PDA

View Full Version : Nguồn gốc tên Việt Nam của 12 con Giáp



Ganda
26-01-2008, 04:24 PM
Có một nhà khảo cổ học Phương Tây đã cho rằng cư dân Việt cũng sẽ bất ngờ và không tưởng tượng được sự lớn lao của nền văn minh của chính tổ tiên mình. Tôi có đọc một số bài viết về Văn hiến Việt xin chia sẻ với các bạn.

Ganda
26-01-2008, 04:38 PM
Tác giả Nguyễn Cung Thông.


Vấn đề cội nguồn văn hóa Việt Nam rất quan trọng. Nhiều vị đã mất cả đời người truy tìm, trong đó có LM Kim Định ... Tiếc rằng văn bản lịch sử rất mơ hồ, dữ kiện khảo cổ không có bao nhiêu... đồng thời các tài liệu Trung Hoa thì phức tạp và méo mó... nên phải rất thận trọng khi tìm về nguồn và không để cho tình cảm chi phối lý trí làm lệch lạc kết quả.

Hi vọng phương pháp tìm về nguồn dựa trên Ngữ Âm Học Lịch Sử (Historical Phonology) sẽ cho ta thấy nhiều kết quả chính xác hơn.


[upper:155ehvm8]
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
(phần 1)[/upper:155ehvm8]

Nguyễn Cung Thông



1. Giới thiệu tổng quát



Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) vì là những từ Hán Việt (HV).Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ hay có một khuynh hướng tổng quát chung nào đó thì những dạng này cần được so sánh với những từ khác với nguồn gốc không phải là Việt, Thí dụ như trong các từ liên hệ đến xe hơi chẳng hạn, ta thấy các dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp, két nước (tử két), đèn pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, hòn (viên) bi, bị giơ (lỏng), cái van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc điện …v…v... không kể các từ đa âm khác như bugi, táp-lô, rô-đa, mỏ-lét, rờ-le, bù-loong … So với tiếng Pháp và tiếng Anh hiện nay (không khác gì nhiều trong vòng trăm năm nay)



Tiếng Việt ---------- Pháp ---------- Anh



Pan ----- panne (bị hư) ----- out of order

Pha ----- phare (đèn trước) ----- headlight

Bi ----- bille (viên đạn) ----- ball

Giơ ----- jeu (lỏng) ---------- loose, worn out

Sạc ----- charge (thêm điện cho đủ) ---- charge

Van ----- valve --------------- valve

Vít-----vis --------------- screw

Két ----- caisse (tủ, bình chứa) ----- tank

Cáp ----- cable (dây điện) ----- cable

Xăng ----- essence --------------- gas, petrol

Bơm ----- pompe --------------- pump

…v…v…



Rõ ràng là các từ trên tương ứng với tiếng Pháp rất chặc chẽ so với tiếng Anh, hay một ngoại ngữ nào khác - người viết dùng tiếng Anh và Pháp để so sánh vì lịch sử cận đại cho thấy nhiều liên quan giữa nước Pháp, nước Mỹ với VN. Ngoài ra, kỹ thuật chế tạo, lắp ráp và bảo trì xe hơi (ô tô) là từ các nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng đề tài ra thì ta có các tiếng Pháp khác nhập vào tiếng Việt như bót/bốt (đồn cảnh sát), ông cẩm (commissaire), nhà ga (trạm xe lửa), lô, ký (kilogramme), xạc (sacrer, bị mắng), cuốc (xe cuốc, course, xe đua), cúp (coupe), cà-lem, kem (crème) ..v..v.. Phần lớn các từ mượn từ tiếng Pháp có phạm trù giới hạn và thường là thuật ngữ. Cách viết văn (cú pháp) và thành lập chữ của bị ảnh hưởng phần nào qua giao lưu văn hoá với Pháp : như cách dùng bàn giấy, giết thời gian … Trong các bài sau, người viết sẽ chú trọng đến sự so sánh các từ, các biến âm và phạm trù ngữ nghĩa của chúng. Giao lưu văn hoá với Pháp xẩy ra chỉ gần đây (hai trăm năm trở lại và càng ngày càng ít đi từ thời kỳ thuộc địa), thành ra các dạng biến âm rất dễ tra ra, cũng như từ phạm trù nghĩa giới hạn của chúng. Trở lại với tên 12 con giáp, thời kỳ giao lưu văn hoá với TH đã xẩy ra rất lâu (ít nhất đã hơn hai ngàn năm, so với hai trăm năm) và từng đợt chất chồng lên nhau, thêm vào đó là các tài liệu rất mơ hồ và thường hàm ý là tên 12 con giáp là của TH (một tiền đề không ai dám tranh cãi hay tìm ra ngọn ngành một cách rõ ràng và khoa học). Các tài liệu lại thường viết bằng chữ Hán, thêm và tiền đề (hầu như là một ‘công lý’ không ai chối cãi đuợc ?) về nguồn gốc TH hợp với cách viết chủ quan và đầy tự ái dân tộc của một số tác giả TH càng làm vấn đề trở nên phức tạp hơn nữa. Nhìn lại bảng so sánh một số tiếng Việt trong lãnh vực kỹ thuật (xe hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn đến đâu cũng không thể chối cãi quá trình mượn từ tiếng Pháp vào tiếng Việt, thêm vào đó là các tài liệu sách vở trong vòng hai thế kỷ qua dễ cho chúng ta kiểm lại kết luận này. Thực ra, sự vay mượn qua lại là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ loài người, chính sự thuần nhất (pure) ngôn ngữ mới là hiếm có hay là ngoại lệ ! Cũng như hiện tượng thuần chủng (pure race) vậy – cũng chính cách nhìn hạn hẹp từ sự thuần chủng mà đã xẩy ra bao nhiêu tai hoạ như Đức Quốc Xã với giống Aryen, chính sách White Policy hay nước Úc cho ‘người da trắng’ chẳng hạn ….– và cũng chính thái độ ù lỳ không chấp nhận ‘mình vay của người’ mà nhiều sai lầm đã xẩy ra, ngay cả cho một số công trình nghiên cứu trong quá khứ. Tiếng Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều từ gốc Hán, tiếng Anh/Pháp cũng đầy các từ gốc La-Tinh, Hi-Lạp … chẳng nước nào có ‘mặc cảm chữ nghĩa’ đâu ? Với các cảnh giác trên thì ai là chủ nhân của tên 12 con giáp ?



2. Vài nhận xét sơ khởi về tên 12 con giáp



2.1 Tên 12 con giáp đọc như tiếng HV, theo giọng Bắc Kinh (BK) và bằng cách ghi theo Phiên Âm (pinyin) là zĭ, chŏu, yín, măo, chén, sì, wǔ, wèi, shēn, yŏu, xū, hài hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi (tên) 12 con thú trong tiếng TH hiện nay – ngay cả giọng Quảng Đông (QĐ) ..v..v.. Khi phục hồi âm TH thời Thượng Cổ (Archaic Chinese) thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khắn khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh các từ về xe hơi phần trên, ta có thể đi dến kết luận là tiếng Pháp đã cho tiếng Việt mượn trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại1. Nhưng người viết không đi sâu thêm nữa để tìm hiểu các danh từ tiếng Pháp trên có nguồn gốc ở đâu. Xin nhắc lại ở đây là các bài này viết về nguồn gốc tên 12 con giáp, còn nguồn gốc 12 con giáp ở đâu ra không nằm trong phạm vi các phần sau.



2.2 Tại sao TH dùng con thỏ thay cho con mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) ? Xem cách viết chữ miêu (con mèo, giọng BK là māo) bằng bộ trỉ hợp với miêu (mầm mống, hài thanh) so với thỏ là chữ tượng hình – hay thố HV, giọng BK là tù viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của thỏ đối với văn hoá TH. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão : nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo…. Nhờ sự khác biệt này mà ta bắt đầu thấy mối dây liên hệ của tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn. Còn chi Ngọ liên hệ đến ngựa hầu như không cần giải thích nhiều, so với mã HV (mă BK, giọng BK hiện nay không còn âm ng- nữa mà đã bị môi hoá thành w- và m-). Các dạng Mão/Mẹo/mèo và Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa tên 12 con giáp với tiếng Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng Việt ta không có nhiều thanh điệu (tone) như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Như trong khẩu ngữ ta ta có cách dùng “chờ một tý” cũng như “chờ một chút”, “đưa chút tiền” cũng như “đưa tý tiền” … vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế hay người Hòn bây giờ (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì ta thấy ngay chút hay *chụt/chuột chính là các dạng của tý vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của tý/tử HV -chuột còn thấy qua các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia, tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa, tỷ-chị, tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết, từ-chợ, thị-chợ, thố-chua, thù-chuốc, thục-chuộc, thúc-chú….Thành ra, ta có sơ khởi là ba chi Mão/Mẹo, Ngọ và Tý có liên hệ với mèo, ngựa và chuột trong tiếng Việt hiện đại. Các phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự tương quan giữa tên các chi và các tên thú vật trong tiếng Việt.

2.3 Nếu quả thật tên 12 con giáp TH bắt nguồn từ tiếng Việt (Cổ), thì kết quả này còn phù hợp với các kết quả trước đây như triết gia Kim Định đã cố gắng chứng minh văn hoá TH xuất phát từ văn hoá Việt (SàiGòn vào thập niên 1970, như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên”), tác giả Nguyễn Hoài Nhân (bên Pháp vào thập niên 1980, như trong các bộ “VietNam en image” ghi nhận các bằng chứng về khảo cổ và ngôn ngữ để đi đến kết luận : người Việt Cổ là người cho, người TH là người nhận), tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Đế” đưa ra các dữ kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển) có nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu Dũng cũng bắt đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt) trong những năm gần đây … Cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Đường lúc văn hoá TH cực thịnh,. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán Cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.

Để thấy rõ hơn các liên hệ của tên thú vật và tàn tích trong tiếng Hán Cổ, chúng ta hãy xem một số từ chỉ con vật thông thường như cóc, voi … và cấu trúc của tiếng Hán cho thấy tàn tích của tiếng Việt mà đã từ từ mất đi trong ngôn ngữ TH hiện nay. Hi vọng từ đó khi tập trung nhìn vào các tương quan của tên 12 con giáp thì các liên hệ sẽ được rõ ràng hơn, nhất là qua sự so sánh các ngôn ngữ láng giềng với tiếng TH, HV, tiếng Việt.



2.4 Muốn tìm hiểu ngọn ngành trên phương diện so sánh các ngôn ngữ, ngày nay ta không đến nỗi phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa, nhất là về đề tài 12 con giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet, sách vở được ấn hành nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là chánh phủ địa phương có vẻ như càng ngày càng mở mang và thành thật hơn, không độc đoán và che dấu hay ‘bóp méo’ các dữ kiện khảo cổ, ngôn ngữ như xưa. Cách đây hơn 50 năm, Phan Khôi - một nhà nghiên cứu văn hoá VN rất nhiệt thành – đã phải lên tiếng “… người VN chúng ta về sau phải sang TH ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TH từ đời thượng cổ…” (trang 34, “Việt Ngữ nghiên cứu” Phan Khôi, bài viết năm 1954, in lại – NXB Đà Nẵng, 1997). Đương nhiên là các kết quả của so sánh ngôn ngữ phải phù hợp với những kết quả từ ngành khảo cổ, lịch sử và di truyền (DNA)… để tăng mức độ chính xác.



3. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)



3.1 Cóc là loài vật vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước (gọi là amphibian) hiện diện trong các ngôn ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng Mường), ka kọc (Nùng), róc (Lào : lụt róc, kăn kắk, khăn khắk : cóc), khàng khók (Thái), king kuok (Khme), a-rok (Chàm), kok, kokke, khog (Mundari, Birhor, Hor…ngữ hệ Munda), cơưk (Hmong) ..v..v.. Trong vốn từ TH hiên nay, còn một chữ rất hiếm là cúc HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc hài thanh (HT, cúc nghĩa là nắm, túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con cóc, tiếng TH có các từ thiềm HV (chán, zhān BK) viết bằng bộ trùng (cũng có nghĩa là bóng đen trên mặt trăng, tiếng ghép HV thiềm thừ là con cóc); thừ HV (shú, chú, yú BK) viết bằng bộ trùng hợp với chữ dư HT; ma HV (má, mò BK viết bằng bộ trùng, còn là một loại ếch); Ba/pha/bì HV (bŏ, pí BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ bì HT - từ này ít dùng với tần số dùng là 10 trên 365398752 cho thấy một cách phân biệt cóc và nhái qua lớp da sần)… Trái cóc có vỏ như da cóc … Theo người viết thì cóc2 có thể là một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt ‘cọc… cọc”) với âm yết hầu k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ gì đến tiếng Việt hay Nam Á như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam Thái Bình Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok, katak, tiếng Kơho là kit trô …



3.2 Voi là một từ đáng chú ý : có nhiều cách viết chữ Nôm, như bộ khuyển hợp với chữ vi HV (hài thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV), bộ khuyển hợp với chữ bôi (cái chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ khuyển hợp vớI chữ bút … Các chữ voi này rất xa lạ với người TH, . Tiếng TH hiện nay có tượng HV, giọng BK bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung6 liên hệ đến giống tiếng Việt, viết bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT. Chữ tượng có cách viết cổ giống như hình con voi nhưng lại dựng đứng lên để theo chiều từ trên xuống dưới và để tiết kiệm diện tích viết chữ. Tượng còn dùng để chỉ bức tượng trong tiếng Việt so với tiếng TH bây giờ phải dùng các từ ghép như diāoxiàng BK (điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố tượng, tượng được nặn hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người coi (kiểm soát) voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc tiếng Phạn là mahamatrah. Con tượng còn là con voi trong bàn cờ tướng. Một điểm đáng chú ý là chỉ có voi là loài vật khác trong các loại lợn được viết bằng bộ thỉ (con lợn) thứ 152. Dự là từ HV đã từng có nghĩa là con voi - chữ này viết bằng bộ thỉ, thật ra là chữ dư hợp với chữ tượng - hiện thời có các nghĩa như vui vẻ (nghĩa bây giờ hơi khác hơn và thiên về an nhàn), thoải mái, du ngoạn (hàm ý vui vẻ), do dự, dự bị, một trong chín châu (Cửu Châu) của TH thời xưa (bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng là tên cổ của Hà Nam3), gạt gẫm … và rất ít tự điển ghi nhận nghĩa cổ của dự là voi4. Theo người viết, vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên hệ u-o (vui-voi) còn thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-tòng (thông), chùm-chòm, vũ-võ, trụi-trọi, dung-dong, phù-phò, hụi-hội, tui-tôi, thúi-thối … do đó ta có cơ sở giải thích liên hệ dự-vui-voi. Voi từ chữ dự (có chữ tượng) hợp lý hơn là từ chữ vi (bộ trảo) theo Vương Lực (xem phụ chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ cho liên hệ dự-vui còn thấy qua các chữ HV như du (yú BK, viết bằng bộ sước) có nghĩa là đi chơi, vui vẻ; du HV (yú BK viết bằng bộ tâm) có nghĩa là yên vui … Các cách viết khác nhau để ghi lại âm ‘vui’ cho thấy lý luận dự-vui thêm phần chính xác (nhớ rằng chữ viết có sau tiếng nói).



3.3 Vụ HV viết bằng bộ điểu, giọng BK bây giờ là wù, mù, giọng QĐ mou6, muk6, Hẹ mu6, vu6 … nghĩa là một loài vịt. Chữ này không thông dụng trong vốn từ TH hiện đại với tần số dùng là 105 trên 368707021 so với các chữ khác như áp HV (yā BK), nga HV (é BK, ngo4 QĐ – ngan, ngỗng là các dạng cổ), nhạn HV (yàn BK, ngaan6 QĐ) … Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan đồng nghĩa với nhạn. Biến âm u-i của vụ-vịt không thường gặp nhưng còn tàn tích trong các cách dùng bút-viết, thụ-chịu, nhu-diệu, đinh-chuồn … Để ý phụ âm tắt –t ở sau nguyên âm thường mất đi trong giọng BK (phương Bắc) nhưng vẫn còn duy trì trong tiếng Việt, giọng QĐ, Hẹ …



3.4 Đinh viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT, giọng BK bây giờ là dīng, chēng, chéng, ding1, cing1 QĐ, Hẹ den1 …có nghĩa là con chuồn chuồn. Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14 trên 430747376. So với các chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay như tinh HV (dīng, tīng BK), đình HV hay tinh đình, linh HV (líng BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ linh/lệnh HT, để ý linh HV viết bằng bộ kim hợp với chữ linh/lệnh là chuông)… Nếu ta để ý biến âm đ-tl/tr-ch (xem bài viết riêng về biến âm này cùng tác giả) như độn-trốn-chuồn, đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn, điền-trần, đục-trọc, đoàn-tròn, động-trọng-chuộng, đồng-tròng (con ngươi), đản-trần …v..v.. thì có thể giải thích được liên hệ đinh-*chuôn (biến âm i-u nói ở phần 3.3), hay dạng chuồn (thanh huyền có thể do ảnh hưởng của phụ âm mũi –n). Tiếng Mường cũng có dạng chuồn chuồn, tiếng Zhuang là chi-chuồn.



Như vậy thì tiếng Việt vẫn còn tàn tích trong tiếng TH, tuy nhiên các cách dùng từ ‘phương Nam’ từ từ mất dần đi5, có thể là do các tiếng phương Bắc thay vào (giai cấp thống trị), hoặc không hợp với hệ thống âm điệu của Hán tộc hay sự cố tình bôi xoá ?

Tóm tắt bài này là trong tiếng TH có những từ Việt (Cổ) nhưng rất ít dùng, tuy nhiên trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : được dùng trong việc ghi lại thời gian, không gian, bói toán, cúng kiến … rất phổ thông trong văn hoá và tín ngưỡng dân gian, chúng gắn liền với lịch sử tư tưởng của TH và VN, đóng một vai trò quan trọng trong văn hoá dân tộc. Do đó, chúng là những từ hoá thạch (fossilised) gắn bó với câu ca dao



‘Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’



4. Phụ chú



(1) Bảng so sánh trên cho thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh như sạc tiếng Pháp và tiếng Anh giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old French) là chargier (chất đồ lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus (chiếc xe) do đó ta có các dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở, chariot/xe … và nếu truy tầm thêm nguồn gốc các chữ trên thì sẽ thấy nhiều tương quan của nhóm (dòng, ngữ hệ) La Mã, họ Ấn Âu (Indo-European) phản ánh qua lịch sử và quá trình phát triển văn hoá của Hi Lạp, Ý, Pháp v..v.. Điều này ra ngoài mục đích của bảng so sánh cốt là cho thấy các tiếng mượn từ tiếng Pháp mà thôi.



(2) Tác giả Lê Gia trong “Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999) thì giải thích cóc là từ hốc, cốc mà ra “loài vật dơ dáy, bẩn thỉu, tối ngày ngồi trong hang trong hốc” (trang 1451).



(3) Tỉnh Hà Nam vẫn còn một số hoạt động như cỡi voi cho du khách.



(4) Theo tác giả Nguyễn Văn Tu trong “Từ và vốn từ - tiếng Việt hiện đại” (NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1976) thì voi có nguồn gốc là chữ vi “…theo sự nghiên cứu của ngành Cổ Văn Tự, vi là chữ tượng. Theo tiếng Việt thiên đọc là vi còn tượng đọc là voi…” (trang 266) - trích dẫn từ kết luận của nhà ngữ học TH Vương Lực trong các cuốn “Hán Việt Ngữ nghiên cứu” và “Hán ngữ sử luận văn tập” (khoảng 1958). Sau gần 3 thập niên, tác giả Lê Đình Khẩn cũng lặp lại điều này trong cuốn “Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt” (NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM, 2002), tuy nhiên tác giả có bàn thêm là thời thượng cổ “…không chắc là âm đọc theo chữ nào trong hai chữ đồng nghĩa ấy …” (trang 59). Khi tra cách viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn) ta thấy hình hai con khỉ trên hình con voi tuy hình vẽ không rõ ràng lắm, theo ‘Tại Tuyến Hán Điển’ trên mạng Internet, và ‘Chinese Characters’ của L. Wieger - cả hai tài liệu này đều ghi vi là ‘khỉ cái’. Để ý cách đọc vi HV là wèi BK, Hẹ wui3, wuị, wi3, wi5 … Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ nhất của dự là “tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn” . Voi giữ một địa vị đặc biệt trong lịch sử VN : nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các hình phạt cho voi xé xác, voi giày … và hiện diện trong ca dao thành ngữ như “khoẻ như voi”, “muỗi đốt chân voi”, “chỉ buộc chân voi”, “được voi đòi tiên”, “trăm voi không được bát nước xáo”, ”có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu voi dữ”, “trời sinh voi trời sinh cỏ”…v…v.. Hiếm lắm ta mới thấy vài thành ngữ có voi trong văn hoá TH như “tượng trợ ngọc bôi” (đũa bằng ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay “tượng xỉ phần thân” (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).



