PDA

View Full Version : Kinh Dịch di sản của Văn Lang?



Ganda
28-01-2008, 04:29 PM
KINH DỊCH, SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NỀN VĂN HIẾN ÂU LẠC
Trần Quang Bình
Chúng tôi đã làm xong công trình nghiên cứu Dịch. Và hoàn toàn có chứng cớ chứng minh "KINH DỊCH LÀ SẢN PHẨM SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT".....

Chuyện về lịch sử đâu đến lượt anh chàng làm về tự nhiên như chúng tôi thực hiện. Thấy tranh luận của anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh và các người khác về văn hiến Việt mà hứng khởi rồi viết mà chê trách cái Hà Đồ. Hà Đồ hòan tòan không hợp với Tiên Thiên. Vậy phải chăng Hà Đồ sai, hay Tiên Thiên sai?. Hay Hà Đồ được vẽ ra không dùng để ký hiệu Tiên Thiên ?

Rồi càng nghiên cứu, càng lý thú. Đầu tiên, tôi thử đặt một giả thiết: “Anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh đúng”. Và lý luận tiếp: “ Nếu anh Nguyễn Vũ Tuấn Anh đúng thì truy nguyên lại, người Trung Quốc hòan tòan không nắm bắt được những tư tưởng Hà Đồ, Lạc Thư”. Hà đồ thì khó, chứ Lạc Thư chả có gì đáng nói về tóan học. Nó cũng chỉ là magic matrix đơn giản nhất thôi. Và trí tuệ người cổ đại hòan tòan đạt được. Với bất cứ dân tộc nào!

Mốc đột phá đầu tiên nhất là khi chúng tôi thử nghiên cứu đối xứng của cái gọi là “Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương”. Nó thật thảm hại, luộm thuộm và phi logic đến mức buồn cười. Rồi dần dần ý tưởng về trống đồng của anh Nguyễn Thiếu Dũng đã thôi thúc tôi. Ừ nhỉ? Tại sao không? Thế ông cha ta để lại thông điệp gì trên trống đồng. Thử dùng một thứ logic tự nhiên, đơn giản nhất để hiểu các cụ xem sao. Khoan nghĩ đến góc độ mỹ thuật để mà trầm trồ: “Ôi đẹp quá! Văn hiến Lạc Việt rực rỡ đấy chứ.”. Liệu có chăng một thứ triết lý nào đó trên trống đồng? Thay vì trầm trồ, thán phục vẻ đẹp của chúng (trống đồng), ta hãy lắng mình tìm những chi tiết nhỏ nhạnh nhất để thử tìm lại cái gì mà ông cha ta gởi gắm vào đó. Mặc dù, cái đẹp cũng là cái rất to tát rồi.

Nào ngồi xuống đây, tôi kể anh nghe. Việt Nam ta có bí quyết trống đồng. Qua bao nhiêu trầm luân, Hán thuộc, Tây thuộc đủ cả; nhất là thời kỳ Bắc thuộc tổ tiên ta chịu mất đi ngữ văn của mình, chịu mất đi một phần ngôn ngữ cổ truyền của mình, chịu mất đi bao tài năng xuất chúng cho kẻ xâm lược. Thế mà bí quyết trống đồng, phương bắc không thể nào chiếm đoạt được. Cái gì thiêng liêng đến mức vậy?. Cái gì mà tổ tiên tôi với anh dù có bị tù đày, tra tấn, nhục hình vẫn không khai? Nó phải là cái gì cao quý chứ. Ít ra đối với dân tộc chúng ta.

Tôi bắt đầu tìm lại “nền văn hiến mồ côi...” như ông Kim Định đã viết. Càng thôi thúc tôi hơn khi đọc được bài phỏng vấn của bà Patricia Pelley trên BBC:

BBC:Về vấn đề bản sắc dân tộc, chẳng phải đó đã luôn là quan tâm của mọi thế hệ sử gia hay sao?

Đúng vậy, nhưng trong các xã hội hậu thuộc địa, không chỉ riêng ở Việt Nam, vấn đề bản sắc mang một tầm quan trọng đặc biệt. Nhất là khi các sách thời thuộc địa của Pháp tỏ ra tiêu cực về Việt Nam. Chẳng hạn, khi các nhà khảo cổ Pháp khai quật vùng Đông Sơn và thấy sự rực rỡ của trống đồng, họ liền cho rằng đây không thể nào là thành quả của người Việt.

Người Pháp rõ ràng nghĩ họ đã chiếm được nước ta thì nước ta làm gì có nền văn hiến đáng kể!!! Hẳn nhiên, người Pháp với chủ quan của họ có quyền phán xét như vậy. Nhưng chúng ta có quyền nghĩ vậy không là điều đáng nói. Liệu chúng ta có thể nói văn hiến chúng ta không đáng kể trong khi dù bị đô hộ 1000 năm, dân tộc ta vẫn trường tồn không?...

Khá khen cho các học giả người Pháp chăm chú và một cách thành kính nghiên cứu văn hiến Maya, văn hiến Aztec. Nền văn hiến của một dân tộc đã biến mất trên thế gian này; đâu còn gì để so đo, ganh tỵ mà mình không khen cơ chứ. Còn văn hiến của một dân tộc mất nước, một dân tộc bị mình đô hộ thì có chi đáng kể. Nếu có gì đó rực rỡ hay vĩ đại quá ngược với thành kiến của ta, ta cứ phán là không phải thành quả của họ.

Người dân tộc khác cũng hoàn toàn logic khi nói: “Dân tộc Việt của các anh xướng ca vô loài, đàn bà đàn ông nhảy nhót với nhau, không ra thể thống gì. Làm gì có thể đặt vấn đề triết thuyết ra đây? Các anh làm ra trống đồng thật đấy. Nhưng há có một dân tộc nào không có một nghệ nhân khéo léo nào đó?! Người nghệ nhân của các anh chỉ vẽ thô sơ lại một vũ hội nào đấy mà thôi.”. Có thể như thế vậy chăng? Chuyện cơ ngẫu thì trong triết học từ Á sang Âu đều có viết. Nhưng người nghệ nhân làm ra một sản phẩm trí tuệ liệu có ngẫu nhiên phát họa những hình ảnh đập vào mắt mình không?...
Và tôi đã tìm ra những ngẫu nhiên đáng ngờ...

Nguồn: http://vietsciences.free.fr/vietnam/vanhoa/kinhdich/1.htm

Ganda
28-01-2008, 04:38 PM
Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam?
16:40:40, 06/07/2004



Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh này. Đó là học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều tìm tòi và nghiên cứu, ông đã nêu ra một số chứng lý để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam. Với sự thận trọng cần thiết, Thanhnien Online xin giới thiệu bài viết sau đây của học giả Nguyễn Thiếu Dũng để rộng đường tham khảo.
Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam.
Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy. Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di. Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng.
Trong vòng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn.
Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch.

