PDA

View Full Version : [Báo Đại Đoàn kết] "Đường lưỡi bò" phi lý



KID1485
24-09-2009, 02:03 PM
"ĐƯỜNG LƯỠI BÒ" PHI LÝ (http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94) là tên một chuyên mục về vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam mới được thành lập của báo Đại Đoàn kết, hay còn gọi là chiến dịch CQ-09 của báo Đại Đoàn kết.

Như chia sẻ của anh Mai Thanh Hải (http://vn.myblog.yahoo.com/thanhhaivir/article?mid=1437), phóng viên báo Đại Đoàn kết tại blog riêng của mình:

CQ09 - Rất ít người biết đến cái tên này và thấu hiểu những điều đằng sau 4 ký tự. Nhưng đó là công việc của mình và đồng đội lúc này để BẢO VỆ TOÀN VẸN CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ TRÊN BIỂN ĐÔNG.
Hà Nội ơi! Sẽ phải tạm xa một thời gian đằng đẵng đấy để lại rong ruổi theo những cánh sóng!..

http://a367.yahoofs.com/lifestory/rxNh0jCGGBZEgc54vAR7WbKz2A--_5/blog/ap_20090907115114263.jpg?lb_____DSwyZh2YA

Ban Quản trị HSO xin trân trọng giới thiệu loạt bài này của tập thể báo Đại Đoàn kết.

Xin chúc cho các anh chị chân cứng đá mềm, đóng góp được nhiều thông tin bổ ích cho bạn đọc, góp phần Bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông.

KID1485
24-09-2009, 02:07 PM
“Đường lưỡi bò” phi lý

11:35 PM, 03/09/2009

Ngày 7/5/2009 vừa qua, Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên hiệp quốc phản đối việc Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc và gửi kèm theo một sơ đồ trên đó thể hiện “đường lưỡi bò” khẳng định 80% diện tích mặt Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là điều phi lý khiến dư luận rất bất bình. Đại Đoàn Kết đã có cuộc trao đổi với Tiến sỹ Trần Công Trục- nguyên trưởng ban Ban biên giới Chính phủ về vấn đề này.


http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2009/09/04/ong%20truc%20(2)_.jpg
Tiến sĩ Trần Công Trục

Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc mới đưa ra?

Tiến sỹ Trần Công Trục: ­­Đây là một vấn đề phức tạp, cần có sự nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Tuy nhiên, tôi đã từng công tác ở Ban biên giới Chính phủ, rất quan tâm và có nghiên cứu về vấn đề này nên tôi có thể nêu một số điểm mấu chốt để chúng ta hiểu kỹ hơn về “đường lưỡi bò”.
“Đường lưỡi bò” xuất hiện tại Trung Quốc trên một bản đồ do một cá nhân vẽ ra, có 11 đoạn, được Trung Hoa dân quốc sử dụng trong một số tài liệu. Năm 1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, cũng đưa “đường lưỡi bò” vào một số tài liệu không chính thức, khi đó “đường lưỡi bò” chỉ còn 9 đoạn. Trong suốt thời gian qua, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không có ý kiến chính thức nào về “đường lưỡi bò”. Ngày 7/5 vừa qua là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức đề cập đến vấn đề này. Nhìn trên bản đồ mà Trung Quốc đưa ra thì “đường lưỡi bò” được thể hiện như một đường biên giới quốc gia trên biển, có nghĩa là 80% diện tích biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc theo quy chế nội thuỷ và lãnh hải. Tuy nhiên, đây là một điều phi lý bởi ngay trong những văn bản chính thức của Trung Quốc cũng bộc lộ những mâu thuẫn. Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho rằng: “Chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ)... cùng tất cả đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”.
Tuyên bố này của Trung Quốc xác định rõ các đảo bị phân cách với lục địa bởi biển cả (vùng biển tự do của quốc tế), chứ không phải là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy (vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc). Rõ ràng không thể tồn tại vùng biển tự do của quốc tế nằm trong nội thủy của Trung Quốc. Pháp lệnh về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của CHND Trung Hoa năm 1992 và Tuyên bố về Đường cơ sở năm 1996 của nước CHND Trung Hoa cũng không hề đề cập đến “đường lưỡi bò”.
Trong công hàm gửi Tổng thư ký Liên hiệp quốc ngày 7/5/2009, Trung Quốc còn nói họ có chủ quyền không tranh cãi đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đây lại là một điều phi lý nữa. Theo quy định của Công ước luật biển 1982 thì chỉ có “Quốc gia quần đảo” mới được phép áp dụng các quy định tại điều 4, 48, 50, phần IV, Công ước LB82 để vạch đường cơ sở đúng để tính chiều rộng các vùng biển và thềm lục địa của cả quần đảo cấu thành “quốc gia quần đảo”. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là quốc gia quần đảo mà là các quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, vì thế không được áp dụng các quy định đối với quốc gia quần đảo nói trên.
Theo công ước quốc tế, những đảo trên nếu có đời sống kinh tế thì mới có được đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thế nhưng, các đảo trong hai quần đảo này có diện tích rất nhỏ, điều kiện môi sinh môi trường khắc nghiệt, không thích hợp cho đời sống con người, không có đời sống kinh tế riêng; vì vậy chúng cũng chỉ có thể được phép có vùng lãnh hải 12 hải lý bao quanh mỗi đảo nổi tính từ đường cơ sở của chúng. Rõ ràng Trung Quốc không thể dựa vào sự tồn tại của 2 quần đảo (không phải là lãnh thổ hợp pháp của mình) để mở rộng phạm vi lãnh hải quốc gia ven biển đến 80% diện tích Biển Đông.
Bởi thế, xét trên mọi phương diện, “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đưa ra là phi lý.