(5) Khuynh hướng mất dần các vết tích của ngôn ngữ phương Nam (thời Bách Việt về sau) đồng thời với khuynh hướng bành trướng của lãnh thổ TH và các đợt di dân cùng pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông Hồng. Các vết tích của tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn …trong tiếng TH chứng tỏ phần nào nhận định tổng quát này.

Ganda
28-01-2008, 06:06 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
(phần 2)
Nguyễn Cung Thông

1. Tổng quát

Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên con giáp thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ dàng. Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp1 (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ2, heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.

2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu

Việt (bảng 1)Việt (bảng 2)Việt (bảng 3)Hán (Bắc Kinh)Quảng ĐôngTý/Tí/TửThử (D)ChuộtZĭzi2/ci2SửuNgưu/NgâuTrâuChŏuCau2DầnHổ/HùmCọpYínYan4Mão/MẹoThố/ThỏMèoMăoMau3Thìn/ThầnLongRồngChénSan4Tỵ/TịXàRắnSìzi6NgọMãNgựaWŭng2/ng5Mùi/VịDươngDêWèiMei6ThânKhôi (khọn)KhỉShēnSan1DậuKêGàYŏuJau5TuấtKhu yển () (Cầy)XūSeot1HợITrưHeo (Lợn)HàiHoi6


Nhật (on)Nhật (kun)Đại HànPali/TháiKhmeNeShiJaMusikaJutUshiChuChugPasuChiuToraIn InVyaggha/saddulaKha1UBoMyoSasaThohTatsuShinSinMahoragaRongM iShiSaSappaMsangUmaGoOTurangaMamiHitsujiBiMiAjaMam eSaruShinSinMakkataVokTori = con chimYuYuKukkutaRakaInuJutsuSulKukkuraCaIGaiHalKunj ara=con voiKurTiếng Saek cổTiếng Saek
mới
Thái/Xiêm (A)LàoĐài-Loan Tii6Suat5Chuat3TiaoChi2 Thriw3Sa6luu1Chaluu5PaoThiu2 Rin4
Khaan1
Khaan5GniIn5 Meew3Tho4Tho2Maomo (tiếng Ngô) Sin4Ma6long4Maroong1SiSin5 Tii5
Ma6seng1
Maseng5SaoChi7 Ngo5Mamia4Mamia1Sa-ngaNgou2 Muy4Mame4Mame2MothBi7 Thrin4Vok5Wook3SanhSin1 Raw3La6kaa1Rakaa1HaoYu Tut4Cho1Cho1ZetSut1 Hơỵ
Kun6Kun1KhaoHai7 Mường (A)Tiếng DioiTây TạngAhom (B)Tên tháng (C) TíChaeu3DschiwaCheuShigar (Sygar) Khéu (tlu/klu)Piaou3LanPlauKuman (Imén) RânNgien2TagNgiUgur MêoMaou3YoMaoTaushan Sin (hông/ròn)Chi2DrugShiSamar Tê (sin/san)Seu3DruSheuDilan Ngo Sa3TaShi-ngaTuki (Tykha) Mùi (bê)Fat1LugMutTéké Thân (vok)San4DreShanBichin, Michin Râu (ka)Thou3Dscha (con chim)RaoTaguk Tât (cho)Seưt1KyiMitIt Hơi (kui/kun/kul)Kaeu3PagKeuShushma

(A) thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua), roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà – năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) …v..v.. Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt : cũng như Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme)…. Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò … Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt : klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại ‘bác học’ (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (BD) qua các tên con thú. Sự phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.

(B) theo bài “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art” 1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài “L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm 1935 bởi George Coedès.

(C) Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.

(D) Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn “Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric (1984), Éditions Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân…

(E) Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)

Tên Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân

Lu tsai3 pau3 ji2 mau3 si1 sai3 sa-nga4 met6 san1
Pu-Yi tsai3… pau3 jin2…. mau4 tsi2 si3 sa4/tsa3… vat8 san1


Tên Dậu Tuất Hợi

Lu hrau1 set5 kai4
Pu-Yi ju4/zu4… sat7/sut7… kai4/ka4..


3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học

Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu : George Coèdes (1935) sau khi so sánh tên 12 con giáp5 của Xiêm và Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ộng đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ. Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) chuyên khảo về tiếng Thái6 đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-, sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra. Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào năm 1967 ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)7 trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), (Tuất) và heo (Hợi). Năm 1975, ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ căn bản. Tác giả Jerry Norman (1985) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman8 còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam – bài viết trên thật ra là từ một bài viết cùng với tác giả Mei Tsu-Lin (1976) về các từ TH có nguồn gốc phương Nam. Các tác giả đã đi đến một kết luận là chủ nhân tên 12 con giáp có thể đã ở khu vực bờ biển Đông Nam TH, và có thể là các nước Ngô hay Việt thời xưa. Gần đây hơn, trong bài viết về 12 con giáp của William G. Boltz9 (1991), ông ghi lại một số bảng so sánh gồm có các tiếng Saek, trích từ tài liệu của giáo sư William Gedney (1982). Sau khi phân tích các dữ kiện, tác giả kết luận rằng bảng 12 con giáp của tiếng Saek Cổ (mà Gedney chép lại) là vay mượn từ TH, có lẽ khoảng 200 hay 600 năm sau Công Nguyên (SCN), và 12 con giáp VN có lẽ mượn sau đó nữa (thời kỳ Late Middle Chinese). Từ năm 2000, người viết10 đã cho ra các bài (kết hợp từ nhiều năm trước) bàn về tên 12 con giáp để cho thấy nguồn gốc VN. Các tác giả trước đây không ai đề nghị nguồn gốc VN của 12 con giáp, có lẽ gần nhất là tiếng Mường Cổ mà thôi. Thêm vào đó là những học giả ‘có uy tín’ trong nước như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn … cũng như các học giả TH đều viết nhiều về văn hoá VN nhưng đều hàm ý nguồn gốc TH của 12 con giáp, tuy không ai dựa trên dữ kiện ngôn ngữ học cả và đa số dựa trên tài liệu lịch sử và văn chương cổ điển. Ngôn Ngữ Học nói chung, và Âm Ngữ Học Lịch Sử (Historical Phonology) nói riêng là những ngành học khá mới mẻ ở VN và TH. Như đã viết ở phần 1, ta đã thiết lập liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Dựa vào cách cấu tạo chữ Hán, cũng như kết quả mà các tác giả phần trên đã dầy công nghiên cứu, ta có thể khám phá thêm một số chi tiết mà các vị trên chưa biết tới, có lẽ vì không biết đến tiếng Việt Cổ chăng ? Thí dụ như chi thứ 9 là Thân có liên hệ gì đến con khỉ VN ? Nếu ta xem cách viết chữ Thân viết bằng bộ điền với nét giữa dài hơn, giọng BK bây giờ là shēn (viết theo pinyin), được phục hồi âm cổ với dạng *khrin (Li Fang-Kuei 1971, William Boltz 1991), hay dạng *hljin (William Baxter11 1992 - để ý phụ âm r và l dễ hoán chuyển cho nhau). Nếu xem cách viết chữ khôn (một trong bát quái, một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng Cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh (HT). Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và khôn, tuy nhiên tiếng Việt Cổ có chữ khọn là con khỉ12 (theo “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị”/ ĐNQATV, Huỳnh Tịnh Của, 1895 - lặp lại trong cuốn “Từ Điển Từ Việt Cổ”, Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện 2001). Thành ra Thân chính là khỉ, tiếng Việt Cổ, dầu rằng biến âm th-kh rất hiếm13 vì âm thanh thay đổi qua hơn hai ngàn năm từ một gốc chung, sau đó lại gặp nhau trong tiếng Việt - so với liên hệ rất thường gặp từ tiếng TH qua tiếng Việt như sh-th của shuĭ BK/thuỷ HV (nước), shén/thần, shèn/thận (- trọng), shěn/thẩm (biết), shàn/thiện, shí/thập, shì/thích, shù/thụ (cây)…phản ánh quá trình tiếng TH nhập vào tiếng Việt thời Đường Tống một cách có hệ thống hơn. Tàn tích của biến âm th-kh còn thấy trong tiếng Việt như khoá/toả, khâu/thêu, khắp/tạp … Còn Dần có dính líu gì đến cọp ? Dần HV viết bằng bộ miên, giọng BK bây giờ là yín, jan4 QĐ, Hẹ là jin2, rin2 – xem cách viết cổ thì thấy hình mái nhà (bộ miên) với một người ở trong đang dâng lễ vật bằng hai tay đưa lên (hàm ý cung kính). Thật ra nghĩa thông dụng của dần trong tiếng TH hiện đại là kính trọng. Các âm tương ứng với yín BK bây giờ trong tiếng Việt thường là d- như yín (dâm), yíng (doanh), yóu (du), yòu (dụ) … tuy nhiên có những trường hợp yín BK tương ứng với âm ngạc sau (postpalatal) như yín/ngân (bạc), yín/ngâm (vịnh) … và yínyín là tiếng sủa (so với tiếng Việt ‘gấu gấu’) ..và đôi lúc mất hẳng âm đầu đi như yìn/ẩn, yīn/âm (lặng im) : âm viết bằng bộ khẩu hợp với chữ âm (thanh) HT hay bộ nạch (bệnh) cho thấy tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn, đó là câm với âm ngạc sau k- , so với một cách đọc QĐ là ngam1- các dạng tương đương khác đáng chú ý là khản, khàn, khan. Các biến âm trên xẩy ra trong một thời gian rất dài, tuy nhiên khác với âm d- HV nhập vào tiếng Việt một cách có hệ thống hơn. Với cùng một nghĩa (dần,kính,cẩn), và dựa trên tàn tích của âm ngạc sau trong tiếng Việt (chứ không phải tiếng HV) cho ta đến một dạng âm cổ phục hồi của Dần là *kan, dạng này phù hợp với các dạng14 bây giờ của Dần trong tiếng saek, Thái, Khme … Nhưng liên hệ trong tiếng Việt và HV còn có a-e hay a-ê như hạ-hè, trà-che, hoạ-vẹ … và phá-bể, giá-kệ/kê, gà-kê … Thành ra *kan có thể là *kên hay *kênh. Dạng phục hồi *kênh tương ứng với tiếng Việt Cổ kễnh chính là con cọp, như vậy ta có liên hệ giữa tên con giáp Dần và tên con cọp. Câu ca dao sau nói lên phần nào vai trò con mèo (Mão/Mẹo) và kễnh trong văn hoá dân gian

“Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi”

Ý tứ và cách dùng các con vật như mèo và kễnh như trong ca dao của VN trên thật là xa lạ với văn hoá TH. Qua các phân tách sơ khởi trên - và chỉ qua 6 liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa, Tý/Tử/chuột, Thân/khọn (khỉ), Dần/kễnh (cọp), Sửu/tlu (trâu) – ta thấy tên các con giáp càng gần gũi với tộc Việt hơn. Các lý giải phần sau sẽ cho thấy rõ hơn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp sau khi đã tháo gỡ các lớp bụi thời gian cũng như cạo đi các lớp son phấn vô tình hay cố ý mà người xưa để lại trong ngôn ngữ.

4. Phụ chú

(1) Ta thường nghe nói tuổi chuột, tuổi con chuột hay tuổi Tý … các cách nói này đều cùng nghĩa là năm sinh vào năm con chuột (năm Tý). Thành ra có thể có nhiều bảng cùng chỉ 12 con giáp trong ngôn ngữ, từ tiếng HV đến tiếng ‘thuần Việt’ cho thấy sự phân cực thành văn chương BH so với BD…v…v… Lê Quý Đôn (1726-1784) trong “Vân Đài Loại Ngữ” (người viết có hai bản dịch : Trần Văn Giáp, NXB Văn Hoá Thông Tin 2006 và bản của các tác giả Phạm Vũ, Lê Hiền do Nhà Sách Tự Lực in) cũng không đề cập đến mèo mà ghi Tý là thỏ, điều này cho thấy hoàn cảnh phức tạp khi dùng tài liệu TH, nhiều khi không hợp với cách dùng thông thường của đa số quần chúng (văn chương BD). Trong cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) ra đời trước “Vân Đài Loại Ngữ” khoảng hai trăm năm, tác giả đã ghi nhận giờ mẹo là giờ mèo (con mèo). Nhìn bảng so sánh trên qua tiếng Saek Cổ và hiện đại, ta thấy Mão/Mẹo hiện diện trong ngôn ngữ cổ hơn, như thỏ (nhập từ tiếng TH) bắt đầu có mặt trong tiếng Xiêm . Trên phương diện tín ngưỡng dân gian, có người tin rằng có những tuổi hợp và khắc nhau (tạo ra bao nhiêu tình duyên ngang trái) kết hợp thành nhiều trường phái ‘bói toán’, chỉ làm tên 12 con giáp ở sau ‘hậu trường’ trở nên ‘bất tử’ mà thôi.

(2) Theo tác giả Thường Tuấn (Đại Học Thượng Hải) trong cuốn “Văn Hoá về 12 con giáp”, NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2005 thì 12 con giáp đã có trước đời Hán, nhưng từ các dân tộc thiểu số. Như cuốn “Nhật Thư” của Tần Trúc Giản được khai quật vào năm 1975 ở Hố Bắc cho thấy 12 con giáp đã lưu truyền từ thời kỳ Tiên Tần và dùng để bói toán. 12 con giáp gồm có chuột, trâu, cọp, thỏ (khuyết), sâu bọ, hươu …

(3) Theo “An Nam Dịch Ngữ” Vương Lộc giới thiệu và chú giải, NXB Đà Nẵng, Trung Tâm Từ Điển Học - Hà Nội – Đà Nẵng 1995.

(4) Theo “Từ Điển Mường-Việt” Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi chỉ, Hoàng Văn Hoành (2002) – NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.

(5) “L’Origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” tác giả George Coèdes viết trong Toung pao XXXI (1935), trang 315-329. Ông có nhiều khảo cứu về ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ trên vùng Đông nam Á như qua bài “Inventaires des Inscriptions du Champa” từ nă m 1908 (BEFEO VIII) và cuốn “The Making of South East Asia” (tựa đề nguyên thuỷ là “Les Peuples de la Péninsule Indochinoise” Paris 1962) dịch ra tiếng Anh bởi giáo sư H. M. Right, University of California Press 1966.

(6) “Some Old Chinese loan words in the Tai languages” bài viết của giáo sư Li Fang-Kuei trong bộ ‘Harvard Journal of Asiatic Studies’ 8:333-342 (1945)

(7) “Austro-Thai Language and Culture” (1975) tác giả Paul K. Benedict bổ túc bài viết từ năm 1967 thành sách đề nghị họ (ngữ hệ) Nam-Thái trong vùng Đông Nam Á đã cho văn hoá TH mượn nhiều từ mà ít người biết đến.

(8) “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” bài viết của Jerry Norman (1985) trong cuốn ‘Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art’ (Pacific Linguistics, Series C – No. 87). Một học giả chuyên về tiếng Hán Cổ, đã từng viết cuốn “Chinese” khá phổ thông (NXB Cambridge University Press, 1988)

(9) Xem ghi chú (C) phần 2 bên trên.

(10) “Tiếng Việt Tuyệt Vời – âm m trong tiếng Việt” Nguyễn Cung Thông (1996) xuất bản ở Melbourne (Úc). Cuốn sách ghi lại hiện tượng m chỉ các bộ phận trên mặt con người thường bắt đầu bằng âm môi m : mắt-mặt-má-môi-miệng-mồm-mõm-mụn-mí .mi, mày, mép … Tiếng Mường cũng có hiện tượng m y như tiếng Việt, thêm vào đó là các từ chỉ người Mường như mường, mol cho thấy một liên hệ đặc biệt đến âm m. Hiện tượng m là một cánh cửa hé mở cho thấy tiếng Việt có thể thuộc vào họ Môn-Khme gồm có nhánh Việt-Mường. Vị trí của tiếng Việt Cổ và ngữ hệ là một yếu tố quan trọng để tìm về nguốn gốc tên 12 con giáp, nhớ rằng cách đây trên 2000 năm tiếng Việt (Cổ) rất khác tiếng Việt hiện đại. Ngoài ra, đầu năm 2006 ở SàiGòn, người viết cho ra lò cuốn “Nguồn Gốc tên 12 con giáp – và các liên hệ Việt, Hán Việt với ngôn ngữ láng giềng qua tiếng nói - Tập 1” được phát hành rất giới hạn. Cuốn này là tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm trước và làm căn bản cho các bài viết này.

(11) “A Handbook of Old Chinese Phonology” tác giả William H. Baxter, NXB Mouton De Gruyter (1992).Tác giả dùng các vần trong Kinh Thi để phục hồi âm Hán Cổ. Các cuốn “Middle Chinese : a study in Historical Phonology” (1984) và “Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin” (1991) của Edwin G. Pulleyblank dùng làm tài liệu chính cho sự so sánh và phục hồi âm cổ tiếng Hán. Truyền thống phục hồi âm cổ dựa vào âm vận của Kinh Thi, Thiết Vận … bắt đầu khởi sắc từ các công trình nghiên cứu về âm Hán Cổ của Bernhard Karlgren từ năm 1915 (bài viết ‘Études sur la phonologie chinoise’ cũng là Luận án Tiến Sĩ của ông tại đại học Uppsala dựa vào “Thiết Vận” để phục hồi âm Hán Cổ) đến 1974 (bài ‘The book of Odes : Chinese text, transcription and translation”), nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là cuốn “Grammata serica recensa” (1957). Để ý rằng các học giả trên đều đến từ nước ngoài TH như Baxter (Mỹ), Pulleyblank (Canada), Karlgren (Thuỵ Sĩ) … Có lẽ là người “phương xa” và với cách nhìn khách quan, khoa học hơn nên kiến thức về tiếng Hán Cổ gia tăng rất nhanh so với quá khứ.

(12) ĐNQATV (1895) ghi ‘làm tuồng mặt con khọn’, ‘làm con khọn (làm chẳng nên sự gì)’. Tự điển Việt-Hoa-Pháp (1937) của Gustav Hue cũng còn ghi nhận nghĩa này. Chữ Thân thường được dùng làm thành phần HT trong cách thành lập chữ Hán như hợp với bộ nhân nghĩa là suy rộng ra, hợp với bộ khẩu là rên la … thường đọc là shēn BK, nhưng hợp với bộ thổ thì lại đọc là kūn BK (khôn), hợp với bộ đại là yăn BK (yểm HV) và hợp với bộ vũ cho ra chữ diàn BK (điện HV).

(13) Tương quan giữa các từ HV như thân-cận-gần, thận-cẩn (thận trọng, cẩn trọng, cẩn trọng), thiên-kiên, thì-thị-kỷ … tuy cách viết khác nhau nhưng đọc giống và nghĩa cũng gần nhau – có thể là tàn tích của liên hệ th-k/kh HV hay sh-kh BK thời Tiên Tần trước khi các chữ viết được thống nhất. Có thể chúng có cùng gốc nhưng vì sự phát triển của ngôn ngữ và biên gìới (thêm các tiếng địa phương) nên mang những dạng khác nhau để phù hợp với các chức năng mới. Ta thấy một khuynh hướng tương tự khi so sánh tiếng Mường và tiếng Việt : khầng-sừng, khảu-sáu, khay-say, khàinh-sườn, khã-sữa, không-sông …(sđd). Nếu tiếng Mường bắt đầu tách khỏi tiếng Việt sớm nhất từ thời Hán thì phù hợp với tương quan shēn-kūn BK đã nói ở trên trong tiếng Hán Cổ.