1) Chứng lý vật thể: Kinh Dịch xuất hiện tại Việt Nam một nghìn năm trước khi có mặt tại Trung Quốc:
Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung (11, tr 642) trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hổ thể thì đây chính là hình khắc của quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên mình nó lời cầu nguyện của tổ tiên chúng ta về cảnh mưa thuận gió hòa, mong sao được sống một đời an bình không có họa thuỷ tai. Lôi Thuỷ Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hoá Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: ”Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên. Hiện tại chưa có niên đại C14 cho giai đoạn này. Nhưng hiện nay chúng ta đã có một niên đại C14 của di chỉ Đồng Chỗ là di chỉ mà tôi cho là thuộc giai đoạn sớm của Văn hoá Phùng Nguyên: 3800 + 60 BP (Bln-3081) tức 1850 + 60BC (Hà Văn Tấn 1986: 181-182). Như vậy, các di chỉ Phùng Nguyên và Xóm Rền phải muộn hơn niên đại này. Nhưng Phùng Nguyên và Xóm Rền lại sớm hơn các niên đại C14 của lớp dưới di chỉ Đồng Đậu. Hiện nay lớp này có các niên đại: 3330 + 100BP (Bln-830), 3050 + 80BP (Bln-3711); 3015 + 65BP (HCMV 05/93); 3100 + 50BP (HCMV 06/93).
Nếu tin vào các niên đại C14 này thì giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên nằm vào khoảng giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 14 trước Công Nguyên... tương đương với văn hoá Thương ở Trung Quốc, thậm chí với giai đoạn sớm của văn hoá này (1, tr 578-579).
Về phía Trung Quốc, tuy theo truyền thuyết cho là Kinh Dịch do Phục Hy thời đại tối cổ Trung Quốc tạo ra nhưng trên thực tế không có chứng cứ nào để xác nhận chuyện này. Triết gia đầy uy tín của Trung Quốc Phùng Hữu Lan đã khẳng định trong Trung Quốc Triết học sử: ’’Suốt thời nhà Thương chưa có Bát Quái” (bản Hồng Kông 1950, tr 457). Chưa có Bát Quái nghĩa là chưa có Kinh Dịch. Quẻ Dịch xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc là trên sách Tả Truyện thời Xuân Thu-Chiến Quốc (772-221 BC). Vào thời kỳ này trên một số lớn các trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam đã có khắc hình quẻ Lôi Thuỷ Giải bằng 6 dải băng nghĩa là đầy đủ 6 hào. Vậy là rõ ràng Kinh Dịch đã có ở Việt Nam từ thời các Vua Hùng, so với chứng cứ cụ thể của Trung Quốc Kinh Dịch đã có ở nước ta trước Trung Quốc cả nghìn năm. Chuyện này chẳng khác chi chuyện tổ tiên ta đã biết trồng lúa nước nghìn năm trước Trung Hoa mà Trần Trọng Kim vẫn viết trong Việt Nam sử lược là người Trung Hoa có công dạy dân ta làm ruộng.

2) Chứng lý ngôn ngữ học: Một số tên quẻ Dịch là tên tiếng Việt không phải tiếng Trung Quốc:
Người ta thường gọi Kinh Dịch hay Kinh Diệc và cứ đinh ninh Diệc là do Dịch đọc chệch đi, kỳ thật tổ tiên ta nói Kinh Diệc và người Trung Hoa đã đọc chệch đi thành Dịch. Tiếng Trung Hoa Dịch còn có thể đọc là Diệc(Xem Khang Hy Từ Điển). Diệc là một loài chim nước, có họ với loài cò. Đây là những loài chim quen thuộc với đồng ruộng, với văn minh nông nghiệp, văn minh Văn Lang. Kinh Dịch là kết tinh của văn minh nông nghiệp, các nhà sáng tạo kinh Dịch Việt Nam lấy hình ảnh con diệc, con cò làm tiêu biểu cho hệ thống triết học của mình là hợp lý, nhưng người Trung Quốc muốn làm biến dạng cho khác đi, cho rằng chữ Dịch là hình ảnh con tích dịch - một loại thằn lằn hay biến đổi màu sắc theo thời gian chẳng thân thiết gần gũi gì với người nông dân cả. Điều này đã được ghi chú rất rõ trên trống đồng Đông Sơn về sau sẽ giải rõ.
Tên tám quẻ đơn Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài đều là tiếng Việt không phải là tiếng Trung Quốc. Các học giả Trung Hoa rất lúng túng khi giải nghĩa nguồn gốc tên những quẻ này vì họ cứ cho đó là tiếng Hoa nên tìm mãi vẫn không lý giải được. Ở đây chỉ dẫn một quẻ để minh chứng. Quẻ Ly không có nguồn gốc Trung Hoa, đây chỉ là chữ ghi âm tiếng Việt, một dạng chữ Nôm loại giả tá. Kinh Dịch bản thông hành ghi là Ly, âm Bắc Kinh đọc là Lĩ, nhưng bản Bạch Thư Chu Dịch đào được ở Mã Vương Đôi thì lại ghi là La, âm Bắc Kinh đọc là lúo (đọc như lủa). Rõ ràng đây là cách ghi của hai người Trung Hoa ở hai nơi hoặc hai thời điểm nghe người Việt Nam nói là quẻ Lửa, một người bèn ghi là lĩ (Ly), một người lại ghi là lủa (La). Còn người Việt Nam viết chữ Nôm Lửa thì lại dùng chữ lã làm âm. Cả ba âm Ly, La, Lã đều là cận âm với âm lửa, dùng để ghi âm âm lửa. Như vậy quẻ Ly không phải là quẻ có nghĩa là lìa hay là dựa như người Trung Hoa nghĩ mà chính là quẻ Lửa tức là quẻ Hoả như về sau họ đã dịch đúng nghĩa của nó.