http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/dung%20chung/duong%20luoi%20bo_.jpg
Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông

Việc Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hiệp quốc có hợp lý không, thưa ông?

Tiến sĩ Trần Công Trục:
- Quan điểm cá nhân tôi cho rằng: Tất cả các nước đều có quyền nộp hồ sơ lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc để đưa ra những chứng cứ pháp lý và khoa học về đáy biển để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, từ đó, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc sẽ xem xét và đưa ra những quyết định cuối cùng. Trung Quốc nếu muốn cũng có thể nộp hồ sơ để Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc xem xét. Họ không làm việc này mà chỉ đưa ra một công hàm phản đối gửi lên Tổng thư ký Liêp hiệp quốc là chưa thực hiện đúng thủ tục pháp lý mà Công ước Luật biển 1982 đề ra. Tôi hy vọng Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc sẽ xem xét vấn đề này một cách có tình, có lý và đưa ra những quyết định phù hợp với Luật pháp quốc tế.

Với kinh nghiệm của mình, theo ông, chúng ta cần tiếp tục đấu tranh trong vấn đề này như thế nào?

Tiến sĩ Trần Công Trục:
- Vừa qua, Nhà nước ta đã chính thức có tuyên bố không thừa nhận “đường lưỡi bò”. Trên các diễn đàn quốc tế, chúng ta cũng bác bỏ vấn đề này khi Trung Quốc đề cập. Thời gian tới, theo tôi, chúng ta cần thông tin rộng rãi hơn để dư luận trong nước và quốc tế hiểu về những chứng cứ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong vấn đề này. Bên cạnh đó cũng cần có những đối sách cần thiết về mặt ngoại giao, duy trì đàm phán song phương, trước mắt phải duy trì sự ổn định các bên, không được giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Cần nhanh chóng có Luật Biển để có những quy chế pháp lý cụ thể hơn nhằm xử lý tốt những mối quan hệ phức tạp, sôi động hiện nay trên biển. Đồng thời cần có một cơ quan quản lý nhà nước về biển để quản lý, bảo vệ và khai thác biển.
Về công tác nghiên cứu: Cần tập hợp tất cả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để có thêm tư liệu, từ đó có những giải pháp hiệu quả trong đàm phán. Nhà nước cũng cần tăng cường đầu tư để có thêm sức mạnh trên biển.
Xin cảm ơn ông!

Phạm Hằng (thực hiện)

Nguồn Đại Đoàn kết (http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94&categoryId=0&id=20256)

KID1485
24-09-2009, 02:11 PM
Xung quanh yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông

Kỳ I: Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa

http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2009/09/06/Anh%201-Yeu%20sach%20duong%20luoi%20bo%20phi%20ly_.jpg
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc


11:21 PM, 06/09/2009

Gần đây, Trưởng đoàn đại diện Chính phủ nước ta vừa trình báo cáo quốc gia trước Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc về xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tại khu vực phía Bắc Biển Đông. Bản báo cáo này một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết mọi bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước 1982 và Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC).

