Biển Mặn
14-09-2009, 11:21 AM
Con tàu phá băng mang tên Lenin hoạt động từ năm 1959 và trở thành tàu dân sự đầu tên trên thế giới chạy bằng năng lượng nguyên tử. Tàu hoạt động bền bỉ suốt 30 năm thì chấm dứt sứ mệnh năm 1989 và được đưa vào bảo tàng
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/1_resize.jpg
Tàu phá băng Lenin hạ thủy ngày 5/9/1959 tại Leningrad, nay là thành phố St. Petersburg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/2_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/3_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/4_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/5_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/6_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/7_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/10_resize.jpg
Tàu phá băng hạt nhân Lenin tại xưởng đóng tàu năm 2005. Nó đang được lắp đặt các thiết bị mới để chuyển vào Bảo tàng lịch sử hàng hải Biển Bắc và Bắc Băng Dương của Nga
Tàu ngầm lớp Kilo - sát thủ vô hình dưới biển
Tàu ngầm Kilo bắt đầu phục vụ trong quân đội Nga từ đầu những năm 1980. Nó được thiết kế bởi Cục thiết kế hải quân Rubin, St Peterburg. Từ đó đến nay, tùy thuộc vào tính năng nâng cấp, tàu ngầm Kilo được chia làm hai loại là kiểu 877EKM và kiểu 636.
Thời gian đầu, tàu ngầm lớp Kilo được đóng tại nhà máy đóng tàu Komsomolsk nhưng hiện nay nó chủ yếu được đóng tại nhà máy Admiralty ở St Peterburg.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo-DNSC8703781_JPG.jpg Tàu ngầm lớp Kilo, nhìn từ trên xuống.
Tàu ngầm kiểu 636 được thiết kế cho các mục tiêu chống lại cách chiến hạm cũng như các tàu ngầm khác, nó cũng có thể được dùng cho các mục đích trinh sát và tuần tiễu. Tàu ngầm kiểu 636 được các chuyên gia đánh giá là một trong những chiếc tàu ngầm diesel ít phát sinh tiếng ồn nhất. Nó có thể phát hiện ra một tàu ngầm khác ở khoảng cách xa gấp ba đến bốn lần trước khi bị phát hiện. Do đó, nó được ví là sát thủ vô hình dưới biển.
Chiếc tàu ngầm này được thiết kế thành 6 khoang kín nước được ngăn cách với nhau bằng các vách ngăn nằm ngang trong một thân tàu hai lớp. Thiết kế này cho phép tăng khả năng sống sót của tàu lên rất nhiều, nó vẫn có khả năng hoạt động bình thường khi bị bắn thủng một vài khoang.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/Kilo3.jpg Phía trong buồng lái của tàu ngầm lớp Kilo.
Thiết kế của kiểu 636 có rất nhiều điểm khác biệt với kiểu 877EKM cũ hơn như thân rộng hơn, động cơ công suất lớn hơn, tốc độ chân vịt cao hơn, giảm khả năng bị phát hiện hơn. Chiếc tàu ngầm này có khả năng lặn đến độ sâu tối đa là 300 mét, đạt tốc độ tối đa 20,3 km mỗi giờ khi nổi và 37 km mỗi giờ khi lặn. Tầm hoạt động của Kilo đạt tới 12.000 km khi chạy có ống thông hơi ở tốc độ 13 km mỗi giờ hay 640 km nếu lặn sâu với tốc độ 5,5 km mỗi giờ.
Tàu Kilo được trang bị hệ thống kiểm soát và chỉ huy đa nhiệm rất hiệu quả. Trung tâm của hệ thống là một máy tính tốc độ cao có khả năng xử lý các thông tin và hiển thị một cách trực quan, có khả năng ngay lập tức đưa ra các thống số như phần tử bắn, kiểm soát vũ khí cùng các hướng dẫn về điều khiển khác.
Hệ thống vũ khí
Vũ khí chính của tàu là 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm ở phía trước mũi tàu. Tàu có thể mang theo 18 ngư lôi bao gồm 6 quả trong ống phóng và 12 quả ở cơ cấu nạp. Ngoài ra, ống phóng ngư lôi có thể được sử dụng để rải mìn với cơ số lên tới 24 quả.
Ngư lôi được sử dụng trong Kilo là loại được điều khiển bằng máy tính, có xác suất bắn trúng mục tiêu rất cao. Với hệ thống kiểm soát bắn hiện đại, chỉ mất hai phút là Kilo có thể phóng lượt thứ nhất và sau năm phút thì có thể phóng lượt ngư lôi thứ hai.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo1.jpg Hệ thống vũ khí của tàu ngầm lớp Kilo gồm có ngư lôi, tên lửa và mìn.
Một vũ khí khác có thể sử dụng trên tàu ngầm lớp Kilo là tên lửa Novator Club-S ( NATO gọi loại tên lửa này là SS-N-27 Sizzler). Club-S có thể dễ dàng tiêu diệt các tàu chiến khác ở khoảng cách lên tới 220 km bằng đầu nổ 450 kg của nó.
Ngoài ra, Kilo cũng được trang bị bệ phóng tên lửa phòng không cho 8 tên lửa Strela 3 hoặc Igla. Các loại tên lửa này được thiết kế bởi cục thiết kế Fakel đặt tại Kaliningrad. Tên lửa phòng không Strela-3 (NATO gọi là SA-N-8 Gremlin) sử dụng đầu dò hồng ngoại làm lạnh bằng Nitơ lỏng. Nó có tầm bắn xa nhất là 6 km và đầu đạn nặng hai kg.
Igla (loại lửa mà NATO gọi là SA-N-10 Gimlet) là loại tên lửa tầm nhiệt nhưng nặng hơn Strela-3. Nó có khả năng tấn công mục tiêu bay ở khoảng cách năm km với tốc độ tối đa là 1,65 M.
Hệ thống điều khiển và động lực
Cảm biến được lắp đặt trên Kilo là loại sonar MGK-400EM, giúp cho tàu có khả năng phát hiện được các sóng âm mà tàu nổi cũng như các loại tàu ngầm khác phát ra từ khoảng cách rất xa. Bên cạnh đó là các loại thiết bị đối kháng điện tử (ESM), cảnh báo radar và các thiết bị định vị tìm đường.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo2.jpg Một trong những buồng vận hành tàu ngầm Kilo.
Kilo được trang bị hai động cơ diesel cực mạnh và chân vịt 7 cánh giúp giảm thiểu tối đa tiếng ồn. Hai bộ pin nhiên liệu, mỗi bộ chứa 120 pin chứa trong khoang thứ nhất và thứ 3 trên tàu cho phép nó có thời gian hoạt động tối đa lên tới 45 ngày.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/may%20moc%20phia%20trong%20kilo.jpg Điều khiển hệ thống động lực của tàu ngầm kilo.
Hiện nay, tàu ngầm lớp Kilo được sử dụng bởi hải quân các nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và An giê ri. Ngoài ra, một số nước cũng đang đặt mua tàu ngầm Kilo để trang bị cho hải quân của mình như Việt Nam và Indonesia. An Thái(baodatviet)
Top 10 tàu ngầm thế kỷ 20
Được dùng để tìm diệt kẻ thù dưới đáy biển hay chuyên chở tên lửa hạt nhân, tàu ngầm luôn đóng vai trò quan trọng trong lực lượng quân sự của các cường quốc suốt thể kỷ 20.
