Về Thục Phán và nước Nam Cương

Thảo luận trong 'Văn Hóa & Lịch Sử Việt Nam' bắt đầu bởi Talent Manager, 23/8/14.

  1. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Theo Đào Duy Anh thì:

    Có một truyền thuyết của người Tày (Chín chúa tranh vua) có thể cho chúng ta ít nhiều ánh sáng. Tại miền Cao Bằng ngày nay (tức) gần nước Văn Lang, có bộ Nam Cương hùng cứ một phương. Bộ này do Thục Chế tức An Trị Vương đứng đầu do mười xứ hợp thành. Từ lúc An Trị Vương lên ngôi, chín xứ còn lại đều thần phục cho nên dần dần trở nên hùng cường. Thục Chế làm vua 60 năm, thọ 95 tuổi. Con là Thục Phán mới lên 10, cuối cùng được tôn làm vua. Thục Phán ra sức củng cố cơ đồ nước Nam Cương. Nước Văn Lang láng giềng bấy giờ đang suy yếu. Thục Phán bèn cất quân sang đánh, Hùng Vương bại vong. Thế là nước Văn Lang bị gồm làm một với nước Nam Cương. Thục Phán đặt tên nước mới là Âu Lạc, đóng đô ở Loa thành.

    Cũng theo học giả này: "Miền nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với miền thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu hợp thành bộ lạc Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao…".

    Về Hùng Vương và nước Văn Lang, Đào Duy Anh viết: "Còn miền trung lưu và hạ lưu sông Hồng từ Yên Bái, miền hạ lưu các sông Lô, sông Cầu, miền lưu vực sông Đáy và lưu vực sông Thái Bình, miền trung lưu và hạ lưu sông Mã và sông Lam cho đến Hoành Sơn, đều là địa bàn sinh tụ của bộ lạc liên hiệp Lạc Việt mà quân trưởng tối cao được truyền thuyết gọi là Hùng Vương"

    [​IMG]
    Bản đồ 2 nước Văn Lang và Nam Cương vào khoảng thế kỷ 3 TCN (xem full size: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/archive/f/fc/20140126124435!Bản_đồ_Văn_Lang_&_Nam_Cương.jpeg)

    Lại nữa: Thành Bản Phủ nằm trong một vùng rộng lớn bao quanh là sông nước và đồng ruộng thuộc xã Hưng Đạo (trước đây thuộc huyện Hoà An, nay thuộc thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng). Theo sử sách, đây không phải thành quân sự, mà là nơi thiết triều của Vương phủ thời xưa. Từng có truyền thuyết được người dân kể lại rằng, ở vùng đất này xưa kia là nơi Thục Chế, cha của An Dương Vương xây dựng thành Bản Phủ ở kinh đô Nam Bình (nay là tỉnh Cao Bằng). Tuy nhiên, những hiện vật để minh chứng cho vùng đất cổ mà người cha của An Dương Vương đã chọn để xây thành thì nay vẫn là điều vô cùng bí ẩn.

    [​IMG]
    Dấu tích thành Bản Phủ

    [​IMG]
    Sơ đồ vị trí thành Nà Lữ đời Hậu Lê và thành Bản Phủ của Thục Chế-Thục Phán

    [​IMG]
    Một thanh gươm được tìm thấy trong lòng đất

    [​IMG]
    Các hiện vật bằng gốm, sứ được khai quật

    Nghiên cứu, tìm hiểu về Thục Phán và đất bản bộ của ông là nước Nam Cương thời kỳ tiền Âu Lạc (tức là lúc trước khi thành lập nước Âu Lạc) cực kỳ quan trọng. Để có thể xác định rõ ràng coi sau đó, Thục Phán tiến hành những thay đổi gì trên đất Văn Lang của người Lạc Việt cũng như đất bản bộ Nam Cương của ông. Bác nào có thêm thông tin và tư liệu thì up bổ sung giùm topic nhé :)
     
    Last edited: 28/8/14
    Tony thích bài này.
  2. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Nước Văn Lang của các vua Hùng chia ra làm 15 bộ. Còn nước Nam Cương của 2 cha con Thục Chế-Thục Phán gồm 10 xứ mường. Đó là vào khoảng thế kỷ 3 TCN, trước khi quân Tần nam chinh tiến vào vùng Bách Việt.