Trước đó, vào tháng 5/2009, Việt Nam và Malaysia đã gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc các hồ sơ đăng ký riêng và chung về khu vực thềm lục địa liên quan đến hai nước. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên hiệp quốc phản đối các bản báo cáo này và gửi kèm theo một sơ đồ biên giới “đường lưỡi bò” khẳng định 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Yêu sách này hết sức phi lý, đã “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”, khiến dư luận bất bình. Nhằm giúp thông tin đầy đủ và chính xác tới bạn đọc các dữ liệu lịch sử và khoa học về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Báo Đại Đoàn kết đăng tải một số bài viết theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và lịch sử xung quanh vấn đề này.

Là người chuyên nghiên cứu về chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhấn mạnh: “Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Biên giới của mỗi quốc gia là biểu hiện của nền độc lập dân tộc bất khả xâm phạm của quốc gia đó”. Từ các kết quả nghiên cứu của mình, ông khẳng định: “Vào thời điểm 1909, pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888. Sau đó Hiến Chương Liên hiệp quốc và Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành viên ký kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei đều phải tôn trọng. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đến 75% diện tích ở biển Đông trong nhiều thập niên trước đây cũng như đơn phương quyết định đặt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trực thuộc hệ thống hành chính của mình, đã đi xa hơn một cuộc tranh chấp trên biển, trở thành một hành động xâm chiếm vùng biển, xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bất chấp hiến chương Liên Hiệp quốc”.


http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/dung%20chung/Anh%204-Yeu%20sach%20duong%20luoi%20bo%20phi%20ly_.jpg
Bản đồ khu vực Biển Đông

Quan điểm “tự mâu thuẫn nhau”