3) Chứng lý đồ tượng: Kinh Dịch Trung Hoa thiếu một hình đồ trọng yếu, trong khi hình đồ này đang được cất giấu tại Việt Nam. Chứng tỏ Việt Nam mới là nước sáng tạo Kinh Dịch.
Đồ tượng và quái tượng (quẻ) là những hình tượng cơ bản cấu tạo nên Kinh Dịch. Cả hai đều có những giá trị bổ túc cho nhau để hình thành Kinh Dịch. Đọc Dịch mà chỉ chú trọng đến quẻ không chú ý đến Đồ là một thiếu sót đáng tiếc vì như thế là đã bỏ qua quá nửa phần tinh tuý của Dịch. Những ứng dụng quan trọng của Dịch đa phần đều căn cứ trên đồ, như thuyết trọng nam khinh nữ chi phối sâu đậm nhân sinh quan Trung Quốc thời kỳ phong kiến là ảnh hưởng Càn trọng Khôn khinh của Tiên Thiên Đồ, xem phong thuỷ, coi tử vi, học thuyết Độn Giáp, Thái Ất phát sinh ở Trung Hoa là do ảnh hưởng của Hậu Thiên Đồ. Y học, Võ thuật, Binh Thư Đồ trận lừng danh của Trung Quốc đều từ các Thiên Đồ mà ra. Theo thuyết Tam tài, cơ sở để xây nên toà lâu đài Kinh Dịch thì phải có ba Đồ chính là Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ nhưng suốt cả hai nghìn năm nay, Trung Quốc chỉ lưu hành hai Đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Người Trung Hoa tuyệt nhiên không tìm ra Trung Thiên Đồ, cuối cùng họ đành bó tay, rồi thản nhiên kết luận, không cần có Trung Thiên Đồ. Đã có Tiên Thiên Đồ làm thể và Hậu Thiên Đồ làm dụng là đủ lắm rồi. Đây chính là khuyết điểm lớn nhất của Dịch học Trung Quốc mà cũng là cái may lớn nhất cho ta để từ chỗ sơ hở này ta tìm ra chứng lý quan trọng nhất, quyết định nhất để xác nhận tác quyền của Việt Nam. Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ, một Đồ quan trọng bậc nhất dùng làm la bàn để viết nên kinh văn các lời hào, Việt Nam lại cất giữ Trung Thiên Đồ! Vậy thì ai là chủ nhân Kinh Dịch? Câu hỏi đã được trả lời, bí ẩn hai nghìn năm đã được trưng ra ánh sáng.
Tác giả bài này có may mắn là đã thiết lập được Trung Thiên Đồ. Đồ này quẻ Càn ở phương Nam, quẻ Đoài ở phương Đông Nam, quẻ Tốn ở phương Đông, quẻ Khảm ở phương Đông Bắc, quẻ Ly ở phương Bắc, quẻ Cấn ở Tây Bắc, quẻ Chấn ở Tây và quẻ Khôn ở phương Tây Nam.
Đây chính là Đồ thứ ba trong số ba Thiên Đồ trọng yếu của Kinh Dịch mà người Trung Hoa không tìm ra. Nếu Tiên Thiên Đồ là Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ là Địa Đồ thì Trung Thiên Đồ là Nhân Đồ nghĩa là Đồ nói về con người. Có một danh hoạ tài ba nào chỉ trong một hình vẽ có thể biểu đạt ba hình thái khác nhau về con người? Điều này chưa ai làm được, ngay cả máy móc tân tiến nhất, hiện đại nhất cũng không thể làm việc này. Thế mà Trung Thiên Đồ cùng một lúc có thể diễn tả ba trạng thái khác nhau đó: Trung Thiên Đồ có mục đích nói về những vấn đề liên quan đến con người cho nên hình đồ Trung Thiên có thể biểu thị ba khía cạnh khác nhau của con người về mặt sinh lý, về mặt siêu lý và về mặt đạo lý:
a) Con người sinh lý: Quẻ Càn tượng cho bán cầu não phải, Quẻ Khôn tượng cho bán cầu não trái. Khi một người bị tai biến mạch máu não ở bán cầu phải thì tay chân bên trái thường bị liệt, ngược lại cũng thế. Vì Càn thuộc dương nên liên quan đến tay trái gồm hai quẻ Chấn dương và Cấn dương và vì tay trái đã dương thì chân trái lại thuộc về âm nên chân có quẻ Ly âm. Trái lại, bán cầu não trái Khôn âm sẽ ảnh hưởng đến tay phải Trạch âm và Tốn âm cùng với chân Khảm dương. Điều này tương đồng với kết quả thực nghiệm của Leokadia Podhorecka (1986), trình bày năm 1986 tại hội nghị quốc tế về Trường sinh học tại Zagrev về tính bất đối xứng phải - trái trong nhân thể (2, tr 117). Hình đồ cũng thể hiện được y lý Đông Phương cho rằng Thiên khí tả truyền: Dương khí đi từ bên phải (Càn dương) sang bên trái (Cấn, Chấn dương), Địa khí hữu truyền: Âm khí đi từ bên trái (Khôn âm) sang bên phải (Đoài, Tốn âm). Con người muốn sống cần phải thở (Càn phế, chủ khí), sau đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn (Khôn, tỳ vị). Con người khoẻ mạnh khi tâm (Ly) giao hoà với thận (Khảm), nếu tâm thận bất giao sẽ sinh tật bệnh, vị y tổ Việt Nam Lê Hữu Trác đã phát triển học thuyết này để chữa bệnh rất hiệu quả.

Con người siêu lý

b) Con người siêu lý: Theo trãi nghiệm của các hành giả Yoga hoặc Khí công, Thiền, thì cơ thể có bảy trung tâm năng lượng tác động chi phối sự sống của con người, gọi là bảy đại huyệt hay là bảy luân xa. Trung Thiên Đồ chính là biểu đồ hệ thống bảy luân xa đó, theo thứ tự từ dưới lên: luân xa 1 là Hoả xà Kundalinê chính là quẻ Ly hoả, Luân xa 2 là Mệnh môn quan chính là quẻ Khảm (thận thuỷ), Luân xa 3 là Đơn điền Ngũ Hành Sơn chính là quẻ Cấn sơn, Luân xa 4 là Luân xa tâm gồm hai quẻ Tốn (tâm âm) và Chấn (tâm dương), luân xa 5 là trung tâm Ấn đường chính là quẻ Đoài, luân xa 6 nằm ở chân mi tóc hay huyệt Thượng tinh mà Đạo giáo thường gọi là Kim mẫu chính là quẻ Khôn (Địa mẫu), Luân xa 7 là huyệt Thiên môn Bách hội chính là quẻ Càn Thiên.

Con người đạo lý

c) Con người đạo lý: Trung Thiên Đồ còn biểu đạt một mẫu người đạo lý tâm linh: quẻ Sơn Tượng cho tính người tham lam muốn tích luỹ như núi (Tham), quẻ Ly Hoả tượng cho người có tính sân như lửa (Sân), quẻ Khảm Thuỷ tượng cho người có tính si như nước đổ dồn về chỗ thấp (Si), ba thói xấu đó sẽ dẫn con người đến chỗ ác tượng trưng bằng quẻ Tốn (tâm âm, nhục tâm, vọng tâm), (như thuyết Tam Độc của Phật Giáo). Nhưng nếu con người biết phát triển tâm từ bi như tình yêu của mẹ tượng bằng quẻ Khôn (Địa Mẫu - Từ Bi), khiến tâm thanh tịnh an lạc tượng bằng quẻ Đoài (Vui, Hỉ), lúc nào cũng sẵn lòng cảm thông tha thứ cho người, tượng bằng quẻ Càn (Xả) thì con người sẽ đạt được cõi phúc, tượng bằng quẻ Chấn (Tâm dương, Chân tâm, Đạo tâm), (như thuyết Tứ vô lượng tâm của Phật giáo).

4) Phát hiện Trung Thiên Đồ trong truyền thuyết
Kinh Dịch có tám quẻ đơn: Càn còn gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn còn gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm còn gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly còn gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn còn gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài còn gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn còn gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn còn gọi là Phong có tuợng là gió, là cây (mộc).
Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên vòng tròn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy vì cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương vì cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ vì đã chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự gì vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc "Con Rồng cháu Tiên", một thông điệp về tình đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà còn chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đã được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đã được Trung Quốc nuôi dưỡng và đã thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo Kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đỡ có thể ký hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ ký hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm ký hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn - Đoài - Tốn - Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): (1, tr 30). Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: "Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang". Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly - Cấn - Chấn - Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn - Đoài - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Chấn - Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ.