    Thời cổ đại ở phương Đông, khi mới lập quốc, các bộ lạc bộ tộc thường chọn vùng đất ven sông để quần tụ, sinh hoạt, làm nông, đó cũng là lãnh thổ của các vương quốc cổ xưa. Nhìn trên bản đồ ta thấy vùng đồng bằng Bắc Bộ và 3 tỉnh Thanh Hoá-Nghệ An-Hà Tĩnh ngày nay, xưa kia chính là đất Văn Lang, phù hợp với vùng ven biển của người Lạc Việt. Biên giới phía Nam tiến tới dãy Hoành Sơn ở phía Bắc sông Gianh. Còn nước Nam Cương có lãnh thổ là vùng đồi núi của người Âu Việt (Tây Âu). Các bác có thể tham khảo những khu vực xảy ra cuộc chiến tranh Hùng Vương-Thục Phán qua các đền thờ, thần phả, thần tích cổ để xác định rõ ràng hơn cương giới mỗi vương quốc. :) Lãnh thổ Văn Lang trùng khớp với vùng nói nhóm ngôn ngữ Việt-Mường hiện nay. Lãnh thổ Nam Cương trùng khớp với vùng nói nhóm ngôn ngữ Tày-Thái hiện nay :) Tất nhiên không phải tất cả người Lạc Việt chỉ sống ở Văn Lang, cũng chẳng phải người Âu Việt chỉ sống ở Nam Cương. Địa bàn sinh sống của người Lạc Việt còn kéo dài tới Đông Nam Quảng Tây và Tây Nam Quảng Đông (có lẽ trùng với quận Hợp Phố thời Nam Việt thuộc Hán). Người Âu Việt/Tây Âu còn lan ra lưu vực các con sông Quế Giang và Tây Giang của tỉnh Quảng Tây (có lẽ trùng với quận Quế Lâm nước Nam Việt thời nhà Triệu hay 2 quận Uất Lâm, Thương Ngô thời thuộc Hán).

    [​IMG]
    Các nhóm tộc/nhóm văn hoá Bách Việt thời cổ

    Sau này có lẽ lãnh thổ nước Âu Lạc chính là hợp nhất 2 vùng đất Văn Lang và Nam Cương trên bản đồ :rolleyes:
     
    Last edited: 25/2/15
    Tony thích bài này.
  3. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    * Về tên gọi vua Hùng:
    Trong quyển “Trong cõi”, Giáo sư Trần Quốc Vượng có viết: “Bằng con đường tiếp cận ngôn ngữ-lịch sử dân tộc-lịch sử, chúng ta đã phục nguyên được danh hiệu vua Hùng:
    Vua = Bua = Bô = Pô (Bố)
    Hùng = Khun = Cun (Thủ lĩnh)
    Vua Hùng = Bố của các thủ lĩnh = Thủ lĩnh tối cao
    Cái danh hiệu muộn màng Hùng Vương chỉ là sự lắp ghép một từ Việt cổ và một từ Hán cổ có nghĩa giống nhau (hay tương tự), y như sự lắp ghép danh hiệu Bố Cái đại vương (Bố Cái = Vua lớn = Đại vương)”.

    * Về tên gọi Thục Phán:
    Trong ngôn ngữ Nùng (có quan hệ gần gũi với người Tày và người Choang) có từ "Tukpan" để chỉ những người đứng đầu một tổ chức, nó gần gũi một cách đáng ngạc nhiên với tên gọi Thục Phán. Tiếng Tày cổ cũng có từ "Tục Pắn" (người tài giỏi). Còn trong tiếng Thái có từ "Tục Pán" có nghĩa là chiếm đất, là mở mang bờ cõi. Vậy, “thục phán” có thể chỉ là danh hiệu chứ không phải tên người và cũng không có nghĩa.

    Nguồn: https://www.ttxva.net/su-viet-theo-cach-moi-2/

    * Về tên gọi thành Cổ Loa:
    Theo Tiến sĩ Lê Chí Quế (nhà nghiên cứu văn học dân gian), tên gọi Cổ Loa là phiên âm Hán-Việt của chữ Kẻ La (hoặc k’la, có nghĩa là con gà), nó trùng hợp với địa danh xóm Gà tại địa bàn huyện Đông Anh (Hà Nội) và cũng khớp với huyền thoại thần Kim Quy đánh Bạch Kê Tinh (thần gà trắng). Vì thế, địa danh Cổ Loa thực chất là thành Gà – nơi định đô của An Dương Vương. Lớp huyền thoại rõ ràng phản ánh cuộc bình định các thế lực địa phương của vị vua mới – vốn thuộc bộ lạc thờ Rùa tại Cao Bằng và thần Rùa trở thành nhân vật bảo trợ cho thành quách. Ngoài bộ lạc thờ Gà, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay còn rơi rớt một số địa danh phản ánh bối cảnh sinh sống của người Việt cổ : Mê Linh (m’linh – một loại nhạc cụ), Cổ Nhuế (Kẻ Noi, k’noi – doi đất ven sông), Kẻ Lủ (k’lu / con trâu), Kẻ Cả (làng lớn), Cửa Lò (kuala / bãi bồi), Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Cáo…