1. Tàu ngầm U loại VII
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/1-in.jpg Tàu ngầm U loại VII được mệnh danh là "dã thú" dưới nước.
Là lớp tàu ngầm nổi tiếng nhất trong lịch sử, được mệnh danh là “dã thú” dưới nước, tàu ngầm U loại VII con át chủ bài của lực lượng tàu ngầm Đức trong chiến tranh Thế giới thứ II. Tàu có lượng giãn nước 900 tấn, trang bị 5 ống phóng ngư lôi và có kích thước nhỏ hơn các tàu khác trong hạm đội Mỹ nhưng nó luôn giành ưu thế trong các cuộc đụng độ ở Đại Tây Dương trong thế chiến II. Tuy nhiên, tổn thất của loại tàu này không phải là nhỏ, trong số 1.100 tàu được sản xuất thì có hơn 800 tàu đã bị hư hỏng, hơn 75% thủy thủ tử vong. 2. Tàu ngầm lớp Seawolf
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/2-in.jpg Seawolf là tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử.
Tàu ngầm lớp Seawolf (sói biển) có giá 4 tỷ USD thuộc loại tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử. Chúng được thiết kế để trở thành chiến binh bất khả chiến bại trên đại dương. Loại tàu này có nhiệm vụ săn đuổi và phá hủy các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Liên Xô. Tuy nhiên, vì chi phí sản xuất quá cao nên Seawolf đã bị đình chỉ sản xuất sau khi xuất xưởng được... ba chiếc tàu. Một trong số đó là tàu USS Jimmy Carter, sau này được chuyển thành tàu ngầm do thám. 3.Tàu ngầm lớp Gato
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/3-in.jpg Tàu ngầm lớp Gato là "cơn ác mộng" của Nhật Bản.
Các tàu ngầm Mỹ lớp Gato là “cơn ác mộng” của các tàu Nhật trong chiến tranh Thế giới thứ II. Nhanh nhẹn, được trang bị vũ khí tốt, hiện đại, loại tàu ngầm này được sử dụng triệt để trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Gato có lượng giãn nước 1.500 tấn, trang bị 6 ống phóng ngư lôi phía trước và bốn ống phóng ngư lôi phía đuôi tàu. Chúng có thể chạy trên mặt nước 20 hải lý và chạy ngầm 9 hải lý một giờ. 4. Tàu ngầm lớp T
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/4-in.jpg Tàu ngầm lớp T có thể mang tới 10 ống phóng ngư lôi.
Được biết đến với tên gọi tàu ngầm lớp Triton, loại tàu này là xương sống của lực lượng hải quân Anh trong suốt chiến tranh Thế giới thứ II. Có lượng giãn nước 1.500 tấn, tàu ngầm lớp T mang được 10 ống phóng ngư lôi. Tuy nhiên, chúng đều được trang bị ở phía trước, chứ không giống các tàu ngầm khác phóng ngư lôi ở cả phía trước và phía đuôi tàu. 5. Tàu ngầm USS Nautilus
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/5-in.jpg Nautilus là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới.
USS Nautilus là tàu ngầm năng lượng hạt nhân đầu tiên của thế giới có thể hoạt động lâu dưới nước. Trước đó, các loại tàu ngầm đều chạy bằng động cơ diesel nên khi chạy dưới chúng phải sử dụng năng lượng dự trữ rất hạn chế. Năm 1955, trong chuyến “công du” đầu tiên, Nautilus đã đi quãng đường 1.100 hải lý, đoạn đường dài nhất trong lịch sử tàu ngầm thời đó. 6. Tàu ngầm X-Craft
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/6-in.jpg Tàu ngầm X-Craft được coi là "em út" về kích cỡ trong gia đình tàu ngầm.
Tàu ngầm X-craft của Hải quân Anh được sử dụng vào các nhiệm vụ tấn công đặc biệt tại các khu vực hải cảng Nauy, nhờ kích thước khiêm tốn của mình. Vào năm 1943, loại tàu ngầm nhỏ bé có trọng lượng 27 tấn này được các tàu lớn hơn kéo tới gần cảng , sau khi được tàu mẹ thả ra nó đã áp sát mục tiêu đặt thuốc nổ làm hư hỏng nặng ba chiếc Tirpitz của hải quân Đức rồi nhẹ nhàng quay trở về tàu mẹ.
7. Tàu ngầm lớp Sentoku
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/7-in.jpg Tàu ngầm lớp Sentoku vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay
Việc thiết kế một phương tiện chiến tranh vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay được cho là việc kết hợp giữa một con các và một con voi. Dù vậy, các nhà đóng tàu Nhật Bản vẫn quyết tâm thử nghiệm mô hình đó. Tàu ngầm I-400 lớp Sentoku của Hải quân Hoàng gia Nhật được sử dụng trong chiến tranh Thế giới thứ II có trọng lượng 6.500 tấn, lớn gấp ba lần kích thước của tàu ngầm lớp Gato của Mỹ có trọng lượng tương đương tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân lớp George Washington đầu những năm 1960. Tàu ngầm Sentoku có thể mang theo các thủy phi cơ M6A Seiran. Những chiếc máy bay này xuất kích nhờ máy phóng máy bay, sau khi trở về tàu nó sẽ lặn xuống nước cùng với tàu mẹ.
8. Tàu ngầm lớp Typhoon
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/8-in.jpg Tàu ngầm lớp Typhoon là tàu ngầm lớn nhất thế giới.
Tàu ngầm lớp Typhoon của Liên Xô là tàu ngầm lớn nhất trên thế giới, có trọng lượng 48.000 tấn (trong khi tàu ngầm tên lửa đạn đạo lớp Ohio của Mỹ chỉ nặng chưa đến 20.000 tấn còn tàu khu trục lớp Arleigh Burke chỉ nặng 9.000 tấn). Mặc dù được xem là một “người khổng lồ”, nhưng tàu Typhoons lại “yên lặng” đến ngạc nhiên và rất khó để phát hiện. Chúng mang 20 tên lửa đạn đạo SS-N-20 (mà NATO gọi là “cá tầm”), trang bị nhiều đầu đạn hạt nhân cũng như ngư lôi và tên lửa chống tàu chiến khác. 9. Tàu ngầmU loại XXI
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/9-in.jpg Tàu ngầm U loại XXI thực sự là một chiến binh nhanh nhẹn.
Có lẽ quân đồng minh phải thở phào nhẹ nhõm khi tàu ngầm U loại XXI ra đời muộn. Nếu nó được triển khai trước khi chiến tranh kết thúc kết cục của cuộc chiến Đai Tây Dương có thể bị đảo ngược. Tàu ngầm loại U XXI có rất nhiều tính năng vượt trội vào thời đó, bao gồm bộ dự trữ năng lượng dung lượng lớn có thể hoạt động liên tục vài ngày dưới nước. Ngoài ra, chiếc tàu còn có lớp vỏ được thiết kế kiểu dáng khí động học hợp lý và một ống thông hơi giúp tàu có thể nạp nhiên liệu dưới nước vì vậy, nó có thể di chuyển với tốc độ 17 hải lý mỗi giờ, tốc độ khiến các tàu chiến khác phải “hít khói”. 10. Tàu ngầm lớp George Washingto
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/10-in.jpg Tàu ngầm lớp George Washington thực sự là lực lượng răn đe hạt nhân "đáng gờm".