5) Vai trò Trung Thiên Đồ trong việc hình thành văn bản Kinh Dịch:
a) Bố cục Kinh Dịch: Kinh Dịch có 64 quẻ, 30 quẻ đầu thuộc về thượng kinh, 32 quẻ sau thuộc về hạ kinh. Nhìn vào cách sắp đặt vị trí các quẻ Dịch trong bản kinh văn thông hành ta không thể không nghĩ rằng các nhà làm Dịch đã sử dụng Trung Thiên Đồ như là la bàn để phân bố các quẻ. Mở đầu kinh văn là hai quẻ Càn số 1, Khôn số 2 đúng như vị trí Càn Khôn đứng bên nhau trên Trung Thiên Đồ, cuối thượng kinh là hai quẻ Khảm số 29 và Ly số 30 đúng như vị trí Khảm Ly dưới Trung Thiên Đồ. Mở đầu hạ kinh là hai quẻ Trạch Sơn Hàm số 31 và quẻ Lôi Phong Hằng số 32 đúng như vị trí quẻ Đoài Trạch đối qua tâm với quẻ Cấn Sơn tạo thành quẻ Trạch Sơn Hàm, quẻ Chấn Lôi đối qua tâm với quẻ Tốn Phong tạo thành quẻ Lôi Phong Hằng nằm giữa Trung Thiên Đồ. Cuối hạ kinh là hai quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế số 63 và Hoả Thuỷ Vị Tế số 64 đúng như vị trí quẻ Khảm Thuỷ giao hoán với quẻ Ly Hoả tạo thành.
Khác hẳn với Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng đối nhau qua tâm, biểu hiện trạng thái phân ly, trên Trung Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng gần nhau từng đôi một biểu hiện trạng thái giao hội. Ở tự nhiên mọi vật có thể đối nghịch, vừa tương phản vừa tương thành. Nhưng ở con người thì khác, con người là một chỉnh thể, một thái cực, một toàn đồ âm dương phải tương hội điều hoà, nếu một bên thiên thắng con người sẽ bất ổn, phát sinh bệnh tật.
b) Đặt tên cho quẻ Dịch: Nhiều nhà chú giải Kinh Dịch Trung Quốc khi giải thích nghĩa chữ giao của hào thượng cửu quẻ Thiên Hoả Đồng nhân số 13 "Đồng nhân vu giao" thường chỉ dừng lại ở vấn đề chính trị xã hội nên hiểu giao theo một nghĩa rất hẹp, họ cho giao là vùng đất ngoại ô kinh thành nếu muốn đồng thì nên tìm người ở xa mà liên hiệp. Hiểu như vậy thì không sát nghĩa và không đúng với lập ý của người làm ra Kinh Dịch. Có lẽ vì người Trung Quốc trong tay không có la bàn Trung Thiên Đồ là đồ đã bị Tổ tiên người Việt Nam cất giấu rất kỹ không truyền ra ngoài nên không hiểu rằng giao tức là giao hội, khi hoả xà Kundalinê từ lâu cuộn mình ở đốt xương cùng có đủ điều kiện lên hợp nhất với thần Vishnou cư trú ở huyệt Thiên môn nghĩa là khi luân xa số 1 là quẻ Ly Hoả hoà nhập với luân xa số 7 là quẻ Càn Thiên là lúc con người đạt đến trạng thái toàn thức, hạnh phúc hoàn hảo nhất, con người đạt đến mức độ giao hội cùng vũ trụ, tha nhân, vì thế mới đặt tên cho quẻ này là Thiên Hoả Đồng nhân. Giao nằm ở hào thượng cửu (theo Dịch lý thuộc tài thiên), tức là ở mức độ đồng nhân cao nhất, mức độ hoà đồng siêu việt, Nếu hiểu giao như nghĩa các chữ Đông giao (ngoại ô phía đông), Nam giao (ngoại ô phía Nam) thì không phù hợp với cấu trúc quẻ Dịch, hiểu như vậy là mặc nhiên nhận giao thuộc về đất phải nằm ở hào hai, tài Địa. Cũng như quẻ Đồng Nhân, các Dịch học gia Trung Quốc cũng bị hạn chế khi hiểu quẻ Đại Hữu chỉ là sở hữu tài sản vật chất họ không ngờ rằng Đại Hữu là sở hữu tài sản tinh thần vĩ đại, quẻ này chính là ghi lại thành tựu một quá trình công phu trãi nghiệm của hành giả đã hợp nhất với vũ trụ, mà mỗi hào mô tả thành quả một chặng đường liên tục từ hạ đẳng công phu đến thượng đẳng công phu.
c) Đọc lại Kinh Dịch: Nhờ có Trung Thiên Đồ ta có thể đọc lại Kinh Dịch một cách chính xác hơn, điều này nghe có vẽ nghịch lý vì ta làm sao thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa hơn người Trung Hoa được, nhưng vì ta có Trung Thiên Đồ là la bàn tổ tiên ta dựa vào đấy để viết các lời hào nên chúng ta có cách đọc thuận lợi hơn. Ở đây tôi chỉ xin dẫn ra một thí dụ để minh chứng. Kinh Dịch có ba quẻ nói đến Tây Nam, quẻ Giải: "Lợi Tây Nam", quẻ Kiển: "Lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc”, quẻ Khôn: "Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng”. Căn cứ vào Hậu Thiên Đồ, quẻ Khôn (đất) nằm ở hướng Tây Nam, quẻ Cấn (núi) nằm ở hướng Đông Bắc, Vương Bật, người thời Tam Quốc, trong Chu Dịch chú giải thích như sau: ”Tây Nam là đất bằng, Đông Bắc là núi non. Từ chỗ khó mà đi đến chỗ bằng, cho nên khó khăn sẽ hết, từ chỗ khó mà đi lên núi, thì sẽ cùng đường”, Khổng Dĩnh Đạt trong Chu Dịch chính nghĩa viết: ”Tây Nam thuận vị là hướng bằng phẳng dễ đi, Đông Bắc hiểm vị là chỗ trắc trở khó khăn. Đường đi lắm trắc trở, tất cả đi đến chỗ bằng dễ đi thì khó khăn sẽ hết, trái lại nếu đi vào chỗ hiểm thì càng bế tắc cùng đường. Đi ở phải hợp lý vậy”, (3, tr 846).Trương Thiện Văn trong Từ điển Chu Dịch giải thích: ”Lợi cho việc đi về đất bằng Tây Nam, không lợi cho việc đi về phía núi non đông bắc. Tây nam tượng trưng cho đất bằng, Đông bắc tượng trưng cho núi non. Đây nói ở thời kiển nạn mọi hành động đều phải tránh khó khăn hiểm trở, phải hướng về phía bằng phẳng thì mới có thể vượt qua kiển nạn,vì vậy nói lợi tây nam, bất lợi đông bắc”, (3, tr 907). Nói chung lời giải thích của đa số Dịch gia Trung Quốc đều dựa vào vị trí các quẻ trên Hậu Thiên Đồ và đều cho núi là trở ngại, nhưng giải như vậy không thể khớp với Dịch lý, quẻ Kiển tức là quẻ Thuỷ Sơn Kiển, hình tượng nước ngập núi, trận đại hồng thuỷ. Vậy núi chỉ là trở ngại thứ yếu. Sự thật đối với người cổ đại núi tuy có khổ ải hơn nơi bằng phẳng nhưng không phải là trở ngại đáng kể. Đối với người cổ đại núi là nhà, hang hốc là nhà. Núi che chở cho họ, cung cấp thực phẩm, đùm bọc nuôi dưỡng họ. Nói cho cùng với tượng quẻ như vậy, người ta không lo về núi mà nỗi lo triền miên chính là nước. Suốt thời cổ đại, nhất là ở Việt nam, chiến tranh bất tận là chiến cuộc giữa NGƯỜI với NƯỚC. Con người khơi dòng lấy đất canh tác, đẩy lùi biển để giành đất sống. Khi con người thắng biển nghĩa là khi Sơn tinh thắng Thuỷ tinh, Kiển nạn được giải. Vấn đề lật ngược, quẻ Thuỷ Sơn Kiển lật thành quẻ Sơn Thuỷ Mông, Thoán từ ca ngợi chiến công thần thánh này là Lợi Trinh (thắng lợi bền chặc).
Ở Hậu Thiên Đồ cũng như ở Trung Thiên Đồ, quẻ Khôn cùng ở vị trí Tây Nam nhưng ở vị trí Đông Bắc thì quẻ của hai đồ hoàn toàn ngược nhau. Nếu Hậu Thiên Đồ là quẻ Cấn (núi) thì ở Trung Thiên Đồ lại là quẻ Khảm (nước). Ta thấy rõ muốn hiểu nghĩa lời hào của ba quẻ đó không thể dựa vào vị trí quẻ trên Hậu Thiên Đồ, vì không chính xác. Chỉ có thể dựa vào vị trí quẻ trên Trung Thiên Đồ mới làm sáng tỏ được nghĩa quẻ. Con người không ngại núi mà chỉ e sông, e biển. Câu lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc không phù hợp với thực tiển Trung Quốc vì con đường sống của họ luôn dịch chuyển từ Tây Bắc sang Đông Bắc, hành trình các kinh đô của các triều đại Trung Hoa thường đi từ núi ra biển:Tây An - Trường An - Lạc Dương - Khai Phong - Bắc Kinh. Đó là hành trình ngược với lời hào ba quẻ: Giải, Khôn, Kiển.
Trong khi đó lời hào ba quẻ trên lại hoàn toàn phù hợp với thực tiển Việt Nam. Đối với Việt Nam, Đông Bắc mới thực là bất lợi, đó là biển cả là cửa ngỏ cho phong kiến phương bắc xâm lược. Việt Nam chỉ có con đường sống là mở nước về phương Nam và Tây nam. Lịch sử Việt Nam đã chứng thực lời đó, đã hai lần chúng ta tiến về hướng Tây Nam, đợt đầu tiến về đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, đợt sau tiến về vựa lúa châu thổ sông Cửu Long. Lời hào trên vẫn còn là lời dự báo ứng nghiệm với Việt Nam ngày nay: Tây Nam đắc bằng khi gia nhập khối Đông Nam Á, con đường Tây nam đang ở thế thuận lợi.

