PDA

View Full Version : Phước Long: Điểm quyết định cho những chiến thắng sau này của quân đội GPMN Việt nam?



Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 01:52 PM
Nhận định của Phía Bên Kia về Trận Phước Long:
Đại Tướng Cao Văn Viên( Quân đội VNCH): Trích: http://tvvn.org/forum/showthread.php?1028-%C4%90%E1%BA%A1i-T%C6%B0%E1%BB%9Bng-Cao-V%C4%83n-Vi%C3%AAn-K%E1%BB%83-L%E1%BA%A1i-Tr%E1%BA%ADn-Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc-Long-1-75


Sau Hiệp định Paris (ký ngày 27-1-1973 và có hiệu lực từ 8 giờ sáng ngày 28-1-1973), suốt từ tháng 2/1973 đến tháng 11/1974, CQ đã hoàn toàn thất bại trong mưu toan đánh chiếm một tỉnh lỵ nào của Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng CQ đã trở lại Phước Long, một tỉnh nằm ở khu vực cực Tây Bắc của Quân khu 3 (Vùng 3 chiến thuật) để chuẩn bị mở một cuộc tấn công lớn vào tỉnh này. Ngay từ đầu tháng 10/1974, Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu QL.VNCH đã thu thập được nhiều tin tức tình báo tổng hợp cho thấy địch đang chuẩn bị để tiến hành kế hoạch tấn công Phước Long. Trận chiến đã diễn ra vào ngày 13 tháng 12/1974 và kết thúc vào ngày 6 tháng 1/1975 sau khi tỉnh lỵ Phước Long thất thủ.

Sau đây là diễn tiến của trận chiến Phước Long trong giai đoạn 1, từ 13/12/1974 đến cuối tháng 12/1974, phần này được biên soạn dựa theo hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ được phổ biến vào tháng Sáu 1982 (nguyên bản bằng tiếng Anh, do dịch giả Duy Nguyên chuyển dịch sang tiếng Việt, và đồng ý cho VB sử dụng để tổng hợp), tài liệu của Khối Quân sử Phòng 5 bộ Tổng Tham Mưu, bản tin chiến sự hàng ngày do Tổng cục Chiến tranh Chính trị QL.VNCH phổ biến cho báo chí.

* Lược ghi về tỉnh Phước Long
Tỉnh Phước Long nằm cách Sài Gòn khoảng 120 km theo đường chim bay về hướng Tây Bắc. Đây là tỉnh nằm sát biên giới với Cam Bốt, tỉnh gồm 4 quận: Đức Phong, Phước Bình, Bố Đức và Đôn Luân. Dân số khoảng 30 ngàn người mà phần lớn là người sắc tộc gốc Stieng, Mnong, đa số sống bằng nghề gỗ và cao su. Phần còn lại là người Kinh làm nghề buôn bán, làm công cho đồn điền và công chức.
Tỉnh Phước Long thông thương với Sài Gòn bằng liên tỉnh lộ 1A và Quốc lộ 14. Cũng với con đường 14, tỉnh này nối liền với Quảng Đức và Ban Mê Thuột nằm về hướng Đông Bắc. Phi trường của tỉnh trải nhựa và có thể dùng cho phi cơ C-130 lên xuống được. Sương mù thường xuyên bao phủ vào buổi sáng, những ngày nắng thì đến 8-9 giờ sương mới tan, về mùa mưa thì phải đến 10, 11 giờ trời mới quang đãng.

* Hệ thống tiếp tế cho Phước Long
Việc tiếp tế cho tỉnh được thực hiện bởi các đoàn xe vận tải quân đội chạy trên liên tỉnh lộ 1A và Quốc lộ 14. Thổ sản của Phước Long cũng được vận chuyển về Sài Gòn bằng hai ngã này. Tuy nhiên, sau khi lệnh ngưng bắn theo Hiệp định Paris được công bố, chỉ một tuần sau Cộng quân đã bắt đầu cắt đứt hai đường này thành nhiều chặng, do đó việc tiếp tế cho tỉnh đã phải dùng đến trực thăng và phi cơ vận tải, kể cả việc tiếp tế cho bốn quận trong tỉnh. Nhu cầu hàng tháng của tỉnh cần từ 400 đến 500 tấn hàng hóa gồm gạo, muối, đường, nhiên liệu.

Từ tháng 8/1974, Quân đoàn 3 đã phối hợp với Quân đoàn 2 tổ chức cuộc hành quân quy mô để mở lại con đường 14. Cuộc hành quân đã giải tỏa được áp lực địch, giảm được gánh nặng tiếp tế bằng đường hàng không, từ đó chỉ có các thứ nhu yếu như đạn dược, nhiên liệu và thuốc men mới được vận chuyển bằng phi cơ, các thứ khác được chở bằng quân xa.