Ẩn dưới làn nước và rất khó phát hiện, tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) thực sự là “bức tường thành răn đe hạt nhân” vững chắc. Tàu ngầm SSBN đầu tiên trên thế giới là chiếc USS George Washington, đi vào hoạt động năm 1959. Các loại tàu ngầm của Liên Xô trước đó cũng mang tên lửa đạn đạo vũ trang hạt nhân nhưng chúng vẫn sử dụng năng lượng diesel với thời gian hoạt động hạn chế. Động cơ chạy nhiên liệu hạt nhân của George Washington giúp loại tàu này hoạt động dưới nước cả tháng trời. Mỗi một tàu lớp George Washington mang tới 16 tên lửa Polaris. Hải Anh (tổng hợp)
Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 1)
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 2)
Cập nhật lúc : 8:29 AM, 22/06/2009
Nếu như Hải quân Mỹ nổi tiếng với lực lượng hàng không mẫu hạm hùng hậu thì Hải quân Nga (trước đây là Hải quân Liên Xô) khiến thế giới kính nể bởi lực lượng tầu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược (SSBN).
1. Project 949 Antey (Định danh NATO: Oscar II)
Đây là loại tầu ngầm lớn nhất của Nga được sản xuất với mục đích chống lại các tầu chiến khác. Nó có kích thước 154m chiều dài, 18,2m rộng và 9m chiều cao với lượng giãn nước lên tới 24.000 tấn khi lặn.
Phù hợp với nhiệm vụ, Oscar II được trang bị vũ khí hiện đại nhất mà Nga sở hữu, với kỳ vọng chống lại cả hàng không mẫu hạm cùng nhóm tầu hộ vệ của nó.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-1.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm lớp Oscar II đang phóng tên lửa.
Vũ khí chính của Oscar II là 24 tên lửa P-700 Granit có khả năng phóng từ các ống phóng được đặt nghiêng 40 độ ngay cả khi tầu đang lặn. Đây là cũng loại tên lửa chống hạm được sử dụng trên soái hạm hạm đội biển Bắc là chiến hạm Piotr Velikiy. Tên lửa P-700 Granit có tầm bắn 550km và mang đầu nổ xuyên phá nặng 750kg có khả năng làm tê liệt một chiếc hàng không mẫu hạm chỉ bằng một phát bắn.
Ngoài ra, giống các tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Sierra hay Akula, Oscar II cũng được trang bị 8 ống phóng ngư lôi hai loại 533mm và 650mm, có thể phóng ngư lôi hoặc tên lửa chống hạm tầm ngắn như RPK-2 Viyuga hay RPK-7 Vorobei với tầm bắn từ 45km đến 120km.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-2.jpg Một tầu ngầm lớp Oscar II đang neo đậu tại cảng.
Để hỗ trợ cho các loại vũ khí mang theo, Oscar II sử dụng radar Snoop Pair surface search phát hiện mục tiêu và dẫn đường tên lửa; sonar Rim hat để định vị và phát hiện tầu ngầm cùng và các thiết bị thông tin liên lạc, đối kháng điện tử khác.
Có thân hình to lớn, Oscar II được lắp hai lò phản ứng hạt nhân OK-650b cùng hai chân vịt loại 7 cánh. Hai lò phản ứng với tổng công suất 380 MW cho phép Oscar II di chuyển với vận tốc 29,6 km mỗi giờ khi nổi và 59 km mỗi giờ khi lặn.
Là loại tầu ngầm nguyên tử tấn công thế hệ thứ ba, Oscar II được viện thiết kế Rubin thiết kế vào những năm 1980. Rubin là một viện thiết kế rất uy tín trong lĩnh vực chế tạo tầu ngầm nguyên tử với các tác phẩm thành công là các loại tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Echo I và Echo II. Hiện nay, chỉ còn 8 chiếc Oscar II đang phục vụ trong Hải quân Nga, những chiếc tầu này được đặt tên theo tên các thành phố lớn của nước này.
Vết đen lớn nhất trong lịch sử hoạt động của tầu ngầm lớp Oscar II là vụ tai nạn của tầu ngầm K-141 Kursk vào ngày 12/8/2000. Kursk là chiếc tầu ngầm thứ 10 thuộc lớp Oscar II được hạ thủy năm 1994 tại Severodvinsk.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-3.jpg Phần còn lại của tầu ngầm Kursk bị tai nạn sau khi được trục vớt. Chiếc tầu này từng có thành tích theo dõi, giám sát thành công hạm đội 6 của Mỹ tại biển Địa Trung Hải trong chiến tranh Nam Tư năm 1997. Trong cuộc tập trận ngày 12/8/2000, khi phóng một ngư lôi giả về phía tầu Piotr Velikiy, hydro peroxit từ động cơ của ngư lôi đã phát nổ khiến Kursk bị chìm sâu dưới 108m nước, cướp đi sinh mạng của 118 thủy thủ.
Năm 1955, một tai nạn tương tự từng xảy ra khiến tầu ngầm HMS Sidon của hải quân Hoàng gia Anh bị chìm khiến 13 người thiệt mạng.
2. Project 667 BDR Kalma (Định danh NATO: Delta III)
Tầu ngầm nguyên tử chiến lược lớp Delta III cũng là một sản phẩm của Viện thiết kế Rubin. Vũ khí chính của nó là 16 tên lửa hành trình liên lục địa ICBM loại R-29R Vysota. Đây là loại tên lửa có khả năng mang theo 3 đầu đạn hạt nhân loại 550 kg và có tầm bắn 6.500 km. Ngoài ra, Delta III có 4 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm để tự vệ.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-4.jpg Tầu ngầm lớp Delta III đang di chuyển.
Về kích cỡ, Delta III có kích thước tương đương với lớp Oscar-II, dài 155m, rộng 11,7m, cao 8,7m và có lượng giãn nước 10.600 tấn khi lặn. Thiết kế không nhằm mục đích chiến đấu trực tiếp nên Delta III chỉ trang bị hai lò phản ứng hạt nhân công suất 90 MW, cho phép nó di chuyển với tốc độ tối đa 26 km mỗi giờ khi nổi và 44,5 km mỗi giờ khi lặn. Thời gian hoạt động liên tục của Delta-III là 80 ngày với thủy thủ đoàn 130 người.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-5.jpg Hình vẽ mô tả Delta III đang phóng tên lửa.
Được đưa vào phục vụ từ năm 1972, Delta III được đóng chủ yếu ở căn cứ quân sự Kamchatka, Viễn Đông nước Nga và khá gần với Hoa Kỳ. Khi Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược START-1 được ký năm 1991, 13 chiếc Delta III buộc phải ngừng hoạt động và tháo dỡ theo nội dung hiệp ước, trong đó 6 chiếc được tháo dỡ bởi các chuyên gia Mỹ. Tính đến tháng 7/2008, 6 chiếc Delta III phục vụ trong Hải quân Nga nhưng trong đó hai chiếc đã sẵn sàng ngừng hoạt động chờ tháo dỡ.
3. Project 667 BDRM Delfin (Định danh NATO: Delta IV)
Delta IV là phiên bản hiện đại hóa của tầu ngầm nguyên tử lớp Delta III. Phần lớn thiết kế của Delta IV thừa kế đặc điểm tối ưu của Delta III, ngoại trừ một số cải tiến về vật liệu chế tạo, kích thước, thiết bị điện tử và vũ khí. Delta IV được thiết kế lớn hơn một chút so với Delta III: nặng hơn 1.200 tấn và dài hơn 12m.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-6.jpg Tầu ngầm lớp Delta IV.