Ông Phúc đã hệ thống hóa các lập luận về chủ quyền trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan điểm của Trung Quốc. Đó là: Giới truyền thông Trung Quốc cho rằng, Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa; Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế; Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng phần lớn khu vực của Trung Quốc, trong đó kể cả quần đảo Nam Sa; “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác đã quy định rõ việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa.
Tháng 12 năm 1956, Chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ đã chỉ định quan chức cấp cao tiếp quản quần đảo Nam Sa, đồng thời đã tổ chức lễ bàn giao trên đảo, cắm mốc kỷ niệm và cử quân đội đến đóng tại quần đảo Nam Sa; Năm 1952, Chính phủ Nhật Bản chính thức bày tỏ “từ bỏ tất cả mọi quyền lợi, danh nghĩa và yêu sách về quyền lợi đối với Đài Loan, các hòn đảo Bành Hồ và quần đảo Nam Sa”, từ đó quần đảo Nam Sa đã chính thức trở về với Trung Quốc... Trước thập niên 70 thế kỷ XX, các nước Philipines, Malaysia... không có bất cứ văn bản pháp luật và bài phát biểu của nhà lãnh đạo nào nói đến phạm vi lãnh thổ nước họ bao gồm quần đảo Nam Sa; Nghị quyết của chính phủ nhiều nước và cộng đồng quốc tế cũng công nhận quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc; Bản đồ do nhiều nước xuất bản cũng ghi rõ quần đảo Nam Sa thuộc về Trung Quốc, trong đó có “Tập bản đồ mới Thế giới” do Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Ohira Masayoshi đề nghị xuất bản vào năm 1962, bản đồ thế giới do Việt Nam lần lượt xuất bản vào năm 1960 và năm 1972...
Thế nhưng, sự thật lịch sử có đúng như vậy không? Theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, cần phân tích hai vấn đề:
Vấn đề thứ nhất, lập luận “Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa (?). Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế” là dựa trên cơ sở nào? Trước hết, về tên gọi chỉ khu vực Biển Đông ở Đông Nam Á giữa các nước lại không thống nhất: Việt Nam gọi là Biển Đông, Trung Quốc gọi là Nam Hải và tên gọi quốc tế lại là Biển Nam Trung Hoa (South China sea).
Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng, những cách gọi này rất dễ gây ra ngộ nhận về vấn đề chủ quyền quốc gia ở Biển Đông. Qua khảo sát, tổng cộng 20.713 bản đồ trong nước và quốc tế, ông Phúc khẳng định: bản đồ sớm nhất có chú thích vùng Biển Đông của khu vực Đông Nam Á là bản đồ miêu tả khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc vào đời nhà Đường (618-907) của Đại học California được ghi là biển Giao Chỉ (Chiao-chih Ocean). Còn bản đồ liên quan đến Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam sớm nhất là bản đồ được xuất bản từ năm 1575 cho đến bản đồ được xuất bản trước năm 1814, khu vực biển Đông không được một tác giả nào ghi chú cả. Như vậy là tên gọi Biển Đông của người Việt Nam đã có từ trước. Trong các từ điển cổ của Trung Quốc cũng xác định không giống nhau về nguồn gốc tên gọi Nam Hải. Thậm chí, không rõ căn cứ vào sử liệu nào, Từ Nguyên Cải Biên Bản đã ghi thêm có thời Nam Hải đã bao quát cả Ấn Độ Dương. Từ các chứng cứ lịch sử này, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định: “Chắc chắn là các soạn giả Trung Quốc đã lợi dụng các danh xưng Pháp Mer de Chine (Méridionale) và danh xưng Mỹ, Anh (South China Sea). Cả ba danh xưng này có một điểm chung là thiếu minh xác khiến có thể hiểu là biển của Trung Quốc ở về phía Nam. Theo ý kiến chúng tôi, giới hạn Nam Hải của Trung Quốc xưa, chỉ đến ngang đảo Hải Nam như chính danh xưng đảo Hải Nam chỉ rõ như vậy”.
Mặt khác, theo quy định của Ủy ban quốc tế về Biển, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đưa ra các tranh luận: Một là: Biển rìa ở khu vực Đông Nam Á là biển Đông chưa bao giờ được người Trung Quốc phát hiện ra. Mà ngược lại, Việt Nam là một quốc gia ven bờ biển Đông, nên ngay từ xa xưa người Việt đã biết sử dụng biển để phục vụ cho cuộc sống sinh cơ lập nghiệp và bảo vệ tổ quốc, đồng thời giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài. Nghề biển là một nghề truyền thống của người Việt đã đi vào truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tục xâm mình mỗi khi xuống biển và thủy chiến là sở trường của Việt Nam từ xưa đến nay. Biển Đông cũng đã đi vào ca dao tục ngữ và còn truyền miệng cho đến ngày nay. Trên trống đồng Đông Sơn, biểu tượng của nền văn hóa biển vẫn còn đó. Trống đồng Đông Sơn cũng đã có mặt ở hầu hết các nước trong khu vực.
Hai là: Biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn nhất, gần nhất. Với nội dung này, trong tình hình hiện nay dễ gây ra ngộ nhận vì tên quốc tế của biển Đông là South China Sea làm cho mọi người lầm tưởng khu vực biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì vào năm 1983 Trung Quốc cho vẽ lại bản đồ lãnh hải của nước CHND Trung Hoa mở rộng khu vực, bao gồm bờ biển Philippines, Tây giáp bờ biển Malaysia mà họ gọi đó là “miền Đông hải” của Trung Quốc. Dư luận quốc tế cần thấy rõ biển Nam Trung Hoa theo quy định quốc tế là không đồng nghĩa với cái gọi là “miền Đông Hải” của Trung Quốc.
Ba là: quy định của Ủy ban quốc tế về Biển của Liên hiệp quốc như trên không có nghĩa là các biển rìa không thể không có tên khác. Đối với biển Đông, có tên là biển Trung Hoa hoặc biển Nam Trung Hoa là do hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử vùng biển này của các nhà hàng hải phương Tây lúc họ đi qua và gọi tên, dẫn đến sau này người ta quen sử dụng chứ không hề có ý nghĩa là vùng biển của Trung Quốc. Đối với một số biển rìa khác, người ta cũng không nhất định phải đặt theo địa danh lục địa lớn nhất, gần nhất như trường hợp biển Nhật Bản theo cách gọi của người Nhật hay biển Đông hoặc biển Korea theo cách gọi của Hàn Quốc mà quốc tế đã bước đầu công nhận. Ở đây chúng ta phải nhắc lại trường hợp của Philippines. Bờ biển phía Tây của quần đảo này không lấy tên là South China Sea mà được Philippines đặt tên là biển Luzón (Luzón Sea) vì Philippines phản đối việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông. Quan điểm và lập trường của Philippines trong trường hợp này cho đến nay đã được quốc tế thừa nhận. Bốn là: đấu tranh để đổi lại tên gọi “biển Nam Trung Hoa” là một vấn đề cần thiết vì tương lai đấu tranh cho chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không chỉ là đổi tên cho phù hợp với vị trí địa lý hay cách gọi của người Việt Nam.
Vấn đề thứ hai, về các lập luận của Trung Quốc căn cứ vào “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác quy định việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa. Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định, những luận cứ và luận chứng trên của Trung Quốc là không chính xác. Ông cho rằng, vào năm 1945 Nhật Bản đã bị các nước Ðồng minh đánh bại trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nên phải đầu hàng. Một trong những việc nước này phải làm khi đầu hàng là từ bỏ các đất đai ở ngoại quốc mà Nhật Bản đã chiếm được trong thời kỳ toàn thịnh của chế độ quân phiệt, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chứ không có nghĩa rằng nó thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Mặt khác, vào năm 1938, trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, nói là để khai thác thương mại nhưng thực ra chính là để lập căn cứ chiến lược làm bàn đạp tấn công vùng Ðông Nam Á.
Đối với Tuyên cáo Cairo do 3 nước Hoa Kỳ, Anh và chính quyền Trung Hoa Dân Quốc ký kết ngày 26-11-1943 cũng chỉ xác định các đất Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc. Tuyên cáo Cairo đã không nói các lãnh thổ khác (trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa) phải được hoàn trả cho nước nào. Đối với Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 về việc ấn định các điều kiện cho Nhật Bản đầu hàng cũng hoàn toàn không đề cập tới vấn đề hoàn trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản đã xâm lược vào đầu Chiến tranh thế giới thứ 2. Lẽ dĩ nhiên là các cường quốc đã không cho rằng hai quần đảo này là phần lãnh thổ của Trung Quốc. Ðiểm đặc biệt đáng chú ý hơn nữa là chính Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc - Tưởng Giới Thạch, đã tham dự cả hai hội nghị và đã ký vào cả Tuyên cáo Cairo lẫn Tuyên ngôn Potsdam. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì không có lý gì đại diện Trung Hoa Dân Quốc chỉ đòi hoàn trả có Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ thôi mà lại không đòi luôn Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, trong bản văn của Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam chúng ta cũng không thấy từ “vân vân”để có thể nói là vấn đề đã được bao hàm trong hai văn kiện này.
Từ tất cả các căn cứ khoa học và lịch sử nêu trên, Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng Định: “vấn đề trên là quá rõ ràng, những luận cứ và luận chứng mà Trung Quốc đưa ra trong vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam không thể phủ nhận được các văn kiện của Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và sự thật lịch sử”.