Ngày 14 tháng 12/1974, quận lỵ Đức Phong nằm dọc theo đường tiếp tế bị địch tấn công, do đó việc tiếp tế cho tỉnh Phước Long bằng đường bộ bị gián đoạn và phải nhờ đến không vận. Vào thời gian này việc chuyên chở hàng tiếp tế bằng phi cơ rất tốn kém và nguy hiểm vì các cụm phòng không của CQ bắn lên.

* Trận chiến tại Phước Long trong giai đoạn 1
Lực lượng bảo vệ tỉnh Phước Long gồm có 5 tiểu đoàn Địa Phương Quân, 48 trung đội Nghĩa quân với tổng số khoảng 1,000 người mà phần lớn là người Thượng, và 4 trung đội Pháo binh diện địa. Về sau có thêm 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 7 Bộ binh, hai pháo đội Pháo binh thuộc Sư đoàn 5 BB (gồm 6 khẩu đội 105 ly và 4 khẩu 155 ly), ba đại đội Trinh sát thuộc các Sư đoàn 5, 18 và 25 đến tăng cường.

Trận chiến tại tỉnh Phước Long bắt đầu ngày 13 tháng 12/1974 khi CQ tung ra cuộc tấn công vào quận lỵ Đôn Luân nhưng bị tiểu đoàn Địa phương quân phòng thủ quận chống trả mãnh liệt và nhờ có sự yểm trợ của Không quân nên đơn vị trú phòng đã đẩy lùi được CQ. Qua đêm hôm sau, 14 tháng 12/1974, CQ mở trận tấn công chớp nhoáng tương tự vào quận lỵ Đức Phong và Bố Đức. Do áp lực địch quá nặng, trong khi lực lượng yểm trợ chưa tiếp ứng kịp, nên hai quận lỵ này đã bị CQ tràn ngập nhanh chóng. Đêm kế tiếp, 15/12, một đơn vị Pháo binh của Địa phương quân bị địch tấn công, hai khẩu 105 ly bị mất.

Trước tình hình nguy kịch của mặt trận Phước Long, Quân đoàn 3 đã điều động trực thăng vận đưa hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh từ Lai Khê lên Phước Long. Nhờ có lực lượng viện binh đến nên bộ chỉ huy Tiểu khu Phước Long đã tổ chức phản công tái chiếm Bố Đức vào ngày 16 tháng 12. Trong thời gian này, nỗ lực bộ chiến yểm trợ hữu hiệu nhất là một tiểu đoàn Bộ binh và hai tiểu đoàn Địa phương quân. Do áp lực của đối phương, một số đại đội Địa phương quân, nhiều trung đội Nghĩa quân và Nhân dân Tự vệ đã phải triệt thoái rút về tỉnh lỵ. Cuối cùng chỉ còn lực lượng gồm Bộ binh và vài đơn vị Địa phương quân được giao trách nhiệm bảo vệ quận Tân Bình, và chĩ giữ được một phần. Phi trường gần tỉnh lỵ thì do một đơn vị Tiếp vận bảo vệ.

Được Bộ Tổng Tham mưu yểm trợ, bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 huy động các thành phần Tiếp vận khẩn cấp đưa vũ khí, đạn dược và các loại quân trang quân dụng đến tận nơi bằng phi cơ C-130, C-47, và trực thăng để tái trang bị cho các đơn vị Địa phương quân, Nghĩa quân ở các quận rút về tỉnh. Khi trở về, các phi cơ chở theo nhiều thân nhân quân sĩ và gia đình công chức để họ khỏi bị vướng bận cũng như làm nhẹ đi nhu cầu tiếp tế. Vào lúc này, áp lực của địch ngày càng gia tăng. Phi trường Sông Bé bị pháo kích liên tục và nặng nề. Phi cơ tiếp tế bị các cụm phòng không của CQ từ hướng Bắc và Tây Nam bắn lên dữ dội. Một phi cơ C-130 bị trúng đạn trong khi đang hạ cánh và sau đó đã không cất cánh được. Qua ngày hôm sau, một phi cơ C-130 khác chở đồ tiếp tế và một toán chuyên viên kỹ thuật để sửa chữa cho chiếc bị hư thì cũng bị bắn khi cất cánh trở về và phi cơ này bị hư hại hoàn toàn.

Trong những ngày giữa tháng 12/1974, CQ vừa pháo kích vào phi trường để làm tê liệt việc tiếp tế, vừa di chuyển các dàn cao xạ vào sát gần khu vực thị xã và các ngã đường được trực thăng và phi cơ thám thính tạm dùng để làm bãi đáp. Lai Khê, nơi bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB đặt bản doanh và cũng là căn cứ quan trọng trong khu vực để trực thăng nhận thêm nhiên liệu bay lên Phước Long, cũng thường xuyên bị đe dọa bởi các đợt pháo kích của CQ.