    Nguồn: https://www.ttxva.net/su-viet-theo-cach-moi-2/

    * Về tên gọi Âu Lạc:
    Căn cứ vào ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo, "Âu Lạc" thực chất là cách phiên âm Hán-Việt của từ Anak, có nghĩa là đất nước; đây có thể là cách gọi các yếu tố cấu thành nên nhà nước sơ khai của An Dương Vương: một trong các bộ lạc của người Tây Âu/Âu Việt – vốn từ khu vực phía Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và vùng núi Đông Bắc Việt Nam tràn xuống, các nhóm Lạc Việt – quần cư lâu đời ở vùng trũng hoặc lưu vực sông.

    Nguồn: https://www.ttxva.net/su-viet-theo-cach-moi-2/

    * Bổ sung thêm:
    So sánh thành Cổ Loa với thành Xam Mứn của người Thái ở bên sông Nậm Rốm trên đất Điện Biên Phủ ngày nay để thấy nhiều nét tương đồng ngôn ngữ và văn hoá, khẳng định rằng Loa thành là “anh em” với thành của người Thái (viềng = thành; viềng tó = thành giữa; viềng nọ = thành ngoài.
    Tâm thức dân gian ở Cổ Loa vẫn nhớ về nguồn gốc “thượng du” của vua Thục; Cao Lỗ – vị tướng tài của An Dương Vương tương truyền rằng quê ở Cao Bằng; Mỵ Châu rất gần với "Mẻ Châu" – bà chúa lớn trong tiếng Tày; Chó giúp An Dương Vương chọn đất đóng đô; thần Kim quy giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng bảo vệ Loa thành… cũng là những nét tuơng đồng với văn hóa Tày cổ: tôn thờ chó, rùa, ghét gà - tượng trưng cho yêu ma, xui xẻo… Trong ngày Tết và trong lễ tế An Dương Vương (6- 1 âm lịch hàng năm), đến nay Cổ Loa vẫn có loại bánh chưng tròn, dài vẫn gọi là bánh chưng Tày…

    Nguồn: https://www.facebook.com/boonghaypinoong/posts/286895504751128
     
    Last edited: 25/2/15
    Tony thích bài này.
  4. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Thần cung Bảo kiếm - Truyền thuyết của người Choang về Triệu Đà và ba nước Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt

    Đây là truyền thuyết của người Choang (bên Tàu gọi là Tráng), kể về Triệu Đà và 3 nước Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt, rất giống với truyền thuyết Trọng Thuỷ-Mỵ Châu của người Kinh. :oops: Tuy có điều thần thoại này của người Choang ko kể về Trọng Thuỷ mà là hoàng tử Tây Âu ở rể bên nước Lạc Việt. Câu chuyện bắt đầu như sau:

    --------------------------------------------------------------------------------------

    Thần cung Bảo kiếm

    Thần thoại Choang

    (Trích dịch từ quyển Tráng tộc Dân gian Cố sự Tuyển, do Nhà xuất bản Văn nghệ Thượng Hải ấn hành, Thượng Hải, 1984. Trang 131 – 138)
    Người dịch: dchph


    Thờixưa, Vua Namviệt Triệu Đà được Hoàngđế Trunghoa gởitặng cho một thanh bảokiếm, bèn dùng châubáu ngọcngà chạm lên trên và còn khắc bốn chữ “Hoà Tập Bách Việt”, đêm đến thanhkiếm phátquang chóiloà, đúnglà một bảovật. Nhàvua lại mang thanh bảokiếm nầy gởitặng lại Nước Tây Ấu, vua nước Tây Ấu lại sai hoàngtử mang đến tặng cho Nước Lạc Việt. Mụcđích của họ là mongmuốn có sự giaohảo thânthiện vớinhau để giữvững dâulài nền hoàbình đangcó.

    Hoàngtử nước Tây Ấu mang thanh bảokiếm đến nước Lạc Việt. Tới ngày khi chàng đã đến bênbờ tường kinhthành nước Lạc Việt thì chàng nghethấy tiếng cuờinói huyênnáo vọngra từ nộithành. Vị hoàngtử bèn leo ngồi lêntrên bờtường quansát thì thấy vị côngchúa của Vua Lạc Việt đang luyện bắncung, bắnđâutrúngđó nên đã gâynên tiếng reohò vangdậy.