(14) Dần có thể coi như tương đương với kính (jìng BK) như cách viết cổ cho thấy – thành ra *kinh có thể là một dạng âm cổ phục hồi – và cũng liên hệ đến kễnh như trên. Jìng BK viết bằng bộ khuyển hợp với chữ cánh HT, là kính HV, nghĩa là một loài hổ dữ tợn đến nỗi ăn thịt mẹ nó sau khi sinh ra ! Theo người viết, kính có thể liên hệ đến kễnh. Ngoài ra, trong tiếng TH hiện nay có một chữ rất hiếm viết bằng bộ hổ hợp với chữ khứ (đã qua, đi), giọng BK bây giờ là kǎn, hǎn, QĐ ham2 … có nghĩa là loài hổ trắng, hổ giận dữ, tiếng hổ gầm … Có thể là tàn tích của khan/kan hay kễnh. Một chữ cũng rất hiếm là khư viết bằng bộ khẩu hợp với chữ khứ nghĩa là ngáp, qū BK, keoi1 QĐ và Hẹ ki1, kiap7 …cho thấy tàn tích các âm ngạc sau còn được duy trì trong tiếng địa phương (Nam TH). Như đã nói trong bài viết trước (phần 1), các từ có nguồn gốc phương Nam không được dùng và trở nên đào thải trong vốn từ TH hiện đại. Một trong những cách nghiên cứu về nguồn gốc tên 12 con giáp là tìm ra những từ Hán Cổ hiếm hay rất ít khi dùng để xác định âm và nghĩa gốc khi so sánh với các ngôn ngữ phương Nam.


Oan
Thố/ thỏ
Miễn
Miễn
Miễn
(từ bỏ)
(gắng)
(thỏ con)




女勉

(5) Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp

Sau khi đã lượt qua các tương ứng giữa tên Hán-Việt/HV của 12 con giáp và tên gọi các con thú trong tiếng Việt, ta thấy một liên hệ rất rõ nét. Đây thật là một sự khám phá bất ngờ so với đa số quan niệm từ trườc đến giờ (qua bao ngàn năm) và từ Đông sang Tây rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc TH. Nguồn gốc oan trái này lại thêm oái ăm khi chính nguồn gốc chữ oan HV cho ta một cách chứng minh về chủ nhân của tên 12 con giáp. Như đã viết nhiều lần, tên 12 con giáp của VN khác với TH và dĩ nhiên các nước Á Châu khác (bị ảnh hưởng của TH) ở chỗ chi Mão/Mẹo chỉ con mèo chứ không phải con thỏ. Điều này được xác định rõ ràng từ thời Vương Sung (sinh năm 27- chết năm 97 đời Hán, thiên Thiên Sinh Luận của “Luận Hành” ) liên tục cho đến nay. Như vậy nếu ta có thể chứng minh rằng chi Mão/Mẹo đã từng chỉ con mèo, thì bài ‘toán đố nguồn gốc tên 12 con giáp’ đã có được một lời giải rồi, không cần phải so sánh và khôi phục từng âm cổ cùng phân tách các chữ viết thời thượng cổ. Chữ Oan HV viết bằng bộ mịch (bao trùm lấy) hợp với chữ thố ở dưới, giọng Bắc Kinh/BK bây giờ là yuān là một dạng của wan (‘quan’ đọc theo giọng Nam, hay oan). Có hai cách giải thích về cách cấu tạo chữ oan : thứ nhất là nắp đậy biểu thị sự giới hạn đi lại của con thỏ do đó hàm ý oan trái cho con thỏ bị giam lại. Cách thứ hai dựa vào sự viết giống nhau giữa chữ thố và chữ miễn – hai chữ này không có sự phát biệt trong văn tự cổ thời Xuân Thu (770-476 TCN, theo cuốn “Ngữ Lâm Thú Thoại” Triệu Bá Bình, Thời Học Đưòng chủ biên 2005, NXB Văn Hoá Thông Tin). Chữ thố có thêm một nét (dấu phẩy) để chỉ cái đuôi con thỏ. Hai chữ bây giờ chỉ khác nhau có một nét nhỏ nhưng đọc và nghĩa khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, chữ thố trong bia khắc thời Hán và chữ miễn trong đề tự khắc hoạ ở nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán đều nói “Thần phục kiếm từ, dĩ thố kỳ tử” (dĩ miễn kỳ tử hay dĩ miễn kỳ tử là khích lệ con cái, sđd). Miễn HV hay vấn HV (biến âm m-v) đọc là miăn, wèn BK bây giờ so với min5, man6 Quảng Đông/QĐ. Thành ra miễn và thố không những cùng cách viết mà cùng âm đọc giống nhau thời Xuân Thu, hay người xưa đã dùng âm đọc miễn để biểu thị chữ oan (thành phần hài thanh/HT). Do đó oan là bị nắp đậy và nhận oan khuất, chịu oan vậy. Theo người viết thì miễn còn là một dạng cổ của mãn – trong vốn từ hiện tại của tiếng TH không còn dùng nữa, mà tiếng Việt (Cổ) nghĩa là con mèo. Nghĩa này được ghi trong tự điển Việt-Hoa-Pháp (Gustave Hue, 1937) và Việt Nam Tự Điển (1954). Thật ra có những chữ rất hiếm như man viết bằng bộ khuyển hợp với chữ man HT (tần số dùng là 9 trên 171894734) hay bộ trĩ hợp với chữ man HT … đều đọc là man, đều có nghĩa là con mèo hoang (lynx, theo Wieger trong “Chinese Characters”). Thành ra, man hay mãn đã từng hiện diện trong tiếng TH và có nghĩa là con mèo., và thố đã từng đọc giống như vậy. Tại sao thố lại đọc giống như mèo (miễn ở trên, hay miêu HV bây giờ) ? Có thể là hình dạng và thể chất giống nhau nên khi khắc hay viết rất khó phân biệt chăng ? Nhất là thời Xuân Thu khi chữ viết TH còn lộn xộn và có nhiều chữ tượng hình hơn lúc nào hết ? Đến thời Tần Thuỷ Hoàng (221-207 TCN) thì thừa tướng Lý Tư mới bắt đầu thống nhất các cách viết. Biến âm -iê- và –a- ít thấy như trường hợp miên-man còn tàn tích trong các từ kiền-can, miên-man-mên (như Cao Miên là Cao Man/Cao Mên), triều-trào, hiệp-hạp-hợp, kiêu-cao, yên-an, hiếu-háo, di-dái, dị-dài, phi-bay, chỉ-giấy, vi-vây … đây là khuynh hướng biến nguyên âm trước (front vowels) thành những nguyên âm sau (back vowels) và mở rộng/tròn miệng hơn. Phụ âm mũi ở cuối –n của mãn đã mất đi để ta có Mão/Mẹo/mèo : khuynh hướng đơn giản hoá này (contraction) thường gặp trong tiếng Việt và tiếng TH như chun/chui, miến/mì, bác/bá, hùm/hổ, anh ấy/ảnh … wàn/mò BK (muôn/vạn/man), màn/mò BK (màn che) míng/mì BK (u ám, tối), shăn/xiàn/xiá BK (Thiểm, tỉnh Thiểm tây) …v..v.. Ngay chữ mội HV (nghĩa là dơ bẩn) viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ miễn HT còn có thể đọc là miễn - giọng BK bây giờ là měi, mán, măn, màn so với giọng QĐ mui5 … cho thấy khuynh hướng rút gọn âm cuối. Do đó ta có thể giải thích liên hệ mãn/Mão/Mẹo/mèo. Còn thanh điệu thì phức tạp hơn, nhưng để ý một chữ đã hiện diện rất lâu đời trong tiếng Việt là mộ, mồ, mô và mã HV (mù, mú BK) : bốn thanh điệu cho thấy chuỗi dài thời gian đã trải qua cũng như bốn thanh điệu của mãn/Mão/Mẹo/mèo và meo (tiếng kêu của con mèo), so với ngấm/ngẫm/ngầm/ngâm và ngậm (hàn, hàn BK hàm HV). Một điểm đáng chú ý là một cách ghi âm miễn, miện, mãn/vãn (hay miăn BK) là dùng chữ miễn (tránh khỏi) trong cách thành lập các chữ Hán, thì dụ như miễn (chữ miễn hợp với chữ lực nghĩa là khuyên cố gắng), vãn (bộ thủ hợp với chữ miễn, nghĩa là kéo lại - biến âm m-v), vãn (bộ nhật hợp với chữ miễn, nghĩa là buổi chiều) …. Còn thố (tù BK) không thấy dùng làm thành phần HT trong vốn từ TH hiện đại trừ cỏ thỏ ti (thỏ ti tử) viết bằng bộ thảo hợp với chữ thỏ dùng làm thuốc. Miễn viết bằng bộ nữ hợp với chữ miễn (gắng) là một chữ rất hiếm thấy, nghĩa là thỏ con, đây là một gạch nối giữa miễn và thỏ được thấy trong cách viết cổ. Ngoài ra một chữ Hán rất hiếm nữa viết bằng bộ khẩu hợp với chữ diện (mián BK, HT) cũng tương đương với chữ miễn viết bằng bộ khẩu hợp với chữ miễn HT cho thấy cách đọc chữ miễn thời xưa. Thỏ rất gần gũi với tộc Hán, khác với mèo (xem bài viết riêng về chi Mão/Mẹo cùng tác giả) trong văn hoá dân gian của tộc Việt : cả hai con đều mang vài đặc tính tiêu cực phản ánh qua ca dao tục ngữ như “ăn như mèo ngửi”, “nhát như thỏ đế” … chứ không tao nhã như “ngọc thỏ” (con thỏ ngọc chỉ mặt trăng), hay “..mang giầy thỏ, chạy được nhanh..” trong văn hoá TH.
Tóm tắt các dữ kiện ngôn ngữ trên ta thấy thỏ có thể được dùng để thay cho mèo thời Tiên Tần để gần với dân tộc Hán hơn, rồi càng ngày 12 con giáp càng được dùng trong các hoạt động bói toán và tín ngưỡng, chiếm một địa vị quan trọng trong các nền văn hoá Á Đông – xa hẳn với tên các loài cầm thú đã tạo ra chúng. Điều này là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ cho thấy tính chất quy ước của con người khi sống chung với nhau. Chính vì tiếng Việt còn duy trì con mèo cho chi Mão/Mẹo (qua khẩu ngữ) mà ta có thể lập luận rằng nguồn gốc tên 12 con giáp chính là từ tiếng Việt Cổ, ít nhất là vào thời Tiên Tần. Các cách viết chỉ là những ký hiệu ghi nhận lại âm đọc thời bấy giờ mà thôi. Không biết có phải Tàu mượn thẳng từ tiếng Việt Cổ qua giao lưu văn hoá với nhóm Bách Việt, khi nhóm Bách Việt còn hùng mạnh, nhớ là tộc Việt thuộc vào nhóm Bách Việt cũng như các nhóm Hẹ, Tiều … đã phải di chuyển đến các miền biển vì áp lực phương Bắc quá mạnh; Hay là qua các quan lại gốc Việt làm việc trong triều đình TH thời đó đã cố ý “gài” các chữ Việt Cổ để cho hậu thế học hỏi ? Có một điều dễ nhận ra là các từ Việt Cổ trong TH càng ngày càng bị đào thải (như đã viết từ phần trước), cũng như một số từ bị đổi làm cho việc nhận ra tên cổ của 12 con giáp trở nên rất khó khăn. Thêm vào đó là số lượng tài liệu viết bằng chữ Hán rất phong phú, hợp với ảnh hưởng quan trọng của các triều đại Hán, Đường - khi văn hoá Bách Việt đã chìm sâu vào dĩ vãng và văn hoá TH trở nên nổi bật – và chính các thời đại này mà 12 con giáp bắt đầu du nhập vào các nườc chung quanh TH. Quá trình giao lưu văn hoá (trong đó có cách tính năm, tuổi, bói toán, phong thuỷ, thập nhị chi và thập can…) hầu như một chiều này làm cho ta cứ tưởng rằng tên 12 con giáp là từ tiếng TH chứ không phải tiếng Việt, thật là một điều oan trái vậy.

Ganda
29-01-2008, 02:03 PM
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp

(phần 3)

Nguyễn Cung Thông.


1. Giới thiệu tổng quát

Từ các bài viết trước (phần 1, 2 – xem lưu trữ tháng 6/2006 trên khoahoc.net) ta đã thấy một số liên hệ sơ lược của tên 12 con giáp như Tý/Tử/chuột, Ngọ/ngựa, Mão/Mẹo/mèo, Dần/*kian/kễnh (cọp), Thân/Khon/khọn (khỉ), Sửu/*ch-lư/klu/tlu (trâu). Phần này sẽ tóm tắt các tương quan còn lại giữa tên 12 con giáp và tên gọi các con vật trong tiếng Việt, Việt Cổ. Một lần nữa, nguời viết sẽ tránh dùng các thuật ngữ để bài viết dễ đọc và dễ cảm thông hơn. Với những tài liệu bằng chữ Hán, Nôm, Việt và ngoại ngữ hầu như đều hàm ý rằng nguồn gốc Trung Hoa (TH) của tên 12 con giáp, nên vấn đề đặt lại nguồn gốc không dễ dàng cũng như vượt qua bức tường rất cao và dày của ‘định kiến’ này qua bao ngàn năm. Chúng ta hãy xem vài vết tích của tiếng Việt trong tiếng Hán (Cổ) để thấy khuynh hướng biến dần đi của vốn từ phương Nam trong tiếng TH hiện đại qua các tên chỉ loài vật như ong, bướm …v..v… Nhắc lại rằng trong Phần 1 chúng ta đã duyệt qua tiếng cóc, voi, vịt, chuồn (chuồn) đã từng hiện diện trong tiếng TH dù rằng ít thấy. Từ khuynh hướng gọi tên các động vật, hi vọng chúng ta sẽ thấy rõ hơn tại sao tên 12 con giáp lại rất gần gũi với tộc Việt chứ không phải của TH như từ trước đến nay như mọi người đều lầm tưởng ! Ý thức được rằng sự thay đổi một định kiến đã nằm sâu trong xương tuỷ chúng ta từ bao ngàn năm nay thật là khó khăn, tuy vậy sự thật vẫn cần phải được đưa ra ánh sáng để các cuộc nghiên cứu trong tương lai có thể kiểm nghiệm một cách nghiêm túc, khách quan và theo đúng phong cách của khoa học hiện đại. Các bài viết 1, 2 và 3 chỉ tóm tắt rất sơ lược quan hệ tên 12 con giáp, những bài viết sau sẽ chi tiết hơn và phân tích từng tên mỗi con để thấy rõ nét các mối dây liên hệ đến tộc Việt. Phiên âm giọng Bắc Kinh theo lối Phiên Âm (pinyin) thường gặp hiện nay.

2. Tiếng Việt và tiếng Hán Cổ (hay tiếng Hán Cổ trong tiếng Việt)

2.1 Ong là động vật có nhiều gắn bó với văn hoá VN qua các thành ngữ như “nuôi ong tay áo” và ‘chạy như ong vỡ tổ”… cho thấy tâm lý con người. Danh từ ong được dùng 8 lần trong truyện Kiều so với bướm (7 lần)

“Tiếc thay một đoá trà mi
Con ong đã tỏ (mở) đường đi lối về” (câu 845-846, Kiều)

Ong viết bằng chữ Nôm thường gặp là bộ trùng hợp với chữ phùng (gặp) hài thanh (HT), chữ này cũng chính là phong Hán Việt (HV) nghĩa là con ong - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là feng1, Quảng Đông (QĐ) là fung1, Hẹ là fung1, bung1 … cho thấy tương quan ong-phong rất đặc biệt, có thể là cùng một gốc như qua các tương quan ông-công, ung-muống. Ông (bà) HV viết bằng bộ vũ hợp với chữ công, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ, wung1, vung1 Hẹ và ong1 (Ngô), ang1 (Minnan/Đài Loan). Ngôn ngữ TH hiện nay không có nhiều tiếng bắt đầu bằng nguyên âm a, e, i/y, o/ơ, u … như tiếng Việt – các âm đầu này thường bị môi hoá hay ngạc hoá thành các dạng wu-, wo-, ya-, yu- … và biến đổi nhiều hơn để trở thành vo-, vu- (âm Hán thời Trung Cổ còn âm đầu v-) và fo-, fu- hay mo-, mu- … Thí dụ như úng HV (cái vò, hũ) viết bằng bộ ngoã (ngói) hay phữu (đồ sành) hợp với chữ ung HT, giọng BK bây giờ là weng4, yong1, yong2, yong3 so với giọng QĐ ung3, ngung3, ong3 và Hẹ là wung5, vung5 – so với ong1 (Ngô) và ang3 (Minnan). Có khi môi hoá để trở thành âm môi môi (phụ âm m) như ung HV, weng4/yong1 BK, ung3/ngung3 QĐ, wung5/jung1/rung1 Hẹ … mà tiếng Việt là rau muống. Thật ra chữ ong viết bằng ông HT là một chữ hiếm trong vốn từ TH hiện nay, tần số dùng1 là 21 trên 237243358, viết bằng bộ trùng hợp với chữ ông HT, giọng BK bây giờ là weng1, weng3 so với jung1 QĐ và vung1 Hẹ nghĩa là con ong vò vẽ. Chữ này đã có từ lâu, ít nhất là thời Hán khi Hứa Thận ghi lại trong Thuyết Văn Giải Tự là “…ông, trùng tại ngư mã bì giả…”. Khuynh hướng hiện nay dùng điệp từ (từ ghép) của tiếng TH làm nguồn gốc của phong (con ong) khó được nhận ra : như mìfeng1 (mật phong, nghĩa là con ong) hay huàngfeng1 (hoàng phong), măfeng1 (mã phong) chỉ con ong vò vẽ. Thường thì các từ HV như phòng, phóng, phụng, phủ, phi, Phật … có âm cổ hơn còn duy trì trong tiếng Việt là buồng, buông, bưng, búa, bay, Bụt … rất khác với liên hệ phong-ong. Một số tác giả như Lê Ngọc Trụ (“Tầm Nguyên Tự Điển VN” 1993) cho rằng ong có gốc là phong, nhưng ngược lại có một số tác giả khác lại cho rằng phong HV (feng1 BK) có gốc là ong (như theo Paul Benedict2 trong “Austro-Thai Language and Culture” 1975).