Cùng với nỗ lực làm tê liệt hoạt động tại phi trường bằng pháo kích, CSBV đã tung ra đợt tấn công cường tập khác vào quận Bố Đức và địch tràn ngập quận này vào đêm 22 tháng 12. Bốn ngày sau, lực lượng của sư đoàn 7 CSBV đã mở lại trận tấn công vào Đôn Luân và chiếm chi khu này. Sau khi Bố Đức và Đôn Luân thất thủ, tuyến phòng thủ của lực lượng VNCH tại tỉnh Phước Long còn lại thị xã tỉnh lỵ và quận lỵ Phước Bình.

Đêm 30 tháng 12/1974, sư đoàn 7 CSBV và sư đoàn 3 CQ tân lập đã cùng tấn công vào Phước Bình, CQ đã tiến sát đến hàng rào phòng thủ. Lần này lực lượng bộ binh của CQ được tăng cường 1 thiết đoàn chiến xa và 1 lữ đoàn pháo binh yểm trợ. Trận đánh kéo dài suốt đêm đó và qua chiều hôm sau mới tạm lắng, trong trận này trung tâm hành quân và bộ chỉ huy chi khu bị hư hại nặng. Lực lượng phòng thủ gồm có lực lượng Địa phương quân của quận và 1 tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 5 BB phải rút lui lập phòng tuyến mới chung quanh phi trường Sông Bé. Tại đây, trong một cuộc tấn công, 4 chiến xa của CQ bị lực lượng trú phòng bắn cháy tại đầu phi đạo, 50 CQ bị hạ sát hoặc bị bắt.

Cùng thời gian này một bộ phận khác của CQ có ý chận đường rút quân của một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 5 BB nên đã vượt núi Bà Rá để đe dọa tỉnh lỵ. Sau một ngày kịch chiến, tiểu đoàn Bộ binh và đơn vị Địa phương quân của quận Phước Bình đã bắt tay được với lực lượng phòng thủ tỉnh. Để tạo áp lực, CQ đã tiến hành cả tấn công vào ban ngày, đến đêm thì CQ bắn trực xạ vào vị trí phòng ngự của các đơn vị VNCH.

LinhTre_BVTQ
11-04-2010, 02:06 PM
tiếp đi bác.đang hay.

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 02:09 PM
Đại Tướng Cao Văn Viên( Quân đội VNCH): Những Trận Đánh Cuối Cùng Tại Phòng Tuyến Phước Long
Trích: http://tvvn.org/forum/showthread.php?1028-%C4%90%E1%BA%A1i-T%C6%B0%E1%BB%9Bng-Cao-V%C4%83n-Vi%C3%AAn-K%E1%BB%83-L%E1%BA%A1i-Tr%E1%BA%ADn-Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc-Long-1-75



* Lược ghi tình hình chiến sự Phước Long cuối tháng 12/1974
Như đã trình bày, ngày 13 tháng 12/1974, Cộng quân mở cuộc tấn công vào quận lỵ Đôn Luân nhưng đã bị lực lượng Địa Phương Quân với sự yểm trợ của Không quân đã đánh bật CQ khỏi trận chiến. Qua đêm hôm sau, ngày 14/12/1974, CQ mở trận đánh chớp nhoáng tương tự vào quận lỵ Đức Phong và Bố Đức. Cả hai vị trí này bị tràn ngập nhanh chóng vì lực lượng yểm trợ không tiếp cứu kịp. Đêm kế tiếp, ngày 15 tháng 12/1974, một trung đội Pháo binh diện địa của tiểu khu Phước Long bị CQ tấn công, 2 khẩu 105 ly bị mất vào tay địch. Từ ngày 17/12/1974 đến cuối tháng 12/1974, CQ gia tăng áp lực quanh tỉnh lỵ Phước Long. Phi trường bị CQ pháo kích liên tục gây khó khăn cho việc tiếp tế bằng không vận. Sau đây là tình hình chiến trận tại Phước Long từ 1/1 đến 6/1/1975, phần này được biên soạn dựa theo hồi ký của cựu Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ ấn hành, dịch giả Duy Nguyên chuyển dịch sang Việt ngữ và đồng ý để cho VB sử dụng để làm tài liệu tổng hợp. Trong tiến trình biên soạn, VB có đối chiếu và bổ sung dựa theo các tài liệu của tạp chí KBC, tài liệu riêng của VB.