    Trong những năm gầnđây nước Lạc Việt gặpnạn bị một thuỷquái quấyphá, làm nước biển nhiềukhi vôcớ tràndâng ngậplụt, cuốntrôi vôsố nhàcửa hoamàu và giasúc, dânchúng mấtcửamấtnhà, lytán khổsở. Vua Lạc Việt chẳng biết làmsao nên mời thầypháp lại làmbùalàmphép. Con thuỷquái bỗng từ dưới nước phónglên nói rằng trừphi Vua Lạc Việt gã côngchúa cho nó nếukhông thì nó sẽ dấybinh tiêudiệt nước Lạc Việt. Vua Lạc Việt không biết phải làm cáchnào đành phải hứa gã côngchúa cho nó, nhưng ngài lại yêucầu con thuỷquái phải đíchthân đến cungđình cầuhôn. Nhưng đến ngày con thuỷquái tới cungđình cầuhôn mọingười ainấy đều thấy con yêutinh hiện nguyênhình: đầurắn, thấplùn, lưng mang vỏ rùa. Nàng côngchúa trôngthấy, lòng ngậptràn oánhận, không một chút dodự rút kiếm ra chém “phựt” một cái bay đứt cổ con yêutinh và nó ngã lănr
    a chết.

    Ngườita đồnđại là con yêuquái nầy có nanhvuốt rất linh, nếu nanhvuốt nầy vẫncòn, chẳngbaolâu thì con yêuquái nầy sẽ hồisinh trởlại nguyênhình. Dođó, côngchúa bèn chặtđứt bốn chân con yêu ra, thẻo nanhvuốt nầy ra, dùnglàm bánsúng cho cái nỏ. Từđóvềsau, tàinghệ thiệnxạ của nàng côngchúa ngàycàng khởisắc, bắn đâu trúng đấy. Nhờthế tiếngvang lankhắp mọinơi, aiai cũng đều biết nàng côngchúa có một cây nỏthần, và rất nhiều bộlạc lớnnhỏ khắpnơi về quyphục nước Lạc Việt. Chính cũng vìthế, côngchúa lạ càng trởnên kiêuhãnh, mỗilần nàng tậpluyện bắn cung, chỉ cho ngườixem hoanhô khen chứ không cho phêphán ồnào.

    Hômđó, khi nàng đang luyện bắn cungtên trong vườn thànhnội, cái đích một cành liễu cột lũnglẵng một xâu lá trầu, và nàng nhấtquyết sẽ bắn trúng cành liễu và sẽ làm cái xâu lá trầu rơi xuống đất.

    Hoàngtử nước Tây Ấu đang ngồi trên bờtường đang ngắmnhìn nàng côngchúa bắnnỏ. Chàng chỉ thoáng thấy nàng côngchúa giơ câynỏ lên, kéo dâycung rồi bungra, mũitên phóngvụt đến cành liễu, đường tên bay khônghề bị xêdịch đâm phụp đúng vào cành liễu có treo xâu lá trầu. Hoàngtử bấtgiác vỗtay hoanhô ầmĩ.

    Chính vìthế làm nàng côngchúa nổigiận lên tựhỏi không biết ai chophép người nầy nhìntrộm nàng bắnnỏ? Togan thật! Nàng một tay vừa cài tên giương nỏ, mắt vừa quayqua liếcnhìn về phía bờtường thì trôngthấy một chàngtrai ngồi đó đang giương đôimắt nhìnngắm nàng. Côngchúa giận quá, nàng buông dâycung, mũitên liền bậtra hướngvề tầm ngực của chàngtrai phóngvụt đến. Chỉ trong chớpnhoáng, chỉ thấy chàngtrai ungdung rút thanhkiếm ra chờ mũitên baytới rồi gạtngang một cái, mũitên chợt trông giống như một chú chim xìu cánh rơirụng ngay xuống đất.

    Nàng côngchúa liền giương nỏ bắn liền ba phát, chàng hoàngtử đều vung kiếm gạt phắt hết ba mũitên. Nàng côngchúa cảmthấy kỳlạ, nhậnra thanhkiếm của hoàngtử có thầnlực, bèn kêu chàngtrai mang đến nàng xem nhưng chàng trùtrừ không lại. Côngchúa hỏi chàngtrai từđâuđến? Tới kinthành để làmgì? Chàngtrai trảlời chobiết mình là hoàngtử nước Tây Ấu, đến kinhđô nước Lạc Việt là để giaohảo đôibên. Chàng yêucầu côngchúa dẫn chàng đi gặp Vua Lạc Việt.

    Côngchúa nghĩthầm nếu để hoàngtử mang bảokiếm vào gặp phụvương rũi chàngta rút kiếm ra chém vuacha thì chắc nước chết, nàng liền đưara hai điềukiện: mộtlà chàng hoàngtử khôngđược mang thanhkiếm trênngười đến diệnkiến nhàvua, chàng phải trao thanhkiếm cho nàng giữ; hailà nếu chàng nhấtđịnh phải đeo kiếm thì chàng phải chịu bị tróicột lại mới được gặp vuacha. Chàng Hoàngtử đồngý chịu để cho nàng tróilại, khôngchịu để kiếm rời thân.

