PDA

View Full Version : Lịch sử tàu biển(tầu ngầm)



Biển Mặn
14-09-2009, 11:21 AM
Con tàu phá băng mang tên Lenin hoạt động từ năm 1959 và trở thành tàu dân sự đầu tên trên thế giới chạy bằng năng lượng nguyên tử. Tàu hoạt động bền bỉ suốt 30 năm thì chấm dứt sứ mệnh năm 1989 và được đưa vào bảo tàng
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/1_resize.jpg
Tàu phá băng Lenin hạ thủy ngày 5/9/1959 tại Leningrad, nay là thành phố St. Petersburg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/2_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/3_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/4_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/5_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/6_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/7_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/10_resize.jpg
Tàu phá băng hạt nhân Lenin tại xưởng đóng tàu năm 2005. Nó đang được lắp đặt các thiết bị mới để chuyển vào Bảo tàng lịch sử hàng hải Biển Bắc và Bắc Băng Dương của Nga

Tàu ngầm lớp Kilo - sát thủ vô hình dưới biển
Tàu ngầm Kilo bắt đầu phục vụ trong quân đội Nga từ đầu những năm 1980. Nó được thiết kế bởi Cục thiết kế hải quân Rubin, St Peterburg. Từ đó đến nay, tùy thuộc vào tính năng nâng cấp, tàu ngầm Kilo được chia làm hai loại là kiểu 877EKM và kiểu 636.

Thời gian đầu, tàu ngầm lớp Kilo được đóng tại nhà máy đóng tàu Komsomolsk nhưng hiện nay nó chủ yếu được đóng tại nhà máy Admiralty ở St Peterburg.


http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo-DNSC8703781_JPG.jpg Tàu ngầm lớp Kilo, nhìn từ trên xuống.
Tàu ngầm kiểu 636 được thiết kế cho các mục tiêu chống lại cách chiến hạm cũng như các tàu ngầm khác, nó cũng có thể được dùng cho các mục đích trinh sát và tuần tiễu. Tàu ngầm kiểu 636 được các chuyên gia đánh giá là một trong những chiếc tàu ngầm diesel ít phát sinh tiếng ồn nhất. Nó có thể phát hiện ra một tàu ngầm khác ở khoảng cách xa gấp ba đến bốn lần trước khi bị phát hiện. Do đó, nó được ví là sát thủ vô hình dưới biển.

Chiếc tàu ngầm này được thiết kế thành 6 khoang kín nước được ngăn cách với nhau bằng các vách ngăn nằm ngang trong một thân tàu hai lớp. Thiết kế này cho phép tăng khả năng sống sót của tàu lên rất nhiều, nó vẫn có khả năng hoạt động bình thường khi bị bắn thủng một vài khoang.

http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/Kilo3.jpg Phía trong buồng lái của tàu ngầm lớp Kilo.
Thiết kế của kiểu 636 có rất nhiều điểm khác biệt với kiểu 877EKM cũ hơn như thân rộng hơn, động cơ công suất lớn hơn, tốc độ chân vịt cao hơn, giảm khả năng bị phát hiện hơn. Chiếc tàu ngầm này có khả năng lặn đến độ sâu tối đa là 300 mét, đạt tốc độ tối đa 20,3 km mỗi giờ khi nổi và 37 km mỗi giờ khi lặn. Tầm hoạt động của Kilo đạt tới 12.000 km khi chạy có ống thông hơi ở tốc độ 13 km mỗi giờ hay 640 km nếu lặn sâu với tốc độ 5,5 km mỗi giờ.

Tàu Kilo được trang bị hệ thống kiểm soát và chỉ huy đa nhiệm rất hiệu quả. Trung tâm của hệ thống là một máy tính tốc độ cao có khả năng xử lý các thông tin và hiển thị một cách trực quan, có khả năng ngay lập tức đưa ra các thống số như phần tử bắn, kiểm soát vũ khí cùng các hướng dẫn về điều khiển khác.

Hệ thống vũ khí

Vũ khí chính của tàu là 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm ở phía trước mũi tàu. Tàu có thể mang theo 18 ngư lôi bao gồm 6 quả trong ống phóng và 12 quả ở cơ cấu nạp. Ngoài ra, ống phóng ngư lôi có thể được sử dụng để rải mìn với cơ số lên tới 24 quả.

Ngư lôi được sử dụng trong Kilo là loại được điều khiển bằng máy tính, có xác suất bắn trúng mục tiêu rất cao. Với hệ thống kiểm soát bắn hiện đại, chỉ mất hai phút là Kilo có thể phóng lượt thứ nhất và sau năm phút thì có thể phóng lượt ngư lôi thứ hai.

http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo1.jpg Hệ thống vũ khí của tàu ngầm lớp Kilo gồm có ngư lôi, tên lửa và mìn.
Một vũ khí khác có thể sử dụng trên tàu ngầm lớp Kilo là tên lửa Novator Club-S ( NATO gọi loại tên lửa này là SS-N-27 Sizzler). Club-S có thể dễ dàng tiêu diệt các tàu chiến khác ở khoảng cách lên tới 220 km bằng đầu nổ 450 kg của nó.

Ngoài ra, Kilo cũng được trang bị bệ phóng tên lửa phòng không cho 8 tên lửa Strela 3 hoặc Igla. Các loại tên lửa này được thiết kế bởi cục thiết kế Fakel đặt tại Kaliningrad. Tên lửa phòng không Strela-3 (NATO gọi là SA-N-8 Gremlin) sử dụng đầu dò hồng ngoại làm lạnh bằng Nitơ lỏng. Nó có tầm bắn xa nhất là 6 km và đầu đạn nặng hai kg.

Igla (loại lửa mà NATO gọi là SA-N-10 Gimlet) là loại tên lửa tầm nhiệt nhưng nặng hơn Strela-3. Nó có khả năng tấn công mục tiêu bay ở khoảng cách năm km với tốc độ tối đa là 1,65 M.

Hệ thống điều khiển và động lực

Cảm biến được lắp đặt trên Kilo là loại sonar MGK-400EM, giúp cho tàu có khả năng phát hiện được các sóng âm mà tàu nổi cũng như các loại tàu ngầm khác phát ra từ khoảng cách rất xa. Bên cạnh đó là các loại thiết bị đối kháng điện tử (ESM), cảnh báo radar và các thiết bị định vị tìm đường.

http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo2.jpg Một trong những buồng vận hành tàu ngầm Kilo.
Kilo được trang bị hai động cơ diesel cực mạnh và chân vịt 7 cánh giúp giảm thiểu tối đa tiếng ồn. Hai bộ pin nhiên liệu, mỗi bộ chứa 120 pin chứa trong khoang thứ nhất và thứ 3 trên tàu cho phép nó có thời gian hoạt động tối đa lên tới 45 ngày.