* Trận chiến những ngày đầu tháng 1/1975
Bảy giờ sáng ngày 1/1/1975, CQ có xe tăng yểm trợ bắt đầu tấn công vào phía nam tỉnh lỵ Phước Long, nhưng khi đến chân đồi gần tỉnh lỵ thì bị khựng lại trước sự chống trả quyết liệt của quân trú phòng. Cùng vào thời gian này, CQ đã bao vây khu vực núi Bà Rá bất chấp các đợt không pháo và xạ kích của Không quân VNCH bắn chận tối đa. Sau khi chiếm được núi Bà Rá, CQ cho thiết lập ngay đài quan sát pháo binh và sử dụng súng 130 ly bắn ngay vào trung tâm tỉnh lỵ. 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155 ly đặt trong Tiểu khu Phước Long bị trúng đạn của CQ. Trong suốt ngày 2 tháng Giêng/1975, lực lượng trú phòng chiến đấu quyết liệt và gây tổn thất nặng cho CQ, 15 xe tăng của địch bị bắn cháy. Đến 18 giờ cùng ngày thì trạm liên lạc đặt trên đỉnh núi Bà Rá bị CQ chiếm do đó sự liên lạc viễn thông với thị xã bị mất hẳn.

* Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu duyệt xét tình hình Phước Long
Cũng trong ngày 2/1/1974, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã triệu tập Hội Đồng An Ninh Quốc Gia họp tại Dinh Độc Lập để nghe Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân đoàn 3 & Quân khu 3 thuyết trình tình hình Phước Long. Thành phần tham dự gồm có: Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên; Trung tướng Đặng Văn Quang, Phụ tá Quân sự của Tổng thống VNCH. Ngoài các thành viên trọng yếu của Hội đồng ANQG, cuộc họp được mở rộng với sự tham dự của các vị tướng sau đây: Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Liên quân kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận; Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không quân (QL.VNCH có hai vị trung tướng cùng tên Trần Văn Minh, vị thứ nhất được gọi là Minh “nhỏ” thăng cấp Trung tướng từ tháng 12/1956 cùng đợt với Tướng Dương Văn Minh (Minh “lớn”). Tướng Minh “nhỏ” từng giữ chức Tổng tư lệnh Quân lực VNCH từ tháng 2/1965 đến tháng 6/1965 (từ tháng 1/1964 dến tháng 7/1965, theo quyết định của Bộ Quốc phòng, chức danh Tổng Tham mưu trưởng được đổi thành Tổng Tư lệnh và bộ Tổng tham mưu cải danh thành bộ Tổng Tư lệnh. Sau tháng 7/1965, chức danh Tổng Tham mưu trưởng được tái lập); vị thứ hai là Tướng Minh của Không quân, người rất cao, thăng trung tướng vào năm 1971.
Trở lại với nội dung cuộc họp khẩn của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, đề tài được nêu ra là có nên tăng cường lực lượng để giữ Phước Long hay không. Nếu phải tiếp cứu Phước Long thì phải điều động thêm bao nhiêu quân và phải yểm trợ như thế nào. Với tư cách là Tư lệnh Quân đoàn 3 & Quân khu 3, Trung tướng Đống cho rằng Quân đoàn 3 cần út nhất 1 sư đoàn bộ binh hay 1 sư đoàn Dù để giải vây cho Phước Long. Kế hoạch của Tướng Đống là mở cuộc hành quân tiếp cứu bằng trực thăng vận để đưa sư đoàn tiếp ứng này vào tỉnh lỵ Phước Long từ hướng phía tây và phải được sự yểm trợ tối đa bằng không quân chiến thuật và tiếp vận đạn dược. Sau đó, Trung tướng Đống xin Tổng thống Thiệu cho từ chức vì ông cho rằng ông không có khả năng thay đổi tình hình tại Quân khu 3 sau ba tháng giữ chức vụ này. Tổng thống Thiệu bác bỏ lời xin từ chức của Tướng Đống và lo lắng hơn nữa về kế hoạch tăng cường lực lượng để giữ Phước Long. Kế hoạch này được xem xét rất kỹ lưỡng nhưng cuối cùng bị bãi bỏ vì Bộ Tổng Tham Mưu không còn đơn vị tổng trừ bị trong tay.

* Những trận kịch chiến cuối cùng
Cuối cùng việc giải vây cho Phước Long được giao cho Bộ Tư lịnh Quân đoàn 3/Quân khu 3 phụ trách với lực lượng và khả năng sẵn có trong tay. Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù được giao phó nhiệm vụ này. Ngày 3 tháng 1/1975, Cộng quân tăng cường áp lực quanh vòng đai phòng thủ ở phía nam. Tuyến phòng ngự của quân đội VNCH tại Phước Long chỉ còn thu hẹp ở chợ, khu hành chánh tỉnh và phi trường dành cho L 19. Tất cả các đạn bác của quân trú phòng đều bị hư hại, không còn tác xạ được do hơn 2 ngàn trái pháo của Cộng quân đã rót vào khu tòa hành chánh và bộ chỉ huy tiểu khu. Hơn 20 tấn đạn dược được tiếp tế thả dù ngay phía bắc tiểu khu nhưng vì Cộng quân pháo kích liên tục nên việc thu hồi số đạn tiếp tế này vô cùng khó khăn.