    Thếlà hoàngtử chịu tróilại để điđến gặp Vua Lạc Việt. Khi gặp nhàvua, hoàngtử bèn dângtặng vị vua nầy thanhkiếm có khắc bốn chữ “Hoà Tập Bách Việt”, nói là chàng thaymặt cho phụvương đến giaohảo hoàbình với Vua Lạc Việt.

    Vua Lạc Việt thấy hoàngtử khôingôtuấntú, phẩmđức đều tốt, cóý muốn nhận chàng làm phòmã, nhưng lại engại côngchúa lại khôngchịu nên nhavua bèn hỏi ýkiến cô côngchúa. Thựcra trong thâmtâm nàng côngchúa đã sinhra lòng áimộ, nhậnthấy việc hoàngtử chịu trói đểđược diệnkiến vuacha chứ khôngchịu traogửi thanhkiếm cho nàng giữ là hànhvi bấtkhuất anhhào. Nghethấy vuacha hỏi ýkiến mình, nàng bấtchợt khôngkhỏi thẹn ửng máđào, nàng nói:

    – Tuỳý phụvương địnhđoạt!

    Saukhi hoàngtử cùng côngchúa kếthôn, haingười thươngyêu nhau thắmthiết, như trâu với cau.

    Chẳngbaolâu sau, hoàngtử nhậnđược tin Vua Tây Ấu lâm trọngbịnh, chàng bèn từbiệt Vua Lạc Việt và côngchúa để vềnước thăm vuacha. Nàng côngchúa sợ đườngxá xaxôi trắctrở, nàng bèn lấy thanhkiếm “Bảo Tập Bách Việt” traocho hoàngtử đeo vào người. Hai người quyếnluyến không nở rời nhau. Saukhi hoàngtử vềnước rồi, côngchúa cảmthấy cungthất lạnhlẽo làmsao, tronglòng trởnên sầumuộn, nàng đâmra biếnglười luyệnvõ, cungnỏ cũng khôngbuồn rớtới. Cólúc nàng chợt tưởng có bóngdáng hoàngtử thấpthoáng ngoàisân, nhưngsao nàng đợi mãi mà chẳng thấy chàng đẩy cửa bướcvào. Nàng ra mở tung song cửasổ, nhưng nàng chỉ thấy một chú quạ kêu “yaya” rồi baymất.

    Vào một buổisáng nọ, khi côngchúa mớivừa mở cửa phòng độtnhiên trôngthấy một người xông vào phòng. Nhìn kỷ lại thìra là hoàngtử. Côngchúa rấtlà vuimừng, chẳng kịp hỏi chàng từđâu về là đã đưa chàng vào phòng. Cái anhchàng hoàngtử nầy mới bướcvào phòng là lậptức đưamắt ngó ngay về hướng nơi có treo chiếcnỏthần, mắt ngó láoliên. Côngchúa cảmthấy kỳquặc liền nói:

    – Mớicó đixa mấy ngày, bộ chàng không nhậnra chỗ ở nữa à?

    Chàng hoàngử nói:

    – Sao trên kia lắm bụibặm vậy?

    Côngchúa nói:

    – Từ ngày chàng vềnước đếngiờ, thiếp côđơn mộtmình, nào còn tâmtrí gì đâu để tậpluyện bắn cung?

    Hoàngtử lấyngay cungnỏ xuống. Côngchúa nhậnthấy cửchỉ này cóđiều dịthường liền chạytới ngăncản. Hoàngtử nói:

    – Uydanh của côngchúa dựa hết vào chiếcnỏthần nầy. Giảnhư không có chiếnỏ nầy, mình nghĩ là uydanh của nàng không lừnglẫy như bâygiờ. Dođó mình yêu chiếcnỏ nầy chính là vì yêu côngchúa đấy!

    Vừa nói chàng vừa giươngcung bắntên ra ngoài khungcửasổ, nhưng chỉ thấy khi mũitên vừa lìa rakhỏi nỏ là bay trệchhướng đi, bay chẳngbaoxa là rơirớt ngay xuống đất.

    Côngchúa nói:

    – Chiếcnỏ nầy nhờcó chiếcmóng của con yêuquái dùng làm cò, không có nó là bắn không trúngđích đâu. Vợchồng ănở vớinhau bấylâunay, bộ chàng không còn nhớ việc nầy nữa chăng?

    Hoàngtử nói:

    – Đâuphải quên, tại côngchúa quên đưacho mình cáimáong của yêutinh. Xin côngchúa lấyra cho mình xem nào, sẵntiện luyệntập bắptay mộtchút xemnào!

