúng ta lại không trân trọng, gìn giữ tiếng mẹ đẻ của chúng ta sao?
Sau đây, xin vạch ra vài lưu ý để cách bạn có thể viết tiếng Việt chuẩn hơn.
1. Viết hoa các danh từ riêng
Danh từ riêng là những từ chỉ những sự vật, sự việc cụ thể như tên người, tên địa danh, tên sự kiện - khác với danh từ chung chỉ những sự vật, sự việc chung chung như cây cối, hoa lá, đất đai…
Khi viết các danh từ riêng, bạn cần phải viết hoa các chữ cái đầu tiên của các chữ, ví như: tên địa danh: Hà Nội, Thái Bình, Đồng Nai, sông Hồng, núi Bà Đen, thung lũng Tình Yêu, Việt Nam, Trung Quốc, Saint Peterburg, Luân Đôn; tên người: Trần Văn Bình, Dương Đào Ngọc Phượng, Conxtantin Ximonop, Karl Marx. Chú ý là bạn không được viết hoa tất cả các chữ như HÀ NỘI, TRẦN VĂN BÌNH (chỉ viết hoa kiểu này khi nó là tiêu đề hay 1 mục lớn) hay chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của chữ đầu tiên và chữ cuối cùng như Hà nội, Trần văn bình, Trần văn Bình…
2. Phân biệt các phụ âm đầu n – l, ch – tr, s – x
“Ở đây thu mua lông sản phụ”
Ôi một câu viết sai tai hại! Đọc xong câu trên chắc hẳn bạn sẽ có động lực hơn để sửa lỗi nhầm n – l này. Sự viết nhầm lẫn các phụ âm đầu đó thường gặp ở các tỉnh phía Bắc và nó bắt nguồn tự sự nói ngọng ở các địa phương này. Để có thể sửa được, trước tiên, bạn nên sửa lỗi nói ngọng trước bằng cách khi đọc sách thì chú ý đến các chữ có phụ âm đầy này. Bạn hãy luyện đọc các từ ghép mà ở đó các từ đơn được bắt đầu bằng 2 chữ hay nhầm lẫn như: nỗi lòng, nao lòng, nặng lòng, nai lưng, nói lái, năng lượng, năng lực, nặng lãi, lỡ nói, lá nón, lão nông, lạ nước lạ cái; trơ chọi, trái chứng, tranh chấp, trân châu (ngọc trai quý), chân trâu (chân con trâu), chạm trổ, chén mắt trâu, chiến tranh, chiến trường, chiêng trống; sản xuất, sáo rỗng, sắp xếp, sâu xa, xác suất, xấu số, xuân sắc, xuất sắc, xuất siêu, xúc siểm…
Các bạn cũng nên tìm các bài thơ, đoạn văn có nhiều chữ hay nhầm như vậy và đọc đi đọc lại, ví như cặp chữ n – l thì đọc bài thơ “Thề non nước” sau đây:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
3. Phân biệt dấu “ngã” và dấu “hỏi”
Sự nhầm lẫn này thường xuất hiện trong các tỉnh phía Nam. Bạn hãy thử lang thang trên đường phố Sài Gòn và chú ý các biển số nhà, biển hiệu, băng rôn… xem, chắc chắn bạn sẽ gặp không ít những từ như thế này: đường Nguyễn Văn Trổi, Mạc Đỉnh Chi, Lê Văn Sỉ, Nam Kì Khởi Nghỉa, Đà Nẳng… Lỗi viết sai này cũng xuát phát từ lỗi nói ngọng theo tiếng địa phương mà ra. Cách khắc phục là bạn hãy đọc các sách giáo khoa hay tra từ điển tiếng Việt các từ này, hãy ghi nhớ chúng và cố gắng phát âm cho chuẩn.
4. Phân biệt y và i
Đây có lẽ là 1 bài toán hóc búa vì sự nhầm lẫn này diễn ra khá phổ biến – ngay cả trong các cơ quan văn hóa, các văn bản nghiêm túc. Chúng ta sẽ khó mà phân biệt được viết thế nào mới đúng trong các trường hợp sau: lý lẽ hay lí lẽ, lý luận hay lí luận, kỹ sư hay kĩ sư, họa sỹ hay họa sĩ, nhật ký hay nhật kí, mỹ thuật hay mĩ thuật, hy vọng hay hi vọng, địa lý hay địa lí…?