Ngày 4 tháng 1/1975, CQ gia tăng các đợt pháo kích vào Bộ Chỉ huy Tiểu khu. Trung tá Tiểu khu phó bị tử thương ngay tại chỗ. Trung tá Chi khu trưởng Phước Bình bị thương nặng. Cùng lúc đó, xe tăng của CQ xuất hiện từ hai hướng tây và nam thị xã. Liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Tiểu khu và Quân đoàn 3 bị đứt quãng nhiều lần và sau khi Trung tâm Hành quân bị phá hủy thì hệ thống liên lạc viễn liên chỉ còn 1 tần số vô tuyến. Ngày 5 tháng 1/1975, vào lúc 8 giờ sáng, Không quân VNCH thực hiện 60 phi vụ chiến thuật để yểm trợ cho cho kế hoạch hình thành một bãi đáp trực thăng tại phía đông tỉnh lỵ để Liên đoàn 81 Biệt kích Dù đổ bộ. 9 giờ sáng ngày 5 tháng 1/1975, một đại đội Biệt kích Dù đầu tiên đổ bộ an toàn. Ngay sau khi đổ bộ xong, thì hai bên bắt đầu liên lạc với nhau được ngay. Đến 11 giờ phi cơ chuẩn bị cho cuộc đổ bộ thứ hai và bộ chỉ huy dự trù sẽ trực thăng vận xuống phía Bắc khu Hành chánh tỉnh. Khi hoàn tất cuộc đổ bộ vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày, hơn 250 quân sĩ Biệt Kích Dù bị lọt vào ổ phục kích của pháo binh Cộng quân. Rất may chỉ có khoảng 2 tiểu đội bị tổn thất. Nhiều trực thăng bị trúng đạn nhưng phi hành đoàn đã cố gắng thoát ra khỏi vùng hỏa lực phòng không của CQ. Tuy nhiên vì địch pháo dữ dội nên Không quân không thể tải thương được như đã dự trù.

Trong thế cài răng lược, xe tăng CQ phá vỡ vị trí phòng ngự của Địa phương quân tại kho Tiếp vận và từ đó tấn công vào thị xã. Đặc công CQ tùng thiết liền trở lui đặt chướng ngại vật để chận đường trong khi chiến xa của CQ vẫn tiến về dinh tỉnh trưởng, bây giờ là Bộ Chỉ huy Hành quân Tiểu khu và Bộ Chỉ huy đơn vị tăng viện vừa mới đến. CQ bị đẩy lùi khi các chiến binh Biệt Cách Dù bắt đầu phản công để tái chiếm từng vị trí một, đặc biệt là kho Tiếp vận. Mặc dù chiến binh Biệt Cách Dù chiến đấu vô cùng dũng cảm, nhưng do áp lực CQ quá nặng, nên không chiếm lại được các vị trí trọng yếu. Lúc ấy Biệt Cách Dù bị thiệt hại gần nửa quân số.

Trận chiến trở nên kịch liệt hơn khi chiến xa địch kéo đến tăng cường, chiến binh Biệt Cách Dù sử dụng loại vũ khí phóng hỏa tiễn M 72 và đại bác không giật để bắn trả. Đến cuối ngày hôm đó, Bộ Chỉ huy Biệt Cách Dù báo cáo cho bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 về tình hình trận chiến. Tình hình vô cùng nguy kịch. Tuyến phòng thủ của Địa phương quân bị vỡ khi chiến xa địch kéo đến. Thấy vậy, sĩ quan chỉ huy Biệt Cách Dù quyết định lập hàng rào quanh dinh tỉnh trưởng và tòa hành chánh. Suốt đêm đó hơn 1,000 trái đại bác của địch rót vào khu vực này và khu vực chợ. Qua 9 giờ sáng ngày 6 tháng 1, bộ binh CQ có xe tăng yểm trợ lại mở trận tấn công tiếp. Giao tranh kéo dài suốt ngày. Đến 23 giờ liên lạc với bộ chỉ huy tiểu khu bị mất nhưng lực lượng Biệt cách Dù vẫn còn giữ vững vị trí. Đến 12 giờ khuya, chiến binh Biệt Cách Dù lặng lẽ phân tán mỏng ra khỏi thị xã.

TU100
11-04-2010, 02:15 PM
Tiến về Sài Gòn
http://www.youtube.com/watch?v=mrGriyyefEk

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 02:23 PM
Nhận định của phía Bên Này( Quân GPMNVN)
Trích: http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/4/96249/


Từ Phước Long đến Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột ngày 11-3-1975
Chiến thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 là chiến thắng vang dội nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chính những kẻ thua trận cũng phải công nhận điều đó. Qua cuốn sách Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật của tác giả Lê Đại Anh Kiệt, chúng ta sẽ hiểu rõ thêm về diễn tiến của cuộc chiến bởi chính những tường thuật của các tướng lĩnh chính quyền Sài Gòn khi ấy.