    Côngchúa tưởngthật bèn thò trongngười lấy chiếcmóng yêutinh ra traocho hoàngtử, cùnglúc nàng chợt nhậnra hoàngtử không đao thanhbảokiểm trên người, nàng liền hỏi:

    – Hoàngtử, sao chàng không mang thanhbảokiếm vềlại?

    Chàng hoàngtử nầy chợtnhiên cuốngquýt lên, nói:

    – Tại mình nhớ côngchúa quá, mộtmình lén phụvương trởvề đây. Bâygiờ để mình quayvề lại lấy thanhkiếm.

    Vừa nói xong, tay cầm chiếcnỏthần và chiếcmóng yêutinh ngãnhào xuống đất, độtnhiên hoàngtử biếnthành conquạ kêu “yaya” rồi baymất.

    Tin nầy truyền tới tai vua Lạcviệt, ngài liền cho triệutập quầnthần lại thươngnghị. Quầnthần đều chorằng đây là vận xấu của vua nước Tâyâu, làmmất chiếcnỏthần, chắcchắn thếnào cũng mang quân chinhphạt n�
    �ớc Lạcviệt, thếthủ chibằng thếcông, hãy cho dấybinh tấncông nước Tâyâu trước.

    Lúc bấygiờ, vua Tâyâu mới vừa mất, cảnước mới cửhành đámtáng, hoàngtử nước nầy còn đểtang, nghenói vua nước Lạcviệt dấyquân sang đánh, cảmthấy mình khólòng ứngchiến, bèn tínhchuyện đơnthânđộcmã đi hộikiến vua nước Lạcviệt để hỏira cho rõ ngọnngành. Dođó hoàngtử không thay áogiáp, đeo trên mình thanhbảokiếm “Hoà Tập Bách Việt”, phóngmình lênngựa phimã chạyra biênải.

    Khi hoàngtử đến nơi biênải thì chaoơi! Binhmã của vua Lạcviệt đã bốtrí trànđầy khắpnơi đennghịt dàyđặc. Mặt sôngnước nơi binhlính họ lội qua, sủibọt đenngòm, tômcá chết nổi lềnhbềnh khắpnơi. Binhlính trànqua rừngnúi đá là mọithứ như đều đỗngã hết xuống, cỏcây điêutàn.

    Mộtmình hoàngtử thì làmsao chốngcự lại đước muônvạn binhmã nước Lạcviệt, đànhphải nhắm ngay doanhtrại vàng tolớn, chàng đoán đó là nơi vua Lạcviệt haylà côngchúa trú nghỉ.

    Chàng hoàngtử nầy xemra cũng rất lợihại, thân mộtmìnhmộtngựa, xông tới hàngrào doanhtrại, làm đỗgãy sụpnát hết dãy hàngrào. Vua Lạcviệt đang ngồi trên mình ngựa trôngthấy binhmã của mình hỗnloạn, bèn hạlệnh cho hằngngàn cungthủ giương cungtên nhắm về phía hoàngtử mà bắn. Hoàngtử mình đeo thanhbảokiếm, chỉ thoángthấy chàng rútra hoa kiếm là hằngngàn mũitên rơirụng như mưa, thânmình chàng thì chẳng chút hềhấn gì.

    Vua Lạcviệt trôngthấy đâmra hoảngkinh, mắng côngchúa:

    – Xem thằngchồng phụbạc của mầy kia, nếu mầy không giếtchết nó, đừng có về đây nữa gặp tao.

    Nàng côngchúa vừa xấuhổ vừa tứcgiận, vộivã cầm thương lênngựa, nhắm ngực hoàngtử đâmtới. Hoàngtử vộivả néđôngtránhtây, mấy lần lấy kiếm hất mũigiáo của côngchúa ra, chàng nói:

    – Côngchúa saolại phẩnnộ thếnầy? Bỗngnhiên mangquân xâmlấn bờcõi, nay còn chínhtay mình muốn giếtchết chồng?

    Côngchúa nói:

    – Nhàngươi còn dám nói! Phụvương có làm điềugì saitrái đốivới ngươi? Ta đây có làm gì quấy đốivới nhà ngươi đâu mà nhàngươi đánhcắp chiếcnỏthần quốcbảo, lạicòn chuẩnbị dấybinh xâmlấn nước ta. Cái conngười vôtâmbộibạc như nhàngươi không giếtchết chorồi thì lấy gì để tạlỗi nướcnhà của ta đây, hả?