Sau đây, HH. xin giới thiệu quy tắc viết y – i theo cuốn “Đại từ điển tiếng Việt” - Nguyễn Như Ý chủ biên (NXB. Văn hóa - Thông tin, 1999) như sau:
- Nguyên âm “i” cuối âm tiết được viết nhất loạt là -i (chi, bi, li, hi, ti…), ngoại trừ trường hợp có âm đệm trong vần thì được viết y (trong vần uy) để phân biệt với vần –ui, đồng thời thống nhất các vần -uyên, -uyết, -uýt…
- Nguyên âm “i” là âm chính mà âm tiết không có phụ âm đầu, âm đệm, âm cuối, sẽ được viết theo hai trường hợp:
+ Viết “i” trong các từ thuần Việt như í ới, ầm ĩ, ỉ eo,…
+ Viết “y” trong các từ Hán - Việt như y tá, y phục, ý kiến, ý niệm,…
Sau khi đọc xong quy tắc trên, chúng ta có thể rút ra cách hiểu riêng như thế này:
- 2 trường hợp đặc biệt “y” đứng sau 2 nguyên âm u, a:
Ví dụ: lũy thừa, quy hoạch, nội quy, say rượu, lay động, cay mắt,…(trừ một số trường hợp phiên âm khác nghĩa ta dùng “i”: lùi, cúi đầu, sai,….
- Trong các tên riêng thường dùng “y”: Lý Thường Kiệt, Lý Công Uẩn, Lý Bí, Lý Tự Trọng,…..
- 2 từ sau phải viết “y”: công ty, tổng công ty (vì 2 từ này theo chúng tôi là vay mượn của nước ngoài hay có thể cho đây là 2 từ Hán - Việt)
- Ngoài những trường hợp trên ta dùng “i”: (lí luận, lí lẽ, kĩ thuật, ca sĩ, họa sĩ, vật lí, địa lí, mĩ thuật, lí do,…) -> “-i ”đứng sau phụ âm
5. Cách bỏ dấu
* Trước tiên là dấu trong chữ. Với những chữ chủ có một nguyên âm như “bình, gió, bò, chữ, cách” thì việc bỏ dấu quá đơn giản rồi. Tuy nhiên với những chữ có hơn 1 nguyên âm thì bỏ dấu như thế nào? Sau đây là nguyên tắc:
- Quy tắc 1: Với những âm tiết chỉ có một con chữ nguyên âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm đó.
Ví dụ: á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt...
- Quy tắc 2: Với những âm tiết, mà trong âm tiết đó chỉ cần có một con chữ nguyên âm mang dấu phụ (ă, â, ê, ô, ơ, ư) và không kể kết thúc bằng con chữ gì, thì dấu thanh bao giờ cũng đặt ở con chữ đó (riêng ươ, dấu đặt ở ơ).
Ví dụ: ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừ, chiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường, ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...
- Quy tắc 3: Với những âm tiết có hai con chữ nguyên âm và kết thúc bằng một con chữ phụ âm hoặc tổ hợp con chữ phụ âm, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót.
Ví dụ: choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...
- Quy tắc 4: Với những âm tiết kết thúc bằng oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót.
Ví dụ: hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...
- Quy tắc 5: Với những âm tiết kết thúc bằng hai hay ba con chữ nguyên âm khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm áp chót.
Ví dụ: bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo, quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...
* Cách bỏ dấu ngăn cách cũng quan trọng không kém. Bạn không nên viết 1 câu dài quá mà nên đặt dấu “,” để tạo điểm tạm dừng; và khi đã đủ 1 ý và đủ chủ ngữ - vị ngữ rồi thì dùng dấu ‘.”. Chú ý là bạn phải đặt dấu câu ở ngay sát với chữ cuối cùng của câu trước và cách ra viết câu mới. Đây là 1 câu đúng: “Hôm nay anh ăm cơm lúc mấy giờ, ở đâu?”, còn đây là sai: “Hôm nay anh ăn cơm lúc mấy giờ , ở đâu ?”
6. Nên viết dấu đầy đủ
Bạn có thể hiểu chính xác ý của này không: “Em om hai thang, em met lam”? Có thể bạn sẽ hiểu là: “Em ôm hai thằng, em mệt lắm” lắm chứ. Nhưng thực ra, “Em ốm hai tháng, em mệt lắm” mới đúng. Đó là một sự nhầm lẫn tai hại do thiếu dấu gây ra. Vì vậy, nếu có thể thì bạn hãy cố gắng viết cả dấu vào nhé.