Ngày 6-1-1975, quân ta tiến vào đánh sập Phước Long, nơi được xem là bức tường thành vững chắc bảo vệ vành đai Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn phải ngậm ngùi kêu gọi: “Dành ba ngày truy điệu cầu nguyện cho Phước Long”.

Khởi đầu cho sự sụp đổ không thể cứu vãn
Theo hồi ức của trung tướng Hoàng Cầm, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4 thì trung tuần tháng 12-1974, bằng biện pháp nghi binh để quân ngụy Sài Gòn tập trung lực lượng bảo vệ Tây Ninh, quân giải phóng miền Đông đã bất ngờ mở chiến dịch tiến công giải phóng các cứ điểm Bù Đăng, Đồng Xoài, giải phóng đường 14. Tiếp đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo cho Bộ Tư lệnh Miền chớp thời cơ mở chiến dịch giải phóng Phước Long.

Rạng sáng ngày 31-12-1974, quân ta tấn công Phước Bình và pháo kích Phước Long. Vương Hồng Anh, cựu sĩ quan biệt kích dù quân đội Sài Gòn kể lại: “Sau khi đánh chiếm được núi Bà Rá, Cộng quân thiết lập ngay đài quan sát pháo binh và sử dụng súng 130 ly bắn vào trung tâm tỉnh lỵ. Trong suốt ngày 2-1, lực lượng trú phòng Việt Nam Cộng Hòa dù chiến đấu quyết liệt nhưng đến 18g cùng ngày thì trạm liên lạc đặt trên núi Bà Rà bị Cộng quân chiếm do đó sự liên lạc viễn thông với thị xã bị mất hẳn”.

Theo lời của Cao Văn Viên, nguyên đại tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ghi lại trong hồi ký thì ngày 2-1, Nguyễn Văn Thiệu chủ trì cuộc họp tại dinh Độc Lập gồm nhiều tướng lĩnh đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để đề ra biện pháp tăng cường lực lượng giữ Phước Long. Nhiệm vụ được giao cho Quân đoàn 3 do trung tướng Dư Quốc Đống điều khiển. Trong khi trung tướng Đống và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đang tiến hành kế hoạch giải cứu Phước Long thì tại tỉnh lỵ, vào ngày 3-1-1975, quân ta đã tăng cường áp lực quanh vòng đai phòng thủ và đánh sập mọi tiếp viện của ngụy quân. Đàm Hữu Phước, sĩ quan quân y Liên đoàn 81 biệt kích dù tăng cường cho Phước Long kể: “Lực lượng biệt kích dù từng được mệnh danh là người hùng An Lộc, lần này không cứu nguy được cho Phước Long mà ngay lập tức rơi vào tình trạng nguy khốn… Trong trận này, anh em đặc huấn biệt cách dù bị thương nhiều. Hầm quân y chật cả thương binh…”. Thế là hết! Phước Long sau bao ngày hấp hối chờ đợi viện binh, đã lịm chết lúc 9g sáng ngày 6-1-1975.

Đòn điểm huyệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột
Các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp quân đội Sài Gòn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về thất bại đau đớn ở Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là trong trận đấu này quân đội Sài Gòn đã thua cả trí và lực.

Trịnh Tiếu, đại tá Trưởng phòng 2 của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn, người chịu trách nhiệm về tình báo của Vùng II cho rằng họ đã khám ra Cộng quân chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột từ tháng 12-1974. Họ còn biết đích xác ngày giờ hành quân và lộ trình hành quân của chúng ta. Tuy nhiên ngụy quân không ngờ trong cuộc hành quân này chúng ta đã cơ mưu linh hoạt hơn địch tưởng. Ngô Văn Xuân, trung tá trung đoàn trưởng Trung đoàn 44 quân đội Sài Gòn cho biết: Mùa xuân năm 1975, Tổng thống Thiệu lệnh cho tướng Phạm Văn Phú đưa toàn bộ Sư đoàn 23 về Buôn Ma Thuột.

Nhưng vào khoảng 8g sáng ngày 17-2-1975, khi đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành thì có một đợt pháo kích mạnh vào Pleiku và “đến 11g thì tướng Phú cho ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói địch sẽ đánh vào Pleiku và địch chuyển quân nhanh vào Buôn Ma Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của tướng Phú đã làm cho cả Quân đoàn 2 ngạc nhiên”. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên chính ủy mặt trận Tây Nguyên giải thích nguyên nhân sự thay đổi quyết định của tướng Phú là do đã trúng đòn phản gián của ta: “Địch đã bị lừa cho rằng ta đánh Buôn Ma Thuột nên đã đưa Trung đoàn 45 xuống phía Nam.