2.2 Bướm thường thấy qua từ láy ‘bươm bướm’ hay với nghĩa rộng hơn trong cách dùng ‘bay bướm’. Chữ Nôm viết bướm bằng bộ khẩu hoặc bộ trùng hợp với chữ biếm, hay bộ trùng hợp với chữ phạp (viết ngắn đi). So với tiếng Mường Thạch Bi là pươm, pướm (theo từ điển Mường-Việt, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Nguyễn Văn Khang chủ biên, Hà Nội 2002), pung khamu (tiếng Môn), pung paq3 (Danaw), pungpaq (Riang), paipyang (Thái), pam pam (Khamu) … Trong vốn từ TH hiện nay có chữ péng BK, bang1 QĐ viết bằng bộ trùng hợp với chữ bằng HT (thành ra có thể đọc là bằng, bồng), theo người viết thì chữ này là tàn tích của âm bướm rất hiếm thấy so với các chữ dié BK (điệp HV), hú BK (hồ HV) hay chữ ghép hồ điệp đều có nghĩa là con bướm. Tuy nhiên, cũng trong vốn từ TH hiện nay ta còn thấy péng BK hay pung4 QĐ, pung2 Hẹ viết bằng bộ trúc hợp với chữ phùng HT có nghĩa là cái màn che, cái buồm. Cái buồm tiếng HV là phàm, hay fán BK với phụ âm đầu b- chính là âm cổ3 của phụ âm f- (ph-) còn được duy trì trong tiếng Việt. Như vậy có liên hệ gì giữa hai từ bướm và buồm tiếng Việt ? Tiếng Việt có đặc điểm là âm thanh gợi nhiều hình ảnh như âm –ong cho thấy một hìng dáng cong cong, vòng, móng, tròng, lòng thòng, lòng vòng … Theo người viết thì cánh buồm xưa kia có hình cánh bướm và đây là mối dây liên hệ - so với cách dùng con diều (điêu HV, giọng BK là yáo, yào) có hình cánh con diều hâu vậy. Bướm là động vật có trước, sau đó các tàu bè mới dựa vào hình dạng cánh bướm mà làm ra *bườm hay buồm - với thanh huyền để cho khác biệt. Cách dùng thanh điệu để chỉ hai việc khác biệt nhưng lại có những điểm giống nhau thường gặp trong tiếng Hán Cổ mà vết tích còn trong tiếng HV và Việt như đo (động từ) và độ (cũng dùng làm danh từ), hành (làm, động từ) và hạnh (danh từ), truyền và truyện, phân và phần … so với đấy và đây, ngày hôm kia và ngày hôm kỉa/kìa, trôi/trổi/trồi/trội …v…v…

Tóm lại trong tiếng TH hiện nay còn một số tiếng Việt Cổ và càng ngày càng mất dần đi có thể vì hệ thống âm điệu khác nhau hay có thể vì khuynh hướng cố tình đào thải các tiếng phương Nam của các chế độ phong kiến phương Bắc chăng ? Trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : chúng đã làm nền tảng văn hoá và tín ngưỡng dân gian qua bao triều đại, và gốc rễ có quá nhiều thành ra không thế lực nào có thể cắt đứt hay bóp méo được nền văn hoá bình dân này4.

3. Tên các con giáp còn lại

3.1 Thìn/Thần HV, giọng BK bây giờ là chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần HV. Ngoài ra, âm chén BK đã từng có âm họng sau (velar) kh- theo Thuyết Văn Giải Tự - hay thần đọc như là *khân, điều này được Jerry Norman ghi nhận trong bài “ A note on the origin of the Chinese duodenary cycle’ (trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area” 1985). Phụ âm đầu kh- tương ứng với các dạng chỉ con trăn như tiếng Việt, tiếng Môn (klan, klon), Chrâu, Kơho (klăn) … Thêm vào đó là cách viết rất hiếm của chữ giao bằng bộ trùng hợp với chữ thìn bên phải có nghĩa là ‘.. hình dáng như con rắn nhưng lớn hơn và có sừng như rồng..” (Khang Hi Tự Điển, theo Norman). Các dữ kiện này có thể giải thích phần nào con vật tượng trưng cho chi này là rồng. Tuy nhiên, theo người viết nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là *tsri(a)n thì ta có thể hiểu được các dạng sau này như Thìn/Thần, tlan (âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts- mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản…) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn > thằn lằn, *tlian > thuồng luồng … Các loài vật này đều có hìng cong vòng như con rồng5. Tiếng Thái gọi năm Thìn là bpee ma rohng cho thấy vết tích của dạng rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.

3.2 Tỵ/Tị HV, giọng BK bây giờ là sì so với zi6 QĐ, Hẹ là ze5, cih5, si5, su5… Trong cách viết/khắc cổ TH của tên 12 con giáp thì Tỵ và Hợi là các chữ tượng hình cho thấy rõ nguồn gốc loài vật, nếu không kể các chữ khác ghi lại hình cây, đồ vật…. Cũng như chữ (Hán) của tên 12 con giáp6 thường được dùng làm thành phần HT trong quá trình thành lập chữ mới, trừ Tuất ít được dùng. Như vậy là ta có 10 trên 12 tên con vật là loại chữ HT, hay khoảng 83 % so với hơn 90 % chữ Hán hiện đại là loại HT (có tác giả cho rằng tỷ số HT có thể đến 97 %). Loại chữ tượng hình càng ngày càng ít đi và càng khó nhận ra hình dạng nguyên thuỷ (qua các đợt chỉnh lý và đơn giản hoá). Chữ Tỵ còn được dùng để chỉ ngày lễ Thượng Tỵ cầu mát vào đầu tháng Ba của nước Trịnh, điều này cho thấy tên 12 con giáp có thể đã hiện diện từ thời Xuân Thu (770-476 Trước Công Nguyên/TCN). Âm cổ phục hồi của Tỵ là *zji? theo William Baxter (“A Handbook of Old Chinese Phonology” 1992), theo người viết liên hệ đến rít hay rết tiếng Việt. Kasit (tiếng Mường Ruc) nghĩa là con rít (rết, rệt) cho thấy dạng âm cổ *sit, so với giọng BK thì phụ âm cuối –t thường mất đi như guó BK (quốc HV, còn duy trì âm cuối –c), lì BK (lực HV), fó BK (Phật HV), shí BK (thập HV, mười), qi1 BK (thất HV, bảy), zhí BK (chất HV) … Còn phụ âm đầu s- thường biến thành t- khi nhập vào tiếng Việt cũng như các chữ khác như sài BK (tái HV, cửa ải), sàn BK (tán HV), shàn BK (thiện HV), shàng BK (thương HV), suí BK (tuỳ HV), sì BK (tự HV, chùa), sòng BK (tụng HV, kiện) … Như vậy sì BK (Tỵ HV) có cơ sở giải thích theo dạng rít Việt, thêm vào đó là tương ứng s-r khi ta so sánh tiếng Mường và Việt (như răng có âm cổ là *săng, theo Vương Lộc trong “An Nam Dịch Ngữ - giới thiệu và chú giải” 1995), và liên hệ đồng đại trong tiếng Việt như siết-riết, sít-rít, sầu-rầu, sờ-rờ, xà-rà, súc-rút, sầm-rầm, xẻo-rẻo…. Tiếng Việt còn có cách dùng rắn rít cho thấy hai loài vật này rất gần với nhau, là những loài sống trong hang hốc, bò sát và có thể rất độc hại. Thành ra Tỵ có thể đã từng là rít cũng không khó hiểu cho lắm; Các di tích tìm thấy từ thời Tiên Tần còn cho thấy sâu bọ cũng từng là tên của các con giáp (theo Thường Tuấn trong “Văn hoá 12 con giáp” 2005). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tỵ là bpee ma seng cho thấy dạng seng hay *săng (rắn).

3.3 Tuất HV so với giọng BK bây giờ là xu1, seot1 QĐ được tượng trưng bằng con . Để ý Tý/Tí/Tử liên hệ đến chuột với biến âm t-ch thì Tuất cũng có thể liên hệ đến (qua phụ âm đầu). Tiếng Hán có chữ chúc/túc HV rất hiếm1 viết bằng bộ khuyển hợp với chữ túc HT (chân, cẳng) nghĩa là con nổi tiếng - giọng BK bây giờ là què, hú, qiăo, răn so với zoek3, coek3 QĐ cok7, sit7 Hẹ … Chữ này là một tàn tích của Tuất hàm nghĩa trong vốn từ TH hiện đại. So sánh các từ chỉ như chọ (tiếng Mường), cho (Sakai, Boloven), chuô (Kháng), txo (Danaw), xoq1 (Wa), choq (Sơđăng), axu, chuak, chook (Môn), xo (Kơho, Stiêng, Chơro), achoq (Chứt), xor (Savana), cho (Laqven, Biat) …v..v… cho thấy tiếng Môn còn duy trì dạng chuak (hay tuất). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tuất là bpee jaaw (năm ).
3.4 Mùi/Vị HV – cách dùng thông thường của Mùi cho thấy dạng âm cổ hơn so với Vị HV gần với giọng BK bây giờ là wèi, giọng QĐ là mei6, Hẹ là mui5, mui6, mui3, vui5, wui5, Ngô là vi6, Minnan (Đài Loan) là bi7 … Các phương ngữ TH cho thấy rõ các biến âm b-v, m-v, w-v … cũng hiện diện trong tiếng HV và Việt. Liên hệ m-v còn thấy trong các cặp muôn-vạn, múa-vũ, mùa-vụ, mựa-vô, mù-vụ, muộn-vãn … Các dạng âm cổ phục hồi theo Jerry Norman hay các tác giả trước đây như *mjôdh đều không giải thích được mối liên hệ đến dê, nhưng dựa vào cặp mùi-vị, ta có thể khôi phục một dạng cổ là *mvji(e), để ý nhóm phụ âm mv- đọc như và giọng Nam (tiếng Việt), và từ đó ta có một dạng nữa là dê. Ngoài ra, nếu để ý tiếng kêu đặc thù của loài dê là ‘be be’ hay mị HV, mie1, mi3, măi BK có nhiều cách viết khác nhau như dùng bộ khẩu, bộ dương (dê) cho thấy Mùi/Vị có thể có nguồn gốc tượng thanh – hay bắt chước tiếng kêu con vật cũng như chim cu, con quạ (ác), con mèo … cũng là một hiện tượng tự nhiên mà thôi. Tiếng Thái gọi năm Nùi là bpea ma mae tương đồng với dạng âm cổ *mvji trên.

3.5 Dậu HV so với giọng BK bây giờ là you3, jau5 QĐ … cũng chính là bộ thủ thứ 164 trong 214 bộ căn bản. Dậu và Tý (bộ thủ thứ 39) là hai chữ được dùng làm bộ thủ trong 12 chữ viết tên con giáp - điều này cho thấy sự quan trọng của các chữ và nghĩa này trong văn hoá TH. Nếu Tý hay Tử có nghĩa là con phản ánh liên hệ gia đình huyết tộc thì dậu biểu tượng cho rượu chè, một hoạt động căn bản của xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên cả hai từ này đã bị ‘Hoa hoá’ quá lâu như trên nên chẳng thấy dính líu gì đến các loài vật ! Nhưng hình ảnh và các hoạt động con người từ từ lấn chiếm dần tên 12 con vật tổ (totem) này. Trong vốn từ TH hiện đại có chữ dậu HV, you3 BK viết bằng bộ điểu hợp với chữ hữu bên trái (rất hiếm) nghĩa là một loại chim giống loại trĩ, mà có thể coi như là loại gà (theo “VN Tự Điển” 1954), để ý rằng hai chữ trĩ và kê (gà) đều viết bằng bộ chuy (chim đuôi ngắn, bộ thủ thứ 171 trong 214 bộ). Theo người viết, đây là sợi dây gắn liền dậu và gà mà ta vẫn còn thấy vết tích trong chữ cổ (hiếm) TH. Thêm vào đó, một cách giải thích khác theo tác giả Jerry Norman (sđd, 1985) dựa trên kết quả nghiên cứu của André Haudricourt (1965) rằng các phụ âm v, d, g của tiếng Mường và Việt có thể là vết tích của các tiền tố cổ

Tiếng Việt gà gạo vải
Mường ka kao pai
Ruc rơka rơko kupal
Arem lak - -
May - rơko kơpai

Từ đó, Norman đưa ra dạng âm cổ phục hồi của gà là *rơka hay *ruka. Theo người viết thì quá trình mất tiền tố này cũng giống như dạng kasit cho ra *sit hay rít đã nói ở phần Tý trên. Tác giả Hồ Lê cũng ghi nhận gà là từ Nam Á (Austroasiatic) trong bài viết “Từ Nam Á trong tiếng Việt” (trong cuốn “Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông và các ngôn ngữ dân tộc” NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội 2002). Tiếng Thái gọi năm Dậu là bpe gai (năm kê hay gà) hay là bpee ra gaa (năm gà) phù hợp với các dạng Mường.

3.6 Hợi HV so với giọng BK bây giờ là hài, QĐ là hoi6. Âm cổ phục hồI có dạng *goi/kui - liên hệ của hợi và heo có thể thấy được qua tiếng Mường củi/kun/kul : phụ âm đầu h-k cùng vị trí phát âm nên dễ hoán chuyển cho nhau như hữu-có, hồ-cò (hồ cầm là đàn cò), Hùng-khun (vua/thủ lãnh dân Mường), Hán-khan (lãnh tụ), hộ-cửa, hơi-khói/khí, hầu-khỉ, hoá-của … Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895) còn ghi là “..cá cúi : thứ cá biển nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển; Heo cúi : tiếng đôi nghĩa là con heo..” (trang 201). Gỏi có thể đã từng làm bằng thịt heo, nhưng nghĩa đã mở rộng để chỉ cá, tôm, gà … trộn với rau. Theo Jerry Norman (sđd) thì gỏi có nghĩa là heo (tiếng Việt Cổ) ?? Không những Hợi liên hệ đến heo/lợn qua tiếng Mường hay Việt Cổ nhưng tàn tích có thể hiện diện trong vốn từ TH hiện đại. Có vài chữ mà theo người viết là các dạng khác nhau của Hợi hay *hị và *hệ (so sánh với các biến âm thi/thơ/thư, kỳ/cờ, thị/chợ, li/rời, di/dời, vị/bởi, ti/tơ, bị/bới/búi…). Chữ hê/hề/hệ với giọng BK bây giờ là xi1, hei1, sik1 QĐ viết bằng bộ khuyển hợp với chữ hí/hô/huy HT có nghĩa là con heo - chữ này rất ít thấy1 (hiếm). Một chữ nữa thường gặp hơn là hí HV so với giọng BK bây giờ là hei1, héi viết bằng bộ thỉ hợp với chữ hi HT – cũng chỉ con heo/lợn nhưng không thông dụng bằng các chữ khác như trư, thỉ, trề, ba … Vết tích của liên hệ hợi-cúi còn thấy trong chữ hui1 BK (hay hôi/huy/khôi HV) viết bằng bộ thỉ hợp với chữ thổ1 bên phải nghĩa là con heo. Tiếng Thái bây giờ gọi năm Hợi là bpee goon - để ý dạng cun là con heo của tiếng Mường – cho thấy tiếng Thái vẫn còn duy trì một số tiếng Việt Cổ và là một dây nối quan trọng để hiểu rõ hơn nguồn gốc tên 12 con giáp.

Như vậy là ta đã xem qua tên 12 con giáp, thoạt nhìn thì các từ HV Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi có vẻ như có gốc Tàu – nhưng tra kỹ ra thì thấy rõ những mối dây liên hệ với các ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt nhất là tiếng Việt và Việt Cổ qua tiếng Mường và họ Môn-Khme. Điều này càng dễ hiểu nếu ta nhìn rộng ra các tên loài vật vẫn còn tàn tích trong vốn từ TH hiện đại, tuy càng ngày chúng càng bị đào thải vì hệ thống âm thanh không phù hợp hay vì các đợt ‘chỉnh lý’, ‘đơn giản hoá’ chữ viết cùng khuynh hướng cố tình bôi xoá ảnh hưởng từ phương Nam khi nền văn hoá này khởi sắc trước thời Tần. Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá TH từ đời Hán và sau đó từ đời Đường, Tống… với sức ép của nhóm thống trị từ phương Bắc tràn xuống, các tên 12 con vật tổ đã từ từ thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá TH hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ), trong đó dân ta vẫn khư khư coi mèo là biểu tượng của chi Mão ! Chính vì thế mà ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc của tên 12 con giáp, đúng theo tinh thần của người trước gói ghém trong câu

“Trăm năm bia đá thì mòn
“Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”

4. Phụ chú và phê bình thêm

(1) dữ kiện về tần số dùng của các chữ Hán hiện đại dựa vào tài liệu trên mạng Internet www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php (http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php). Các chữ hiếm có tần số dùng rất thấp, thường rất ít gặp trong các tự điển hiện đại.

(2) Ong có âm cổ phục hồi hệ Nam Thái (Austro-Thai) theo Benedict là *bluung không phù hợp với các dạng QĐ, Hẹ, Việt. Nếu xem các cấu tạo chữ Hán, ta thấy ông thường đuợc dùng làm thành phần HT. Chữ này lại được viết bằng bộ vũ hợp với chữ công cho thấy dạng âm cổ ô- hay hô-, kô- … Xem qua các ngôn ngữ láng giềng ta thấy tiếng East Mnông có ?uong (? chỉ âm bật thanh quản/glottal stop) để chỉ con ong, so với ?ong (tiếng Mường, Bahna, Stiêng, Chrau, Kơho, Sơđăng) theo Paul Sidwell trong cuốn “Proto South Bahnaric” (2000). Sidwell ghi nhận âm cổ phục hồi của tiếng tiền Katuic (Proto-Katuic) là *hang, tiếng tiền Waic là *?ong, *anh, tiếng tiền Chàm là *hong so với huing (tiếng Môn), wong/wol (Riang), ong (Wa), on (Paluang), hong (Besisi), cong (Semang, một dạng Bahna). Các tương quan trên, nhất là từ các ngôn ngữ không có nhiều giao lưu với TH, cho thấy feng1 BK (phong HV) rất có thể là từ mượn từ các dân tộc ở phương Nam từ Thượng Cổ. Tiếng Thái có chữ pheungF đọc như phương tiếng Việt, có thể là ảnh hưởng của tiếng TH Trung Cổ - cùng thời với sự xâm nhập và phát triển có hệ thống của tiếng HV thời Đường Tống.

(3) Biến âm b-ph/f rất thường gặp trong ngôn ngữ như qua định luật Grimm trong họ Ấn Âu... Trên phương diện lịch đại ta thấy các cặp từ bỏ-phế, bài-phé, buồng-phòng, buông-phóng, bộ-pho, búa-phủ, bổ/bửa-phẩu/phẫu, bể-phá, bè-phái, bay-phi, bưng-phụng, buồn-phiền, buồm-phàm, bún-phấn, buộc-phọc, bèo-phiêu, bào-phao, Bụt-Phật … ngay cả trên phương diện đồng đại ta thấy bỏng-phỏng, bình-bịch hay bành-bạch, phành phạch … tuy không phổ thông cho lắm. Như vậy thì b- dẫn đến ph- hay ngược lại ? Nếu xem chữ Bụt (từ tiếng Phạn Budh-) để cho ra chữ Phật HV so với chữ Bụt đi thẳng vào tiếng Việt thì rõ ràng là b- đã hiện diện trước ph- . Ngoài ra khi dùng từ ghép trong tiếng Việt thì chữ có trước thường đi trước như buồn-phiền, bè-phái, bỏ-phế….. Thêm vào đó là các âm mạnh (strong sound) như b- có khuynh hướng trở thành âm yếu như p-, ph/f- hay âm vang trở thành âm điếc : hiện tượng này gọi là nhược hoá (lenition hay weakening).

(4) Thật ra thì đã có những hoạt động thay đổi hoặc ‘chỉnh lý’ các tên như người viết đã từng nêu lên trong bài viết (phần 2) : mãn (mèo) hay miễn thay bằng thố (thỏ), nhưng dân Việt vẫn khăng khăng giữ tên gọi Mão để chỉ con mèo chứ không dùng thỏ. May thay, chính văn hoá truyền khẩu lại duy trì được nghĩa nguyên thuỷ, chứ nếu dựa vào chữ Hán sau nhiều đợt ‘chỉnh lý’ thì có thể không truy được ngọn ngành cho thoả đáng !

(5) Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hoá VN” NXB Giáo Dục – Thành Phố HCM (1999) đã ghi nhận rồng xuất phát từ vùng Đông Nam Á và ảnh hưởng đến văn hoá TH (trang 135). Điều này phù hợp với dạng âm cổ phục hồi *tsri(a)n để cho ra các tiếng khác như trăn, rắn, rồng, lươn, thuồng luồng, thằn lằn …

(6) qua khung cửa rất nhỏ của tên và cách viết 12 con giáp, ta có thể tìm thấy nhiều dữ kiện đặc biệt của tiếng TH, tiếng HV, Việt … và qua các cách viết cổ của chúng, ta có thể tìm lại được phần nào nền văn hoá cổ đại của phương Đông như sự ‘kính nể’ các loài vật tín ngưỡng thờ các loài vật, dùng chúng làm totem ..v..v..