    Hoàngtử nghe côngchúa nói vậy bèn cảmthấy chưnghửng ra không biết biệnbạch đốiđáp thếnào. Nàng côngchúa tưởng hoàngtử nhìnnhận chuyện nầy, liền thừacơ phóng giáo đâm tới, ngờđâu trên thânmình hoàngtử nhờcó đeo thanhbảokiếm “Hoà Tập Bách Việt”, thanhkiếm nầy tựđộng hoágiải mọithứ cứu hoàngtử khỏi trúng thương. Kẻnkẻn hai tiếng, ngọn giáo của côngchúa bị cảnlại và còn làm ngọngiáo gãy rụng đứtlìa.

    Hoàngtử phóng người nhảy xuống ngựa, quỳ ngay trướcmặt côngchúa, hai tay nâng thanhbảokiếm “Hoà Tập Bách Việt”, khóclóc mà nói:

    – Nghĩ đến tìnhnghĩaphuthê bấylâunay, không làm điềugì saitrái cả. Chẳngqua thụthân lâm trọngbịnh đànhphải quayvề nước, định thânphụ hếtbệnh là trởvề đoàntụ với côngchúa, nàongờđâu thânphụ bănghà. Giờđây cảnước đểtang, rôi lại thấy nước của nàng dấybinh sang đánh, mình đây vì sinhlinh bátánh, liềumình một thân một ngựa ra lâmtrận. Nàng nếu quả muốn giết mình thì rất dễ thôi, chỉ tiếc là nàng bị trúngmưu kẻ gian. Làmgì có chuyện đánhcắp nỏthần? Giờđây để chứngtỏ tấmlòng của mình, xin dâng thanhbảokiếm nầy, nàng muốn giết mình thì cứ xuốngtay!”

    Nói xong, hoàngtử hai tay nâng thanh kiếm lên.

    Côngchúa tiếpnhận thanhkiếm, nhớlại cảnhtượng hoàngtử mưumô đánhcắp chiếc nỏthần, quảthục nàng cảmthấy cửchỉ của kẻ đó với vị hoàngtử nầy không giốngnhau, nhưng côngchúa lại esợ để tìnhcảm lấnáp lại bị mắcmưu thêm lần nữa. Đangtronglúc côngchúa còn trùtrừdodự bấtquyết, vị vua Lạcviệt đúng lúc ấy đang ở đằngsau nổitrậilôiđình, ngài ralệnh:

    – Tấtcả nghe đây, ta hôlên đến tiếng thứ ba nếu mà côngchúa vẫn chưa chịu xuốngtay giếtchết thằngchóchết đó, cónghĩalà côngchúa vẫncòn bị nó mêhoặc, quânbay cứ xảtên bắnchết cảhai đứanó cho ta. Nếumà ta hô đến tiếng thứ hai mà côngchúa giếtchết thằng giặc đó rồi thì chúngbay hãy thuhồi cungtên lại, quânbay có nghe chưa?

    Lệnh vua đã banxuống, quânsĩ cảđoàn baovây vịhoàngtử và nàng côngchúa lại, giươngcung nhắm haingười, chuẩnbị buôngcung.

    Hoàngtử nói:

    – Côngchúa, xin hãy giết mình đi! Nàng khỏi bị vạ lây.

    Côngchúa suyngẫm lại, chơt tỉnhngộ biết rằng người đoạt chiếc nỏthần trướcđây là do yêutinh giảdạng, nhưng khi phụphân nàng không cho cơhội giảithích tựsự, biếtlàmsaođây? Côngchúa chẳng biết tínhsao, nàng bậtkhóc tứctưởi.

    Ngườita chỉ nghe vua Lạcviệt hôlên “một, hai”, khi chưa đếm đến ba thì vị hoàngtử longại mình và nàng côngchúa sẽ cùng chịuchungsốphận bị nátthây dưới làn tên, bèn đua lưỡiliếm kề lên cổ cứa ngang, ngãlănra cheat.

    Côngchúa trôngthấy vộivả nhảy xuống ngựa, ômlấy thithể hoàngtử vào lòng, nằngphục trên người chàng khóc nứcnở. Tườngsĩ nhìnthấy cảnhtượng, taychânbủnrủn, buôngrời cungtên, chodù vua Lạcviệt đã hô đến tiếng thứ ba nhưng chẳng có ai bắn ra mũitên nào cả.

    Vua Lạcviệt cảgiận, đang định nổitrậnlôiđình với đám tướngsĩ cảilệnh của ngài, độtnhiên hétlên một tiếng “Áichà”, rồi đưatay ômlấy ngực. Các tướngsĩ vộivàng chạy đến đỡ, chỉ thấy một mũitên đâm thẳng từ sau lưng ngài xuyênthấu ra trước ngực. Đám tướngsĩ quayđầulại nhìn thì nhìnthấy nguyên con yêutinh tay mang nỏthần dươngdươngtựđắc đứng từ phía bênkia đầunúi cười vang:

    – Nỏthần đang ở trong tay ta đây!