6/ Kết luận:
Chúng ta còn nhiều chứng lý từ vật thể đến phi vật thể, từ ngôn ngữ đến văn bản, nhưng mấu chốt hơn hết để chứng minh Kinh Dịch do Tổ tiên người Việt Nam sáng tạo vẫn là vai trò của Trung Thiên Đồ. Khi một người muốn chứng minh một vật là sản phẩm do chính mình đúc ra thì ngườI đó phải trưng ra khuôn đúc, ở đây cũng vậy Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ giống như không có khuôn đúc thì làm sao bảo rằng Trung Quốc đã sáng chế ra Kinh Dịch. Thật ra Trung Quốc chỉ có công phát huy Kinh Dịch nhờ đó Kinh Dịch mới có bộ mặt vĩ đại như ngày nay, cũng như họ đã làm rạng rỡ cho Thiền nhưng không ai có thể quên Thiền có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ. Đã đến lúc cái gì của César phải trả lại cho César. Khi chúng ta nhận ra rằng Kinh Dịch là di sản của Tổ tiên ta sáng tạo, ta sẽ hiểu được do đâu ta cũng cùng giải đất với các dân tộc vùng Hoa Nam, núi liền núi, sông liền sông mà họ bị đồng hoá còn chúng ta thì không. Kinh Dịch chính là cuốn Cổ văn hoá sử của Việt Nam mà Tổ tiên chúng ta còn lưu lại ngày nay, tuy có bị sửa đổi nhuận sắc nhiều lần nhưng những vết tích của nền văn minh thời các vua Hùng dựng nước vẫn còn đậm nét trong nhiều quẻ Dịch.
Người sáng tạo Kinh Dịch đã dựa vào Trung Thiên Đồ để bố cục vị trí các quẻ đúng như bản thông hành hiện đang phổ biến. Các Dịch học gia Trung Quốc căn cứ vào vị trí các quẻ theo Hậu Thiên Đồ nên có nhiều câu trong Kinh văn bị họ giảng sai với ý nguyên tác, muốn giảng cho đúng phải dựa vào Trung Thiên Đồ, không thể làm khác được.
Trung Thiên Đồ giữ một vị trí quan trọng và quyết định như vậy đã được Tổ tiên Việt Nam cất giấu rất kĩ trong truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ. Từ truyền thuyết này có thể tìm lại Trung Thiên Đồ. Trung Thiên Đồ còn được khắc ghi cẩn trọng trên Trống đồng Đông Sơn có điều kiện tác giả bài này sẽ công bố sau.
Chúng tôi còn nhiều minh chứng khác để kiện toàn chứng lý cho kỳ án này. Không còn nghi ngờ gì nữa, Kinh Dịch chính là sáng tạo của Tổ tiên Việt Nam. Muốn hiểu đúng bản chất văn hoá Việt Nam không thể không khảo sát Kinh Dịch, như là sáng tạo của Việt Nam.

Nguồn www.thanhnien.con.vn (http://www.thanhnien.con.vn)

Ganda
28-01-2008, 04:50 PM
BÀN VỀ TÊN GỌI TÁM QUẺ CƠ BẢN CỦA KINH DỊCH
.
Nguyễn Thiếu Dũng

Ngày nay việc tìm về nguồn gốc Kinh Dịch đối với các nhà Dịch Học Trung Quốc vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi. Họ không còn tin vào huyền thoại Phục Hy.Họ muốn có câu trả lời từ chính những chứng cứ khoa học,nhưng chẳng có đáp án nào thoả mãn được họ.Phùng Hữu Lan cho rằng đời Thương chưa có chứng cứ về Dịch.Diệp Phước Tường nói rằng trong sách Thượng Thư,thiên Thương Thư không nói đến Dịch,thiên Hồng phạm có ghi Cơ tử truyền Hồng phạm cữu trù cho Võ Vương, Cơ tử tinh thông ngũ hành sao lại không đá động đến Dịch,lại nữa Giáp cốt văn không có chữ quái vậy là đời Thương không có Dịch,việc Văn Vương soạn Dịch không đáng tin.(Chu Dịch tư tưởng tổng hợp phân tích) Trương Chính Lãng dựa vào Giáp cốt văn cho rằng các loại quẻ chữ số là tiền thân của quẻ Dịch,nhưng quẻ Dịch chỉ hạn định trong 64 quẻ còn quẻ chữ số có đến hàng trăm quẻ,hai cơ chế khác nhau,không thể có chuyện hôn nhân cưỡng bức.Cố Hiệt Cương cho rằng Dịch có nguồn gốc từ những chiêm từ của bọn vu thuật,nhưng quái từ và hào từ của Kinh Dịch lại được căn cứ vào chính quái tượng để viết ra,không thể gán ghép gượng ép được.
Càng muốn biết rõ cội nguồn Kinh Dịch mà lại giữ nguyên huyền thoại Kinh Dịch là sáng tạo của người Hoa họ sẽ mãi mãi lâm vào thế “đê dương xúc phiên,bát năng thoái,bất năng toại”(quẻ Đại Tráng). Đúng như Vương Ngọc Đức trong sách Bí Ẩn của Bát Quái nhận định “Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa,thì hai ngàn năm nữa cũng chưa làm rõ được vấn đề” (tr 27).
Gần đây,Hoàng Ý Lục,một người Trung Quốc thuộc dân tộc Tráng (ta gọi là dân tộc Choang), ở Vân Nam đã gây chấn động trước học giới Trung Quốc khi trưng ra nhiều chứng cứ cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ dân tộc Tráng, ông cho rằng Kê quái của người Tráng là tiền thân của Dịch quái,quái danh được gọi theo ngôn ngữ Tráng tộc chứ không phải theo ngôn ngữ Trung Hoa.Hoàng Ý Lục viết:” “bát quái đích quái danh thị Hán tự đãn bất thị Hán tự ý tứ”(quái danh của bát quái viết theo dạng chữ Hán nhưng ý tứ không theo chữ Hán) (1).Ông nói rõ tên tám quẻ đó do người Trung Quốc dùng chữ Hán ký âm ngôn ngữ của dân tộc thiểu số,dân tộc Bách Việt còn gọi là Tiên Việt (dụng Hán tự ký âm đích thiểu số dân tộc ngữ ngôn) (2).

