PDA

View Full Version : Góp ý với ông Lưu Văn Lợi ...



Thu
18-09-2009, 07:53 AM
http://bauxitevietnam.info/c/9434.html

Theo bài viết của ông Bùi Văn Phú vừa đăng trên Talawas http://www.talawas.org/?p=10228 và mạng Bô-Xít Việt Nam http://bauxitevietnam.info/c/8918.html: “Nhà ngoại giao kỳ cựu của Việt Nam là ông Lưu Văn Lợi đã lên tiếng về lá thư này qua một bài viết đăng trên tạp chí Xưa & Nay (Số 315, tháng 9-2008, tr.40) với tựa đề “Về bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày 14-9-1958””.
Tôi có vài ý kiến đóng góp như sau :

Ông Lợi viết là văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14-9-2009 là một “bức thư” : “Về bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày 14-9-1958″. Nhưng ngay đầu “lá thư” viết: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành…”

Người đứng tên văn bản rõ ràng là “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Như vậy có thể gọi đây là “bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” hay không ? Theo tôi thì không. Đây là “thư” của “Chính phủ nước VNDCCH” gởi phúc đáp tuyên bố ngày 4-9-1958 của “Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Ông Lợi gọi thế chắc phải có lý do. Nhưng thói quen xưa nay đã gọi đó là một “công hàm”. Trong bài này, từ nay sẽ gọi “bức thư” là công hàm.

Về nội dung, Ông Lợi cho rằng công hàm chỉ “ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý” và “Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo”.
Không hẳn vậy, nhiều nhân vật cao cấp của chế độ đã nói khác với ông Lợi :
1/ Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt, nhân buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992, đăng tải ở Thông tấn xã Việt Nam ngày 3 tháng 12 năm 1992 :
“Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này. Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, việc này còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả”.

Tuyên bố của ông Cầm có thể hiểu là :
Vì HS và TS thuộc chính quyền miền Nam;
Vì cần tập trung lực lượng chống Mỹ;
Vì TQ là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị;
Vì tình thế cấp bách và vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc;
Cho nên quan điểm của lãnh đạo ta là cần thiết.
Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

2/ Ý kiến của chính ông Phạm Văn Đồng, người ký công hàm:
Vào năm 1977, ông Đồng có giải thích về công hàm nội dung như sau: đó là thời chiến cho nên ông phải nói như vậy thôi.

3/ Mặt khác, đông đảo dư luận quốc tế, thể hiện qua các tập tài liệu, sách báo, bản đồ atlas… khi nói về tranh chấp HS và TS đều ghi nhận hiệu lực công hàm ông Đồng, cho rằng nội dung công hàm làm yếu tư thế của VN.
Về bối cảnh lúc ký công hàm, ông Lợi viết như sau: “Ý định của ông Phạm Văn Đồng là ủng hộ quyền bảo vệ an ninh của Trung Quốc. Người ta chưa quên bối cảnh chính trị năm 1958. Khi đó Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc vừa giành được thắng lợi vĩ đại là đánh bật được Chính phủ Tưởng Giới Thạch thân Mỹ ra Đài Loan. Mỹ cay cú đe dọa Trung Quốc, cho Hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan. Đài Loan chưa rút khỏi Kim Môn, Mã Tổ, hai hòn đảo sát liền địa lục Trung Hoa và quấy rối Trung Hoa nhân dân. Bấy giờ Trung Hoa nhân dân còn yếu và đang thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Trên tinh thần hữu nghị Trung – Việt, ông Phạm Văn Đồng thấy phải ủng hộ quyền của Trung Hoa nhân dân bảo vệ an ninh của chính mình và chống thái độ hung hăng của Mỹ khi đó đã đưa Hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan”.