Giải quyết tranh chấp như thế nào?

Về vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến biên giới và lãnh thổ, chúng ta phải biết kết hợp các hình thức và biện pháp đấu tranh thích hợp đối với từng vụ việc phát sinh trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, giữ gìn quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Riêng đối với vấn đề thực tế có nhiều cách gọi khác nhau về Biển Đông: nước ta gọi là biển Đông, còn các văn bản quốc tế và bản đồ tiếng nước ngoài thì gọi là biển Nam Trung Hoa, nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: vấn đề đặt ra là một mặt chúng ta phải vận động để cộng đồng quốc tế hiểu rằng biển Nam Trung Hoa là tên gọi chứ không phải là thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mặt khác, trong những điều kiện có thể làm được chúng ta nên tiến hành đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế ngay từ bây giờ để có thể đổi tên biển Nam Trung Hoa thành một tên gọi khác hợp lý hơn trong các quan hệ quốc tế.

Thạch Sơn-Thành Luân (thực hiện)

Nguồn Đại Đoàn Kết (http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94&categoryId=0&id=20321)

gamegold
24-09-2009, 02:15 PM
Bác nên chọn lọc , còn lại đưa link nguồn để anh em tìm đọc.
Mà Việt Nam ta có những chứng cứ rõ ràng cái đường lưỡi bò của nó thì nên cho vào lẩu bò .