Bộ Tư lệnh Quân khu 2 ngụy đã nhận bức điện trên cùng lúc với chỉ huy quân sự Tây Nguyên. Đồng thời với bức điện này sáng hôm ấy ta pháo kích Pleiku. Chính những quả pháo và bức điện giả làm tướng Phú hủy bỏ cuộc hành quân. Rõ ràng, địch đã thua ta về chiều sâu của chiến lược và bị ta “lừa” cho rối tung lên. Và dù biết trước được kế hoạch của ta, nhưng Mỹ ngụy cũng không làm sao tránh khỏi một cái thua đau đớn đến như vậy”.

Điều gì đã khiến Buôn Ma Thuột thất thủ chóng vánh?
Nguyễn Trọng Luật, đại tá và là Tỉnh trưởng Đắc Lắc, vốn là sĩ quan thiết giáp cứ thắc mắc vì sao ta đưa chiến xa vào Buôn Ma Thuột mà không bị phát hiện. Đến khi đọc “Đại thắng mùa xuân” của Văn Tiến Dũng, nguyên Tư lệnh tiền phương chiến dịch Xuân 1975, Luật mới tá hỏa vì kế vượt rừng bằng cách cưa 2/3 thân cây để ngụy trang của ta. Có lẽ ông Luật cũng như các tướng lĩnh Sài Gòn không biết rút kinh nghiệm lịch sử.

Ba năm trước, quân đội Sài Gòn đã từng thua vỡ mặt vì chiến thuật này cũng trên chiến trường Tây Nguyên. Luật cay đắng kết luận: “Có một cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các tướng Việt Nam Cộng Hòa có đọc truyện Tàu không, nhất là tướng Phú, để bị cộng sản đánh lừa ở Vùng II. Vì nếu đọc truyện Tàu, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng Võ được gọi “Minh tu Sạn Đạo, ám độ Trần Thương” thì đã không cay đắng chịu trận thua tức tưởi này”.

Mạnh Minh lược ghi

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 02:26 PM
Trận Phước Long rồi Buôn Ma Thuột thật sự là bước ngoặt rất lớn và quyết định trong công cuộc giải phóng miền nam thân yêu của Tổ Quốc:19::19::19::19:

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 02:40 PM
Trích dẫn: http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/4/96412/



Phan Rang - vỏ trứng mỏng sao ngăn bão lửa?

Sau khi mất cả Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và cả miền Trung, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra một chiến lược “đầu teo đít to” (chấp nhận mất Tây Nguyên và miền Trung để giữ miền Nam). Ninh Thuận - Phan Rang, quê hương của Thiệu, đã được xây dựng thành phòng tuyến tử thủ. Phan Rang được hô hào như là một chiến lũy bất khả xâm phạm.

Chắp vá, bị động và bế tắc

Các binh lính thủy quân lục chiến Scarface cuối cùng ở Việt Nam

Thiệu điều động Nguyễn Vĩnh Nghi, Trung tướng - nguyên Tư lệnh Vùng 4 trực tiếp chỉ huy chiến tuyến với những lời hứa về các điều kiện binh - hỏa lực rất lý tưởng. Nhưng khi tiếp nhận phòng tuyến mới vỡ lẽ vì lực lượng phòng thủ chỉ là những đơn vị què quặt bại trận được lắp ghép, vá víu. Tướng không quân thì điều động chỉ huy mặt đất. Đó là trường hợp của Phạm Ngọc Sang, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân vừa chân ướt chân ráo từ chiến trường Pleiku về đã trở thành tướng trấn giữ biên cương bất đắc dĩ. Tướng Sang kể về tình thế bi đát lúc đó: “Căn cứ tôi bây giờ rất trống trải, vì một số lớn quân nhân địa phương canh gác ngoài vành đai đã bỏ nhiệm vụ… Ngoài thị xã, tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác phân vân. Trên quốc lộ 11 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau di tản. Tệ hại hơn nữa là Đà Lạt cũng bỏ chạy…”.

Trong tình thế cứu binh như cứu hỏa thì hai sư đoàn để bảo vệ phòng tuyến Phan Rang mà Nguyễn Vĩnh Nghi mong ước hoàn toàn không có mà chỉ có một lữ đoàn lính dù. Sang kể tiếp: “Ngày 12-4-1975, ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang. Liên đoàn 31 biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghỉ dưỡng quân thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng. Sư đoàn 2 bộ binh vừa tháo chạy từ Quảng Ngãi vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì cũng được ra lệnh phải ra Phan Rang trong khi cả đơn vị còn hoang mang, dao động vì chưa kịp bổ sung thiết bị”.