Tôi cho rằng bối cảnh mà ông Lợi trình bày là không thuyết phục:

1/ Về các chi tiết lịch sử: Ông Lợi đã nhầm lẫn khi viết: “Người ta chưa quên bối cảnh chính trị năm 1958. Khi đó Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc vừa giành được thắng lợi vĩ đại là đánh bật được Chính phủ Tưởng Giới Thạch thân Mỹ ra Đài Loan”. Hồng quân của Mao Trạch Đông đánh bật quân đội Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan từ năm 1949. Từ 1949 đến 1958 TQ còn trải qua cuộc chiến Triều Tiên (1953). Năm 1958, đối nội thì TQ bắt đầu “bước tiến nhảy vọt”, dự trù trong hai năm tiến lên cộng sản chủ nghĩa, đối ngoại thì bắt đầu chống “chủ nghĩa xét lại” của Liên Xô. Mâu thuẩn giữa hai nước TQ và LX có thể nói bắt đầu từ năm 1956, sau đại hội đảng lần thứ XX của đảng CSLX (tháng 2 năm 1954).
Về căng thẳng giữa eo biển Đài Loan, bắt đầu từ năm 1949, cho dầu cường độ có lúc tăng lúc giảm, nhưng việc này đã liên tục không ngưng nghỉ cho đến hôm nay.
Vì thế, viện lý do “mới giải phóng”, hay do có mặt của hạm đội HK… thật không thuyết phục. Nhưng việc sai lầm vài chi tiết lịch sử xét ra không quan trọng.

2/ Quan trọng là bối cảnh thực sự của tranh chấp HS:
- TQ đã lên tiếng dành chủ quyền HS từ năm 1909, đến nay là đúng 100 năm.
Chỉ tính từ sau năm 1949, tức là năm mà nhà nước TQ hiện hữu, ta thấy:
- Năm 1951, chính xác là ngày 15-8-1951, TQ đã tuyên bố “illégale – vô hiệu lực” Hội nghị San Francisco. Nhờ kịp thời có tuyên bố này, TQ đã không bị ràng buộc do kết quả của Hội Nghị San Francisco về chủ quyền của HS và TS (thuộc VN ngày 8-9-1951).
(Như thế lãnh đạo CSVN không thể viện bất kỳ lý do nào để cho rằng mình không biết HS thuộc về VN cũng như không biết về tham vọng của TQ tại HS).
- Năm 1956, ông Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao TQ, Thứ Trưởng bộ Ngoại giao có tuyên bố với Li Zhimin, Tham tán Sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam: chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ.
- Ông Lê Lộc, Chủ tịch Châu Á sự vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống.
Các sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa”.
- Đến năm 1958 thì ông Đồng ký công hàm (đang nói).
- Tháng giêng năm 1974, TQ đưa quân xâm chiếm HS, phía miền Bắc hoàn toàn im lặng.
Ta có thể kết luận thế nào?
Thái độ im lặng tháng Giêng năm 1974 có ý nghĩa là lãnh đạo miền Bắc đồng tình với việc làm của TQ (TQ cho rằng hành vi xâm lăng HS của VN là giải phóng). Thái độ này như thế là một tiếp nối logic của lập trường ông Ung Văn Khiêm, sau đó là tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng. Như thế lãnh đạo CSVN đã công nhận chủ quyền của TQ lại HS.

Bài viết của ông Lợi làm tôi thất vọng. Ông Lợi là một nhà nghiên cứu có tầm vóc và cũng là một nhà ngoại giao kỳ cựu. Một công hàm quốc gia đâu thể nào công nhận “vào thời chiến” và không công nhận vào thời khác (nói như ông Đồng), hay “tạm công nhận” (nói như ông Cầm), hoặc nói như ông Lợi hôm nay: “ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý” và “Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo”?
TNT
Phụ lục : Tôi có viết một số bài chung quanh vấn đề tranh chấp Biển Đông, trong đó có vài bài đề cập đến một phương pháp hóa giải công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Xin gởi link kèm theo đây. Hy vọng được đối thoại trên tinh thần khách quan, khoa học, không có ngộ nhận:
http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan
http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3741
http://www.talawas.org/?author=344