KID1485
24-09-2009, 02:16 PM
Xung quanh yêu sách “Đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông

Kỳ II:Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức rõ ràng


http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2009/09/07/Anh%205-Yeu%20sach%20duong%20luoi%20bo%20phi%20ly_.jpg
Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã


11:12 PM, 07/09/2009

Trong khi Trung Quốc đưa ra những lập luận nhằm xác định chủ quyền của mình trên biển Đông đầy tính “tự mâu thuẫn nhau”, thì về phía Việt Nam, ngay từ giai đoạn nhà Nguyễn đã có những tài liệu chính sử và bằng chứng khoa học cụ thể khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Nhiều học giả, luật gia và nhà khoa học trong nước cũng đã dẫn ra những chứng cứ quan trọng khẳng định xung quanh vấn đề này.

Chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa được xác lập từ thời nhà Nguyễn

Bài tham luận: “Quan Điểm của Việt Nam về Trường Sa và Hoàng Sa” của Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã phản bác các tuyên bố của phía Trung Quốc rằng Hoàng sa và Trường Sa vô chủ cho đến năm 1909, và vào năm đó Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá ra Hoàng Sa và Trường Sa. Ông khẳng định: “Năm 1816, thủy quân Nhà Nguyễn đã bắt đầu đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa theo phương cách Phương Tây. Từ đầu thế kỷ XVII, khai thác Biển Đông, kinh tế biển, bảo vệ Biển Đông đã được các chính quyền thời ấy rất quan tâm”. Khi ấy, các đội khai thác Biển Đông như đội Hoàng Sa, đội Quế Hương, đội Đại Mạo Hải Ba, đội Quế Hương Hàm được Nhà Nguyễn cắt cử, giao nhiệm vụ kinh tế, chống cướp biển và bảo vệ Biển Đông. Ngoài ra, những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochichine” rằng: “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy”. Giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam.


http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/dung%20chung/Anh%207-Yeu%20sach%20duong%20luoi%20bo%20phi%20ly_.jpg
Các tài liệu cổ của nước ngoài thể hiện lãnh thổ của Trung Quốc chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam

Chính hoạt động lần đầu tiên của lực lượng thủy quân này đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trên. Đặc biệt từ thời Minh Mạng, thủy quân nhà Nguyễn hàng năm đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng được qui định cũng rất rõ ràng trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165, cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? Và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

Vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa và Trường Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.

Ngoài ra, các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.

Từ việc nghiên cứu các tài liệu chính sử, Tiến sỹ Nguyễn Nhã khẳng định: “Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào thuyết phục thể hiện chủ quyền của mình trên Biển Đông thì các tài liệu chính sử của Việt Nam đã cho thấy các triều vua thời nhà Nguyễn đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam”. Trong đó, các tài liệu chính sử như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi nhận rất rõ ràng rằng, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam. Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì.
Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Do đó, với thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi “Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa”. Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lý còn có một viên chính hộ lý, một viên đề lãnh, một viên ký lục, một viên cai phủ và một viên thư ký.
Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập hai phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Anh được cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.

Sự thật đã được lịch sử chứng minh

Suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời Nhà Nguyễn, đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đã làm nhiệm vụ khai thác biển, quản lý biển đảo Biển Đông. Từ năm 1816 thuỷ quân được giao nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền theo phương cách Phương Tây, đúng theo pháp lý quốc tế thời đó. Thời nào cũng vậy, Việt Nam luôn tuân thủ pháp lý quốc tế về xác lập và thực thi chủ quyền về biển đảo và có đầy đủ chứng cứ lịch sử từ chính sử chép cụ thể đến các văn bản nhà nước như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, tờ bằng cấp như mới phát hiện ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điều này không hề có ở các nước khác trước năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt đầu tranh chấp, khi ấy Việt Nam bị mất chủ quyền, bị Pháp cai trị. Mọi bằng chứng sau này đưa ra đều vô căn cứ, hoặc suy diễn hoặc bày đặt không có thực. Rõ ràng, đã là chân lý được lịch sử xác nhận thì không cần phải chứng minh. Tiến sỹ Nguyễn Nhã khẳng định: “Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không có gì để tranh cãi”. Về các giải pháp cụ thể giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho rằng: “Dù với bất cứ giải pháp nào, muốn vững bền thì phải dựa trên sự thực lịch sử và trật tự thế giới hiện hành theo Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945; những Nghị quyết của Liên hiệp sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982. Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa và Trường Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường”.


Thạch Sơn – Thành Luân (thực hiện)

Nguồn Đại Đoàn Kết (http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?masterId=94&categoryId=0&id=20375)

doduc
20-10-2009, 10:15 PM
lưỡi gì dài thế