http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/may%20moc%20phia%20trong%20kilo.jpg Điều khiển hệ thống động lực của tàu ngầm kilo.
Hiện nay, tàu ngầm lớp Kilo được sử dụng bởi hải quân các nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và An giê ri. Ngoài ra, một số nước cũng đang đặt mua tàu ngầm Kilo để trang bị cho hải quân của mình như Việt Nam và Indonesia. An Thái(baodatviet)
Top 10 tàu ngầm thế kỷ 20
Được dùng để tìm diệt kẻ thù dưới đáy biển hay chuyên chở tên lửa hạt nhân, tàu ngầm luôn đóng vai trò quan trọng trong lực lượng quân sự của các cường quốc suốt thể kỷ 20.
1. Tàu ngầm U loại VII

http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/1-in.jpg Tàu ngầm U loại VII được mệnh danh là "dã thú" dưới nước.
Là lớp tàu ngầm nổi tiếng nhất trong lịch sử, được mệnh danh là “dã thú” dưới nước, tàu ngầm U loại VII con át chủ bài của lực lượng tàu ngầm Đức trong chiến tranh Thế giới thứ II. Tàu có lượng giãn nước 900 tấn, trang bị 5 ống phóng ngư lôi và có kích thước nhỏ hơn các tàu khác trong hạm đội Mỹ nhưng nó luôn giành ưu thế trong các cuộc đụng độ ở Đại Tây Dương trong thế chiến II. Tuy nhiên, tổn thất của loại tàu này không phải là nhỏ, trong số 1.100 tàu được sản xuất thì có hơn 800 tàu đã bị hư hỏng, hơn 75% thủy thủ tử vong. 2. Tàu ngầm lớp Seawolf


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/2-in.jpg Seawolf là tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử.
Tàu ngầm lớp Seawolf (sói biển) có giá 4 tỷ USD thuộc loại tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử. Chúng được thiết kế để trở thành chiến binh bất khả chiến bại trên đại dương. Loại tàu này có nhiệm vụ săn đuổi và phá hủy các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Liên Xô. Tuy nhiên, vì chi phí sản xuất quá cao nên Seawolf đã bị đình chỉ sản xuất sau khi xuất xưởng được... ba chiếc tàu. Một trong số đó là tàu USS Jimmy Carter, sau này được chuyển thành tàu ngầm do thám. 3.Tàu ngầm lớp Gato


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/3-in.jpg Tàu ngầm lớp Gato là "cơn ác mộng" của Nhật Bản.
Các tàu ngầm Mỹ lớp Gato là “cơn ác mộng” của các tàu Nhật trong chiến tranh Thế giới thứ II. Nhanh nhẹn, được trang bị vũ khí tốt, hiện đại, loại tàu ngầm này được sử dụng triệt để trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Gato có lượng giãn nước 1.500 tấn, trang bị 6 ống phóng ngư lôi phía trước và bốn ống phóng ngư lôi phía đuôi tàu. Chúng có thể chạy trên mặt nước 20 hải lý và chạy ngầm 9 hải lý một giờ. 4. Tàu ngầm lớp T


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/4-in.jpg Tàu ngầm lớp T có thể mang tới 10 ống phóng ngư lôi.
Được biết đến với tên gọi tàu ngầm lớp Triton, loại tàu này là xương sống của lực lượng hải quân Anh trong suốt chiến tranh Thế giới thứ II. Có lượng giãn nước 1.500 tấn, tàu ngầm lớp T mang được 10 ống phóng ngư lôi. Tuy nhiên, chúng đều được trang bị ở phía trước, chứ không giống các tàu ngầm khác phóng ngư lôi ở cả phía trước và phía đuôi tàu. 5. Tàu ngầm USS Nautilus

http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/5-in.jpg Nautilus là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới.
USS Nautilus là tàu ngầm năng lượng hạt nhân đầu tiên của thế giới có thể hoạt động lâu dưới nước. Trước đó, các loại tàu ngầm đều chạy bằng động cơ diesel nên khi chạy dưới chúng phải sử dụng năng lượng dự trữ rất hạn chế. Năm 1955, trong chuyến “công du” đầu tiên, Nautilus đã đi quãng đường 1.100 hải lý, đoạn đường dài nhất trong lịch sử tàu ngầm thời đó. 6. Tàu ngầm X-Craft


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/6-in.jpg Tàu ngầm X-Craft được coi là "em út" về kích cỡ trong gia đình tàu ngầm.
Tàu ngầm X-craft của Hải quân Anh được sử dụng vào các nhiệm vụ tấn công đặc biệt tại các khu vực hải cảng Nauy, nhờ kích thước khiêm tốn của mình. Vào năm 1943, loại tàu ngầm nhỏ bé có trọng lượng 27 tấn này được các tàu lớn hơn kéo tới gần cảng , sau khi được tàu mẹ thả ra nó đã áp sát mục tiêu đặt thuốc nổ làm hư hỏng nặng ba chiếc Tirpitz của hải quân Đức rồi nhẹ nhàng quay trở về tàu mẹ.

7. Tàu ngầm lớp Sentoku

http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/7-in.jpg Tàu ngầm lớp Sentoku vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay
Việc thiết kế một phương tiện chiến tranh vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay được cho là việc kết hợp giữa một con các và một con voi. Dù vậy, các nhà đóng tàu Nhật Bản vẫn quyết tâm thử nghiệm mô hình đó. Tàu ngầm I-400 lớp Sentoku của Hải quân Hoàng gia Nhật được sử dụng trong chiến tranh Thế giới thứ II có trọng lượng 6.500 tấn, lớn gấp ba lần kích thước của tàu ngầm lớp Gato của Mỹ có trọng lượng tương đương tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân lớp George Washington đầu những năm 1960. Tàu ngầm Sentoku có thể mang theo các thủy phi cơ M6A Seiran. Những chiếc máy bay này xuất kích nhờ máy phóng máy bay, sau khi trở về tàu nó sẽ lặn xuống nước cùng với tàu mẹ.

8. Tàu ngầm lớp Typhoon

http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/8-in.jpg Tàu ngầm lớp Typhoon là tàu ngầm lớn nhất thế giới.
Tàu ngầm lớp Typhoon của Liên Xô là tàu ngầm lớn nhất trên thế giới, có trọng lượng 48.000 tấn (trong khi tàu ngầm tên lửa đạn đạo lớp Ohio của Mỹ chỉ nặng chưa đến 20.000 tấn còn tàu khu trục lớp Arleigh Burke chỉ nặng 9.000 tấn). Mặc dù được xem là một “người khổng lồ”, nhưng tàu Typhoons lại “yên lặng” đến ngạc nhiên và rất khó để phát hiện. Chúng mang 20 tên lửa đạn đạo SS-N-20 (mà NATO gọi là “cá tầm”), trang bị nhiều đầu đạn hạt nhân cũng như ngư lôi và tên lửa chống tàu chiến khác. 9. Tàu ngầmU loại XXI


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/9-in.jpg Tàu ngầm U loại XXI thực sự là một chiến binh nhanh nhẹn.
Có lẽ quân đồng minh phải thở phào nhẹ nhõm khi tàu ngầm U loại XXI ra đời muộn. Nếu nó được triển khai trước khi chiến tranh kết thúc kết cục của cuộc chiến Đai Tây Dương có thể bị đảo ngược. Tàu ngầm loại U XXI có rất nhiều tính năng vượt trội vào thời đó, bao gồm bộ dự trữ năng lượng dung lượng lớn có thể hoạt động liên tục vài ngày dưới nước. Ngoài ra, chiếc tàu còn có lớp vỏ được thiết kế kiểu dáng khí động học hợp lý và một ống thông hơi giúp tàu có thể nạp nhiên liệu dưới nước vì vậy, nó có thể di chuyển với tốc độ 17 hải lý mỗi giờ, tốc độ khiến các tàu chiến khác phải “hít khói”. 10. Tàu ngầm lớp George Washingto


http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/10-in.jpg Tàu ngầm lớp George Washington thực sự là lực lượng răn đe hạt nhân "đáng gờm".
Ẩn dưới làn nước và rất khó phát hiện, tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) thực sự là “bức tường thành răn đe hạt nhân” vững chắc. Tàu ngầm SSBN đầu tiên trên thế giới là chiếc USS George Washington, đi vào hoạt động năm 1959. Các loại tàu ngầm của Liên Xô trước đó cũng mang tên lửa đạn đạo vũ trang hạt nhân nhưng chúng vẫn sử dụng năng lượng diesel với thời gian hoạt động hạn chế. Động cơ chạy nhiên liệu hạt nhân của George Washington giúp loại tàu này hoạt động dưới nước cả tháng trời. Mỗi một tàu lớp George Washington mang tới 16 tên lửa Polaris. Hải Anh (tổng hợp)


Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 1)
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 2)
Cập nhật lúc : 8:29 AM, 22/06/2009
Nếu như Hải quân Mỹ nổi tiếng với lực lượng hàng không mẫu hạm hùng hậu thì Hải quân Nga (trước đây là Hải quân Liên Xô) khiến thế giới kính nể bởi lực lượng tầu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược (SSBN).
1. Project 949 Antey (Định danh NATO: Oscar II)

Đây là loại tầu ngầm lớn nhất của Nga được sản xuất với mục đích chống lại các tầu chiến khác. Nó có kích thước 154m chiều dài, 18,2m rộng và 9m chiều cao với lượng giãn nước lên tới 24.000 tấn khi lặn.

Phù hợp với nhiệm vụ, Oscar II được trang bị vũ khí hiện đại nhất mà Nga sở hữu, với kỳ vọng chống lại cả hàng không mẫu hạm cùng nhóm tầu hộ vệ của nó.


http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-1.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm lớp Oscar II đang phóng tên lửa.
Vũ khí chính của Oscar II là 24 tên lửa P-700 Granit có khả năng phóng từ các ống phóng được đặt nghiêng 40 độ ngay cả khi tầu đang lặn. Đây là cũng loại tên lửa chống hạm được sử dụng trên soái hạm hạm đội biển Bắc là chiến hạm Piotr Velikiy. Tên lửa P-700 Granit có tầm bắn 550km và mang đầu nổ xuyên phá nặng 750kg có khả năng làm tê liệt một chiếc hàng không mẫu hạm chỉ bằng một phát bắn.

Ngoài ra, giống các tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Sierra hay Akula, Oscar II cũng được trang bị 8 ống phóng ngư lôi hai loại 533mm và 650mm, có thể phóng ngư lôi hoặc tên lửa chống hạm tầm ngắn như RPK-2 Viyuga hay RPK-7 Vorobei với tầm bắn từ 45km đến 120km.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-2.jpg Một tầu ngầm lớp Oscar II đang neo đậu tại cảng.
Để hỗ trợ cho các loại vũ khí mang theo, Oscar II sử dụng radar Snoop Pair surface search phát hiện mục tiêu và dẫn đường tên lửa; sonar Rim hat để định vị và phát hiện tầu ngầm cùng và các thiết bị thông tin liên lạc, đối kháng điện tử khác.

Có thân hình to lớn, Oscar II được lắp hai lò phản ứng hạt nhân OK-650b cùng hai chân vịt loại 7 cánh. Hai lò phản ứng với tổng công suất 380 MW cho phép Oscar II di chuyển với vận tốc 29,6 km mỗi giờ khi nổi và 59 km mỗi giờ khi lặn.

Là loại tầu ngầm nguyên tử tấn công thế hệ thứ ba, Oscar II được viện thiết kế Rubin thiết kế vào những năm 1980. Rubin là một viện thiết kế rất uy tín trong lĩnh vực chế tạo tầu ngầm nguyên tử với các tác phẩm thành công là các loại tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Echo I và Echo II. Hiện nay, chỉ còn 8 chiếc Oscar II đang phục vụ trong Hải quân Nga, những chiếc tầu này được đặt tên theo tên các thành phố lớn của nước này.

Vết đen lớn nhất trong lịch sử hoạt động của tầu ngầm lớp Oscar II là vụ tai nạn của tầu ngầm K-141 Kursk vào ngày 12/8/2000. Kursk là chiếc tầu ngầm thứ 10 thuộc lớp Oscar II được hạ thủy năm 1994 tại Severodvinsk.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-3.jpg Phần còn lại của tầu ngầm Kursk bị tai nạn sau khi được trục vớt. Chiếc tầu này từng có thành tích theo dõi, giám sát thành công hạm đội 6 của Mỹ tại biển Địa Trung Hải trong chiến tranh Nam Tư năm 1997. Trong cuộc tập trận ngày 12/8/2000, khi phóng một ngư lôi giả về phía tầu Piotr Velikiy, hydro peroxit từ động cơ của ngư lôi đã phát nổ khiến Kursk bị chìm sâu dưới 108m nước, cướp đi sinh mạng của 118 thủy thủ.

Năm 1955, một tai nạn tương tự từng xảy ra khiến tầu ngầm HMS Sidon của hải quân Hoàng gia Anh bị chìm khiến 13 người thiệt mạng.

2. Project 667 BDR Kalma (Định danh NATO: Delta III)

Tầu ngầm nguyên tử chiến lược lớp Delta III cũng là một sản phẩm của Viện thiết kế Rubin. Vũ khí chính của nó là 16 tên lửa hành trình liên lục địa ICBM loại R-29R Vysota. Đây là loại tên lửa có khả năng mang theo 3 đầu đạn hạt nhân loại 550 kg và có tầm bắn 6.500 km. Ngoài ra, Delta III có 4 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm để tự vệ.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-4.jpg Tầu ngầm lớp Delta III đang di chuyển.
Về kích cỡ, Delta III có kích thước tương đương với lớp Oscar-II, dài 155m, rộng 11,7m, cao 8,7m và có lượng giãn nước 10.600 tấn khi lặn. Thiết kế không nhằm mục đích chiến đấu trực tiếp nên Delta III chỉ trang bị hai lò phản ứng hạt nhân công suất 90 MW, cho phép nó di chuyển với tốc độ tối đa 26 km mỗi giờ khi nổi và 44,5 km mỗi giờ khi lặn. Thời gian hoạt động liên tục của Delta-III là 80 ngày với thủy thủ đoàn 130 người.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-5.jpg Hình vẽ mô tả Delta III đang phóng tên lửa.
Được đưa vào phục vụ từ năm 1972, Delta III được đóng chủ yếu ở căn cứ quân sự Kamchatka, Viễn Đông nước Nga và khá gần với Hoa Kỳ. Khi Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược START-1 được ký năm 1991, 13 chiếc Delta III buộc phải ngừng hoạt động và tháo dỡ theo nội dung hiệp ước, trong đó 6 chiếc được tháo dỡ bởi các chuyên gia Mỹ. Tính đến tháng 7/2008, 6 chiếc Delta III phục vụ trong Hải quân Nga nhưng trong đó hai chiếc đã sẵn sàng ngừng hoạt động chờ tháo dỡ.

3. Project 667 BDRM Delfin (Định danh NATO: Delta IV)

Delta IV là phiên bản hiện đại hóa của tầu ngầm nguyên tử lớp Delta III. Phần lớn thiết kế của Delta IV thừa kế đặc điểm tối ưu của Delta III, ngoại trừ một số cải tiến về vật liệu chế tạo, kích thước, thiết bị điện tử và vũ khí. Delta IV được thiết kế lớn hơn một chút so với Delta III: nặng hơn 1.200 tấn và dài hơn 12m.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-6.jpg Tầu ngầm lớp Delta IV.
Loại tên lửa đạn đạo sử dụng của Delta IV là R-29RM Shtil, có khả năng mang bốn đầu đạn hạt nhân 100 kiloton với tầm bắn 8.300 km để thay thế cho loại R-29R sử dụng trên Delta III chỉ có khả năng mang ba đầu đạn với tầm bắn 6.500 km. Một cải tiến nữa của Delta IV so với Delta III là ống phóng của Delta IV được thiết kế bắn được tất cả các loại ngư lôi hiện đại của quân đội Nga.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-7.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm Delta IV đang phóng tên lửa.