Loại tên lửa đạn đạo sử dụng của Delta IV là R-29RM Shtil, có khả năng mang bốn đầu đạn hạt nhân 100 kiloton với tầm bắn 8.300 km để thay thế cho loại R-29R sử dụng trên Delta III chỉ có khả năng mang ba đầu đạn với tầm bắn 6.500 km. Một cải tiến nữa của Delta IV so với Delta III là ống phóng của Delta IV được thiết kế bắn được tất cả các loại ngư lôi hiện đại của quân đội Nga.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-7.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm Delta IV đang phóng tên lửa.
Kể từ khi hạ thủy chiếc đầu tiên tháng 12/1985, có 13 chiếc tầu ngầm lớp Delta-IV được sản xuất và hiện còn 6 chiếc đang phục vụ trong Hải quân Nga. Cũng theo hiệp định START-1 năm 1991, 7 chiếc Delta IV cũng bị tháo dỡ trong nỗ lực giảm bớt kho vũ khí chiến lược của nước Nga.
4. Project 941 Akula (Định danh NATO: Typhoon)
Những chiếc tầu ngầm Typhoon âm thầm di chuyển dưới biển Đại Tây Dương là một nỗi ám ảnh cho nước Mỹ suốt thời kỳ chiến tranh lạnh. Mỗi chiếc Typhoon có thể mang theo tới 20 tên lửa đạn đạo chiến lược R-39M, có khả năng phóng đi 200 đầu đạn hạt nhân tới các mục tiêu cách xa 10.000km.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-8.jpg Phía trên boong của một chiếc Typhoon đang nổi, rộng như một sân bóng.
Typhoon còn là loại tầu ngầm lớn nhất thế giới từ trước đến nay với kích thước khổng lồ: Dài 174m; rộng 23,3m; cao 11,5m; có lượng giãn nước lúc nổi 24.500 tấn và lúc chìm là 48.000 tấn, gấp bốn lần lượng giãn nước của một chiếc tầu ngầm lớp Delta III.
Hai lò phản ứng hạt nhân cực lớn công suất 190MW cho phép Typhoon có khả năng di chuyển với tốc độ 41 km mỗi giờ khi nổi và 50 km mỗi giờ khi lặn, nhanh một cách đáng ngạc nhiên so với các tầu ngầm nguyên tử kích cỡ nhỏ hơn của Liên Xô trước nó. Một chiếc Typhoon có khả năng hoạt động liên tục trong bốn tháng với 150 thủy thủ đoàn.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-9.jpg So sánh kích cỡ của tầu ngầm Typhoon với các loại tầu khác. Từ trên xuống dưới: Hàng không mẫu hạm lớp Nimitz; hàng không mẫu hạm Kuznetsov (http://www.baodatviet.vn/Home/Kuznetsov-tau-san-bay-doc-nhat-cua-Nga/20095/42038.datviet); tầu ngầm diesel lớp Kilo (http://www.baodatviet.vn/Home/Tau-ngam-lop-Kilo--sat-thu-vo-hinh-duoi-bien/20095/41537.datviet) và cuối cùng là Typhoon.
Mặc dù là tầu ngầm nguyên tử chiến lược phóng tên lửa đạn đạo, khả năng đụng trận của Typhoon là rất thấp nhưng nó vẫn được trang bị đầy đủ vũ khí như bất cứ một tầu ngầm tấn công nào với 4 ống phóng ngư lôi kích cỡ 533mm, 2 ống 650 mm có khả năng phóng ngư lôi, mìn, tên lửa chống hạm tầm ngắn và một hệ thống tên lửa phòng không 9K38 SAM.
Typhoon cũng không thoát khỏi danh sách bị “xẻ thịt” theo Hiệp định START-1. Theo Hiệp định trên, có 5 chiếc Typhoon phải ngừng hoạt động và bị tháo dỡ.
Hiện nay, Hải quân Nga còn vận hành ba chiếc tầu ngầm nguyên tử lớp Typhoon là TK-17 Arkhangelsk, TK-20 Severstal và TK-208 Dmitri Donskoi. Những chiếc tầu ngầm này đều đã được hiện đại hóa để có khả năng phóng các loại tên lửa hạt nhân chiến lược mới nhất của Nga như Sineva và Bulava.
5. Project 935 Borei
Tầu ngầm nguyên tử mang tên Yuri Dolgoruky là chiếc duy nhất thuộc lớp Borei, cũng là chiếc tầu ngầm nguyên tử duy nhất của Nga được đóng sau khi Liên Xô tan rã. Chiếc Yuri Dolgoruky được đóng từ năm 1996 và hạ thủy ngày 12/2/2008. Hai chiếc khác thuộc lớp Borei đang được đóng là Alexander Nevsky và Vladimir Monomakh, dự kiến hoàn thành vào năm 2011 và 2013.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-10.jpg Tầu ngầm nguyên tử lớp Borei.
Mặc dù rất ít thông tin về tầu ngầm lớp Borei được công bố, nhưng các chuyên gia cho rằng đây là một tầu ngầm được thiết kế hoàn toàn mới, ưu việt hơn mọi loại tầu ngầm trên thế giới đang vận hành, điển hình là ở khả năng di chuyển hầu như không bị phát hiện bởi radar.
Đây là chiếc tầu ngầm đầu tiên của Nga sử dụng động cơ bơm đẩy nước ( pump-jet) để di chuyển thay cho các chân vịt bảy cánh thường thấy ở các loại tầu ngầm trước đó. Không những thế, ống phụt đẩy nước của Borei còn có thể xoay theo nhiều hướng, khiến cách di chuyển của nó cực kỳ linh hoạt.
Có chiều dài gần bằng Typhoon, Borei chỉ có lượng choán nước bằng một nửa chiếc kia. Do đó, nó chỉ có thể mang theo 16 tên lửa Bulava thay vì 20.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-11.jpg Lễ hạ thủy tầu ngầm Yuri Dolgoruky lớp Borei ngày 13/2/2008.
Một lò phản ứng hạt nhân trang bị trên tầu cho phép Borei đạt được tốc độ 46 km mỗi giờ khi lặn. Ngoài các tên lửa hạt nhân, Borei có thể sử dụng được các loại ngư lôi và tên lửa chống hạm tầm ngắn và tầm trung khác phóng từ 6 ống phóng cỡ 533mm.
Dự án đóng chiếc Yuri Dolgoruky tiêu tốn tới 890 triệu USD. Đây là con số lớn đối với nền kinh tế đang phục hồi của nước Nga, do đó, việc hạ thủy con tầu này đã bị trì hoãn 6 năm so với dự kiến.
Trong tương lai, Nga dự định đóng tổng cộng 12 chiếc tầu ngầm thuộc lớp Borei để thay thế cho các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược cũ trong kho vũ khí của mình, phần nữa, dần dần khôi phục vị trí siêu cường đã đánh mất, cân bằng với Mỹ và Trung Quốc.