Người Tráng là dân tộc thiểu số có số dân rất đông ở Trung Quốc,hiện cư trú tại các vùng Vân Nam,Quảng Tây,Quảng Đông,Quý Châu.Tổ tiên họ thường xưng là Âu Việt,Lạc Việt.Họ cũng là người Tày,người Nùng ở Việt Nam.
Phần đóng góp của Hoàng Ý Lục có tính đột phá đối với Dịch giới Trung Quốc,mở ra một lối tư duy mới không theo lối mòn. Đây cũng là những chỉ dấu quan trọng làm sáng tỏ con đường trở về với đất mẹ Việt Nam của Kinh Dịch.Từ 5000 năm trước Tráng tộc là một trong những chi lưu Bách Việt đã đưa Kinh Dịch hội nhập vào thế giới người Hoa,ngày nay cũng chính họ sẽ lại là người dẫn đường cho cuộc hành trình trở về nơi chôn nhau cắt rốn của Kinh Dịch.
Tổ tiên Việt Nam gọi Kinh Dịch là Kinh Diệc,một loài chim nước giống Cò, điều này thấy được trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ.Diệc cùng âm với Dịch,người Hoa bèn gọi là Kinh Dịch và chuyển đổi hình ảnh con Diệc thành con Tích Dịch.
Kinh Dịch là Lạc thư của người Việt (Lạc Việt-Việt Nam) .Lạc Thư chính là Diệc Thư.Khi nghiên cứu Sơn Hải Kinh,Hoàng Ý Lục phát hiện “ Chữ Dịch của Kinh Dịch ,bản thân chính là hình tượng của ‘phi điểu” (chim bay),Dân tộc Tráng,dân tộc Bố Y hậu duệ của dân tộc Tiên Việt gọi điểu là Lạc.Lạc thư cũng chính là Điểu thư.(Dịch Kinh chi Dịch,bổn thân tựu thị phi điểu đích hình tượng”..”do vu Tiên Việt chi dân đích hậu duệ Tráng,Bố Y đẳng dân tộc bả điểu khiếu tố Lạc (洛 hay 骆)…cố Lạc thư dã tựu thị điểu thư) (2).Không phải Tích Dịch là loài chim mà Diệc mới chính là loài chim.Trong suốt thời các vương triều dân ta vẫn gọi Kinh Dịch là Kinh Diệc,Tự điển của Pierre Pigneaux de Béhaine ,thế kỷ XVIII,chỉ ghi Kinh Diệc,không ghi Kinh Dịch.
Kinh Dịch là sản phẩm của phương Nam (nơi sản sinh lúa nước) chứ không phải là phương Bắc(nơi chỉ chuyên trồng kê).
Các nhà khảo cổ Việt Nam đã khai quật được hai cái nồi gốm tại di chỉ Xóm Rền thuộc nền văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên,mỗi nồi có khắc ghi một quẻ Dịch (4 vạch/vành, đọc theo phép hổ thể) (3).Hình thái này sẽ được văn hoá Đông Sơn bảo lưu và chuyển dịch thành quẻ 6 vạch/vành rõ nét hơn. Điều này chứng tỏ dấu tích Kinh Dịch có tại Việt nam sớm hơn Trung Quốc,vậy là cách đây khoảng 5000 năm tổ tiên ta đã phát minh ra Kinh Dịch,về sau mới được truyền sang Trung Quốc (trung gian là Bách Việt Hoa Nam).
Ngày nay tại Trung Quốc việc nghiên cứu,tìm hiểu, ứng dụng Kinh Dịch càng ngày càng tăng tốc như vũ bão.Nhiều trường Đại Học Trung Quốc đều có dạy Kinh Dịch và có sở nghiên cứu Kinh Dịch.Trong khi đó tại nước ta việc nghiên cứu Kinh Dịch đã không được chú trọng đúng tầm mức. Đáng tiếc là chúng ta không ý thức được Kinh Dịch là quốc bảo nên quá thờ ơ với tâm huyết của tổ tiên.

Trung Hoa cho rằng Dịch là con Tích dịch thường hay biến đổi màu sắc tượng trưng cho sự biến dịch,nghĩa này cũng tương tự như nghĩa Dịch gồm hai chữ nhật và nguyệt, đều là nghĩa thứ phát mang màu sắc triết lý,chỉ là suy diễn sau khi Dịch /Diệc đã thành hình và phát triển.Theo Cao Hanh trong Chu Dịch cổ kinh kim chú Dịch cùng âm với hịch (vu hịch) là chức quan coi bói nên sách của họ cũng gọi là hịch (như sách của Sử quan gọi là Sử).Hịch chuyển thành Dịch,các sách bói đều gọi là Dịch như Liên Sơn Dịch,Quy tàng Dịch,Chu Dịch.
Vậy là sách Hịch chuyển thành Dịch,sách Diệc cũng chuyển thành Dịch.Hai sách của hai dân tộc khác nhau, được đồng hoá vào cùng một từ,cuộc sáp nhập trùng khớp thật là nhẹ nhàng , êm ái.
Vào thời kỳ mà người Trung Hoa chưa tìm thấy bản vẽ các quẻ trong Kinh Dịch thì tổ tiên ta đã khắc đầy đủ các quẻ Dịch trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn với hình tượng rất rõ ràng,tiến lên bậc cao hơn họ còn có thể trang trí những quẻ Dịch đó với nhiều hoạ tiết phong phú. Điều đó nói lên rằng họ đã quá nhuần nhuyển với quẻ Dịch để có thể biến hoá ra thiên hình vạn trạng.
Kinh Dịch được hình thành bởi hai hào âm dương,có thể nói không có hào âm hào dương,biểu thị cho hai năng lực đối lập trong vũ trụ, thì không thể tạo ra Kinh Dịch.Trong các bản kinh Dịch phổ thông ta thấy hào âm được biểu thị bằng vạch đứt,hào dương được biểu thị bằng vạch liền. Hào âm vạch đứt không phải là dạng nguyên thuỷ mà đã được người Hoa cải biến,thật ra trên trống đồng hào âm được khắc là hào có nhiều chấm …..,hoặc là vành trắng nằm giữa hai đường song song, không có hoa văn trang trí.Hào dương nguyên thuỷ do tổ tiên ta sáng chế là hào có vạch liền hoặc là hào nằm giữa hai đường song song và có hoa văn trang trí(4).Quách Mạt Nhược cho rằng hào Dương lấy từ hình tượng sinh dục nam,hào âm là hình tượng sinh dục nữ.Thật ra hào dương được tổ tiên ta lấy từ hình tượng ngọn giáo,cây gậy hay khúc cây làm chày giả gạo (tượng cho trường, đường,miên tục),còn hào âm là hình tượng những lỗ đâm trên đất để gieo hạt (tượng cho hạt, điểm,gián đoạn).
Kinh Dịch được sáng tạo qua những đúc kết từ những kinh nghiệm lao động,nên hết sức giản dị, dần dần phát triển thành triết lý hướng dẫn nhân sinh càng ngày càng phức tạp.
Hai hào âm dương nếu lần lượt chồng lên nhau sẽ cho ra 8 quẻ đơn là Càn,Khảm,Cấn,Chấn ,Tốn ,Ly,Khôn , Đoài.
Nếu ta hỏi các nhà Dịch học Trung Hoa ,tại sao quẻ có ba hào dương gọi là quẻ Càn,ba hào âm gọi là quẻ Khôn, Càn nghĩa là gì?Khôn nghĩa là gì?Các quẻ kia nghĩa thế nào? Họ không trả lời được.
Các nhà Dịch Học Trung Hoa lúng túng khi muốn giải nghĩa danh xưng tám quẻ vì họ cứ tưởng đó là tiếng Hoa (Quách Mạt Nhược,Văn Nhất Đa thử giải quyết nhưng bất thông.Quách Mạt Nhược cho Càn là do chữ Thiên cổ bẻ ra,Văn Nhất Đa cho Càn vốn là Oát biệt danh của sao Bắc Đẩu viết nhầm.Khổng Dĩnh Đạt cho thể của trời gọi là Thiên,dụng của trời gọi là Càn .
Họ không hiểu được nghĩa của tên 8 quẻ đó vì họ không ngờ 8 chữ đó chỉ dùng để ghi âm tiếng Việt (Việt Nam )