Kể từ khi hạ thủy chiếc đầu tiên tháng 12/1985, có 13 chiếc tầu ngầm lớp Delta-IV được sản xuất và hiện còn 6 chiếc đang phục vụ trong Hải quân Nga. Cũng theo hiệp định START-1 năm 1991, 7 chiếc Delta IV cũng bị tháo dỡ trong nỗ lực giảm bớt kho vũ khí chiến lược của nước Nga.

4. Project 941 Akula (Định danh NATO: Typhoon)

Những chiếc tầu ngầm Typhoon âm thầm di chuyển dưới biển Đại Tây Dương là một nỗi ám ảnh cho nước Mỹ suốt thời kỳ chiến tranh lạnh. Mỗi chiếc Typhoon có thể mang theo tới 20 tên lửa đạn đạo chiến lược R-39M, có khả năng phóng đi 200 đầu đạn hạt nhân tới các mục tiêu cách xa 10.000km.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-8.jpg Phía trên boong của một chiếc Typhoon đang nổi, rộng như một sân bóng.

Typhoon còn là loại tầu ngầm lớn nhất thế giới từ trước đến nay với kích thước khổng lồ: Dài 174m; rộng 23,3m; cao 11,5m; có lượng giãn nước lúc nổi 24.500 tấn và lúc chìm là 48.000 tấn, gấp bốn lần lượng giãn nước của một chiếc tầu ngầm lớp Delta III.

Hai lò phản ứng hạt nhân cực lớn công suất 190MW cho phép Typhoon có khả năng di chuyển với tốc độ 41 km mỗi giờ khi nổi và 50 km mỗi giờ khi lặn, nhanh một cách đáng ngạc nhiên so với các tầu ngầm nguyên tử kích cỡ nhỏ hơn của Liên Xô trước nó. Một chiếc Typhoon có khả năng hoạt động liên tục trong bốn tháng với 150 thủy thủ đoàn.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-9.jpg So sánh kích cỡ của tầu ngầm Typhoon với các loại tầu khác. Từ trên xuống dưới: Hàng không mẫu hạm lớp Nimitz; hàng không mẫu hạm Kuznetsov (http://www.baodatviet.vn/Home/Kuznetsov-tau-san-bay-doc-nhat-cua-Nga/20095/42038.datviet); tầu ngầm diesel lớp Kilo (http://www.baodatviet.vn/Home/Tau-ngam-lop-Kilo--sat-thu-vo-hinh-duoi-bien/20095/41537.datviet) và cuối cùng là Typhoon.
Mặc dù là tầu ngầm nguyên tử chiến lược phóng tên lửa đạn đạo, khả năng đụng trận của Typhoon là rất thấp nhưng nó vẫn được trang bị đầy đủ vũ khí như bất cứ một tầu ngầm tấn công nào với 4 ống phóng ngư lôi kích cỡ 533mm, 2 ống 650 mm có khả năng phóng ngư lôi, mìn, tên lửa chống hạm tầm ngắn và một hệ thống tên lửa phòng không 9K38 SAM.

Typhoon cũng không thoát khỏi danh sách bị “xẻ thịt” theo Hiệp định START-1. Theo Hiệp định trên, có 5 chiếc Typhoon phải ngừng hoạt động và bị tháo dỡ.

Hiện nay, Hải quân Nga còn vận hành ba chiếc tầu ngầm nguyên tử lớp Typhoon là TK-17 Arkhangelsk, TK-20 Severstal và TK-208 Dmitri Donskoi. Những chiếc tầu ngầm này đều đã được hiện đại hóa để có khả năng phóng các loại tên lửa hạt nhân chiến lược mới nhất của Nga như Sineva và Bulava.

5. Project 935 Borei

Tầu ngầm nguyên tử mang tên Yuri Dolgoruky là chiếc duy nhất thuộc lớp Borei, cũng là chiếc tầu ngầm nguyên tử duy nhất của Nga được đóng sau khi Liên Xô tan rã. Chiếc Yuri Dolgoruky được đóng từ năm 1996 và hạ thủy ngày 12/2/2008. Hai chiếc khác thuộc lớp Borei đang được đóng là Alexander Nevsky và Vladimir Monomakh, dự kiến hoàn thành vào năm 2011 và 2013.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-10.jpg Tầu ngầm nguyên tử lớp Borei.
Mặc dù rất ít thông tin về tầu ngầm lớp Borei được công bố, nhưng các chuyên gia cho rằng đây là một tầu ngầm được thiết kế hoàn toàn mới, ưu việt hơn mọi loại tầu ngầm trên thế giới đang vận hành, điển hình là ở khả năng di chuyển hầu như không bị phát hiện bởi radar.

Đây là chiếc tầu ngầm đầu tiên của Nga sử dụng động cơ bơm đẩy nước ( pump-jet) để di chuyển thay cho các chân vịt bảy cánh thường thấy ở các loại tầu ngầm trước đó. Không những thế, ống phụt đẩy nước của Borei còn có thể xoay theo nhiều hướng, khiến cách di chuyển của nó cực kỳ linh hoạt.

Có chiều dài gần bằng Typhoon, Borei chỉ có lượng choán nước bằng một nửa chiếc kia. Do đó, nó chỉ có thể mang theo 16 tên lửa Bulava thay vì 20.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-11.jpg Lễ hạ thủy tầu ngầm Yuri Dolgoruky lớp Borei ngày 13/2/2008.
Một lò phản ứng hạt nhân trang bị trên tầu cho phép Borei đạt được tốc độ 46 km mỗi giờ khi lặn. Ngoài các tên lửa hạt nhân, Borei có thể sử dụng được các loại ngư lôi và tên lửa chống hạm tầm ngắn và tầm trung khác phóng từ 6 ống phóng cỡ 533mm.

Dự án đóng chiếc Yuri Dolgoruky tiêu tốn tới 890 triệu USD. Đây là con số lớn đối với nền kinh tế đang phục hồi của nước Nga, do đó, việc hạ thủy con tầu này đã bị trì hoãn 6 năm so với dự kiến.

Trong tương lai, Nga dự định đóng tổng cộng 12 chiếc tầu ngầm thuộc lớp Borei để thay thế cho các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược cũ trong kho vũ khí của mình, phần nữa, dần dần khôi phục vị trí siêu cường đã đánh mất, cân bằng với Mỹ và Trung Quốc.

Biển Mặn
14-09-2009, 11:24 AM
Khu trục hạm Sovremenny, xương sống của Hải quân Trung Quốc
Mặc dù tự thiết kế được những chiến hạm hiện đại của riêng mình, nhưng khu trục hạm Sovremenny đặt mua của Nga vẫn là xương sống của hạm đội Đông Hải, Trung Quốc.
Từ những năm 1960, pháo hạm trở thành vũ khí cần thiết hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ đường biển của lực lượng hải quân nhiều nước. Tuy nhiên, vũ khí này càng ngày càng tỏ ra lỗi thời, không còn đáp ứng được yêu cầu chiến đấu. Cùng lúc đó, Hải quân Mỹ cho ra đời chiếc khu trục hạm đa nhiệm cỡ lớn lớp Spruance, đe dọa trực tiếp về ưu thế hải quân với Liên Xô.