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/1_resize.jpg
Tàu phá băng Lenin hạ thủy ngày 5/9/1959 tại Leningrad, nay là thành phố St. Petersburg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/2_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/3_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/4_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/5_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/6_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/7_resize.jpg
http://i509.photobucket.com/albums/s336/khacviet_kiva/10_resize.jpg
Tàu phá băng hạt nhân Lenin tại xưởng đóng tàu năm 2005. Nó đang được lắp đặt các thiết bị mới để chuyển vào Bảo tàng lịch sử hàng hải Biển Bắc và Bắc Băng Dương của Nga
Tàu ngầm lớp Kilo - sát thủ vô hình dưới biển
Tàu ngầm Kilo bắt đầu phục vụ trong quân đội Nga từ đầu những năm 1980. Nó được thiết kế bởi Cục thiết kế hải quân Rubin, St Peterburg. Từ đó đến nay, tùy thuộc vào tính năng nâng cấp, tàu ngầm Kilo được chia làm hai loại là kiểu 877EKM và kiểu 636.
Thời gian đầu, tàu ngầm lớp Kilo được đóng tại nhà máy đóng tàu Komsomolsk nhưng hiện nay nó chủ yếu được đóng tại nhà máy Admiralty ở St Peterburg.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo-DNSC8703781_JPG.jpg Tàu ngầm lớp Kilo, nhìn từ trên xuống.
Tàu ngầm kiểu 636 được thiết kế cho các mục tiêu chống lại cách chiến hạm cũng như các tàu ngầm khác, nó cũng có thể được dùng cho các mục đích trinh sát và tuần tiễu. Tàu ngầm kiểu 636 được các chuyên gia đánh giá là một trong những chiếc tàu ngầm diesel ít phát sinh tiếng ồn nhất. Nó có thể phát hiện ra một tàu ngầm khác ở khoảng cách xa gấp ba đến bốn lần trước khi bị phát hiện. Do đó, nó được ví là sát thủ vô hình dưới biển.
Chiếc tàu ngầm này được thiết kế thành 6 khoang kín nước được ngăn cách với nhau bằng các vách ngăn nằm ngang trong một thân tàu hai lớp. Thiết kế này cho phép tăng khả năng sống sót của tàu lên rất nhiều, nó vẫn có khả năng hoạt động bình thường khi bị bắn thủng một vài khoang.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/Kilo3.jpg Phía trong buồng lái của tàu ngầm lớp Kilo.
Thiết kế của kiểu 636 có rất nhiều điểm khác biệt với kiểu 877EKM cũ hơn như thân rộng hơn, động cơ công suất lớn hơn, tốc độ chân vịt cao hơn, giảm khả năng bị phát hiện hơn. Chiếc tàu ngầm này có khả năng lặn đến độ sâu tối đa là 300 mét, đạt tốc độ tối đa 20,3 km mỗi giờ khi nổi và 37 km mỗi giờ khi lặn. Tầm hoạt động của Kilo đạt tới 12.000 km khi chạy có ống thông hơi ở tốc độ 13 km mỗi giờ hay 640 km nếu lặn sâu với tốc độ 5,5 km mỗi giờ.
Tàu Kilo được trang bị hệ thống kiểm soát và chỉ huy đa nhiệm rất hiệu quả. Trung tâm của hệ thống là một máy tính tốc độ cao có khả năng xử lý các thông tin và hiển thị một cách trực quan, có khả năng ngay lập tức đưa ra các thống số như phần tử bắn, kiểm soát vũ khí cùng các hướng dẫn về điều khiển khác.
Hệ thống vũ khí
Vũ khí chính của tàu là 6 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm ở phía trước mũi tàu. Tàu có thể mang theo 18 ngư lôi bao gồm 6 quả trong ống phóng và 12 quả ở cơ cấu nạp. Ngoài ra, ống phóng ngư lôi có thể được sử dụng để rải mìn với cơ số lên tới 24 quả.
Ngư lôi được sử dụng trong Kilo là loại được điều khiển bằng máy tính, có xác suất bắn trúng mục tiêu rất cao. Với hệ thống kiểm soát bắn hiện đại, chỉ mất hai phút là Kilo có thể phóng lượt thứ nhất và sau năm phút thì có thể phóng lượt ngư lôi thứ hai.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo1.jpg Hệ thống vũ khí của tàu ngầm lớp Kilo gồm có ngư lôi, tên lửa và mìn.
Một vũ khí khác có thể sử dụng trên tàu ngầm lớp Kilo là tên lửa Novator Club-S ( NATO gọi loại tên lửa này là SS-N-27 Sizzler). Club-S có thể dễ dàng tiêu diệt các tàu chiến khác ở khoảng cách lên tới 220 km bằng đầu nổ 450 kg của nó.
Ngoài ra, Kilo cũng được trang bị bệ phóng tên lửa phòng không cho 8 tên lửa Strela 3 hoặc Igla. Các loại tên lửa này được thiết kế bởi cục thiết kế Fakel đặt tại Kaliningrad. Tên lửa phòng không Strela-3 (NATO gọi là SA-N-8 Gremlin) sử dụng đầu dò hồng ngoại làm lạnh bằng Nitơ lỏng. Nó có tầm bắn xa nhất là 6 km và đầu đạn nặng hai kg.
Igla (loại lửa mà NATO gọi là SA-N-10 Gimlet) là loại tên lửa tầm nhiệt nhưng nặng hơn Strela-3. Nó có khả năng tấn công mục tiêu bay ở khoảng cách năm km với tốc độ tối đa là 1,65 M.
Hệ thống điều khiển và động lực
Cảm biến được lắp đặt trên Kilo là loại sonar MGK-400EM, giúp cho tàu có khả năng phát hiện được các sóng âm mà tàu nổi cũng như các loại tàu ngầm khác phát ra từ khoảng cách rất xa. Bên cạnh đó là các loại thiết bị đối kháng điện tử (ESM), cảnh báo radar và các thiết bị định vị tìm đường.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/kilo2.jpg Một trong những buồng vận hành tàu ngầm Kilo.
Kilo được trang bị hai động cơ diesel cực mạnh và chân vịt 7 cánh giúp giảm thiểu tối đa tiếng ồn. Hai bộ pin nhiên liệu, mỗi bộ chứa 120 pin chứa trong khoang thứ nhất và thứ 3 trên tàu cho phép nó có thời gian hoạt động tối đa lên tới 45 ngày.
http://beta.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090518/may%20moc%20phia%20trong%20kilo.jpg Điều khiển hệ thống động lực của tàu ngầm kilo.
Hiện nay, tàu ngầm lớp Kilo được sử dụng bởi hải quân các nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và An giê ri. Ngoài ra, một số nước cũng đang đặt mua tàu ngầm Kilo để trang bị cho hải quân của mình như Việt Nam và Indonesia. An Thái(baodatviet)
Top 10 tàu ngầm thế kỷ 20
Được dùng để tìm diệt kẻ thù dưới đáy biển hay chuyên chở tên lửa hạt nhân, tàu ngầm luôn đóng vai trò quan trọng trong lực lượng quân sự của các cường quốc suốt thể kỷ 20.
1. Tàu ngầm U loại VII
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/1-in.jpg Tàu ngầm U loại VII được mệnh danh là "dã thú" dưới nước.