5. Đính chính và bổ túc

5.1 Vì phải tranh thủ thời gian để đánh các bài viết này, nên người viết không thể nào tránh được một số lỗi thông thường như bỏ dấu sai, thiếu/lộn nét, quá tóm tắt, ý mơ hồ … Thí dụ như trong phần 2 dòng 7 trang 1, gióng lên viết là ‘giống lên’; Trang 2 dòng 1 ‘on’ và ‘kun’ đổi cho nhau ..v..v… Khi đọc lại bài đánh thì trễ quá, bài đã lên mạng !

5.2 Đáng lẽ phải chêm một số chữ Hán để cho rõ nghĩa cho các bài viết này, nhưng vì đa số chữ Hán dùng trong bài viết là loại chữ hiếm không dễ dán vào, người viết vẫn còn đang tìm loại fonts cổ điển và thích hợp để giải quyết vấn nạn này. Tuy nhiên, hi vọng bằng cách ghi lại bộ thủ và thành phần HT, mức độ sai trái sẽ giảm thiểu tối đa.

5.3 Quý độc giả muốn trao đổi thêm ý kiến để chúng ta cùng học hỏi thêm, xin liên lạc với Ban Biên Tập của khoahoc.net hay người viết qua địa chỉ email [email:2az9cmw4]nguyencungthong@yahoo.com[/email:2az9cmw4], mong rằng “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ trong biển học vô cùng vậy.


Nguồn: www.dunglac.net (http://www.dunglac.net)

madeinvietnam
15-04-2008, 12:59 PM
Có một nhà khảo cổ học Phương Tây đã cho rằng cư dân Việt cũng sẽ bất ngờ và không tưởng tượng được sự lớn lao của nền văn minh của chính tổ tiên mình. Tôi có đọc một số bài viết về Văn hiến Việt xin chia sẻ với các bạn.
Ồ! Tôi không phản đối ý kiến này. Và cũng muốn cung cấp thêm một vài thông tin thú vị về 12 con giáp.
Không rõ việc chia thời gian và không gian làm 12 phần hoặc 60 phần có phải là vô tình hay không, nhưng rõ ràng là có sự tương đồng giữa nhiều nền văn hóa khác nhau. Có lẽ cổ nhất và rõ ràng nhất phải nói đến là nền văn minh Lưỡng Hà ở Trung Đông với hệ "Lục thập phân" bạn nhỉ.
Còn riêng về nguồn gốc tên gọi thì quả là có khả năng các tên gọi này bắt nguồn từ phương Nam chúng ta lắm. Bản thân tôi nghĩ rằng ở thời điểm khởi nguyên, đây là cách phân chia thời gian trong một ngày.
Theo kinh nghiệm của các cụ già thì:
- Giờ Dậu là giờ gà lên chuồng.
- Giờ Tý là giờ chuột hoạt động mạnh nhất.
- Giờ Sửu là giờ các anh Trâu nhà mình dạ dày trống, hay gại sừng.
- Giờ Dần là giờ các ngài Hổ về hang.
....
Cứ thế mà suy ra...
Đó cũng là điều hay.

Tuy nhiên, tôi thấy trong các tài liệu của ta hay nói đến những loại lịch "Kiến Dần", "Kiến Tý". Coi hai loại lịch này là Âm lịch và Kiến Dần tức là lịch Tàu, Kiến Tý là lịch Việt. Mà không giải thích "Kiến" là gì. Có thật sự vậy không, mời mọi người xem tiếp bài sau của tôi.

madeinvietnam
15-04-2008, 01:38 PM
Tôi xin giải thích thẳng luôn.
Kiến Tý có nghĩa là "Trực Kiến tại Tý".
Kiến Dần có nghĩa là "Trực Kiến tại Dần".
"Trực" có nghĩa là "thẳng góc".
"Kiến" là một trong những phương vị của hệ tọa độ bầu trời theo thiên văn cổ Phương Đông.
Khi ta quay mặt về phương Bắc, tưởng tượng có một mặt phẳng thẳng đứng đối diện với ta, lấy sao Bắc Đẩu (Thiên Quyền) làm tâm quay 1 vòng tròn chia làm 12 cung (Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế). Cung có sao Dao Quang (Tức là cán của "cái gáo" Đại Hùng Tinh) gọi là cung Kiến.
Mỗi một năm vũ trụ (chu thiên), Trái đất quay xung quanh mình 365,256316 vòng. Đồng thời, trái đất cũng quay xung quanh mặt trời ngược lại với vòng quay nói trên. Nếu gộp hai vòng quay lại thì (tốc độ quay tuyệt đối) mỗi chu thiên (năm) trái đất quay trong thiên hà 364,256316 vòng. Số vòng quay này cũng tương ứng với số vòng quay của sao Dao Quang xung quanh sao Thiên Quyền trong một năm. Điều này cũng có nghĩa là mỗi một năm, sao Dao Quang quay chậm hơn mặt trời một vòng 360 độ. Tức là cứ 1/12 của năm (tạm gọi là tháng. đúng hơn nó là BÌNH NGUYỆT) thì nó chậm hơn mặt trời 1/12 ngày (tức là 1 giờ cổ hay 2 giờ hiện đại).
Nghĩa là nếu ở tháng này, hướng kẻ từ Sao Thiên Quyền xuống Dao Quang (Kiến) là vuông góc với mặt đất vào giờ Tý thì sang tháng sau sẽ vuông góc vào giờ Sửu.
Theo quan sát thời cổ thì từ Tiết Đại tuyết qua tiết Đông chí đến trước Tiết Tiểu hàn là thời điểm Trực Kiến nắm ờ giờ Tý hằng ngày. Qua tiếp từ tiết Tiểu Hàn cho đến tiết Lập Xuân thì thời điểm Trực Kiến nằm ở giờ Sửu hằng ngày. Qua tiếp từ tiết Lập Xuân đến tiết Kinh trập thời điểm Trực Kiến nằm ở giờ Dần...
Nói chung là càng về Phương Bắc thì càng dễ quan sát. Trực được xem như một đơn vị thời gian thiên văn. Nếu bạn biết được bản đồ sao thì tại mỗi "trực" (Kiến, Trừ, Mãn...) bạn đều biết được vị trí của các vì sao trên bầu trời của bạn (trừ các hành tinh) mặc dù bạn đang ở... ban ngày và chẳng thấy ngôi sao nào cả.
Một loại lịch mà lấy thời điểm "Trực Kiến tại Dần" (Tiết Lập Xuân) làm đầu năm thì gọi là lịch Kiến Dần.
Tương tự cho các loại lịch khác.

madeinvietnam
15-04-2008, 02:56 PM
Từ quan sát trên ta sẽ suy ra Địa Chi của một giờ và của một tháng đều có một ý nghĩa Thiên Văn nhất định. Còn Địa chi của một năm và của một ngày có ý nghĩa gì không?
Theo như ta biết trong các hành tinh quay quanh mặt trời, ngoại trừ 3 hành tinh Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương mới phát hiện sau này, người thời cổ đã quan sát được quy luật của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ... tóm tắt như sau:
Quỹ đạo của:
Thuỷ: 88.0 ngày.
Kim: 224.7 ngày
Hoả: 687.0 ngày
Mộc: 4331.8 ngày
Thổ:10760.0 ngày
Trong đó, sao Mộc là sao có chu kỳ khoảng gần 12 năm còn gọi là sao Tuế (năm). 60 là bội số của tất cả các chu kỳ trên và cũng là bội số chung nhỏ nhất của 12 (Địa Chi) và 10 (Thiên Can). Có nghĩa là cứ 60 năm (Lục thập hoa giáp) thì sẽ có một thời điểm cả 5 hành tinh trên hội tụ về một phía (Thực ra chủ yếu là Hoả, Mộc và Thổ). Năm đó là năm Giáp Tý.

Ở trên tôi nói về ý nghĩa thiên văn của Thiên Can và Địa Chi của năm. Còn thực sự ý nghĩa của Thiên can và Địa chi của ngày thì hiện nay chưa có ai tìm hiểu ra được ý nghĩa của người xưa. Theo phán đoán của tôi, đại để đây chỉ là chu kỳ nhân tạo để thuận tiện dùng. Tương tự như chu kỳ tuần lễ 7 ngày theo Dương lịch hiện đại. Và thực sự từ xưa đến nay, người ta vẫn đánh số nó đều đều theo Lục thập hoa giáp mà không cần biết ý nghĩa thiên văn.

Điều thú vị là việc dùng Trực tinh phối hợp với can chi của ngày là một môn xem ngày lành tháng tốt rất phổ biến ở Việt Nam. Theo đó thì trong tháng Tý Dương lịch (một Bình nguyệt sau tiết Đại Tuyết) thì ngày nào là ngày Tý sẽ là ngày Trực Kiến, ngày nào là ngày Sửu sẽ là Trực Trừ... (điều này cũng tương tự trong tháng Tý thì giờ Tý sẽ ở Trực Kiến). Tháng sau (Sửu) sẽ LÙI lại một ngày (Trực Kiến ở Sửu). Có nghĩa là lấy ý nghĩa Can-Chi của giờ gán cho ý nghĩa Can-Chi của ngày. Các bạn có thể kiểm chứng ở các loại lịch xem bói, nếu ngày trước một tiết khí là ngày Kiến thì ngày tiết khí cũng sẽ là ngày Kiến (tức là DẪM TẠI CHỖ một ngày), tương tự với ngày Trừ, Mãn, Bình, Định... Mỗi một ngày Trực có một ý nghĩa Cát-Hung riêng.
Kiến, Phá : Gia trưởng bệnh
Trừ, Nguy : Phụ Mẫu vong.
Mãn, Thành : Đa phú quý
Chấp Bế : Tổn Ngưu Dương
Bình Định : Hưng nhân-khẩu
Thu Khai : Vô họa ương.

Phép này gọi là "Kiến trừ thập nhị khách phối hợp Tiết khí". Bạn nào nói lịch Can-Chi liên quan đến Âm lịch nhiều thì nên suy nghĩ lại. Hầu như toàn bộ các khái niệm Can-Chi, Trực chẳng liên quan gì đến yếu tố mặt trăng cả mà chỉ liên quan đến yếu tố Dương (ngày, tiết khí, năm) nhiều hơn. Việc đặt tên các tháng Âm lịch sau này theo Can-Chi rõ ràng là gán ghép không đúng. Bởi vì các tháng Âm lịch chỉ gần đúng với Tiết khí và xê dịch sẽ không thể hiện đúng Trực của mỗi giờ. Nhất là ở đầu năm, theo lịch pháp 3 tháng một chạp giêng là ba tháng không được nhuận. Nếu tháng sau tháng một (11) không có trung khí thì nó vẫn là tháng 12, và tháng tiếp theo nữa là tháng giêng mặc dù nó đang ở tiết Đại tuyết (tức là Kiến đang ở Sửu) nhưng tháng vẫn là tháng Dần (tháng giêng). Vả lại, nếu theo tháng Âm lịch mà xem Thiên văn để đoán lành dữ thì chắc chắn sẽ lệch nhiều lắm vì ở tháng nhuận, mỗi một trực kéo dài đến 2 tháng.

madeinvietnam
15-04-2008, 04:18 PM
Ấy là nói thời xưa. Chứ đến thời nay thì tình hình có vẻ khác lắm rồi.
GS Hoàng Xuân Hãn đã tham khảo các thời điểm lịch sử cổ và phục nguyên lịch cổ. Theo đó, các tiết khí trong lịch cổ không hề giống với tiết khí ngày nay. Cụ thể:
+ Lập xuân (26/1 Dương lịch) :
+ Kinh trập (25/2 Dương lịch) :
+ Thanh minh (26/3 Dương lịch) :
+ Lập hạ (26/4 Dương lịch):
+ Mang chủng (27/5 Dương lịch):
+ Tiểu thử (28/6 Dương lịch):
+ Lập thu (29/7 Dương lịch):
+ Bạch lộ (29/8 Dương lịch):
+ Hàn lộ (29/9 Dương lịch):
+ Lập đông (29/10 Dương lịch):
+ Đại tuyết : (27/11 Dương lịch)
+ Tiểu hàn (27/12 Dương lịch):
Một đặc điểm chung là các tiết khí này phân bố đều trong một năm. Bởi vì ngày xưa các cụ dùng phép NỘI SUY để tính các tiết khí.
Các bạn nên lưu ý thêm một chút. Một vòng trái đất quay xung quanh mặt trời (Chu thiên) có độ dài là 365,256316 ngày . Còn độ lệch của mặt trời so với trái đất lại theo một quy luật khác (Chu tuế) có độ dài là 365,242119 ngày. Sở dĩ có việc này là vì hiện tượng TUẾ SAI. Tức là mỗi một năm, điểm XUÂN PHÂN lại lùi về sau một tí. Ở đây gây nên rắc rối. Nếu tính đến khoảng thế kỷ 17-18 thì lịch sử văn hiến Trung Quốc có được khoảng hơn 2000 năm. Đến khoảng thế Nếu thực sự chỉ theo sao Diêu Quang như thời cổ để tính các tiết khí thì độ lệch sẽ là:
(365,256316 - 365,242119) x 2000 = 28 ngày.
Có nghĩa là lệch mất khoảng 1 tháng. Dĩ nhiên người ta có thể đo bóng mặt trời để tính tiết Đông Chí rồi từ đó nội suy ra các tiết khác. Tuy nhiên nếu so với các vì sao thì lệch mất 1 tháng. Tháng Mười một Trực Kiến không còn ở giờ Tý nữa mà là ở giờ giờ Sửu. Vả lại, đến thời điểm này (thế kỷ 17-18), toán học ở Trung Quốc đã suy thoái, không còn khả năng làm phép nội suy với số thập phân phức tạp nữa.
Để giải quyết vấn đề này chỉ còn một cách duy nhất là phải thuê các nhà thiên văn học Châu Âu tính các tiết khí. Và Adam Schall là người đảm nhiệm công việc này. Với kiến thức của mình, Adam Schall đã dùng LƯỢNG GIÁC CẦU để xác định vị trí chính xác các thời điểm tiết-khí trên bầu trời.
Các bạn cũng biết rằng trái đất quay xung quanh mặt trời với quỹ đạo hình ellippse với vận tốc không đều tùy thuộc động năng và thế năng đạt được do lực lực hấp dẫn gây ra. Chính vì vận tốc không đều này, nên kết quả tính theo lượng giác cầu của Adam Schall ra thời điểm của các tiết khí theo vị trí thực của mặt trời không giống với cách tính theo nội suy của lịch cổ. Lịch này được gọi là Lịch Thời Hiến và được lập cho một vạn năm nên gọi là lịch Vạn niên.
Lịch này có hai đặc điểm chính.
- Vì nó theo vị trí thực của mặt trời nên rất phức tạp và tháng nhuận không phân bố đều nữa mà tập trung ở các tháng mùa hè (do tiết khí dài hơn).
- Vì nó là lịch theo chu tuế nên nó phớt lờ vị trí của các ngôi sao trong vũ trụ (theo chu thiên). Và vì vậy, các vì sao chiếu mệnh để bói toán, tử vi trong Âm lịch hiện đại chỉ mang ý nghĩa biểu trưng, không còn mang ý nghĩa thiên văn như lịch cổ nữa.

han_tae_hieu
23-02-2009, 12:46 AM
Càng nghiền ngẫm về văn hoá Việt tôi lại càng bất ngờ ,cảm phục tổ tiên mình biết mấy.Càng căm tức Tàu kẻ ăn cắp nhưng lại luôn chê người Việt ta hèn kém.Đau buồn khi nhiều ngươi không biết tự tôn dân tộc,ra nước ngoài ai hỏi thì lại nói :tôi là người Trung quốc,người hàn ,...

sumovn
30-01-2010, 10:35 PM
12 con giáp xuất gốc từ Việt Nam, không phải Trung Hoa
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.


Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại

Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.

Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.

http://115.84.178.52/image/20100130/VanHoa/DienAnhTruyenHinh/giadinh_073105_826058460_0.jpg

12 con giáp Việt trong cung Hoàng Đạo


Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.

“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.

Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.

Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.

http://115.84.178.52/image/20100130/VanHoa/DienAnhTruyenHinh/giadinh_073105_184863488_1.jpg

Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông và vợ ở Viện Việt học


Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.

Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?

Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.

http://115.84.178.52/image/20100130/VanHoa/DienAnhTruyenHinh/giadinh_073105_543668515_2.jpg

12 con giáp cổ.


Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.

Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).

Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.

Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”

Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.

Nguồn: http://dailyinfo.vn/5-37-105616-12-con-giap-xuat-goc-tu-Viet-Nam-khong-phai-Trung-Hoa.html (http://dailyinfo.vn/5-37-105616-12-con-giap-xuat-goc-tu-Viet-Nam-khong-phai-Trung-Hoa.html)

VietNam09
30-01-2010, 11:00 PM
ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh Việt ta là 1 đế chế hùng mạnh
và bọn TQ chính là đám nô lệ nổi loạn xanhmat

tieulong88vn
30-01-2010, 11:22 PM
Vậy TQ trước kia là 1 quận của VN ta :))

Phongba
31-01-2010, 12:01 AM
Nếu giả sử như Việt ta đã từng là một ''đế chế'' hùng mạnh thì hãy nhìn hiện tại xem, chẳng phải đáng buồn lắm sao?. Tay vì tâng bốc quá khứ hãy phấn đấu cho ngày mai.

hoangsatruongsa.vn
31-01-2010, 12:23 AM
Nếu giả sử như Việt ta đã từng là một ''đế chế'' hùng mạnh thì hãy nhìn hiện tại xem, chẳng phải đáng buồn lắm sao?. Tay vì tâng bốc quá khứ hãy phấn đấu cho ngày mai.

cũng biết là phải phấn đấu thôi nhưng sự thật lịch sử của đất nước ta thì chúng ta phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tìm hiểu thật kĩ,giả như ngày xưa nước nam việt ta rộng lớn,hùng mạnh,văn hoá rất cao thì đấy cũng vừa là bài học giữ nước vừa là niềm tự hào dân tộc,tựhhào vì ông cha ta là những người khai hoá văn minh sớm nhất,tự hào vì chúng ta là dân tộc lạc việt và lật mặt lũ tàu khựa dối trá đang ru ngủ đồng hoá nước ta trên nhiều lĩnh vực
nếu chứng minh đựoc nguồn gốc thì chúng ta sẽ có quyền tự hào dân tộc và sẽ giảm bớt tâm lí tự ti dân tộc như bây giờ,bây giờ ai cũng kêu là dân tộc vn thấp cổ bé họng rồi này nọ,văn hoá vay mượn.... đó là tất cả những gì mà thằng hàng xóm nó đang đầu độc chúng ta nếu không sớm tỉnh ngộ thì nhà của chúng ta sẽ thành nhà của chúng nó.
cũng chính vì sự thiếu quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu lịch sử thuở sơ khai mà chúng ta không biết vị trí của đất nước mình ở đâu,đó là cái đáng trách.việc ngiên cứu lại lịch sử cũng phụ thuộc rất nhiều vào khựa vì tất cả các tư liệu liên quan khựa đều thủ tiêu hết cả rồi và bằng chứng khai quật thì cái gì liên quan đến nam việt nó cũng hoặc là tiêu huỷ để vĩnh viễn chúng ta ko biết cội nguồn hoặc là lưu trữ thành tư liệu mật.chúng ta phải tôn vinh những nhà nghiên cứu đã vượt qua rất nhiều rào cản của khó khăn để cho chúng ta 1 cái nhìn tổng quát,đúng đắn về dân tộc bách việt.

han_tae_hieu
31-01-2010, 12:41 AM
cứ nhìn đài loan đấy,kinh tế rất mạnh nhưng khốn nỗi vẫn bị mang cái mác là một tỉnh của Trung Hoa có ngóc đầu lên được đâu.

lavantien
03-02-2010, 03:54 PM
ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh Việt ta là 1 đế chế hùng mạnh
và bọn TQ chính là đám nô lệ nổi loạn xanhmat

Thôi nước nào tách bạch nước đó, Lịch sử TQ cho thấy thằng nào cai trị nó thì sao này đất của thằng đó thuộc lãnh thổ của nó: như Mông cổ vùng nội mông, Mãn Thanh đất dân Mãn ..... điều đấy gọi là đồng hoá ngược.
Ngày xưa Mao đòi trả lưỡng quảng lại cho VN nhưng Bác Hồ không nhận, Bác thấy được thâm ý của Mao.
Bác biết dân số lưỡng quảng đông hơn dân số VN bầu cử xong thì dân hán chiếm đại đa số trong chính phủ lúc đó nó bỏ phiếu sát nhận vào TQ thì mệt....