Nguồn gốc ra đời

Đáp trả Mỹ, Liên Xô đã giao cho Cục Thiết kế Severnaya thiết kế mẫu tàu chiến mới, trang bị hai ụ pháo hai nòng 130 mm cho các mẫu khu trục hạm. Đầu những năm 1970, khu trục hạm lớp 956, tiền thân của Sovremenny, được trang bị hệ thống phòng không tối tân, cùng tên lửa 3M80 Moskit đầy uy lực.

Trải qua nhiều cải tiến và nâng cấp, chiếc Sovremmenny đầu tiên được hoàn thiện, hạ thủy năm 1976 và trang bị cho lực lượng Hải quân Liên Xô năm 1980.


http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Chien%20ham%20Okrylenny%20%28lop%20Sovremenny%29%2 0cua%20hai%20quan%20Nga.jpg Chiến hạmOkrylenny (lớp Sovremenny) của Hải quân Nga.
Trong tổng số 18 chiếc Sovremenny do Severnaya chế tạo và xuất xưởng, chỉ còn 12 chiếc phục vụ trong lực lượng Hải quân Nga. Khu trục hạm Sovremenny hiện có 3 phiên bản: khu trục hạm lớp 956 là mẫu ban đầu được trang bị tên lửa 3M80 Moskit, lớp 956A trang bị tên lửa 3M80M Moskit với tầm bắn xa hơn, nhưng hiện đại nhất là khu trục hạm lớp 956EM - Hải quân Trung Quốc đang sở hữu. Khu trục hạm Sovremenny của Hải quân Trung Quốc

Chiếc Sovremenny trang bị cho Hải quân Trung Quốc có chiều dài 156,5m, lượng giãn nước tối đa 7.940 tấn với thủy thủ đoàn lên tới 344 người. Với 4 động cơ tua bin hơi công suất 50.000 mã lực, Sovremenny có thể đạt đến tốc độ tối đa là 61 km mỗi giờ và có tầm hoạt động tới 26.000 km.



http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Sovremenny-c-a-hai-quan-Tru.jpg Sovremenny của hải quân Trung Quốc đang diễn tập sử dụng hệ thống phòng thủ PK2.
Trái tim của hệ thống điều khiển khu trục hạm này là 3 hệ thống radar định vị, 1 hệ thống radar bám bắt mục tiêu và một radar kiểm soát hỏa lực cho pháo 130 mm và pháo 120 mm.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Chien%20ham%20Hangzhou%20%28lop%20Sovremenny%29%20 cua%20hai%20quan%20Trung%20Quoc.jpg Chiến hạm Hangzhou (lớp Sovremenny) của Hải quân Trung Quốc.
Về vũ khí, Sovremenny có 8 tên lửa chống tầu Raduga Moskit, phân thành hai cụm bố trí trong 4 ống phóng đặt nghiêng 15 độ phía trước mũi tầu. Tên lửa Moskit (NATO gọi là SS-N-22 Sunburn) là loại tên lửa siêu thanh hiện đại của Nga với tầm bắn lên đến 220km, mang theo đầu nổ 300kg.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/ten%20lua%20phong%20khong%20Shtil.jpg Tên lửa lửa phòng không Shtil.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Ten%20lua%203M80%20Moskit%20trang%20bi%20tren%20So vremenny.jpg
Tên lửa 3M80 Moskit trang bị trên Sovremenny.
Về phòng không, chiếc khu trục hạm này được trang bị hai hệ thống phòng không Shtil đặt phía sau ụ pháo chính. Hệ thống Shtil (NATO gọi là SA-N-7 Gadfly) được kết hợp với radar quét ba chiều, có thể tấn công các mục tiêu bay với tốc độ 3.000 km mỗi giờ ở khoảng cách 25 km. Số lượng tên lửa Shtil trang bị cho mỗi chiếc Sovremenny có thể lên tới 48 tên lửa.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/AK-630%20gatling%20cannon.jpg Ụ pháo phòng không trên tàu Sovremenny.
Pháo chính của tầu là khẩu AK-130 MR184 130 mm, được thiết kế bởi Cục Thiết kế Ametist và Cục Thiết kế Frunze Arsenal tại Saint Peterburg. Khẩu pháo này được dẫn bắn bởi một hệ thống kiểm soát điện tử hiện đại. Nó có thể được dẫn bắn hoàn toàn tự động bởi radar, hoặc hệ thống ngắm quanq học Kondensor với tốc độ từ 20 đến 35 phát mỗi phút và tầm bắn 22 km.

Vũ khí "săn tàu ngầm" hiện đại và hiệu quả cao Để chống tầu ngầm, Sovremenny được trang bị hai ống phóng ngư lôi cỡ 533mm và hai hệ thống tên lửa chống ngầm 6 nòng RBU-1000 với 48 tên lửa trang bị đầu nổ 55kg và tầm bắn 1km. Thêm vào đó, tầu còn kèm theo một trực thăng săn ngầm Ka-27, có khả năng hoạt động trong điều kiện biển động cấp 5 và ở khoảng cách 200 km từ tầu mẹ.


http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Truc%20thang%20san%20ngam%20Ka-27%20Helix.jpg Trực thăng săn ngầm Ka-27 Helix
Hệ thống phòng thủ tầm gần của Sovremenny là bốn khẩu AK-630, với 6 nòng pháo 30 mm, có thể bắn tự động nhờ radar ở tốc độ 5.000 phát đạn mỗi phút với tầm bắn từ 4km (chống tên lửa) đến 5km (chống các mục tiêu tầu nổi hạng nhẹ).

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090601/Chong%20ngam%20RBU-1000.jpg Vũ khí chống tàu ngầm RBU-1000.
Hiên nay, ngoài Hải quân Nga, Hải quân Trung Quốc được trang bị bốn chiếc Sovremenny. Trong đó, có hai chiếc lớp 956A và hai chiếc lớp 956EM. Dù tự thiết kế được những chiến hạm khá hiện đại của riêng mình, nhưng Sovremenny vẫn là xương sống của hạm đội Đông Hải, Trung Quốc.
Trung Quốc trình diễn tàu ngầm nguyên tử lớp 094 Jin
Trong lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quân Trung Quốc, Bắc Kinh dự định trình diễn các tàu ngầm mới, trong đó có tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo tối tân lớp 094 Jin.
Hiện Hải quân Trung Quốc có quân số hơn 225.000 người, trang bị 72 tàu chiến, 70 tàu ngầm, trong đó có gần 10 tàu ngầm nguyên tử. Tuy nhiên, giới quan sát quân sự không biết chính xác số lượng và tính năng của các tàu ngầm nguyên tử của nước này.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/bantt/20090423/ap.jpg Tàu ngầm lớp 094 Jin.
Từ năm 1974, Trung Quốc chế tạo các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên thuộc lớp 091 Han (Hán) và đưa vào sử dụng trong quân đội. Hiện Hải quân Trung Quốc có thêm tàu ngầm lớp 092 Xia (Hạ) là tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đầu tiên của một quốc gia châu Á, và ít nhất hai tàu ngầm nguyên tử tấn công lớp 093 Shang (Thương) trang bị ngư lôi và tên lửa chống hạm.

Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo mới nhất 094 Jin (Tấn) hiện là niềm tự hào của Hải quân Trung Quốc. Tuy nhiên, chưa rõ Trung Quốc đã hoặc sẽ đóng bao nhiêu chiếc tàu ngầm thuộc lớp này và thời hạn trang bị cho các đơn vị hải quân là bao giờ. Các chuyên gia cho rằng, tàu ngầm 094 Jin đầu tiên có thể đã hoặc sẽ đưa vào trang bị trong năm 2009, thậm chí sớm hơn.

Tàu ngầm lớp 094 được trang bị các tên lửa đường đạn mang đầu đạn hạt nhân Ju Lang-2 (Du Lãng-2, hay JL-2) là loại được chế tạo dựa trên tên lửa đạn đạo triển khai trên mặt đất Dong Feng-31 (Đông Phương 31, hay DF-31). JL-2 mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân, có thể tiêu diệt mục tiêu ở tầm đến 12.000 km (nguồn tin khác nói rằng đến 8.000 km). Mới đây, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi tuyên bố Trung Quốc sẽ đẩy mạnh phát triển và chế tạo các vũ khí thế hệ mới, cho phép tác chiến trên biển trong điều kiện kỹ thuật cao và dự định đóng các tàu nổi cỡ lớn, máy bay siêu âm, ngư lôi, tàu ngầm và các loại vũ khí trang bị khác. Trước đó, các quan chức cao cấp của Bộ Quốc phòng Trung Quốc tiết lộ ý định đóng tàu sân bay theo chương trình có tên “Dự án 48”.
N.V (theo Lenta.ru)

Biển Mặn
14-09-2009, 11:26 AM
Vũ khí diệt tầu ngầm qua các thời kỳ (kỳ 2)
Chiến tranh thế giới thứ hai cùng với chiến tranh lạnh chứng kiến sự phát triển các loại vũ khí chống ngầm có tầm bắn xa, chính xác và uy lực hơn. Nổi bật là súng cối và rocket chống ngầm.
Súng cối chống ngầm
Bom chìm chống ngầm ra đời năm 1915 đã khiến những chiếc tầu ngầm U-boat lặn sâu dưới nước không còn là một mục tiêu “bất khả xâm phạm”. Tuy vậy, những thành tích bom chìm làm được chưa thể khiến các sĩ quan hải quân Anh và Mỹ hài lòng, bởi nó bộc lộ quá nhiều khuyết điểm khiến cho giới quân sự phải nghĩ đến phương án hiệu quả hơn.

Trong suốt giai đoạn từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) cho đến lúc bắt đầu chiến tranh thế giới thứ hai (1939), cơn ác mộng tầu ngầm đã tạm rơi vào quên lãng khi các nước đang mải lao đao đối phó với khủng hoảng kinh tế. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, người Đức với chiến thuật tầu ngầm kinh điển của mình đã khiến Anh và Mỹ phải vắt óc tìm cách đối phó.

Tháng 11/1940, Charles Frederich Goodeve, khoa học gia dân sự làm việc cho Hải quân Anh đã dựa trên loại súng cối bắn đạn lớn hơn cỡ nòng bố trí trên tầu (vốn thiết kế với mục đích phòng không) để phát triển súng cối chống ngầm.

Sau màn trình diễn ấn tượng của hệ thống Hedgehog đầu tiên trên tầu HMS Osprey, thủ tướng Anh Winston Churchil và đô đốc Pound rất hài lòng và hệ thống Hedgehog chính thức sản xuất hàng loạt, trang bị cho tầu chiến của hải quân Hoàng gia Anh.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-10.jpg Charles Frederick Goodeve - Cha đẻ của súng cối chống ngầm Hedgehog. Hệ thống súng cối chống ngầm Hedgehog gồm 24 khẩu bắn đạn lớn hơn cỡ nòng, mỗi nòng cối được nạp sẵn một quả đạn chống ngầm cỡ 183 mm chứa 14 kg thuốc nổ TNT.

Khi hệ thống sonar (thường là loại ASDIC) phát hiện ra tầu ngầm đối phương; 24 quả đạn cối được phóng đồng loạt và sẽ rơi xuống biển, tạo thành vòng tròn đường kính 70 mét phía trên khu vực nghi có tầu ngầm với tầm bắn lên đến 230 - 250 mét.

Chính vì những chiếc ống chứa thuốc phóng còn lại sau khi phóng đạn lông nhím nên hệ thống này được đặt tên là Hedgehog, tiếng Anh có nghĩa là “Con nhím”. Những thủy thủ có kinh nghiệm có thể nạp đạn lại cho hệ thống chỉ trong ba phút là có thể bắn loạt thứ hai.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-03.jpg Hệ thống súng cối chống ngầm Hedgehog trên tầu chiến của Canada. So với các loại bom chìm, hệ thống súng cối chống ngầm thực sự là một cuộc cách mạng.

Đầu tiên, do đạn của hệ thống này phát hỏa theo cơ chế chạm nổ nên thủy thủ có thể bắn Hedgehog mà không cần phải tính toán độ sâu của tầu ngầm.

Thứ hai, bom chìm khi được sử dụng sẽ đồng thời phá hủy luôn hệ thống sonar phát tín hiệu cho dù có đánh trúng tầu ngầm hay không. Điều này sẽ tạo ra một khoảng thời gian “mù” lên đến 15 phút cho các tầu săn ngầm trước khi có thể thả xuống biển một hệ thống sonar khác, cho phép tầu ngầm dễ dàng bỏ chạy hoặc đánh trả. Những thủy thủ tầu ngầm U-boat có kinh nghiệm thậm chí có thể nhận biết được những biểu hiện trước khi thả bom chìm của tầu săn ngầm và tránh né hiệu quả bằng cách đổi hướng hoặc tăng tốc đột ngột.

Còn những quả đạn Hedgehog sẽ không phát nổ khi đánh trượt tầu ngầm, do đó sau loạt đạn thứ nhất, thiết bị sonar vẫn có thể theo dõi tầu ngầm và dẫn đường cho loạt đạn tiếp theo.

Ưu thế thứ ba của Hedgehog là khả năng hủy diệt của nó. Mặc dù đầu đạn chỉ chứa 14 kg thuốc nổ (rất nhỏ so với hàng trăm kg của bom chìm) nhưng nó vẫn có thể đánh hỏng tầu ngầm chỉ với quả đạn duy nhất do khoảng cách phát nổ quá gần. Nhờ những ưu thế của mình, ngay khi ra mắt Hedgehog đã mang lại thành tích chiến đấu đáng kinh ngạc. Xác suất tiêu diệt mục tiêu lớn nhất của nó lên đến 25% trong khi với loại bom chìm tốt nhất xác suất này cũng chỉ là 7%.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-02.jpg Đạn chạm nổ của Hedgehog mang rất nhiều ưu điểm khi so sánh với bom chìm truyền thống http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-01.jpg Một loạt đạn của Hedgehog tạo thành một vòng tròn đường kính lên tới 70 mét, đem lại xác suất tiêu diệt mục tiêu cao gấp hơn ba lần so với bom chìm. Nhờ việc phát minh ra thứ vũ khí hiệu quả này, Charles Goodeve đã được tặng thưởng huân chương Order of British Empire và trở thành trợ lý riêng của đô đốc Wake Walker.

Nối tiếp thành công của Hedgehog, các phiên bản tiếp theo của hệ thống này như MK.4 Squid phát triển năm 1944 gồm ba súng phóng sử dụng đầu đạn loại 90 kg; hệ thống MK NC10 Limbo sử dụng đạn 90 kg, có thể điều chỉnh được tầm bắn từ 300 - 1000 mét.