Là lớp tàu ngầm nổi tiếng nhất trong lịch sử, được mệnh danh là “dã thú” dưới nước, tàu ngầm U loại VII con át chủ bài của lực lượng tàu ngầm Đức trong chiến tranh Thế giới thứ II. Tàu có lượng giãn nước 900 tấn, trang bị 5 ống phóng ngư lôi và có kích thước nhỏ hơn các tàu khác trong hạm đội Mỹ nhưng nó luôn giành ưu thế trong các cuộc đụng độ ở Đại Tây Dương trong thế chiến II. Tuy nhiên, tổn thất của loại tàu này không phải là nhỏ, trong số 1.100 tàu được sản xuất thì có hơn 800 tàu đã bị hư hỏng, hơn 75% thủy thủ tử vong. 2. Tàu ngầm lớp Seawolf
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/2-in.jpg Seawolf là tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử.
Tàu ngầm lớp Seawolf (sói biển) có giá 4 tỷ USD thuộc loại tàu ngầm đắt nhất trong lịch sử. Chúng được thiết kế để trở thành chiến binh bất khả chiến bại trên đại dương. Loại tàu này có nhiệm vụ săn đuổi và phá hủy các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Liên Xô. Tuy nhiên, vì chi phí sản xuất quá cao nên Seawolf đã bị đình chỉ sản xuất sau khi xuất xưởng được... ba chiếc tàu. Một trong số đó là tàu USS Jimmy Carter, sau này được chuyển thành tàu ngầm do thám. 3.Tàu ngầm lớp Gato
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/3-in.jpg Tàu ngầm lớp Gato là "cơn ác mộng" của Nhật Bản.
Các tàu ngầm Mỹ lớp Gato là “cơn ác mộng” của các tàu Nhật trong chiến tranh Thế giới thứ II. Nhanh nhẹn, được trang bị vũ khí tốt, hiện đại, loại tàu ngầm này được sử dụng triệt để trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Gato có lượng giãn nước 1.500 tấn, trang bị 6 ống phóng ngư lôi phía trước và bốn ống phóng ngư lôi phía đuôi tàu. Chúng có thể chạy trên mặt nước 20 hải lý và chạy ngầm 9 hải lý một giờ. 4. Tàu ngầm lớp T
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/4-in.jpg Tàu ngầm lớp T có thể mang tới 10 ống phóng ngư lôi.
Được biết đến với tên gọi tàu ngầm lớp Triton, loại tàu này là xương sống của lực lượng hải quân Anh trong suốt chiến tranh Thế giới thứ II. Có lượng giãn nước 1.500 tấn, tàu ngầm lớp T mang được 10 ống phóng ngư lôi. Tuy nhiên, chúng đều được trang bị ở phía trước, chứ không giống các tàu ngầm khác phóng ngư lôi ở cả phía trước và phía đuôi tàu. 5. Tàu ngầm USS Nautilus
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/5-in.jpg Nautilus là tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới.
USS Nautilus là tàu ngầm năng lượng hạt nhân đầu tiên của thế giới có thể hoạt động lâu dưới nước. Trước đó, các loại tàu ngầm đều chạy bằng động cơ diesel nên khi chạy dưới chúng phải sử dụng năng lượng dự trữ rất hạn chế. Năm 1955, trong chuyến “công du” đầu tiên, Nautilus đã đi quãng đường 1.100 hải lý, đoạn đường dài nhất trong lịch sử tàu ngầm thời đó. 6. Tàu ngầm X-Craft
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/6-in.jpg Tàu ngầm X-Craft được coi là "em út" về kích cỡ trong gia đình tàu ngầm.
Tàu ngầm X-craft của Hải quân Anh được sử dụng vào các nhiệm vụ tấn công đặc biệt tại các khu vực hải cảng Nauy, nhờ kích thước khiêm tốn của mình. Vào năm 1943, loại tàu ngầm nhỏ bé có trọng lượng 27 tấn này được các tàu lớn hơn kéo tới gần cảng , sau khi được tàu mẹ thả ra nó đã áp sát mục tiêu đặt thuốc nổ làm hư hỏng nặng ba chiếc Tirpitz của hải quân Đức rồi nhẹ nhàng quay trở về tàu mẹ.
7. Tàu ngầm lớp Sentoku
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/7-in.jpg Tàu ngầm lớp Sentoku vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay
Việc thiết kế một phương tiện chiến tranh vừa là tàu ngầm vừa là tàu sân bay được cho là việc kết hợp giữa một con các và một con voi. Dù vậy, các nhà đóng tàu Nhật Bản vẫn quyết tâm thử nghiệm mô hình đó. Tàu ngầm I-400 lớp Sentoku của Hải quân Hoàng gia Nhật được sử dụng trong chiến tranh Thế giới thứ II có trọng lượng 6.500 tấn, lớn gấp ba lần kích thước của tàu ngầm lớp Gato của Mỹ có trọng lượng tương đương tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân lớp George Washington đầu những năm 1960. Tàu ngầm Sentoku có thể mang theo các thủy phi cơ M6A Seiran. Những chiếc máy bay này xuất kích nhờ máy phóng máy bay, sau khi trở về tàu nó sẽ lặn xuống nước cùng với tàu mẹ.
8. Tàu ngầm lớp Typhoon
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/8-in.jpg Tàu ngầm lớp Typhoon là tàu ngầm lớn nhất thế giới.
Tàu ngầm lớp Typhoon của Liên Xô là tàu ngầm lớn nhất trên thế giới, có trọng lượng 48.000 tấn (trong khi tàu ngầm tên lửa đạn đạo lớp Ohio của Mỹ chỉ nặng chưa đến 20.000 tấn còn tàu khu trục lớp Arleigh Burke chỉ nặng 9.000 tấn). Mặc dù được xem là một “người khổng lồ”, nhưng tàu Typhoons lại “yên lặng” đến ngạc nhiên và rất khó để phát hiện. Chúng mang 20 tên lửa đạn đạo SS-N-20 (mà NATO gọi là “cá tầm”), trang bị nhiều đầu đạn hạt nhân cũng như ngư lôi và tên lửa chống tàu chiến khác. 9. Tàu ngầmU loại XXI
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/9-in.jpg Tàu ngầm U loại XXI thực sự là một chiến binh nhanh nhẹn.
Có lẽ quân đồng minh phải thở phào nhẹ nhõm khi tàu ngầm U loại XXI ra đời muộn. Nếu nó được triển khai trước khi chiến tranh kết thúc kết cục của cuộc chiến Đai Tây Dương có thể bị đảo ngược. Tàu ngầm loại U XXI có rất nhiều tính năng vượt trội vào thời đó, bao gồm bộ dự trữ năng lượng dung lượng lớn có thể hoạt động liên tục vài ngày dưới nước. Ngoài ra, chiếc tàu còn có lớp vỏ được thiết kế kiểu dáng khí động học hợp lý và một ống thông hơi giúp tàu có thể nạp nhiên liệu dưới nước vì vậy, nó có thể di chuyển với tốc độ 17 hải lý mỗi giờ, tốc độ khiến các tàu chiến khác phải “hít khói”. 10. Tàu ngầm lớp George Washingto
http://baodatviet.vn:2010/Uploaded_CDCA/bantt/20090403/10-in.jpg Tàu ngầm lớp George Washington thực sự là lực lượng răn đe hạt nhân "đáng gờm".