Binh tàn tướng bại đã đẩy lũy đài “bất khả xâm phạm” (!) Phan Rang vào thế bị động và bế tắc. Trong hồi ký “Thiên thần mũ đỏ ai còn ai mất”, Lê Quang Lưỡng - Tư lệnh Sư đoàn dù kể về tình thế bối rối này trong giọng điệu hờn trách, bức xúc: “Vừa đặt chân đến Sài Gòn, tôi đã được lệnh Tổng tham mưu cho Lữ đoàn 2 ra Phan Rang thay thế cho Lữ đoàn 3, để lữ đoàn này tái chỉnh trang đơn vị. Tôi chẳng hiểu tại sao lại thế. Rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa xây dựng xong, lụt lội sẽ ùa tới tàn phá tan tành. Người ta đã ném Lữ đoàn 2 vào đại dương giông bão”.

Lấy vỏ trứng ngăn cơn bão lửa
Trong hoàn cảnh bối rối ấy, các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn đã lên dây cót cho nhau bằng những lời hứa ảo, những hy vọng hão huyền về lực lượng tăng viện không có thực. Ngay cả giải pháp chính trị cũng không hề có trong thực tế. Lực lượng mỏng manh, tiếp tế nhỏ giọt đẩy tuyến phòng thủ Phan Rang vào sự chênh vênh. Trong khi đó lực lượng giải phóng của ta tiến quân “thần tốc hơn, thần tốc hơn nữa” đã khép chặt gọng kìm, hình thành thế bao vây.

Tướng Sang kể lại những giờ phút hấp hối của Phan Rang như sau: “Quả nhiên 8g tối Cộng quân gia tăng cường độ pháo vào phi trường đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh… Mặc dù chúng tôi đã đốc thúc phần tham gia của không quân nhưng cuối cùng đoàn xe Cộng quân tắt đèn và vượt qua cầu Ba Râu, rồi chiếm thị xã vào 7g sáng ngày 16-4-1975… Ngày 16-4-1975, lúc vừa sáng Cộng quân lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tây. Lúc mới khoảng 8g sáng, Đại tá Biết (liên đoàn trưởng liên đoàn Biệt động quân quân đội Sài Gòn) bỗng báo cáo Du Long bị mất và Cộng quân đã vào thị xã… Khoảng hơn 9g sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiễn SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã nguy ngập. Đến lúc này, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ cổng số 1 của căn cứ. Đến khoảng 10g, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để duyệt xét tình hình. Khoảng đến 10g30 sáng, khi các toán Cộng quân sắp tiến vào Bộ Tư lệnh tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ… Lúc 9g tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị Cộng quân bắt”.

Lực lượng đào thoát theo hy vọng lập phòng tuyến mới ở Cà Ná lần lượt tan rã và bị bắt làm tù binh. Tuyến phòng thủ Phan Rang gồm căn cứ không quân, lực lượng phòng thủ ở thị xã Phan Rang và vùng phụ cận đã nhanh chóng tan rã sau 10 tiếng đồng hồ bị quân ta tấn công. Quân giải phóng của ta băng băng tiến về Sài Gòn.

Trung tá dù Trương Dưỡng rút ra nguyên nhân thất bại của tuyến phòng thủ Phan Rang là do sự thấp kém của cấp chỉ huy chóp bu quân đội Sài Gòn. Trương Dưỡng vừa bức xúc: “Quân đoàn 2 tiểu đoàn chỉ đủ để trám vào chỗ của một tiểu đoàn dù. Phương tiện lại thiếu thốn, rõ ràng là đem con bỏ chợ, chẳng ai ngó ngàng đến! Chỉ biết điều động mà không chịu xem xét thực trạng quân tình… Chúng ta đã từng đẩy lui Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ 1972, dù lúc đó họ đã vào đầy thành phố. Nhưng tại sao năm 1975 lại bị mất đất và rã ngũ nhanh như vậy?”. Tuy nhiên, có điều mà Trương Dưỡng không nhận ra là thực tại đã biến chuyển rất lớn.

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 04:28 PM
Trận Phước Long, đúng là đòn điểm Huyệt của QDGP MNVN đối với Quân Đội VNCH

ichigolx
11-04-2010, 05:32 PM
luận cả trí và lực cộng với quyết tâm thì các vị tướng nhà mình vẫn hơn các tướng VNCH

Toquoc_latrenhet
11-04-2010, 06:47 PM
luận cả trí và lực cộng với quyết tâm thì các vị tướng nhà mình vẫn hơn các tướng VNCH

Ở đây theo mình nghĩ không chỉ là sự hơn thua trong chiến thuật chiến tranh mà là QĐ GPMNVN có chính nghĩa trong đấu tranh, giành độc lập. Phàm những việc chính nghĩa thì tất yếu sẽ đi đến thắng lợi.Cũng mong VN mình lấy lại HS trong hòa bình. Chiến tranh , chẳng ai muốn cả, đó là muôn vàn đau thương cho cả 2 phía