Dựa trên nguyên lý của Hedgehog, các hệ thống chống ngầm tương tự cũng được sử dụng trong hải quân Liên Xô từ cuối những năm 1940 như MBU-200 và MBU-600.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-11.jpg Súng cối chống ngầm Squid, phiên bản cải tiến hiện đại của Hedgehog.
Rocket chống ngầm

Dựa trên nguyên lý của Hedgehog, rocket chống ngầm đã ra đời sớm ngay sau đó, sử dụng động cơ tên lửa cho mỗi quả đạn thay vì phóng đi từ súng cối giúp vũ khí này có tầm bắn xa hơn và độ chính xác cao hơn.

Trong số các hệ thống rocket chống ngầm sớm nhất phải kể đến hệ thống Mousetrap (Bẫy chuột) của Mỹ được phát triển chỉ sau Hedgehog một năm, bao gồm từ bốn đến 8 quả đạn rocket khối lượng 29 kg với đầu đạn nặng 15 kg được bắn đi từ các ray phóng.

Tuy nhiên, tầm bắn hiệu quả của Mousetrap cũng chỉ trong khoảng 280 mét, không khá hơn là mấy so với hệ thống Hedgehog nguyên bản.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-09.jpg Mousetrap của hải quân Hoa Kỳ chính là hệ thống rocket chống ngầm đầu tiên trên thế giới.
Các phiên bản rocket chống ngầm sau thế chiến thứ hai được sử dụng rộng rãi trong hải quân Mỹ và các nước thuộc khối NATO có tên chung là ASROC (Anti Submarine ROCket).

Hệ thống này được phát triển từ những năm 1960 gồm các ống phóng rocket cỡ 422 mm có thể phóng nhiều loại rocket chống ngầm khác nhau, kể cả loại ngư lôi hoặc rocket mang đầu đạn hạt nhân 10 Kiloton W-44 với tầm bắn 22 km.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đây là vũ khí cơ bản để đối phó với lực lượng tầu ngầm chiến lược hùng hậu của hải quân Liên Xô.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-06.jpg Hệ thống ASROC trang bị trên hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk của Mỹ.
Sự phát triển rocket chống ngầm hiện đại không thể không kể đến các hệ thống RBU-2500, RBU-1000, RBU-6000 và RBU-12000 của hải quân Liên Xô.

Ra đời sớm nhất trong series này là hệ thống RBU-2500 (Smerch-1) được trang bị trên hộ tống hạm lớp Petya từ năm 1957. Hệ thống này gồm hai hàng, 16 ống phóng rocket, đạn được nạp bằng tay với tầm bắn hơn hẳn hệ thống Hedgehog nguyên bản, lên đến 2.500 mét.

Không những thế, với sonar chủ động Pegas 24 kHz, RBU-2500 có độ chính xác cao và là hệ thống chống ngầm cực kỳ hiệu quả trong thời đại của nó.

Hiện nay, tuy không còn được sản xuất nhưng hệ thống rocket chống ngầm RBU-2500 vẫn đang được sử dụng trong lực lượng hải quân một số nước như Ấn Độ, Syria và Việt Nam.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-05.jpg Rocket chống ngầm RBU-2500 trang bị trên tầu chiến lớp Petya-III.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-08.jpg Hộ vệ hạm lớp Petya đang bắn thử rocket chống ngầm RBU-2500.
Hệ thống RBU-1000 và RBU-6000 là những hệ thống được phát triển từ giữa thập niên 60 của thế kỷ trước (Số hiệu 1000, 6000 ở đây dựa trên tầm bắn của vũ khí tính bằng mét) hiện là loại rocket chống ngầm phổ biến nhất trong hải quân Nga hiện nay.

Đạn rocket cỡ 300 mm (RBU-1000) hay 213 mm (RBU-6000) được phóng đi có thể được điểm hỏa do va chạm hay xuống đến độ sâu nhất định. Sau khi bắn hết một loạt đạn từ bốn đến 12 rocket, đạn rocket được nạp lại hoàn toàn tự động nhờ cơ cấu nạp phía dưới boong tầu.

Những loại rocket chống ngầm này có thể tấn công được cả tàu ngầm ở độ sâu tới 450 mét. Hiện nay, phiên bản cải tiến của RBU-6000 là RPK-8 sử dụng đạn rocket 90R có đầu dò tự dẫn có khả năng tự động bám đuổi và tấn công tầu ngầm ở độ sâu tới 1000 mét với xác suất đánh trúng lên tới 80%. Đầu nổ lõm 19,5 kg của rocket 90R cho phép nó có khả năng đánh thủng cả hai lớp thân của những tầu ngầm hiện đại nhất.

Hiện tại hệ thống RBU-6000 được sử dụng rất rộng rãi ở các nước khối Vacsava cũ và một số nước khác như Algeria, Cuba, Indonesia và Việt Nam.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090909/KHCN-ASW2-07.jpg Rocket chống ngầm RBU-6000 được trang bị trên khu trục hạm lớp Neutrasimiy của Nga.
Xu thế hiện nay rocket chống ngầm được sử dụng là một trong những thành phần của các hệ thống chống ngầm và chống ngư lôi; trong đó phải kể đến rocket RBU-12000 được sử dụng trong hệ thống Udav-1 của Nga trang bị trên tầu sân bay Kuznetsov (http://www.baodatviet.vn/Home/KHCN/Kuznetsov-tau-san-bay-doc-nhat-cua-Nga/20095/42038.datviet) hoặc hệ thống -ASROC của hải quân Mỹ có khả năng chống cả tầu ngầm và ngư lôi với tầm bắn xa và xác suất bắn trúng cực kỳ cao.

Biển Mặn
14-09-2009, 11:32 AM
Cơ chế hoạt động của tàu ngầm

TÀU ngầm khi lặn xuống nước thì thông tin liên lạc ra sao? Khi lặn và di chuyển quan sát bằng gì? Có phải các bãi đá ngầm, độ nông sâu… được đánh dấu trên bản đồ không? Khi bắn tên lửa từ dưới nước lên không sợ chạm vào vật gì, chẳng hạn như cá?
Các tàu ngầm hạt nhân đều được trang bị một số cột có thể thụt vô và chứa các thiết bị khác nhau bao gồm các kính tiềm vọng quan sát và tấn công cùng với các cột radar và truyền thông. Một số các cột này xuyên qua thân tàu và cung cấp những đôi tai điện tử và mắt cho tàu ngầm đối với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, một anten nổi tháo ra khỏi cuộn từ một điểm phía sau của tháp hình côn để giúp tàu ngầm tiếp cận với các kênh truyền thông tần số thật thấp VLF (Very Low Frequency) và tần số cực kỳ thấp ELF (Extremely Low Frequency). Anten này kéo lê vài ngàn thước phía sau một khi tàu ngầm lặn và di chuyển ổn định.
Trang bị máy vô tuyến bao phủ một quang phổ dải tần số rộng từ siêu tần số UHF (Ultra-High Frequency), tần số cao HF (High Frequency), tần số thật thấp VLF và tần số cực kỳ thấp ELF.
Một phương pháp khác để liên lạc với bên ngoài là sử dụng một phao chứa máy phát một chiều phóng từ tàu ngầm SLOT (Submarine-Launched One-Way Transmitter) từ thiết bị cỡ nòng 76mm dành để phóng tín hiệu ở phía trước. Bước đầu là thu thông điệp như một báo cáo tiếp xúc vào máy thu của phao. Đoạn phao được phóng đi dưới nước và chờ từ 30 phút đến vài giờ và sau đó chuyển đến một kênh đặc biệt qua vệ tinh.
Khi lặn dưới nước, tàu ngầm sử dụng hệ thống thiết bị phát xạ siêu âm gọi là sonar (Sound Navigation And Ranging) cho phép biết khoảng cách và vị trí của một chiếc tàu khác.
Tàu hải dương học cung cấp cho các bản đồ quân sự những cơ sở dữ liệu như thời tiết ven biển, sức gió theo mùa, thủy triều, dòng nước xiết, dòng chảy nước ngọt, độ sâu, các ranh giới thành phần đáy biển, các bãi đá ngầm, độ dốc bãi biển, vị trí xác tàu chìm…
Khi tàu ngầm phóng tên lửa dưới nước, tiếng ồn ào phát ra bởi sự khởi động của tên lửa gây sửng sốt cho đàn cá đang bơi gần tàu và khiến chúng tản mác ngay lập tức.