NguyenBoxing
03-02-2010, 04:24 PM
Ôi! Sướng quá! Giờ tôi mình phải in ngay ra, mai mang ra lớp cho ,ọi người cùng biết.
Việt Nam muôn năm!

nguoisaigon115
06-02-2010, 08:29 PM
Viện Nam hiện giờ người giỏi mà có tâm với dân tộc cũng nhiều , Thiền sư Lê Mạnh Thát chẳng hạn , Ông có những nghiên cứu cực kỳ công phu về lịch sử , địa chính ... của VN thời xưa , ai muốn tìm hiểu kỷ hơn cứ google mà tìm sẻ có nhiều cái hay không ngờ . (Key : Le Manh Thát ) .

Sát Thát
06-02-2010, 09:00 PM
Hàng ngàn năm lịch sử phôi pha, với sự tàn phá của bọn mọi Khựa và thời gian, việc tìm về cội nguồn văn hóa Việt thật rất gian nan vất vả.

vietcong91
17-02-2010, 05:18 PM
thôi các bác cái gì đúng thì nên chấp nhận đừng xuyên tạc như vậy :|

em có vài ý kiến với cái chữ kí của bác :D

http://hoangsa.org/forum/../../images/smilies/hso/23.gif Người Mông Cổ còn mạnh hơn,họ đã đánh chiếm gần hết Châu Á và một nữa Châu Âu :| một vài nước Đông Âu nghe hợp lí hơn
http://hoangsa.org/forum/../../images/smilies/hso/18.gif Vậy còn người Việt Nam thì sao?đơn giản là họ đập Mông Cổ 3 lần liên tiếp!!! Thế còn Nhật Bản Ai Cập Miễn Điện Syria cũng oánh Mông C tơi bời kìa đâu riêng gì việt nam =)) Mông Cổ cũng ko thể chiếm hết cả đông âu mà chỉ oánh Ba Lan Hungary Gruzia 1 phần vùng siberia Nga và hem thể tiến đến Thổ =)) tuy nhiên việt nam Pro nhất oánh 3 lần khắc quá tam =)) Nhật cách biển Ai cập xa xôi còn VN thiên thời địa lợi đều nghiên về Mông Cổ vậy mà lũ mọi rợ này vẫn đại bại :D
http://hoangsa.org/forum/../../images/smilies/hso/19.gif =>> Hãy tự hào là người Việt Nam :X

luctiensinh
20-02-2010, 09:38 AM
Cái này cũng hay, nhưng ông tiến sỹ này quên mất 1 điều rằng, tiếng Quan thoại ( phổ thông) của Trung Quốc trước đây cũng chỉ là phương ngữ của 1 địa phương, còn tiếng Việt của mình phần lớn là hán việt ảnh hưởng bởi Đường âm ( tiếng Quảng Đông), Ngô âm ( tiếng Hàn, tiếng Nhật), Tiếng Tày ( Cực giống với tiếng việt) ví dụ phát âm theo tiếng Quảng đông từ Tí ( âm: Chỉ) Mùi ( âm: mầy) Hợi ( âm:hòi), TV: Khách ( tiếng tày: Khéch, tiếng Quảng: Hạc) nói tóm lại cái bài này của cũng chỉ để tham khảo thôi, vì đến hiện giờ đề tài này vẫn còn đang tiếp tục tranh cãi)
Nhưng dù sao cũng cảm ơn bạn đã cho mọi người thấy được góc nhìn khác hơn và từ đó chúng ta cũng nên trân trọng tiếng Việt hơn.

Progress
20-02-2010, 10:15 AM
Trước đây tôi có đọc một trang sử liệu nói Mạc Đăng Dung từng dâng đất mấy tỉnh biên giới phía bắc cho tên Hoàng Đế Trung Hoa cùng thời để cầu hòa, sau khi cướp được ngôi vua,nhưng chỉ nói sơ lược như vậy nên không biết đó là những tỉnh( cổ ) nào của Việt nam, và giờ là phần đất nào mà bọn Hán mọi đang nghễu nghện chiếm cứ.

lamborghirni20
02-09-2010, 05:46 PM
TQ nó bảo là của nó . Còn VN nói là của VN . Chẳng biết đâu mà lần . Cũng như TQ nó to mồm Hoàng Sa , Trường Sa là của nó , còn VN thì nói ngược lại . Nó dạy dân nó rằng HS và TS là của Tổ Quốc của nó , còn VN thì được dạy điều ngược lại . Nhưng theo chứng cứ là Hải Quân VNCH đã từng tuyên bố rằng đó là chủ quyền của họ thì tất nhiên HS và TS là của đất nước VN , chế độ VNCH đã sụp đổ tất nhiên HS và TS là của QDNDVN . Nhưng mình nói với mình thì chẳng được gì , VN thấp cổ bé họng nên nói TG chẳng thằng nào chịu nghe , còn mồm thằng TQ quá to + địa vị trên trường quốc tế của nó nên chẳng ai nghe VN, tôi chẳng biết sao chứ lên bản đồ thế giới nhìn vào quần đảo HS thấy cái chữ " CHINA " béo phị dán vào mắt mình ;)) .Bây giờ lại tới cái vụ 12 con giáp ;)) đau đầu :))

lâmxung
02-09-2010, 05:50 PM
Còn Kinh dịch nữa chắc cũng của VN nhể

cray
02-09-2010, 07:07 PM
mấy chú hễ ra là bắt bẽ đủ điếu các bác có biết để chứng minh một thứ gì đó các nhà khoa học phải nghiên cứu rất nhiều không. chẳng lẽ tư tưởng thanh niên Việt Nam giờ sao tệ quá(xin lỗi kèm không được cảm xúc)

phanlongmk92
02-09-2010, 07:18 PM
nếu bạn nhìn theo con đường di cư của loài người sẽ thấy rằng người TQ đã di cư từ VN lên chứ không phải từ trên xuống!
Văn hóa cũng là như vậy, người TQ học tập văn hóa của người Việt chứ không phải người VIệt học tập của TQ
nếu các bạn còn chú ý thì mình đã đọc về đế quốc xích quỷ và thử liên hệ nó với truyện con rồng cháu tiên.
Sau 1 chút liên hệ thì thấy rằng tạm hiểu là người Việt khi xưa là 1 đế quốc rộng lớn từ hồ động đình trải về Nam, đế quốc có nhiều bộ lạc lớn tuy nhiên có 2 bộ lạc lớn nhất . Và 2 người con của 2 tộc trưởng bộ lạc này lấy nhau rồi con cái họ chia ra cai trị đất đai ( 50 người nên non, 50 người xuống biển ) trong đó người anh cả cai trị tộc Việt ở phía nam rồi khai sinh ra nước Văn lang. Trải qua 18 chi họ vua tức gần 2000 năm thì mảnh đất phía bắc bị các bộ tộc hoa hạ xâm lược chỉ còn phía Nam là bền vững mà thôi! Phần sau ai cũng rõ rồi

vaputin
02-09-2010, 07:22 PM
Lý luận của ông Thông không thuyết phục.
Cũng có thể đó là một phát kiến của một dân tộc khác như người Thái chẳng hạn

conrongadong
02-09-2010, 07:31 PM
nnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnn

Vì Nước Quên Thân
02-09-2010, 07:39 PM
sao lại quan trọng hóa vấn đề bản quyền nhỉ.thiết nghĩ nếu tạo ra 1 điều gì đó có ích cho nhân loại thì cũng đũ rồi ,cũng chẵng cần tới việc người khác có biết mình hay không

Hoàng Sa sẽ về
02-09-2010, 08:13 PM
cái này 4rum ta có đề cập rồi mà

vaputin
02-09-2010, 10:47 PM
Phù bỏ ra một buổi tối xem ông Cung Thông viết gì.
Ông này không biết học trường nào nhưng phương pháp nghiên cứu khoa học của ông quá kém kiểu "sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông" do đó các "tác phẩm" của ông hầu như không có giá trị gì về mặt học thuật. Tiếc buổi tối thật.

ZEUS
02-09-2010, 11:05 PM
Thôi các chú ló hướng tới tương lai đi kìa . Dẫu biết ko nên gạt bỏ quá khứ . Mà 12 con giáp là cái quái gì chứ , xem mấy nứoc phương tây người ta làm lịch kìa . Nền Văn Minh Việt Cổ ko cần mấy con giáp này cũng huy hoàng lắm rồi

kinglight
02-09-2010, 11:07 PM
TQ nó bảo là của nó . Còn VN nói là của VN . Chẳng biết đâu mà lần . Cũng như TQ nó to mồm Hoàng Sa , Trường Sa là của nó , còn VN thì nói ngược lại . Nó dạy dân nó rằng HS và TS là của Tổ Quốc của nó , còn VN thì được dạy điều ngược lại . Nhưng theo chứng cứ là Hải Quân VNCH đã từng tuyên bố rằng đó là chủ quyền của họ thì tất nhiên HS và TS là của đất nước VN , chế độ VNCH đã sụp đổ tất nhiên HS và TS là của QDNDVN . Nhưng mình nói với mình thì chẳng được gì , VN thấp cổ bé họng nên nói TG chẳng thằng nào chịu nghe , còn mồm thằng TQ quá to + địa vị trên trường quốc tế của nó nên chẳng ai nghe VN, tôi chẳng biết sao chứ lên bản đồ thế giới nhìn vào quần đảo HS thấy cái chữ " CHINA " béo phị dán vào mắt mình ;)) .Bây giờ lại tới cái vụ 12 con giáp ;)) đau đầu :))

Mình không thích những kẻ 2 mặt như thằng cha này. Công trình nghiên cứu mấy chục năm của họ y như tờ giấy vụn của hắn. Nếu không thích thì đừng có nói. Mà nói thì đừng Cộng trừ nhau =0.
Mình tin cách đây mấy ngàn năm. Có một nền văn minh vượt bậc. Nó nằm ngày chính mảnh đất Việt của chúng ta. Chúng ta nên hiểu từ Việt có nghĩa là Siêu Việt hơn là Việt là cộng đồng các dân tộc phía Đông Nam Á.

vaputin
02-09-2010, 11:17 PM
Tóm tắt cái sai của ông Cung Thông qua cái kiến thức nông cạn của tớ:

1-thập nhị chi có từ thời Thương tức khoảng cách nay 3000-3400 năm căn cứ trên các giáp cốt đào được. Tiếng Tàu lúc đó nghe như thế nào bố ai biết được còn tiếng Việt thì chắc nghe như tiếng Khmer ngày nay với các prefix Ch, Sk, Sr... như Chkay (tiếng Khmer) là con ch ó . đến khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên thì người Việt mới bỏ hẳn Ch chỉ còn kay hay con cầy hoặc bỏ kay lấy Ch, Ch o cho sắc ch ó :D. Sau mấy nghìn năm thì ngôn ngữ nó tiến hóa kinh hoàng thế mà ông Thông mang tiếng Bắc Kinh và tiếng Việt hiện đại ra luận chuyện hơn 3 nghìn năm trước, nghĩ thật buồn cười

2- Từ phân tích ngôn ngữ đơn giản (nhưng thiếu khoa học) ông Thông thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. rồi ông cho là thập nhị chi là của người Việt.
3 trên 12 thì chưa là cái gì cả mà ngay trong 3 đó cũng đầy khiên cưỡng như là mão/mèo thì xin thưa người Thái người Lào cũng gọi mèo là Meo, người Khmer gọi là Khma, người Mã Lay là Meong. Còn cái suy diễn tí/chút/chuột nghe cũng buồn cười, sờ tí là sờ chuột đấy :D

3-Dưới đây là bảng thập nhị chi


http://vi.wikipedia.org/wiki/Can_Chi
(http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Ti%E1%BA%BFt_Kh%C3%AD.svg)
Số Chi Việt Hoa Nhật Triều Hoàng đạo¹ Hướng Mùa Tháng âm lịch Giờ² 1 子 tý (Tí) zǐ ne 자 chuột 0° (bắc) đông 11 (đông chí) 12 (nửa đêm) 2 丑 sửu chǒu ushi 축 bò (trâu) 30° đông 12 2 giờ đêm 3 寅 dần yín tora 인 hổ 60° xuân 1 4 giờ sáng 4 卯 mão (mẹo) mǎo u 묘 thỏ (mèo) 90° (đông) xuân 2 (xuân phân) 6 giờ sáng 5 辰 thìn chén tatsu 진 rồng 120° xuân 3 8 giờ sáng 6 巳 tỵ sì mi 사 rắn 150° hè 4 10 giờ sáng 7 午 ngọ wǔ uma 오 ngựa 180° (nam) hè 5 (hạ chí) 12 (giữa trưa) 8 未 mùi wèi hitsuji 미 cừu(dê) 210° hè 6 2 giờ trưa 9 申 thân shēn saru 신 khỉ 240° thu 7 4 giờ chiều 10 酉 dậu yǒu tori 유 gà 270° (tây) thu 8 (thu phân) 6 giờ chiều 11 戌 tuất xū inu 술 300° thu 9 8 giờ tối 12 亥 hợi hài i 해 lợn 330° đông 10 10 giờ tối
(http://vi.wikipedia.org/wiki/Can_Chi#cite_note-3)


Lưu ý phần chử Hán ký hiệu các chi thì dù sau hơn 3000 năm cũng dễ dàng nhận thấy các chữ này phần lớn là tượng hình (hình vẽ các con thú) chứ không phải ký thanh như ông Thông nghĩ.

ZEUS
02-09-2010, 11:19 PM
Hôm nào anh với mấy chú vác cuốc lên Hòa Bình đào xem nhé :smilie_clap: Biết đâu phát hiện ra một nền văn minh cách đây 20.000 năm mà do bị kỉ băng hà Nhấn chìm . Biết đâu tìm được một new york of Việt Nam Dưới Lòng sông Hòa Bình thì sao . Có Khi còn mấy cái đĩa bay do dân Việt Cổ chế nữa :smilie_w00t::smilie_w00t: biết đâu Chính các bác ấy Du hành Vũ Trụ tìm đến hành tinh kahcs nay trở về thì đã 20,000 " thuyết tương đối " và được các nhà khoa học Mỹ Nga gọi Là UFO " vật thể bay ko xác định ấy " khúc này khủng :smilie_w00t::smilie_w00t::smilie_w00t: . Đến lúc đó Việt Nam Mình trở thành nươc sở hữu nền công nghệ bật nhất thế giới :not-worthy::not-worthy::not-worthy: . Anh em phi công xài UFO thế hệ máy bay thứ 999 , Máy quay ngươicj không gian và thời gian cục bộ :-&:-& :not-worthy::not-worthy: ....v....vvvv ....:not-worthy::not-worthy::not-worthy:
Thôi thấy chém thế này là quá rồi :thumbs-up-nomi::thumbs-up-nomi::thumbs-up-nomi:

kinglight
02-09-2010, 11:53 PM
Hôm nào anh với mấy chú vác cuốc lên Hòa Bình đào xem nhé :smilie_clap: Biết đâu phát hiện ra một nền văn minh cách đây 20.000 năm mà do bị kỉ băng hà Nhấn chìm . Biết đâu tìm được một new york of Việt Nam Dưới Lòng sông Hòa Bình thì sao . Có Khi còn mấy cái đĩa bay do dân Việt Cổ chế nữa :smilie_w00t::smilie_w00t: biết đâu Chính các bác ấy Du hành Vũ Trụ tìm đến hành tinh kahcs nay trở về thì đã 20,000 " thuyết tương đối " và được các nhà khoa học Mỹ Nga gọi Là UFO " vật thể bay ko xác định ấy " khúc này khủng :smilie_w00t::smilie_w00t::smilie_w00t: . Đến lúc đó Việt Nam Mình trở thành nươc sở hữu nền công nghệ bật nhất thế giới :not-worthy::not-worthy::not-worthy: . Anh em phi công xài UFO thế hệ máy bay thứ 999 , Máy quay ngươicj không gian và thời gian cục bộ :-&:-& :not-worthy::not-worthy: ....v....vvvv ....:not-worthy::not-worthy::not-worthy:
Thôi thấy chém thế này là quá rồi :thumbs-up-nomi::thumbs-up-nomi::thumbs-up-nomi:

Có vẻ rất hoang đường nhưng bạn hãy đọc bài viết dưới đây: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/News/03/Loi-dem-theo-he-nhi-phan-cua-nguoi-Lac-Viet/1/2437/
Tưởng tượng nếu mỗi năm có một trận bão mặt trời thì thế giới này sẽ bị xóa xổ hết hoặc đưa về lại thời kỳ đồ đá. Như vậy sự văn minh của loài người là sự tạm thời. Do đó, ông cha ta đã nén rất nhiều thứ vào tiếng nói, vào các cổ vật như Trống đồng...Mình nghĩ thông tin được nén đó là những quy luật phức tạp của tự nhiên, vũ trụ. Bạn đã bắt gặp 1 file cỡ vài chục GB mà nén có vài Mb chưa? Kích cỡ dữ liệu nén càng lớn thì tốc độ giải nén càng lâu, và cũng tùy thuộc vào cấu hình máy.

phuong thao
03-09-2010, 01:46 AM
Thật ra nếu 12 con giap là của Việt Nam sáng tạo ra ta vẫn có thể chứng minh bằng khảo cổ, lịch sử...và giới thiệu để thế giới công nhận được. Khoa hoc là khoa học, sự thật là sự thật, chẳng có gì mà phải sợ thấp cổ bé họng cả. Vì như gần đây thế giới đã công nhận bóng đá do trung quốc phát minh đầu tiên hay khựa là người đầu tiên phát hiện ra Châu Mĩ... Căn bản là cơ sở chứng minh của ta như thế nào, có chính xác không, chẳng có gì mà tự ti như thế cả.

559
24-01-2011, 04:58 PM
[/URL]http://www.mybanbe.com/Data/meocon/photo/Handmade_DSC08164_fe2f88d1-3268-4ee9-adc6-2a2a6830497c.jpg (http://www.mybanbe.com/Data/meocon/photo/Handmade_DSC08164_fe2f88d1-3268-4ee9-adc6-2a2a6830497c.jpg) Tài liệu tham khảo
Tác giả : Nguyễn Cung Thông


Khi so sánh các con vật biểu tượng cho 12 con giáp, điểm khác biệt rõ nét nhất là người Việt Nam ta dùng con mèo1 cho chi Mão/Mẹo nhưng người Thái, Lào, Khme, Nhật, Hàn, Trung Quốc/TQ ... đều dùng con thỏ. Đây là một cánh cửa hé mở khiến ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc tên gọi 12 con giáp, vì nếu chúng từ TQ thì khi nhập vào các nước hay dân tộc nào đó thì theo thói thường hệ thống ‘12 con giáp nguyên thuỷ’ vẫn được duy trì – như thỏ biểu tượng cho chi Mão chẳng hạn - và nếu có thay đổi thì không có là bao nhiêu như gà so với gà trống, dê so với cừu/trừu, heo/lợn so với heo rừng ...v.v...