Ẩn dưới làn nước và rất khó phát hiện, tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) thực sự là “bức tường thành răn đe hạt nhân” vững chắc. Tàu ngầm SSBN đầu tiên trên thế giới là chiếc USS George Washington, đi vào hoạt động năm 1959. Các loại tàu ngầm của Liên Xô trước đó cũng mang tên lửa đạn đạo vũ trang hạt nhân nhưng chúng vẫn sử dụng năng lượng diesel với thời gian hoạt động hạn chế. Động cơ chạy nhiên liệu hạt nhân của George Washington giúp loại tàu này hoạt động dưới nước cả tháng trời. Mỗi một tàu lớp George Washington mang tới 16 tên lửa Polaris. Hải Anh (tổng hợp)
Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 1)
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Trong tình hình Bắc Cực đang nóng lên với những tranh chấp khó có thể giải quyết giữa Nga và các nước còn lại, lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là tàu ngầm nguyên tử của Nga luôn là phương tiện răn đe hữu hiệu.
Những 'quái vật nguyên tử' dưới biển của Hải quân Nga (kỳ 2)
Cập nhật lúc : 8:29 AM, 22/06/2009
Nếu như Hải quân Mỹ nổi tiếng với lực lượng hàng không mẫu hạm hùng hậu thì Hải quân Nga (trước đây là Hải quân Liên Xô) khiến thế giới kính nể bởi lực lượng tầu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược (SSBN).
1. Project 949 Antey (Định danh NATO: Oscar II)
Đây là loại tầu ngầm lớn nhất của Nga được sản xuất với mục đích chống lại các tầu chiến khác. Nó có kích thước 154m chiều dài, 18,2m rộng và 9m chiều cao với lượng giãn nước lên tới 24.000 tấn khi lặn.
Phù hợp với nhiệm vụ, Oscar II được trang bị vũ khí hiện đại nhất mà Nga sở hữu, với kỳ vọng chống lại cả hàng không mẫu hạm cùng nhóm tầu hộ vệ của nó.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-1.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm lớp Oscar II đang phóng tên lửa.
Vũ khí chính của Oscar II là 24 tên lửa P-700 Granit có khả năng phóng từ các ống phóng được đặt nghiêng 40 độ ngay cả khi tầu đang lặn. Đây là cũng loại tên lửa chống hạm được sử dụng trên soái hạm hạm đội biển Bắc là chiến hạm Piotr Velikiy. Tên lửa P-700 Granit có tầm bắn 550km và mang đầu nổ xuyên phá nặng 750kg có khả năng làm tê liệt một chiếc hàng không mẫu hạm chỉ bằng một phát bắn.
Ngoài ra, giống các tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Sierra hay Akula, Oscar II cũng được trang bị 8 ống phóng ngư lôi hai loại 533mm và 650mm, có thể phóng ngư lôi hoặc tên lửa chống hạm tầm ngắn như RPK-2 Viyuga hay RPK-7 Vorobei với tầm bắn từ 45km đến 120km.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-2.jpg Một tầu ngầm lớp Oscar II đang neo đậu tại cảng.
Để hỗ trợ cho các loại vũ khí mang theo, Oscar II sử dụng radar Snoop Pair surface search phát hiện mục tiêu và dẫn đường tên lửa; sonar Rim hat để định vị và phát hiện tầu ngầm cùng và các thiết bị thông tin liên lạc, đối kháng điện tử khác.
Có thân hình to lớn, Oscar II được lắp hai lò phản ứng hạt nhân OK-650b cùng hai chân vịt loại 7 cánh. Hai lò phản ứng với tổng công suất 380 MW cho phép Oscar II di chuyển với vận tốc 29,6 km mỗi giờ khi nổi và 59 km mỗi giờ khi lặn.
Là loại tầu ngầm nguyên tử tấn công thế hệ thứ ba, Oscar II được viện thiết kế Rubin thiết kế vào những năm 1980. Rubin là một viện thiết kế rất uy tín trong lĩnh vực chế tạo tầu ngầm nguyên tử với các tác phẩm thành công là các loại tầu ngầm nguyên tử tấn công lớp Echo I và Echo II. Hiện nay, chỉ còn 8 chiếc Oscar II đang phục vụ trong Hải quân Nga, những chiếc tầu này được đặt tên theo tên các thành phố lớn của nước này.
Vết đen lớn nhất trong lịch sử hoạt động của tầu ngầm lớp Oscar II là vụ tai nạn của tầu ngầm K-141 Kursk vào ngày 12/8/2000. Kursk là chiếc tầu ngầm thứ 10 thuộc lớp Oscar II được hạ thủy năm 1994 tại Severodvinsk.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-3.jpg Phần còn lại của tầu ngầm Kursk bị tai nạn sau khi được trục vớt. Chiếc tầu này từng có thành tích theo dõi, giám sát thành công hạm đội 6 của Mỹ tại biển Địa Trung Hải trong chiến tranh Nam Tư năm 1997. Trong cuộc tập trận ngày 12/8/2000, khi phóng một ngư lôi giả về phía tầu Piotr Velikiy, hydro peroxit từ động cơ của ngư lôi đã phát nổ khiến Kursk bị chìm sâu dưới 108m nước, cướp đi sinh mạng của 118 thủy thủ.
Năm 1955, một tai nạn tương tự từng xảy ra khiến tầu ngầm HMS Sidon của hải quân Hoàng gia Anh bị chìm khiến 13 người thiệt mạng.
2. Project 667 BDR Kalma (Định danh NATO: Delta III)
Tầu ngầm nguyên tử chiến lược lớp Delta III cũng là một sản phẩm của Viện thiết kế Rubin. Vũ khí chính của nó là 16 tên lửa hành trình liên lục địa ICBM loại R-29R Vysota. Đây là loại tên lửa có khả năng mang theo 3 đầu đạn hạt nhân loại 550 kg và có tầm bắn 6.500 km. Ngoài ra, Delta III có 4 ống phóng ngư lôi cỡ 533 mm để tự vệ.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-4.jpg Tầu ngầm lớp Delta III đang di chuyển.
Về kích cỡ, Delta III có kích thước tương đương với lớp Oscar-II, dài 155m, rộng 11,7m, cao 8,7m và có lượng giãn nước 10.600 tấn khi lặn. Thiết kế không nhằm mục đích chiến đấu trực tiếp nên Delta III chỉ trang bị hai lò phản ứng hạt nhân công suất 90 MW, cho phép nó di chuyển với tốc độ tối đa 26 km mỗi giờ khi nổi và 44,5 km mỗi giờ khi lặn. Thời gian hoạt động liên tục của Delta-III là 80 ngày với thủy thủ đoàn 130 người.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-5.jpg Hình vẽ mô tả Delta III đang phóng tên lửa.
Được đưa vào phục vụ từ năm 1972, Delta III được đóng chủ yếu ở căn cứ quân sự Kamchatka, Viễn Đông nước Nga và khá gần với Hoa Kỳ. Khi Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược START-1 được ký năm 1991, 13 chiếc Delta III buộc phải ngừng hoạt động và tháo dỡ theo nội dung hiệp ước, trong đó 6 chiếc được tháo dỡ bởi các chuyên gia Mỹ. Tính đến tháng 7/2008, 6 chiếc Delta III phục vụ trong Hải quân Nga nhưng trong đó hai chiếc đã sẵn sàng ngừng hoạt động chờ tháo dỡ.