Quẻ Càn còn đọc là Kiền hay Can,theo Lý Phú Tôn trong Dịch kinh dị văn thích (5): Càn (乾),Cán (幹), Can (肝) dùng thông với nhau.
Càn được người Việt đặt tên theo nghĩa hào dương do ba khúc cây được can lại, ghép lại với nhau.Người ta can các thanh gỗ lại thành sàn (nhà) hay giàn (đậu,bầu) cứng chắc, có thể đi lại trên đó vẫn không gãy đổ.Qua đó suy ra quẻ Càn có đức tính kiện (cứng chắc),phát sinh nghĩa triết lý “càn,kiện dã” rồi được người Trung Hoa suy diễn tiếp “thiên hành kiện,quân tử dĩ tự cường bất tức”.Bạch thư Chu Dịch không gọi quẻ này là Càn mà gọi là Kiện (với nghĩa cứng chắc),chứng tỏ Càn/Can chỉ là thuật ngữ,Can chuyển nghĩa sang Kiện để người Hoa trực tiếp hiểu được ý nghĩa của quẻ. Khi can các khúc cây lại với nhau để được chắc chắn ,ta phải buộc chúng lại,chẳng hạn ta có thể buộc lại bằng những sợi lạt theo các nuộc hình chữ x.Chữ hào (còn đọc hiệu hay giáo) là hình hai chữ x chồng lên nhau,chính là do từ hình tượng các nuộc lạt hình chữ x tạo ra.Hào là chữ kiện chứng cho Can hay Càn.
Gọi hào là khắc vạch là diễn tả cách người ta viết,hay khắc hay hoạ quẻ (quái).Thực tế thì người xưa làm Dịch chỉ cần mấy khúc cây,thanh gỗ,hay que củi,thẻ tre đánh dấu mặt dương,mặt âm rồi sắp lại với nhau ,thay đổi lần lượt vị trí âm,dương là có thể nói chuyện về Dịch.Vì tổ tiên ta sắp xếp các que lại với nhau thành tổ hợp ba hay sáu que,nên gọi tổ hợp đó là quẻ.
Người Hoa phiên âm quẻ thành quái. Họ lấy chữ khuê làm âm thêm chữ bốc biểu ý tạo thành chữ quái, đây là chữ mới,trong Giáp cốt văn không tìm thấy chữ quái.
Họ giảng quái là treo lên (quái giả, quái dã),khi bói được một quẻ đem treo lên gọi là quái.Trương Huệ Đống nói là bói được một quẻ thì vạch trên đất (thổ) nên chữ quái mới có chữ khuê hai chữ thổ.Chữ Nôm cũng viết chữ que bằng chữ khuê (có âm tương tự) ,viết chữ quẻ bằng chữ khuê hay chữ quế (mộc + khuê).
Vậy là quẻ đẻ ra quái chứ không phải quái sinh ra quẻ.Người Hoa đã lấy âm khuê (gui) để ghi âm que ,quẻ của người Việt.Tượng của hào dương là một vạch,tượng của hào âm là một chấm hay nhiều chấm,hai tượng này ghép lại với nhau chẳng khác gì hình dạng chữ bốc.Với chữ quái gồm chữ khuê đi với một vạch đứng và một chấm,dùng ngữ ngôn tiếng Việt (Việt Nam) ta có thể đọc ngay định nghĩa của chữ này: Quái là Quẻ là tổ hợp các que (khuê) dương (vạch đứng) hay âm (chấm).
Tại sao không gọi hào là vạch, que,thanh,khúc,thẻ mà gọi là hào? vì hào diễn ý một vạch ,một que,một thanh, một khúc có liên hệ ràng buộc qua lại với nhau như những nuộc lạt buộc lại, âm dương giao dịch,chứ không đơn thuần là vạch,là que.

Quẻ Khôn :Khôn gồm ba hào âm,là hình tượng những lỗ tra hạt hay hố trồng cây,nên được khắc bằng những nét chấm chấm …..,hoặc những lỗ tròn ooooo.Đó là hình ảnh một khu đất ,một thửa ruộng chứa đầy những lỗ ,những hố được con người cho hạt hay cây giống vào .Từ những lỗ,hố đó cây cối mọc lên đem lại lương thực cho họ,họ khen những lỗ ,hố đó là khôn ngoan biết chìu theo ý người.Cho nên quẻ toàn âm được gọi là Khôn.Khôn có đức quẻ là thuận,thuận theo ý người,rồi phát triển thành nghĩa triết học âm thuận theo dương.
Ta còn một cách hiểu khác:
Theo tự dạng chữ khôn gồm có chữ thổ (đất) + chữ thân ( địa chi thân) thì ta có thể suy ra khôn là để diễn ý chôn,chôn là do hạt được chôn vào lỗ,cây chôn vào hố.Nếu bộ thổ chỉ ý khôn là đất thì thân phải là từ chỉ âm nhưng khôn đọc là kun còn thân đọc là shen như vậy là không đúng với cách cấu tạo từ của Trung Hoa.Chữ thân đi với bộ thổ chỉ tạo một từ đọc là kun,còn thân (shen) đi với các bộ khác để làm âm thì có nhiều từ :thân (với bộ nhân) là duỗi ra,thân (với bộ khẩu) là rên rỉ,thân (với bộ mịch) là dải thắt lưng của đại phu.
Trên trống Đông Sơn có hình cái trống da mà dạng hình của nó giống như chữ trung,khi trống đánh xong nếu gát dùi trống vào giữa ,như là chữ trung có gạch ngang ở giữa,thì trùng với tự dạng chữ thân.Tục lệ ngày xưa đánh trống xong thì chôn trống xuống đất,khi nào có lễ thì cúng tế rước trống lên.Tục lệ này có lẽ chỉ áp dụng cho trống đồng là loại trống đặc biệt dùng để tế lễ (nhờ vậy mà nhiều trống lễ đã thoát khỏi bàn tay phá huỷ của quân xâm lược).Phải chăng vì thế mà khôn được cấu tạo để diễn ý chôn (trống tế xong xuống đất).
Quẻ Ly: Ly chỉ là chữ ký âm của lửa người Hoa đọc là lí,tổ tiên ta hình dung hai hào dương tựa như hai khúc cây chà xác vào nhau tạo ra lửa (hình dạng hào âm).Quẻ này Bạch thư Chu Dịch ghi là La,người Hoa đọc là luó cũng gần với âm lửa.Sở dĩ có sự khác nhau là vì quẻ Ly được hai người Trung Hoa thu nhận âm lửa vào những thời khắc khác nhau,không gian khác nhau nên ghi âm na ná nhau mà thôi.Chữ Nôm ghi âm lửa bằng chữ lã,cũng tương tự nhau.Lửa phải dựa vào vật khác mới phát sinh nên đức của nó là lệ (lệ thuộc,dựa vào)
Quẻ Khảm:ai cũng biết khảm là thuỷ nhưng tại sao người Hoa lại không dùng bộ thuỷ mà lại dùng bộ thổ để viết chữ khảm,vô lý, vậy khảm chỉ là chữ Hán dùng để ghi âm tiếng Việt.Người Việt thường nói khảm thuyền qua sông (đưa thuyền qua sông),hoặc khảm xa cừ (gắn xa cừ vào miếng gỗ để trang trí).Ta có thể hình dung hào dương ở giữa hào âm như chiếc thuyền được khảm qua sông,hoặc là vật được khảm vào. Đức của quẻ khảm là hãm (trũng,lún),hào dương như bị hãm vào giữa hầm hố giống như bị đưa vào chốn hiểm nguy,từ đó phát sinh nghĩa triết học của quẻ khảm là hãm (hiểm)
.
Quẻ Cấn: Rõ ràng cấn là tiếng Việt trong nghĩa cấn cái,quẻ được hình dung như một khúc cây bị cấn trên miệng hố. Đức của quẻ Cấn là chỉ,nghĩa là dừng lại,là cấn (không di chuyển được).Từ đó phát sinh nghĩa triết học cấn = chỉ.
Trung Hoa gọi quẻ Cấn là quẻ Sơn có tượng là núi (hình tượng dừng lại,không xê dịch) nhưng trong hào từ quẻ Cấn không có hào nào nói đến núi. Đây là nhận xét của Cao Hanh trong “Chu Dịch cổ kinh kim chú”:”Quái hào từ của quẻ Càn không câu nào nói về trời,Quái hào từ quẻ Tốn không câu nào nói về gió,Quái hào từ quẻ Ly không câu nào nói về lửa,Quái hào từ quẻ Cấn không câu nào nói về núi.Quái hào từ quẻ Đoài không câu nào nói về đầm.Quái Khôn tuy liên quan đến đất nhưng không nói về đất.Quái Khảm tuy có liên quan đến nước nhưng không nói về nước.Chỉ có quẻ Chấn nói về sấm” (BABQ,tr 63).
Quẻ Cấn không nói đến núi nhưng cả 6 hào đều nói đến Cấn với nghĩa ngăn trở cấn cái:
-Thoán từ : Cấn kỳ bối ( cấn lưng)
-Sơ lục : Cấn kỳ chỉ ( cấn ngón chân)
-Lục nhị : Cấn kỳ phì ( cấn bắp chân)
-Cửu tam : Cấn kỳ hạn ( cấn thắt lưng)
-Lục tứ : Cấn kỳ thân ( cấn mình)
-Lục ngũ : Cấn kỳ phụ ( cấn mép hàm)
-Thượng cửu : Đôn (trên cùng, đỉnh đầu) cấn.