Submarine
18-09-2009, 08:48 AM
Như vậy theo như tác giả việc
đối thoại trên tinh thần khách quan, khoa học, không có ngộ nhận nghĩa là việc này (công nhận chủ quyền của TQ với HS-TS) là việc đã rồi và không hồi tố ? Nếu đã vậy thì cần gì phải phản biện "khách quan, khoa học" chi nữa. Tác giả chỉ cần nói như Ông Ung Văn Khiêm là xong rồi.
Những cái luận cứ (hay luận chứng) mà Ông (chỉ tác giả) nêu ra chỉ nhằm mục đích bài bác hoặc mục đích khác nhằm vào "CSVN" mà Ông cố tình nhắc đến. Diễn đàn Hoàng Sa cũng đâu phải là không biết những việc ấy (Công Hàm), vấn đề là vì nó xảy ra do Lãnh Đạo đất nước thời ấy còn non trẻ (hay non kém) để nhận thức rằng những quần đảo ấy quá xa vời và không ảnh hưởng gì đến lợi ích Quốc gia (nhận định của người viết).
Vì thế, những người tham gia Diễn đàn Hoàng Sa hôm nay mới cùng nhau góp sức tìm tòi những tài liệu có giá trị hơn cái Công Hàm ấy để mà sửa sai và bác bỏ nó. Ngay cả Ông Lợi, lá thư của Ồng tuy không có giá trị gì cả nhưng khi đọc thì ta có thể hiểu trong thâm tâm Ông cũng không đồng ý gì cái Công Hàm ấy.
Đó mới là những lý do trong sáng nhất.

Thu
18-09-2009, 08:57 AM
Như vậy theo như tác giả việc
đối thoại trên tinh thần khách quan, khoa học, không có ngộ nhận nghĩa là việc này (công nhận chủ quyền của TQ với HS-TS) là việc đã rồi và không hồi tố ? Nếu đã vậy thì cần gì phải phản biện "khách quan, khoa học" chi nữa. Tác giả chỉ cần nói như Ông Ung Văn Khiêm là xong rồi.
Những cái luận cứ (hay luận chứng) mà Ông (chỉ tác giả) nêu ra chỉ nhằm mục đích bài bác hoặc mục đích khác nhằm vào "CSVN" mà Ông cố tình nhắc đến. Diễn đàn Hoàng Sa cũng đâu phải là không biết những việc ấy (Công Hàm), vấn đề là vì nó xảy ra do Lãnh Đạo đất nước thời ấy còn non trẻ (hay non kém) để nhận thức rằng những quần đảo ấy quá xa vời và không ảnh hưởng gì đến lợi ích Quốc gia (nhận định của người viết).
Vì thế, những người tham gia Diễn đàn Hoàng Sa hôm nay mới cùng nhau góp sức tìm tòi những tài liệu có giá trị hơn cái Công Hàm ấy để mà sửa sai và bác bỏ nó. Ngay cả Ông Lợi, lá thư của Ồng tuy không có giá trị gì cả nhưng khi đọc thì ta có thể hiểu trong thâm tâm Ông cũng không đồng ý gì cái Công Hàm ấy.
Đó mới là những lý do trong sáng nhất.

vấn đề là đây:

Bauxite Việt Nam trịnh trọng nhắc lại ý chí bảo vệ đến cùng sự trong sáng Phạm Văn Đồng. Nhưng Bauxite Việt Nam không thể im lặng trước những phát ngôn ngớ ngẩn, ngu ngốc và hết sức vô trách nhiệm của những nhân vật khác như đã được bạn Trương Nhân Tuấn chỉ rõ ra trong bài viết. Đó phải là bài học lấy làm lòng cho những kẻ còn ngu ngốc và vô trách nhiệm gấp mười lần trong bức tranh quan hệ cực kỳ phức tạp hôm nay.ý muốn nói là cái "non kém" đó nó vẫn diễn ra , hoặc biết mà vẫn cố diễn ra; với cái kiểu diễn giải như : Ải Nam quan là của TQ , chứ nếu của Việt Nam thì phải gọi là Ải Bắc Quan chứ . - phát ngôn của ai đó mà nhiều người đã biết .