3. Project 667 BDRM Delfin (Định danh NATO: Delta IV)
Delta IV là phiên bản hiện đại hóa của tầu ngầm nguyên tử lớp Delta III. Phần lớn thiết kế của Delta IV thừa kế đặc điểm tối ưu của Delta III, ngoại trừ một số cải tiến về vật liệu chế tạo, kích thước, thiết bị điện tử và vũ khí. Delta IV được thiết kế lớn hơn một chút so với Delta III: nặng hơn 1.200 tấn và dài hơn 12m.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-6.jpg Tầu ngầm lớp Delta IV.
Loại tên lửa đạn đạo sử dụng của Delta IV là R-29RM Shtil, có khả năng mang bốn đầu đạn hạt nhân 100 kiloton với tầm bắn 8.300 km để thay thế cho loại R-29R sử dụng trên Delta III chỉ có khả năng mang ba đầu đạn với tầm bắn 6.500 km. Một cải tiến nữa của Delta IV so với Delta III là ống phóng của Delta IV được thiết kế bắn được tất cả các loại ngư lôi hiện đại của quân đội Nga.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-7.jpg Hình vẽ mô tả tầu ngầm Delta IV đang phóng tên lửa.
Kể từ khi hạ thủy chiếc đầu tiên tháng 12/1985, có 13 chiếc tầu ngầm lớp Delta-IV được sản xuất và hiện còn 6 chiếc đang phục vụ trong Hải quân Nga. Cũng theo hiệp định START-1 năm 1991, 7 chiếc Delta IV cũng bị tháo dỡ trong nỗ lực giảm bớt kho vũ khí chiến lược của nước Nga.
4. Project 941 Akula (Định danh NATO: Typhoon)
Những chiếc tầu ngầm Typhoon âm thầm di chuyển dưới biển Đại Tây Dương là một nỗi ám ảnh cho nước Mỹ suốt thời kỳ chiến tranh lạnh. Mỗi chiếc Typhoon có thể mang theo tới 20 tên lửa đạn đạo chiến lược R-39M, có khả năng phóng đi 200 đầu đạn hạt nhân tới các mục tiêu cách xa 10.000km.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-8.jpg Phía trên boong của một chiếc Typhoon đang nổi, rộng như một sân bóng.
Typhoon còn là loại tầu ngầm lớn nhất thế giới từ trước đến nay với kích thước khổng lồ: Dài 174m; rộng 23,3m; cao 11,5m; có lượng giãn nước lúc nổi 24.500 tấn và lúc chìm là 48.000 tấn, gấp bốn lần lượng giãn nước của một chiếc tầu ngầm lớp Delta III.
Hai lò phản ứng hạt nhân cực lớn công suất 190MW cho phép Typhoon có khả năng di chuyển với tốc độ 41 km mỗi giờ khi nổi và 50 km mỗi giờ khi lặn, nhanh một cách đáng ngạc nhiên so với các tầu ngầm nguyên tử kích cỡ nhỏ hơn của Liên Xô trước nó. Một chiếc Typhoon có khả năng hoạt động liên tục trong bốn tháng với 150 thủy thủ đoàn.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-9.jpg So sánh kích cỡ của tầu ngầm Typhoon với các loại tầu khác. Từ trên xuống dưới: Hàng không mẫu hạm lớp Nimitz; hàng không mẫu hạm Kuznetsov (http://www.baodatviet.vn/Home/Kuznetsov-tau-san-bay-doc-nhat-cua-Nga/20095/42038.datviet); tầu ngầm diesel lớp Kilo (http://www.baodatviet.vn/Home/Tau-ngam-lop-Kilo--sat-thu-vo-hinh-duoi-bien/20095/41537.datviet) và cuối cùng là Typhoon.
Mặc dù là tầu ngầm nguyên tử chiến lược phóng tên lửa đạn đạo, khả năng đụng trận của Typhoon là rất thấp nhưng nó vẫn được trang bị đầy đủ vũ khí như bất cứ một tầu ngầm tấn công nào với 4 ống phóng ngư lôi kích cỡ 533mm, 2 ống 650 mm có khả năng phóng ngư lôi, mìn, tên lửa chống hạm tầm ngắn và một hệ thống tên lửa phòng không 9K38 SAM.
Typhoon cũng không thoát khỏi danh sách bị “xẻ thịt” theo Hiệp định START-1. Theo Hiệp định trên, có 5 chiếc Typhoon phải ngừng hoạt động và bị tháo dỡ.
Hiện nay, Hải quân Nga còn vận hành ba chiếc tầu ngầm nguyên tử lớp Typhoon là TK-17 Arkhangelsk, TK-20 Severstal và TK-208 Dmitri Donskoi. Những chiếc tầu ngầm này đều đã được hiện đại hóa để có khả năng phóng các loại tên lửa hạt nhân chiến lược mới nhất của Nga như Sineva và Bulava.
5. Project 935 Borei
Tầu ngầm nguyên tử mang tên Yuri Dolgoruky là chiếc duy nhất thuộc lớp Borei, cũng là chiếc tầu ngầm nguyên tử duy nhất của Nga được đóng sau khi Liên Xô tan rã. Chiếc Yuri Dolgoruky được đóng từ năm 1996 và hạ thủy ngày 12/2/2008. Hai chiếc khác thuộc lớp Borei đang được đóng là Alexander Nevsky và Vladimir Monomakh, dự kiến hoàn thành vào năm 2011 và 2013.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-10.jpg Tầu ngầm nguyên tử lớp Borei.
Mặc dù rất ít thông tin về tầu ngầm lớp Borei được công bố, nhưng các chuyên gia cho rằng đây là một tầu ngầm được thiết kế hoàn toàn mới, ưu việt hơn mọi loại tầu ngầm trên thế giới đang vận hành, điển hình là ở khả năng di chuyển hầu như không bị phát hiện bởi radar.
Đây là chiếc tầu ngầm đầu tiên của Nga sử dụng động cơ bơm đẩy nước ( pump-jet) để di chuyển thay cho các chân vịt bảy cánh thường thấy ở các loại tầu ngầm trước đó. Không những thế, ống phụt đẩy nước của Borei còn có thể xoay theo nhiều hướng, khiến cách di chuyển của nó cực kỳ linh hoạt.
Có chiều dài gần bằng Typhoon, Borei chỉ có lượng choán nước bằng một nửa chiếc kia. Do đó, nó chỉ có thể mang theo 16 tên lửa Bulava thay vì 20.
http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20090622/KHCN-RNS2-11.jpg Lễ hạ thủy tầu ngầm Yuri Dolgoruky lớp Borei ngày 13/2/2008.
Một lò phản ứng hạt nhân trang bị trên tầu cho phép Borei đạt được tốc độ 46 km mỗi giờ khi lặn. Ngoài các tên lửa hạt nhân, Borei có thể sử dụng được các loại ngư lôi và tên lửa chống hạm tầm ngắn và tầm trung khác phóng từ 6 ống phóng cỡ 533mm.
Dự án đóng chiếc Yuri Dolgoruky tiêu tốn tới 890 triệu USD. Đây là con số lớn đối với nền kinh tế đang phục hồi của nước Nga, do đó, việc hạ thủy con tầu này đã bị trì hoãn 6 năm so với dự kiến.
Trong tương lai, Nga dự định đóng tổng cộng 12 chiếc tầu ngầm thuộc lớp Borei để thay thế cho các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược cũ trong kho vũ khí của mình, phần nữa, dần dần khôi phục vị trí siêu cường đã đánh mất, cân bằng với Mỹ và Trung Quốc.