Quẻ Chấn: Đây là hình tượng cái trống đồng lật ngữa ra,hay là cái cối giả gạo, đánh trống hay giả gạo đều gây ra tiếng động ầm ầm như sấm.Vì vậy Chấn (zhèn) dùng để ghi âm sấm hay trống. Chấn thành thuật ngữ,cho nên mới cho đức của quẻ Chấn là động và tượng của quẻ là trống.Từ đó phát sinh nghĩa triết học của Chấn là động,biến động không ngừng.

Quẻ Tốn :là hình tượng của những khúc cây ghép lại thành phên vách ,phía dưới bị thủng nhiều lỗ (khuyết,mất ,tiêu tốn).Phên vách có lỗ để gió lọt vào,tượng của quẻ Tốn là gió (phong), đức của quẻ Tốn là vào (nhập).Nghĩa triết học là nhập.

Quẻ Đoài : Đoài đọc là duì ,quẻ có hình tượng ao đầm, nơi mọi người thường tụ họp ở đó để nấu ăn ,giặt rửa,hội hè, bơi chãi nên không khí rất vui, do đó đức của đoài là vui (duyệt). Đoài chỉ phương tây (theo Hậu thiên đồ),người Việt thường thích dùng tiếng đoài để gọi miền đất nằm ở phía tây,trong khi đó ở Trung Quốc ít thịnh hành.Cam Xã Đoài (Nghi Diên ,Nghi Lộc.Nghệ An),Thôn Đoài (Tam giang,Yên Phong,Bắc ninh),Chèo Đoài Thạch Thất, Xứ Đoài (Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm-Quang Dũng).Ca dao có câu “Làm trai cho đáng nên trai-Xuống đông đông tỉnh,lên đoài đoài tan.” ,”Tiếng ai như tiếng xứ Đoài - ăn cơm thì ít ăn khoai thì nhiều”.”Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông - Một người chín nhớ mười mong một người. ..”Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông- Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào”Nguyễn Bính),”Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ-Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay.Nguyễn Bính).”Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài -Phạm Thiên Thư)
Cũng cần nói thêm ở đây,nếu cho rằng Kinh Dịch có tám quẻ đơn tượng cho tám yếu tố quan trọng trong vũ trụ thì bảy yếu tố :trời đất,nước lửa,sấm gió,núi là chính xác, nhưng còn yếu tố ao đầm,nhỏ nhoi quá so với bảy yếu tố kia có vẻ bất xứng,tại sao lại có địa vị tối hệ trọng như vậy.Dường như nó chẳng xứng tầm với đất nước Trung Quốc bao la mà lại là rất riêng của Việt Nam, ao đầm là chỗ sinh hoạt quen thân thường ngày.Với người Việt –cha đẻ Kinh Dịch-chính cái nhỏ nhoi đó lại là cái tối cần thiết cho cuộc sống,vậy dùng nó đóng dấu (chữ của Kim Định) xác nhận tác quyền kinh Dịch để con cháu sau này nhờ đó mà truy nguyên công tích tổ tiên.Hoàng Ý Lục theo Tráng ngữ nói Đoài có nghĩa là sương tuyết.(2)

Nói cho cùng,người Trung Hoa chỉ dùng các từ Dịch,Hào,Quái,Càn ,Khôn,Ly, Khảm,Cấn,Chấn,Tốn , Đoài như là những thuật ngữ chứ không hiểu đúng nghĩa của chúng,vì những từ đó chỉ để ký âm tiếng Việt ,do người Việt sáng chế, đặt tên cho chúng.Quái hình,quái tượng,quái danh,quái đức theo cách cấu tạo của Văn Lang là một thể thống nhất chứ không phân ly,phân cách như theo cách hiểu của người Trung Hoa.

Kinh Dịch gồm có 8 quẻ đơn,64 quẻ kép,các quái từ ,hào từ cùng các đồ Tiên thiên,Trung Thiên,Hậu Thiên là di sản sáng tạo của tổ tiên người Việt Nam vào thời đại Hùng Vương,hoàn toàn có tính bản địa, là thành quả của nền Văn minh sông Hồng.Chỉ có Dịch Truyện còn gọi là thập dực mới là sáng tác của người Trung Hoa ,Truyện đó dùng để giảng giải phần Kinh,cũng là một đóng góp rất lớn của Trung Hoa vào vũ trụ Kinh Dịch.

Nguyễn Thiếu Dũng
Chú thích:
(1) “Tráng tộc kê quái dữ Dịch kinh quái danh quái tượng đích tỉ giảo nghiên cứu” < http://www.iqing.net>).
(2) “Dụng Tráng ngữ phá giải Dịch Kinh bát quái đích lịch sử mê đoàn ---Ký Vân Nam Tráng tộc học giả Hoàng Ý Lục đích Dịch học nghiên cứu”.Hồ Chánh Dân, Đặng Tiến Lợi.(Quảng Tây Chánh Hiệp báo)
(3) “ Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam ” –Nguyễn Thiếu Dũng .
(4) “Chiếc gậy thần- dạng thức nguyên thuỷ của hào âm,hào dương”-Nguyễn Thiếu Dũng .
(5) trong“Tục tu Tứ khố toàn thư”.

____________________
Nguồn: dunglac.net

han_tae_hieu
21-02-2009, 08:21 PM
Trung Hoa sẽ đại loạn khi họ thấy mình không còn là một.Ngày đó sẽ không còn xa.