Submarine
18-09-2009, 09:37 AM
Vậy sao lại phản bác việc người khác (ý nói Ông Lợi) cũng làm giống như
Bauxite Việt Nam trịnh trọng nhắc lại ý chí bảo vệ đến cùng sự trong sáng Phạm Văn Đồng mà không làm một bài luận về sự trong sáng ấy và một bài đả phá những kẻ ngu ngốc, vô trách nhiệm?
Việc ấy là bài học lấy làm lòng cho những kẻ nào? sao không nói rõ ra cho nó "khách quan, khoa học". Đặt vấn đề ngược : Nếu ở vị trí tác giả, Ông (tác giả) sẽ làm gì trong trường hợp Bô-Xít? Kế hoạch của tác giả thế nào đối với nền kinh tế đang non yếu mà phải trả nợ "nước ngoài" những món nợ kết xù do chiến tranh gây ra?

p/s : những cụm từ"non yếu", "non kém" là vì văn bản nên phải viết vậy. Không thể dùng từ khác hơn.

Thu
18-09-2009, 09:44 AM
trời, mình đang ở xứ nào hả bác. Ở xứ Việt Nam thì tất cả là nhạy cảm, nói thẳng ra vô tù như chơi. Nói như thế là mạnh miệng lắm rồi, ai đọc cũng hiểu.

vaputin
18-09-2009, 09:56 AM
Ở VN thì khe khẻ cái mồm
Xem ở đây:
http://www.ictnews.vn/Home/internet/Ha-Noi-phat-tien-2-thanh-vien-ttvnolcom/2009/04/2SVCM7717926/View.htm

houston88
18-09-2009, 10:16 AM
Bài viết có chất lượng.Tôi vẫn cho rằng miền bắc vào lúc đó ko có ý bán nước nhưng cái "tình thế" lúc đó buộc họ phải làm vây, và đó là sai lầm nghiêm trọng nhất của họ và còn hệ lụy tới hôm nay.
Cá nhân tui cho rằng ko nên đổ lỗi cho PVĐ và cái công hàm đó cũng chẳng nói lên gì nhiều ngoài đặt VN vào thế "yếu hơn", nhưng tui vô cìng thất vọng trước thái độ "làm ngơ" của chính phủ miền Bắc 1/1974.
Kết luận: ko bao giờ dc viện cớ là "chi viện hoàn toàn cho cuộc chiến mà tạm gác chủ quyền quốc gia", một lời bào chữa lố bịch.

Thu
18-09-2009, 11:09 AM
bbc phỏng vấn ông Lợi
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/09/080917_luuvanloi_inv.shtml

g7mart
18-09-2009, 12:46 PM
Năm 1954 - Hiệp định Geneve quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời bao gồm cả trên đất liền và trên biển. Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho Chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý.

Tháng 4 năm 1956: VNCH kế thừa chính quyền Bảo Đại quản lý quần đảo Hoàng Sa theo đúng công pháp quốc tế. Quân đội VNCH đã đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Geneve năm 1954 quy định.

Năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và giữ cho đến nay. Xét về thời gian và không gian thì Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 1975 VNDCCH thống nhất đất nước nhưng không kế thừa quần đảo Hoàng Sa vì Hoàng Sa không còn là của VNCHtừ 1974.

Theo công pháp quốc tế thì người ta không thể để cho người thừa kế cái mà mình không còn .

Mình cũng không thể nhận cái tài sản mà người ta đã mất đi.

Kẻ mạnh luôn là luật ở cái thế giới này và luật luôn do kẻ mạnh làm ra. Giành lại Hoàng Sa không thể thực hiện được trong tình hình hiện nay nhưng còn mai sau, biết đâu.

:thumbs-up-nomi: tớ cũng hy vọng ở các cậu sau này :thumbs-up-nomi:

Hồ Huy Dứa
18-09-2009, 08:30 PM
chứng cứ lịch sử là để khoe cho có lý sau khi chiếm đóng , quan trọng nhất là sức mạnh quân sự kinh tế. Chưa có bài bao biện bức thư phạm văn đồng nào thấy được