7. Tránh cố ý viết tinh giản hay viết ngọng
Ngày nay, sự phát triển của internet khiến cho việc sử dụng forum, blog, chat diễn ra thường xuyên trong giới trẻ. Khi sử dụng các dịch vụ này, tính cá nhân được đẩy nên cao độ. Vì vậy, ngôn ngữ cũng không nằm ngoài sự cá nhân hóa đó. Mốt viết ngọng, viết tinh giản diễn ra phổ biến như: hok = ko = hog = hem = không, j = gì, zui ze = vui vẻ, bit = biết, ki ri = cái gì. Các bạn có thể dùng những cách viết này để tạo mối quan hệ bạn bè gần gũi hơn nhưng không nên quá lạm dụng nó mà gây ra những điều khó hiểu cho người khác. Trong những văn bản nghiêm túc như làm bài kiểm tra, email… thì bạn cần phải dùng tiếng Việt chuẩn mục – điều đó thể hiện cho trình độ văn hóa của bạn cũng như sự tôn trọng của bạn đối với người đọc.
8. Hãy tránh viết giọng văn dịch
Trong phần này, HH. xin trích nguyên văn lại bài viết của GS. Vũ Khúc đăng trên Tạp chí Địa chất:
Có lẽ do được đào tạo ở nước ngoài, hoặc đọc sách báo ngoại ngữ nhiều, lời văn ở bản thảo của một số tác giả do chính tác giả viết ra, diễn đạt một ý của chính mình, mà cứ như là dịch từ lời văn của người nước ngoài. Có thể lấy ví dụ: "Các phần của đứt gãy mà nó được phát triển trong pha thứ nhất…"; có lẽ tôi phải lấy danh dự ra mà đảm bảo là tôi đã trích dẫn nguyên si, thì các bạn mới tin là có tác giả đã viết như vậy. Cái đoạn "mà nó được phát triển" sao mà nặng nề và "tây" đến thế? Nó làm ta liên tưởng ngay đến cách viết: "that was developed…". Phổ biến hơn, các tác giả thường viết tính động từ đi kèm với từ "được" làm cho câu văn rất nặng, ví dụ như: "các mặt cắt lấy mẫu được phân bố dọc theo quốc lộ 6…", "sự nâng lên của khối này được xảy ra…", "đá bazan được lộ ra…", "bản đồ được thành lập bởi…", v.v. Dân ta vẫn thường nói: "Thịt bò ăn ngon quá!". Tất nhiên, ai cũng hiểu là chúng ta ăn thịt bò, và thịt bò được chúng ta ăn, nhưng các bạn xem, chẳng có ai nói là: "Thịt bò được ăn ngon quá!", càng không có ai nói: "Thịt bò được ăn bởi vợ tôi!". Có lẽ phải sang hay mới được nghe cách nói như vậy. Nếu chúng ta viết: "các mặt cắt lấy mẫu phân bố dọc theo quốc lộ 6…" hay "đá bazan lộ ra…", v.v. thì có đưa đến hiểu lầm gì đâu nhỉ? Mà câu văn rất thoát. Thêm nữa, ta nên quen với cách viết: "bản đồ do X và nnk. thành lập…", "phương pháp do Nagibian đưa ra…", chứ không nên viết: "bản đồ được thành lập bởi X và nnk.…", hay "phương pháp được đưa ra bởi Nagibian…". Về nghĩa không có gì khác nhau, nhưng câu văn kiểu thứ hai rất "tây" và nặng nề lắm. Đấy là giọng văn dịch, và là dịch vụng.
9. Hạn chế dùng từ có nguồn gốc nước ngoài
Hiện nay các bạn trẻ đua nhau nói ngoại ngữ bất cứ nơi nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào như để thể hiện “đẳng cấp” trình độ của mình. Ngoại ngữ là tốt. Nhưng thiết nghĩ nên sử dụng đúng nơi, đúng hoàn cảnh và không nên quá lạm dụng nó. Chỉ nên dùng ngoại ngữ khi trong tiếng Việt không có từ tương đương.
Lời kết
Một khi đã nắm vững các quy tắc này và luôn chú ý sử dụng nó thường xuyên để tạo thành thói quen rồi thì bạn hoàn toàn có thể tự hào rằng bạn đang sở hữu tiếng Việt chuẩn với độ trong sáng cao. Và bạn hoàn toàn đủ tự tin để có thể dạy lại cho những người bạn ngoại quốc tiếng mẹ đẻ của mình rồi đấy. Lúc đó, bạn hãy truyền cho họ sự tôn trọng tiếng Việt giống như bạn nhé!
Trần Bình/Nguồn: Hiếu Học
vBulletin® v4.2.0, Copyright ©2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.