Chiếc tàu ngầm đầu tiên trên thế giới

Nhìn những thế hệ tàu ngầm nguyên tử hiện nay, ít người biết được rằng việc chế tạo con tàu ngầm đầu tiên đã gặp phải không ít khó khăn, trở ngại. Cho đến nay, lịch sử ra đời của nó, gắn liền với cuộc vây hãm New York, chỉ vừa mới được được công bố.
Chiếc tàu ngầm chiến đấu đầu tiên trên thế giới ra đời ở Mỹ vào thế kỷ 18, trong thời gian nước này bị quân Anh chiếm đóng. Vào mùa hè năm 1775, Hải quân Anh phong tỏa rất chặt vịnh New York. Mọi hướng ra, vào cảng đều bị các tàu chiến Anh bịt kín. Đã vài lần, người Mỹ tìm cách phá vòng vây. Vào những đêm khuya, tối trời, quân Mỹ bí mật dùng một số tàu và xuồng máy loại nhỏ vượt biển nhưng không thành công. Những tàu, xuồng này hoặc bị bắn chìm hoặc bị quân Anh bắt sống. Việc tiếp tế, thông thương với bên ngoài của cảng New York lúc ấy đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn gấp bội. Đúng vào những lúc khó khăn nhất, kỹ sư hàng hải David Busnell - một học viên xuất sắc vừa tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Ielsk đã nảy ra ý tưởng chế tạo một chiếc tàu đặc biệt. Chiếc tàu này có thể đi ngầm dưới mặt nước, bí mật mang mìn tiếp cập và đánh chìm các tàu chiến to lớn của Hải quân Anh, giải phóng thành phố. Ý tưởng dù sao cũng chỉ là ý tưởng. Thực tế khi bắt tay vào thiết kế và chế tạo mới gặp nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn hơn nhiều.
Vào thời gian đó, khi khoa học-kỹ thuật công nghệ chưa phát triển thì việc chế tạo tàu ngầm đã gặp hàng loạt rắc rối lớn. Đầu tiên là phải làm sao chế tạo được các lớp vỏ tàu bằng thép dày, kín, chịu được áp lực cao. Kế đó là con tàu phải lặn xuống, nổi lên và bơi ngầm được dưới mặt nước biển. Rồi phải giải quyết sự cân bằng của con tàu khi vận hành dưới mặt nước, bảo đảm đủ dưỡng khí cho kíp chiến đấu, xác định đúng phương hướng khi di chuyển, phát hiện được mục tiêu, xác định chính xác vị trí và mang mìn gắn vào mục tiêu, hẹn giờ mìn nổ và rút lui bí mật và an toàn trước khi mìn phát nổ.
Công việc chế tạo chiếc tàu ngầm chiến đấu đầu tiên tiến hành rất bí mật và được bảo vệ hết sức nghiêm nghặt tại căn cứ Seibruk, bang Connecticut. Dù gặp phải nhiều khó khăn chồng chất nhưng trong một thời gian ngắn, Busnell và người em trai của mình cũng là một kỹ sư hàng hải đã xuất sắc giải quyết thành công hàng loạt vấn đề kỹ thuật hóc búa.
Đến mùa xuân năm 1776, chiếc tàu ngầm chiến đấu đầu tiên trên thế giới ra đời. Nó có hình …quả trứng. Cao: 2 mét. Đường kính thân rộng: 0,9 mét. Kíp chiến đấu chỉ có đúng …1 người. Nhân viên duy nhất kiêm nhiệm tất cả các nhiệm vụ, chức năng: Thuyền trưởng, lái tàu, hoa tiêu, thợ máy và thủy thủ chiến đấu.

Thế nhưng cũng phải mất thêm vài lần thử nghiệm và hoàn thiện nữa, chiếc tàu ngầm này mới được coi là có thể sử dụng và thực thi nhiệm vụ chiến đấu. Chiếc tầu ngầm được bí mật vận chuyển bằng đường bộ từ bang Connecticut đến New York.

Trận đánh đầu tiên trên của tàu ngầm.

Vào đêm tối ngày 6 tháng 9 năm 1776, Trung sỹ Hải quân Mỹ Izra Lee- một lính thủy can đảm và dũng cảm, quê ở bang Connecticut, đã nhận một nhiệm vụ hết sức đặc biệt: Điều khiển con tàu ngầm đầu tiên mang mìn, tiến công các tàu chiến của Hải quân Anh đang neo đậu ngoài khơi vịnh New York. Lee đã điều khiển con tàu ngầm bí mật tiếp cận được mục tiêu là một chiếc tàu chiến Anh to lớn, kềnh càng. Thế nhưng, anh đã không thành công trong hành động tiếp theo: Lớp vỏ thép đáy tàu quá cứng và dày đã ngăn trở, không cho anh thực hiện việc khoan thủng để gắn mìn. Mặc dù vậy, Lee không hề bối rối và nản lòng. Sau vài lần nổi lên để lấy thêm dưỡng khí, anh lại cho tàu ngầm lặn xuống để tiếp tục…khoan tàu chiến Anh!. Sau nhiều lần trồi lên, lặn xuống và hoạt động quá mức, Lee mệt mỏi và kiệt sức đến nỗi không còn chú ý tới việc giữ gìn bí mật nữa. Chiếc tàu ngầm của Lee trồi lên, lộ hẳn 1/3, ngay cạnh tàu chiến Anh. Trời sáng dần. Lính gác trên tàu phát hiện thấy. Mặc dù chưa hiểu là vật gì nhưng tàu chiến Anh vẫn bắn súng và báo động ầm ĩ. Để tránh nguy hiểm, Lee buộc phải bấm mìn hẹn giờ và đẩy khối thuốc nổ nặng 113 kg về phía tàu chiến Anh rồi nhằm phía bờ, phóng hết tốc lực. Khi Lee đã rời tàu Anh một đoạn khá xa và an toàn thì khối mìn mới phát nổ. Sau ánh chớp chói lòa là một tiếng nổ đinh tai, nhức óc rền vang mặt biển. Sóng lớn cuồn cuộn bốc lên ngay cạnh chiếc tàu chiến. Lính thủy Anh gặp phải một phen kinh hoàng.
Tuy chưa bị đánh chìm nhưng các tàu chiến Anh cũng vội cấp tốc rời xa khu vực nguy hiểm. Vòng vây trên vịnh New York lập tức bị phá vỡ.
( khoahoc.com.vn - mofa.gov.vn)

phitruongyeunuoc
14-09-2009, 11:33 AM
hay quá...VN mà kiếm dc thêm ít con nữa thì ngon...mới có 8 con chưa đủ...hjhj