Giả sử chữ Mão 卯có nguồn gốc tượng hình con mèo như chữ thố/thỏ 兔chẳng hạn, thì không ai chất vấn nguồn gốc tên gọi 12 con giáp (động vật) và thập nhị chi làm gì. Khi truy nguyên giáp văn, kim văn và triện văn của chữ Mão thì thấy hình dạng của hình cửa mở hay hai mặt trăng đối nhau (?) - xem thêm chi tiết trang này (2003, cập nhật 2008, 2010 – tác giả Richard Sears)
http://www.chineseetymology.org/CharacterA...tton1=Etymology (http://www.chineseetymology.org/CharacterASP/CharacterEtymology.aspx?characterInput=%E5%8D%AF&submitButton1=Etymology) - nguồn gốc chữ Mão chẳng dính líu gì đến một loài vật nào, như thỏ chẳng hạn. Chúng ta hãy nhìn lại vấn đề từ các góc độ khác nhau ngõ hầu có thể nhận ra được phần nào nguồn gốc chính xác và hợp lý hơn của Mão/Mẹo. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ Ngôn Ngữ Học để bài viết dễ đọc hơn. Một điểm đáng ghi nhận ở đây là các thông tin trao đổi trên mạng/Internet và bloggers cũng đáng chú ý: như có khá nhiều trao đổi về chủ đề 12 con giáp và loài vật tượng trưng cho chi Mão là thỏ và mèo, bằng tiếng Anh, Việt, Pháp, Trung (Quốc) ... Tuy rằng các dữ kiện trên mạng cũng cần phải được kiểm chứng một cách nghiêm túc, người viết sẽ ghi lại các nguồn để độc giả có cơ hội tra cứu thêm. Mạng lưới (toàn cầu) càng ngày càng phổ biến và trở thành một môi trường giáo dục quan trọng, cũng như giải quyết một số vấn đề mà trước đây tốn rất nhiều công sức. Cách đây gần 6 thập niên, học giả Phan Khôi từng nhận xét '... Người Việt Nam chúng ta về sau phải sang TQ ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TQ từ đời thượng cổ ...' - trang 34, 'Việt Ngữ nghiên cứu' (NXB Đà Nẵng, 1997). Tình hình bây giờ khác nhiều so với thời đại của cụ Phan Khôi.


1. Loài mèo được thuần hoá sớm hơn loài thỏ



Các xương mèo và người khai quật ở đảo Cyprus cho ta kết luận loài mèo đã sống chung với loài người và có khả năng được thuần hoá cách đây khoảng 9500 năm; So với loài thỏ thì thời kỳ thuần hoá (domestication) không rõ rệt, nhưng ước đoán cách đây khoảng 3000 năm mà thôi. Điều này cũng phù hợp với di chỉ tìm thấy ở Điền Viên Động2 (Tianyuan cave 田园洞, gần Bắc Kinh) gồm có xương người, sơn dương, khỉ, nhím và mèo hoang (civet cat). Ngoài ra, bản tin từ Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng cho ta biết về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, , heo, dê, trâu và trừu… Mèo còn rất thích hợp với xã hội nông nghiệp vì là loài động vật ăn thịt (carnivore): nhà nông thường phải chứa (tồn kho) các sản phẩm vì thời tiết thay đổi bất thường, sau đó các kho hàng hoá này hấp dẫn các loài chuột, sâu bọ và ngay cả chim chóc cũng đến tìm lương thực và quấy phá ... Đến nỗi nhà nông chúng ta phải ra lời ta thán


Cái cò các vạc cái nông
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò (ca dao)


Mèo đã đến như vị cứu tinh để giải quyết vấn nạn trên; Khác hẳn với loài thỏ chỉ ăn rau cải (herbivore) và phá hoại mùa màng – như hiện nay, chính phủ Úc phải tìm các phương pháp hoá học (như dùng thuốc độc) hay sinh học (như cấy vi trùng bệnh) để kiểm soát dân số loài thỏ - thay vì săn bắn chúng một cách dã man. Loài thỏ thuần hoá không thể tồn tại khi nhiệt độ môi trường chung quanh lên trên 32oC, so với loài mèo có thể sống sót với môi trường ở nhiệt độ 52oC; Thân nhiệt (body temperature) của mèo thì từ 38oC đến 39oC (so với con người vào khoảng 37.5oC) tương thích với một xã hội nông nghiệp với khí hậu ôn hoà, còn thỏ lại là nguồn thực phẩm có lượng prôtêin cao cho xã hội du mục và săn bắn.


2. Tư duy nông nghiệp tổng hợp và cụ thể qua ngôn ngữ


Liên hệ Mão Mẹo và mèo rất dễ hiểu: các âm này đều thuộc thanh vực trầm3 (trọc) và nguyên âm e (của Mẹo mèo) là dạng cổ hơn của nguyên âm a (của Mão) như hè hạ (Hán Việt), xe xa, keo giao, vẽ hoạ, mè (vừng) ma, chè trà, beo báo ...v.v... Tương quan tự nhiên còn thể hiện qua cách dùng lòng (bụng dạ) - bộ phận thấp nhất trong cơ thể con người - thay vì tim hay não bộ (óc): lòng tốt hay tốt bụng (hảo tâm HV), buộc lòng, mất lòng ... Khi nhập vào tiếng Hán, lòng trở thành đảm 膽: theo GS Axel Schuessler4 thì đảm 膽 có gốc phương Nam (Nam Á, Austroasiatic) và một dạng âm cổ phục nguyên là *tlam?. Schuessler ghi nhận âm cổ Bahna Bắc/ProtoNorthBahnar là *klàm (gan/liver), tiền Việt-Mường/Proto Viet-Muong *lɔ:m, Katuic *luam hay dạng khác hơn với phụ âm đầu t- như tiền Palaunic/proto Palaunic *kơntɔ:m (gan). Tra thêm các ngôn ngữ láng giềng ta thấy klơm (gan, tiếng Kơho), tho-lom (gan, tiếng Khme) so với LÒNG tiếng Việt gồm các bộ phận như ruột, gan ... ‘Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh’ còn dùng 'lòng gan đều nát' (lòng chữ Nôm thường dùng lộng 弄, làõ theo Việt Bồ La 1651) phản ánh tương quan can đảm (Hán) và lòng gan/ruột gan (Việt); Ngoài ra cách dùng lõm súng (lòng súng, nòng súng), lõm chuối, lõm cây (lòng cây)... cho thấy liên hệ trực tiếp giữa dạng LÒNG - LÕM, thật ra khi phát âm LÒNG bây giờ - tiếng Việt luôn đóng môi lại (môi hoá, như LÒNG) chứ không để môi mở như các dạng LONG của tiếng Anh, Pháp … Tiếng Mường (Bi) còn dùng ‘lòm’ là gan: ‘ho ưa ăn lòm củi’ (tôi thích ăn gan heo). klơm là gan (tiếng Biat), k'lơm (gan, tiếng Boloven) ...v.v... Tóm lại, ta có cơ sở đề nghị cấu trúc dạng cổ phục nguyên *tlam? hay *klam? đã nhập vào tiếng Hán cho ra dạng đảm 膽. Trường hợp âm cổ phương Nam *tlam?/klam? (lòng, một lòng) trở thành đảm (can đảm, đảm lược ...) khi nhập vào tiếng Hán không phải là hiếm, ta còn có những trường hợp như *krong (sông) khi nhập vào tiếng Hán trở thành *kong hay jiāng BK (giang HV), ...v.v... Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý Sửu Dần ... Mão ... Tuất Hợi khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can); Đây cũng là một lợi thế của nhóm thống trị có chữ viết sẵn (chữ Hán) và khả năng tổ chức. Lợi thế của một hệ thống chữ viết có sẵn như chữ ô vuông (chữ Hán) có thể là chỉ thêm một dấu phẩy nhỏ mà nghĩa lại đổi hẳn đi. Thí dụ như chữ quốc5 chẳng hạn, một dạng chữ quốc 囯 cổ đại viết bằng bộ vi 囗 hợp với chữ vương 王 hàm ý lãnh thổ có giới hạn/biên giới và có vua đứng đầu, tuy nhiên khi thêm một dấu phẩy nhỏ vào bên phải chữ vương thì vương 王 lại trở thành ngọc 玉. Chữ quốc cổ đại 囯 với chữ vương - phản ánh chế độ vua chúa phong kiến - nay đã thay bằng chữ quốc với chữ ngọc 国 hàm ý lãnh thổ (bộ vi) chứa những tài sản quý báu (như dân chúng, ngọc ngà châu báu/đất đai ...). Chữ quốc với chữ ngọc 国 cũng là loại chữ giản thể rất thông dụng hiện nay. Hiện tượng 'thay đổi chữ viết' một cách thâm thuý6 trên có thể giải thích được chữ thố/thỏ 兔 đã dùng thay cho chữ miễn/*mãn/ vãn 免 - âm *mãn đã từng có nghĩa là mèo trong tiếng Việt7. Sự lẫn lộn8 giữa mèo và thỏ còn thấy trong cách dùng dã miêu 野猫 để chỉ loài thỏ hoang (wild rabbit)9 và mèo hoang trong văn hoá TQ và đáng được đào sâu hơn.


3. Lẫn lộn giữa các loài mèo và thỏ … trong văn hoá TQ



Thố tôn 兔猻 (thỏ tôn) là loài mèo hoang đang từ từ biến mất: loài thú này ở Trung Á, Tây Bá Lợi Á, Kashmir, Nepal, Thanh Hải , Nội Mông Cổ , Hà Bắc , Tứ Xuyên , Tây Tạng , Tân Cương ... Thố tôn hay Xá Lị tôn 猞 猁 孫 : tiếng Anh còn dùng cụm từ Steppe cat và chúng hay sống trong các khu sa mạc. Khi người Hán tràn xuống phía Nam và Tây, ta thấy hiện tượng lẫn lộn ‘trông/nhìn mèo ra thỏ’ (trông gà hoá cuốc) như cách gọi Thố tôn này: các lẫn lộn trên giải thích được phần nào tại sao chi thứ tư Mão Mẹo liên hệ đến mèo chứ không phải là thỏ từ nguyên thuỷ. Hình sau trích từ trang mạng Bách Khoa TQhttp://zh.wikipedia.org/wiki/%E5%85%94%E7%8C%BB hay xem thêm http://baike.baidu.com/view/39824.htm


http://www.anviettoancau.net/anviettc/M%C3%A8o%201%287%29.jpg (http://www.anviettoancau.net/anviettc/M%C3%A8o%201%287%29.jpg)
Thố tôn 兔狲


[URL="http://www.telegraph.co.uk/telegraph/multimedia/archive/01250/kitten-rabbit_1250036i.jpg"]http://www.telegraph.co.uk/telegraph/multimedia/archive/01250/kitten-rabbit_1250036i.jpg (http://www.telegraph.co.uk/telegraph/multimedia/archive/01250/kitten-rabbit_1250036i.jpg)
Thỏ và mèo


Thố tôn còn được gọi là dương xá lị 洋猞猁, ô luân 烏倫, mã não 瑪瑙, mã não tặc 瑪瑙勒 ... Xá lị 猞猁 là loài mèo hoang (lynx).


Miêu là từ HV nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo; Dữ kiện này hỗ trợ cho khả năng Mão 卯 chỉ là một cách ký âm của một tiếng nước ngoài (tiếng Việt cổ) nhập vào tiếng Hán. Đây là định nghĩa của miêu


【 爾雅 • 釋獸】 虎竊毛, 謂之虦貓
【Nhĩ Nhã•Thích Thú】 hổ thiết mao,vị chi sạn miêu




Sạn/sàn 虦 theo Ngọc Thiên cũng là mèo. Sạn/sàn虦 còn viết là 虥 (chữ hiếm - tần số dùng là 11 trên 237243358) chỉ loài mèo hoang có vằn.


Thố/thỏ 鵵 hay nghĩa cổ là một loài chim
Vãn hay *mãn 梚 (chữ hiếm) chỉ một loài cây theo cổ thư TQ; Nhưng giọng Hẹ lại đọc là t'u2 (như âm thổ) - so với hai âm mãn (mèo) và thố/thỏ.



4. Các cách giải thích khác nhau


Để hiểu tại sao người Việt lại dùng mèo cho chi Mão 卯, một cách giải thích thường gặp10 trong tài liệu TQ là âm Mão khi nhập vào tiếng Việt đọc giống như mèo hay miêu HV nên người Việt dùng mèo làm biểu tượng thay vì thỏ. Điều này không hợp lý vì các lý do sau


3.1 Mèo là แมว maew (tiếng Thái), maaw (Lào) ... nhưng thỏ lại là loài vật biểu tượng cho chi Mão ở Thái, Lào! Điều lầm lẫn giữa Mão và mèo lại càng rất khó xẩy ra khi đất Giao Chỉ có những liên hệ rất gần với các triều đại phương Bắc (Hán ... Đường) so với các dân tộc khác ở phía tây Giao Chỉ.


3.2 Nếu mèo đọc gần như Mão và được dùng làm loài vật tượng trưng cho chi thứ tư này, rất khó giải thích tại sao nga (ngỗng trời ... cò biển) gần gũi với dân ta (đánh cá, gần biển ...), đọc gần giống âm cổ *ngwa của Ngọ 午, lại không là loài vật biểu tượng cho chi Ngọ? Còn âm cổ Mùi (Vị) 未 của chi thứ tám đọc gần với âm muỗi, tại sao người Việt lại dùng dê chứ không là muỗi ... và còn nhiều các âm giống khác nữa ....v.v... Ngoài ra, tuy chữ Nôm còn quá ‘trẻ’ để phân tích liên hệ ngữ âm của tên gọi 12 con giáp, nhưng cũng có vài điểm đáng chú ý là mèo (cũng như meo) thường dùng chữ miêu 貓 HV như


'Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo' (Bạch Vân Thi Tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585)


Nhưng méo thì chữ Nôm dùng Mão 卯 (có khi cộng thêm dấy nháy)


'Tròn tròn méo méo in đòi thuở’ (Hồng Đức Quốc âm Thi Tập, soạn bởi quần thần và Lê Thánh Tông 1442-1497).


Do đó, hai âm Mão và mèo đã có sự phân biệt ít nhất từ thời nhà Lê, và xác suất nhầm lẫn giữa Mão11 (âm Hán trung cổ, nhập ngược vào VN khoảng từ thời Đường Tống) và mèo (âm thượng cổ) trong tiếng Việt rất nhỏ!


3.3 Khuynh hướng tổng quát và tự nhiên của chữ viết loài người tiến hoá từ cụ thể và đơn giản đến trừu tượng12. Thí dụ như tên gọi các loài vật được dùng với nghĩa mở rộng hơn, trừu tượng hơn như mặt chuột (so với mặt rồng), thân trâu ngựa, ăn như mèo ngửi, tính tình như rắn rít ... Thành ra, suy luận từ âm Mão cho ra mèo thì không phù hợp với khuynh hướng tự nhiên; Đáng lẽ là từ mèo (loài vật, cụ thể) cho ra âm Mão (hệ thống ghi thời gian, trừu tượng, bói toán/số mệnh) mới hợp lý hơn. Hệ thống gọi tên các con vật cụ thể (đơn giản) và rất gần gũi với nhà nông khi nhập vào văn hoá Hán đã trở thành hệ thống ghi nhận thời gian, bói toán (trừu tượng, phức tạp); Hệ thống 12 con giáp này cùng khởi sắc khi văn hoá Hán phát triển cực mạnh (Tần, Hán ... Đường, Tống ...) và ảnh hưởng đến các khu vực chung quanh, đây lại là hiện tượng nhập ngược mà ít người ý thức được trong trường hợp Việt Nam.


3.4 Có những cách giải thích không có cơ sở khoa học, đầy cảm tính như sự thay đổi giữa mèo và thỏ là sự xuyên tạc sự thật13 , hoặc dựa vào những ‘huyền thoại’ không thể kiểm chứng khách quan được: người viết chỉ ghi nhận vắn tắt ở đây mà thôi.


Từ những góc độ nhìn khác nhau như trên, ta thấy khả năng nguồn gốc tên gọi 12 con giáp có thể đến từ tiếng Việt cổ. Thật ra thì người Việt chúng ta không cần phải lý giải tương quan rất tự nhiên giữa Mão Mẹo và mèo, cũng như Tý chút *chuốt chuột, Ngọ ngựa, Hợi *Gỏi cúi (heo), Sửu *tlu trâu ... Người Việt không phải dùng các từ ghép so với văn hoá TQ như Mão Thố 卯兔 , Tý Thử 子鼠, Sửu Ngưu 丑 牛để giúp ta nhớ đến tương quan Mão mèo, Tý chuột, Sửu tlu/trâu ..... Chính các ngôn ngữ hay dân tộc nào dùng thỏ thay vì mèo cho chi Mão/ Mẹo mới cần phải giải thích sự khác biệt này: đây là sự vay mượn hay cố tình thay đổi? …. Không phải là hoàn toàn nghịch lý khi tổ tiên còn dặn dò con cháu rằng


Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ


5. Phụ chú và phê bình thêm


Để cho liên tục, người đọc có thể xem thêm các bài viết về chi Mão (hai bài trước số thứ tự là phần 4, 4A) chủ đề "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp" trên trang mạng khoahoc.net, dunglac.com ... của cùng một tác giả (Nguyễn Cung Thông), hay lên google và đánh tên nguyencungthong thì sẽ có loạt bài liên hệ đã đăng ớ các địa chỉ/website khác nhau. Ngoài hiện tượng đổi chữ (dùng dấu phẩy chẳng hạn), lẫn lộn (mèo thành thỏ), chúng ta cũng nên để ý đến hiện tượng nhập ngược (Mão nhập ngược vào ngôn ngữ Việt với dạng cổ mèo đã hiện diện). Hiện tượng nhập ngược lại (back-loan) trong quá trình giao lưu văn hoá như Bụt-Phật, tên 12 con giáp (gốc Việt cổ) trong tiếng Việt không phải là hiếm - nhất là khi các dân tộc sống gần nhau qua một thời gian rất dài; Một thí dụ gần đây hơn và thường được nhắc đến đã xẩy ra vào thế kỷ 20 khi Nhật Bản du nhập văn minh Tây phương và dùng một số từ gốc Hán, sau đó các từ này nhập ngược lại tiếng Hán và sau đó nhập vào tiếng Việt

beowulf
24-01-2011, 05:05 PM
Bạn viết hay lắm ! Dù có thể hơi khô khan nhưng nó cực kì có ích cho kiến thức chúng ta . Thực ra thì đến giờ tớ vẫn còn khó hiểu với vấn đề này ! Xuân vui vẻ nhé !

559
24-01-2011, 11:08 PM
Bạn viết hay lắm ! Dù có thể hơi khô khan nhưng nó cực kì có ích cho kiến thức chúng ta . Thực ra thì đến giờ tớ vẫn còn khó hiểu với vấn đề này ! Xuân vui vẻ nhé !
Thank bác nhiều nha, chúc vui vẽ!

heroviet
03-02-2011, 05:36 PM
em không biết thế nào chứ tại sao giờ này lại có người lại bảo 12 con giáp là văn hóa tQ nhập vào Việt Nam nhỉ,lại còn nhận phong lì xì in hình con thỏ ngu của TQ, thạt là nhục:smack:

ngocdung
03-02-2011, 06:39 PM
Các nước xài lịch âm đều gọi năm nay là năm con thỏ, chỉ có VN là gọi năm con mèo, duyên cớ vì đâu thì chưa rõ nhưng đủ thấy là VN đã có tính độc lập văn hóa với TQ từ xa xưa rồi.

Về chữ viết cũng thế: ở trong vùng đông á và Trung Cân đông, tất cả đều dùng kiểu chữ ngoằn nghoeo hoặc chữ tượng hình của TQ, chỉ có VN dùng chữ theo kiểu la tinh. Đủ thấy tính độc lập của người Việt Nam rồi.

saodem_yeutoquoc
03-02-2011, 07:40 PM
Các nước xài lịch âm đều gọi năm nay là năm con thỏ, chỉ có VN là gọi năm con mèo, duyên cớ vì đâu thì chưa rõ nhưng đủ thấy là VN đã có tính độc lập văn hóa với TQ từ xa xưa rồi.

Về chữ viết cũng thế: ở trong vùng đông á và Trung Cân đông, tất cả đều dùng kiểu chữ ngoằn nghoeo hoặc chữ tượng hình của TQ, chỉ có VN dùng chữ theo kiểu la tinh. Đủ thấy tính độc lập của người Việt Nam rồi.
thời kì bắc thuộc chúng ta bị buộc phải sử dụng chữ hán nhưng do ngôn ngữ lẫn văn hóa ko thể nào dung hợp cùng với lòng tự tôn dân tộc ,cha ông đã sáng tạo chữ nôm và bây giờ là chữ latinh ,bởi vậy chúng ta thấy rằng dân tộc việt nam luôn nêu cao tinh thần độc lập lên trên hết và là một dân tộc anh hùng

hongphong8211
03-02-2011, 07:47 PM
Tết VN cần phải sửa đổi lại chút xíu nhất là cái lồng đèn treo đầy đường. Đó là lồng đèn kiểu TQ chứ không phải của chúng ta. Cái thứ 2 là cái bao lì xì phải dẹp hết mấy cái chữ tàu trên đó, nếu đổi kiểu bao lì xì càng tốt.

Jejiong_vna
03-02-2011, 07:51 PM
Cái hay của người VN là biến cái của người khác thành của mình nhưng pha thêm chút gia vị vào
Ở châu Á nói về VH thì VN-TQ giống nhau gần 90% mấy thằng # cũng giống nhưng ko bằng VN
TQ có đám thôi nôi trẻ sinh 1 năm
VN thêm vào cái đầy tháng và sau dó là thôi nôi
TQ người chết có 49 ngày
VN là từ 1-100 ngày
TQ có đám hỏi rồi mới cưới
VN giáp mặt hỏi cưới

nguye^~n90
03-02-2011, 07:58 PM
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.

Ông Thông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa.


http://www.vietstamp.net.vn/data%5C2011%5C02%5C02%5C23154120_product.jpg
Tem Tết Kỷ Mão (1999) của Việt Nam.


Theo công trình nghiên cứu của ông Thông, trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2.000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp.

Tìm hiểu về gốc của tên 12 con giáp là một cơ hội để chúng ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy.


http://www.vietstamp.net.vn/data%5C2010%5C11%5C24%5C12345463_product.jpg
Tem Tết Tân Mão (2011) của Việt Nam.


Tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.

Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu, ông Thông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi con Thỏ. Người Trung Quốc dùng Thỏ thay cho Mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc, Thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ Mèo. Chỉ có người Việt mới dùng Mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà Mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn, điều này cũng thể hiện qua các thành ngữ, ca dao tục ngữ: Con Mèo mà trèo cây cau/Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà; Mèo mả gà đồng; Mèo nào cắn mỉu nào…


http://www.vietstamp.net.vn/data/2011/02/02/22574357_Tet%20Tan%20Mao%20Nhat%20s.jpg
Tem Tết Tân Mão (1951) của Nhật Bản.


Do ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa nên các nước Châu Á khác, trừ Việt Nam, đều coi năm Mão là năm con Thỏ. Nhật Bản, nước đầu tiên trên thế giới phát hành tem Tết 12 con giáp, vào ngày 01-01-1951 đã phát hành mẫu tem mừng Tết Tân Mão với hình một bé gái Nhật Bản trong bộ kimono truyền thống đang bế một chú thỏ trắng. Đây là bộ tem Tết năm Mão đầu tiên trong dòng tem Tết 12 con giáp của thế giới.


http://www.vietstamp.net.vn/data/2011/02/02/22590376_Tet%20Dinh%20Mao%20China.jpg
Tem Tết Đinh Mão (1987) của Trung Quốc.


Phải đến 36 năm sau, Trung Quốc, nơi bắt nguồn quan niệm coi năm Mão là năm con Thỏ, mới phát hành mẫu tem mừng Tết Đinh Mão vào ngày 05-01-1987 với hình ảnh chú thỏ trắng theo phong cách tranh cắt giấy.


http://www.vietstamp.net.vn/data/2011/02/02/22594663_Tet%20Dinh%20Mao%20VN.jpg
Tem Tết Đinh Mão (1987) của Việt Nam.


Sau Trung Quốc 1 ngày, ngày 06-01-1987, Việt Nam phát hành mẫu tem Tết năm Mão đầu tiên với hình ảnh hai ông cháu đang trồng cây đầu Xuân, bên chân người ông là một chú mèo xinh xắn.

Từ đó đến nay, nhiều nước trên thế giới đã phát hành những bộ tem mang hình con Thỏ mừng Tết các năm Mão nhưng chỉ riêng có Việt Nam phát hành tem Tết năm Mão mang hình con Mèo.:19::19::19::19::19:
Trích từ:http://www.vietstamp.net/forum/showthread.php?t=7733

thanhdien2008
03-02-2011, 08:00 PM
Cái nào hay thì chúng ta học chứ không nói của nước nào. Thời kì này hội nhập mà, nhưng ta phải giữ lại cái nào là bản sắc văn hóa dân tộc mình " Hòa nhập chứ không hòa tan".

TOIYEUTOQUOC
03-02-2011, 08:06 PM
Đọc thấy cũng có lí, nhưng để tìm hiểu thêm. Dù sao cũng thanks bác vì chia sẻ bài này.

Jejiong_vna
03-02-2011, 08:30 PM
Em thấy VN mình y như là đường Saccarozo bị đồng hóa nhưng vẫn không bị mất bản gốc mà tiếp thu làm phong phú hơn nữa
Y như đường C12H12O11 tuy bị hòa tan vào nước nhưng nó vẫn có vị ngọt bỏ thêm miến chanh thành nước chanh đường có vị chua chua ngọt ngọt.

Tử_vì_đạo_2009
03-02-2011, 09:01 PM
mong là đứng bị đồng hóa thành thỏ như thằng Tàu.

TOIYEUTOQUOC
03-02-2011, 09:09 PM
Dù sao thì Tiểu Hổ vẫn oai hon Thỏ nhiều. he he

phanlongmk92
03-02-2011, 09:18 PM
Việt Nam có những chuyện rất Việt Nam ^_^

hongphong8211
03-02-2011, 09:24 PM
Đây là câu trả lời có lý nhất trong yahoo hoi và đáp:
"Vì 12 con giáp là tổ tiên người Việt sáng tạo ra. 12 con giáp của ta có con mèo. Sau khi người Hán nhập 12 con giáp vào văn hóa của họ đã thay mèo bằng thỏ vì con thỏ quen thuộc với dân Bắc Á hơn. Sau khi văn hóa Trung Hoa bành trướng, 12 con giáp Trung Hoa đã du nhập vào Hàn Quốc, Nhật Bản, v.v... Việt Nam cũng nhận ngược lại luồng văn hóa đó nên tưởng rằng 12 con giáp là Trung Hoa sáng tạo. Đơn giản hãy nhìn vào tên gọi 12 con giáp. Tất cả các tên đều không dính dáng tới tiếng phổ thông hay Quảng Đông để chỉ các con vật đó. Và tiếng Việt tuy có một số gần gũi nhưng cũng giống như trường hợp Trung Hoa vì đã bị ảnh hưởng quá nhiều. Kết luận là 12 con giáp không phải sản phẩm của người TQ hiện đại và người VN hiện đại, nó thuộc về nền văn hóa cổ có 1 chi là người Việt Nam.

Không chỉ khác Mèo - Thỏ, mà còn khác Trâu (VN) - Bò (TQ), Dê - Cừu.

Một điều thú vị nữa là người Thái gọi tên 12 con giáp khá giống với tên gọi thường của các con ấy trong tiếng Việt. Ví dụ, năm Tí người Thái gọi là chûat, tương đương với chuột; Sửu ~ chà-lŏo ~ tlâu (trâu); Thìn ~ má-rohng ~ rồng; Tỵ ~ má-sĕng ~ trăng (rắn) ..."
http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20110131003737AAgF9TH

antonioto
03-02-2011, 09:28 PM
Bực cái là bao lì xì toàn nhập của tàu khựa nên cái nào cũng bị in hình con thỏ.

47kttt
03-02-2011, 10:04 PM
Bực cái là bao lì xì toàn nhập của tàu khựa nên cái nào cũng bị in hình con thỏ.
Đừng chấp bọn ngu in hình ấy làm gì, chấp mấy thằng ngu mua mấy cái đó để lì xi mới đúng! Không chỉ có hình thỏ, mà còn toàn chữ Hán và cả cách ăn mặc của của những đứa bé trên phong lì xì...

vtv
03-02-2011, 10:07 PM
Tôi thấy miền bắc nhà ta thích đồ tàu nhiều hơn miền Nam. Tôi ko phân biệt vùng miền đâu nhé vì tôi cũng là người miền bắc


Bực cái là bao lì xì toàn nhập của tàu khựa nên cái nào cũng bị in hình con thỏ.

harik
03-02-2011, 10:14 PM
Hôm nọ đi chợ cùng mấy đứa em.nó đòi bóng bay
Bóng bay toàn là thỏ các bác ạ,có con mèo nhưng nó làm xấu quá ... mình định lấy con mèo nhưng bọn trẻ con lại thích con thỏ.
chả biết làm thế nào ... nói thế nào mấy đứa cũng ko nghe

antonioto
03-02-2011, 10:24 PM
Hôm nọ đi chợ cùng mấy đứa em.nó đòi bóng bay
Bóng bay toàn là thỏ các bác ạ,có con mèo nhưng nó làm xấu quá ... mình định lấy con mèo nhưng bọn trẻ con lại thích con thỏ.
chả biết làm thế nào ... nói thế nào mấy đứa cũng ko nghe

em đang tự hỏi là không biết Việt Nam mình có tự sản xuất được mấy đồ thủ công đơn giản như bao lì xì hay bóng bay không nhỉ mà toàn hàng tàu thế? :-/

vinhnx
03-02-2011, 10:26 PM
Bực cái là bao lì xì toàn nhập của tàu khựa nên cái nào cũng bị in hình con thỏ.
Đừng chấp bọn ngu in hình ấy làm gì, chấp mấy thằng ngu mua mấy cái đó để lì xi mới đúng! Không chỉ có hình thỏ, mà còn toàn chữ Hán và cả cách ăn mặc của của những đứa bé trên phong lì xì...

Tôi cũng rất bực, nhà tôi năm nay phải xài lại bao lì xì cũ năm ngoái, cũng may còn được hơn xấp không in hình con gì và chỉ có chữ Việt. Bà xã của tôi bây giờ cũng không chấp nhận được chuyện này mặc dù ngày thường rất thích mua đồ rẻ, hàng khuyến mãi, hạ giá...

47kttt
03-02-2011, 10:27 PM
Hôm nọ đi chợ cùng mấy đứa em.nó đòi bóng bay
Bóng bay toàn là thỏ các bác ạ,có con mèo nhưng nó làm xấu quá ... mình định lấy con mèo nhưng bọn trẻ con lại thích con thỏ.
chả biết làm thế nào ... nói thế nào mấy đứa cũng ko nghe

em đang tự hỏi là không biết Việt Nam mình có tự sản xuất được mấy đồ thủ công đơn giản như bao lì xì hay bóng bay không nhỉ mà toàn hàng tàu thế? :-/
Dư sức làm được nhưng toàn bọn thất đức, chỉ muốn kiếm lợi nhuận nên nhập hàng rẻ mạt của Tung Của để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, "gọn nhẹ" hơn là tự mình sản xuất!

Hello12345
04-02-2011, 11:00 AM
Chữ Mão trong chữ Hán ko phải nghĩa con thỏ , mà nghĩa của nó là vị trí thứ 4

Ví dụ Tí Sửu Dần Mão , vị trí là 1 2 3 4 theo thời gian , Tý Thử tức là chuột (giờ Tý 23h đến 1h) , Sửu Ngưu (giờ Sửu 1h đến 3h) , Dần Hổ (giờ Dần 3h đến 5h) , Mão Thố (5h đến 7h) .

Cho nên Tí Sửu Dần Mão là vị trí tính theo mốc thời gian , chứ nghĩa của nó ko phải là con vật, mà chỉ là dùng vị trí để ám chỉ con vật mà thôi

luudaisong
04-02-2011, 01:14 PM
Vấn đề này hình như đã đem ra trao đổi rồi đó. Ý kiến của tôi vẫn là thế này. Ở VN ta mèo bị thay bởi thỏ (TQ, Nhật,..) thì cũng dễ hiểu thôi. Vì TQ chiếm được cái gì của VN mà chẳng đem ra đồng hóa. Cùng với thời gian thì tự nhận là của mình, thế rồi sau một thời gian rất lâu ai biết là ban đầu của ai cả, không có nhân chứng sống để đối chiếu, tài liệu của VN thì bị đem ra đốt hết dẫn tới dẫn chứng nghèo nàn không mang tính thuyết phục, nếu có chỉ có tính suy luận mà cái này thì nước nào suy luận đều vì mục đích có lợi cho nước đó.
Nhưng các bạn có để ý 1 điều là trong 12 con giáp thì mèo khắc chuột còn thỏ thì là gặm nhấm như chuột thôi.

hhhh
04-02-2011, 01:18 PM
Việt Nam đón Mèo còn châu Á chào Thỏ


Nguyễn Hùng
bbcvietnamese.com




http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2011/02/03/110203145505_rabbit_and_cat_466x262_afp_nocredit.j pgViệt Nam chào đón năm Mèo trong khi các nước dùng lịch âm khác đón năm Thỏ


Đúng ngày mồng một Tết, hai hãng thông tấn lớn AFP và Reuters cùng chạy bài về chuyện các nước Châu Á khác chào đón năm Thỏ còn Việt Nam bước vào năm Mèo.
AFP nói Việt Nam muốn chứng tỏ sự độc lập trước thế thống trị văn hóa của Trung Quốc còn Reuters nói đây có thể là lỗi dịch thuật.
Báo chí quốc tế cũng đều nhắc tới 'Năm mới của người Trung Hoa' và tới năm con Thỏ.
Các chuyên gia Việt Nam mà BBC liên hệ trong ngày đầu năm Tân Mão đều không đặt nặng vấn đề tìm hiểu nguồn gốc của truyền thống gán tên các con vật cho các năm.
Giáo sư Lê Thành Lân, một chuyên gia nghiên cứu lịch cổ của Việt Nam, là người đã bỏ công đọc các tài liệu lý giải sự khác biệt tên gọi năm Mèo và năm Thỏ.
Ông nói: "Tôi có đọc và thấy có hai lập luận, hai trường phái.
"Một trường phái là của ông Nguyễn Cung Thông cho rằng hệ thống 12 con vật biểu tượng cho 12 năm xuất xứ từ Việt Nam rồi mới sang Trung Quốc vì vậy có biển đổi đi thì còn lưu lại một số cái là của Việt Nam."
"Trong số này có con mèo, trước Việt Nam chọn con mèo, sang kia họ hiếm mèo, nhiều thỏ thì họ thay bằng con thỏ.
"Ông ấy [Nguyễn Cung Thông] dựa trên nền kinh tế của ta là lúa nước. Thứ hai nữa là theo ngôn ngữ học, chẳng hạn 'mèo' và mão âm gần giống nhau."
Giáo sư Lân nhận xét những gì ông Thông đưa ra thiếu cơ sở khoa học.
Vị Giáo sư nói ông nghiêng về lập luận của nhà nghiên cứu có tiếng Nguyễn Phúc Giác Hải, người cho rằng hệ thống các con giống "có thể ở Trung Quốc".
"Ở đây là theo nguyên lý âm dương mà đặt các con vật, nghĩa là con vật nào có móng chân lẻ thì là thuộc các năm dương (chẵn), con vật nào có móng chân chẵn thì thuộc các năm âm (lẻ).
Lỗi dịch thuật

Từ để chỉ con thỏ tiếng Hoa là 'mao' và có cách phát âm giống 'mèo' trong tiếng Việt
Chuyên gia lịch sử Việt Nam Philippe Papin từ Paris


Reuters không đưa ra các bằng chứng gì để nói khác biệt về tên gọi năm âm lịch hiện nay giữa Việt Nam và các nước Châu Á khác trong đó có Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nhưng AFP dẫn lời ông Philippe Papin, chuyên gia lịch sử Việt Nam tại Ecole Practique des Hautes Etudes -Trường Cao học Thực nghiệm - ở Paris nói:
"Từ để chỉ con thỏ tiếng Hoa là 'mao' và có cách phát âm giống 'mèo' trong tiếng Việt," ông Papin nói.
Còn ông Benoit de Treglode từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Đương đại ở Bangkok nói với AFP:
"Đối với người Việt Nam, danh dự quốc gia không cho phép họ sao chép y nguyên những gì của Trung Quốc.
"Cách bắt chước có khác biệt này có thể thấy trong toàn bộ nền văn hóa Việt Nam."
Quan điểm này được Giáo sư Lê Thành Lân của Việt Nam chia sẻ.
Ông nói ngay kể cả các tôn giáo khi vào Việt Nam cũng có nét khác đi và tồn tại hài hòa hơn.
Tống cựu nghênh tân
Nhưng cũng có chuyên gia Việt Nam cho rằng không nên đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của sự khác biệt này.

Theo tôi năm nay là năm tân thì chúng ta phải triệt để tiễn đưa những cái cũ và đón chào những cái mới.
Giáo sư Nguyễn Thừa Hỷ


Giáo sư Nguyễn Thừa Hỷ, chuyên gia văn hóa học và sử Việt Nam và Trung Quốc nói những lý giải về sự tồn tại năm Mèo và năm Thỏ còn "mập mờ".
Ông nói Việt Nam và Trung Quốc có thể coi là có những nét tương đồng về văn hóa còn chuyện ai ảnh hưởng tới ai vẫn còn là đề tài gây tranh cãi ngay cả trong giới học giả phương Tây.
Giáo sư Hỷ nói:
"Ảnh hưởng từ phương bắc tới phương nam có và ảnh hưởng từ phương nam lên phương bắc cũng có.
"Theo tinh thần chung chúng ta cũng không nên cực đoan về cái gì.
"Tôi nghĩ rằng giao lưu văn hóa thì nó là hai chiều."
Nghe/xem bằng Real Player hoặc Windows Media Player (http://www.bbc.co.uk/mediaselector/check/vietnamese/av/2011/02/?redirect=110203_gs_nguyen_thua_hy.shtml&news=1&host=www&nbram=1&bbram=1&nbwm=1&bbwm=1&lang=vi)

Ông Hỷ cũng nói về tinh thần của năm mới Tân Mão:
"Tân Mão, về can chi thì mười năm mới có một cái Tân, mà tân lại có nghĩa là mới.
"Năm mới thì người ta có cái 'tống cựu nghênh tân' - tiễn đưa những cái cũ và đón chào những cái mới.
"Theo tôi năm nay là năm tân thì chúng ta phải triệt để tiễn đưa những cái cũ và đón chào những cái mới.
Vị giáo sư nói cái cũ là 'tham sân si' - lòng tham lam, sự hận thù, sự tăm tối ngu dốt và đây là những điều ông cho rằng cần phải "tống khứ đi".
Cái mới, giáo sư Hỷ nói, là "lòng khoan dung, sự quan tâm tới nhau".
Ông nói đây cũng là thái độ cần có khi dứt bỏ những 'cái cũ'.
http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2011/02/03/110203140757_meo_466x262_reuters_nocredit.jpg





http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110203_cat_or_rabbit.shtml

quaza2802
08-02-2011, 01:45 PM
Tôi thấy miền bắc nhà ta thích đồ tàu nhiều hơn miền Nam. Tôi ko phân biệt vùng miền đâu nhé vì tôi cũng là người miền bắc


Bực cái là bao lì xì toàn nhập của tàu khựa nên cái nào cũng bị in hình con thỏ.
cải lương miền Nam kém j.Tôi ko phân biệt vùng miền đâu nhé vì tôi cũng là người miền bắc :D

kukukaka3.0
08-02-2011, 02:36 PM
K phải nghi ngờ gì nữa, 12 con giáp là sản phẩm của tổ tiên ta, những dân cư Bách Việt hiền lành sống điền viên vui thú,k phải của giống dân du mục man dại chỉ biết săn bắn, chém giết.Chúng ăn cắp của ta nhưng chúng muốn thiên hạ nghĩ là của chúng, nên ngoài đốt-phá-xé-đập, chúng còn đổi con mèo thành con thỏ cho giống với tập quán của chúng.Nhưng chúng quên rằng, 12 con giáp còn liên quan đến kinh dịch.Vì vậy, khi gieo quẻ , cứ đến phần Mẹo cùng các quẻ bỉ-vận-lâm-chấn.. thì đa phần các thầy tàu là sai.

nongdan_vie
23-01-2012, 09:44 PM
ôi em đọc mà mtuf mù hết cả lên, chăc ko đur iq để hiêu rôi