    Nói xong chỉ thấy con yêuquái nhảylên, biếnthành một con quạđen, nhắmhướng côngchúa baytới, xàxuống đất xà một vòng đứng hiệnnguyênhình đầu rắn, đuôi thỏ, ngườingợm thấplùn, đeo khiênggiáp đen. Nó nói:

    – Côngchúa, ta và ngàng có duyênnợ vớinhau, hãy thànhhôn với ta đithôi!

    Nóixong nó bướclại níu người côngchúa.

    Nàngcp6ngchúa cựckỳ phẫnnộ, quayđầulại tátcho nó một bạttai làm mặtmũi thầntrí con yêutinh chángváng lạngquạng đứng không vững. Nó bèn xoayngười một vòng phóng đứng lêntrên một ngọnđồi, nói:

    – Côngchúa hãy ngheđây, hồitrướcđây ta biếnthành hoàngtử đến cungviện của nàng, sởdĩ ta không dám đến gần nàng bờilẽ ta chưa lấylạiđược cái móngvuốt của ta, naythì cái móngvuốt nầy đã trỡvề tay ta, giờđây thânthể ta là mìnhđồngdathép, lạithêm có chiếc nỏthần trênngười, ta cóthể cướpmạngngười nàng bấtcứlúcnào. Nay ta ra hạnđịnh b
    ắt nàng làm vợ ta, nếukhông ta sẽ dùng nỏthần bắnchết nàng là xongđời nàng ngay đây!

    Nàng côngchúa phẫnnộ nhìn gã yêutinh nhưng không nói gì.

    Con yêutinh kia bỗngnhiên cuộntròn mình dướiđất, rồi biếnthành vócdáng chàng hoàngtử rồi tiếnlại phía nàng, vênhmặt cười rồi nói:

    – Côngchúa, nếu nàng thích vócdáng chàng hoàngtử, thìđây ta sẽ biếnthành conngười đó vĩnhviễn cho nàng, mình hãy lấynhau cho rồi.

    Nàng côngchúa độtnhiên nhớlại là chàng hòngtử đã trao cho nàng thanhbảokiềm “Hoàtập Báchviệt”, nàng cóthể dùng để ngăncản cungtên, bèn nâng thanhkiếm chém vụt con yêuquái. Con yêutinh rất lanhlợi, vừa thoáng thấy thầnsắc của côngchúa và vừa cảmthấy một luồng khí lạnh vụt tới, liền rụtđầu lại, nhàolăn xuốngđất biếnthành con quạđen bayvù đến ngọnđồi đằngkia. Nó đứng trên ngọnđồi kia lớntiếng nói:

    – Nếu nàng không nghelời, ta bắn nỏthần đây!

    Côngchúa huơ thanhbảokiếm, phithân nhảylên ngựa, phóng vềphía gã yêutinh. Con yêuquái trôngthấy, liền giương nỏ bắn tên, nàongờ khi mũitên khi bay gầnđến người côngchúa liền bị nàng dùng kiếm gạtphăng đi rơi xuống đất. Ba lần nhưvậy thì nàng côngchúa đã tiếntới trước gã yêutinh. Con yêuquái mình đốiđịch khônglại bèn phóngchạy xuống biển.

    Khi nó chạy tới bên bờbiển, quayđầu lại nhìn nàng côngchúa đang đuổitheo, nói:

    – Haythay côngchúa, cảmơn nàng đã tiển ta đến tận bờbiển, ta vẫn cứ nói với nàng là: nếu nàng không chịu làm vợ ta, thì ta sẽ làm dâng nước biển ngậplụt nước của nàng, tớikhiấy, nàng mới biết được sự lợihại của ta!

    Con yêutinh nói xong liền phóngngười xuống biển. Nàng côngchúa esợ không đuổitheosát kịp, lậptức phóngvụt thanhkiếm về phía nó. Chỉ nghe phập một tiếng, đầu con yêuquái liền bị thanhkiếm chémđứt. Nàng côngchúa sợ con yêuquái lại hoànhình quấyphá, nên đã làm thì cho đếnnơiđếnchốn, nàng bèn phânthây con yêutinh thành đốngthịt vụn, mang vunvãi khắp đồinúi không để cho nó còn cơmay hiện nguyênhình.

    Côngchúa giếtchết con yêuquái xong, cầm thanhkiếm lặngnhìn rồi bậtkhóc nứcnở. Nàng cứ khóc mãi khôngngừng, những hạtlệ biếnthành xâuchuỗi trânchân rơixuống biểncả được những contrai nhặt và ngậm vào hàm. Máuhuyết của chàng hoàngtử đỗrơi trên mãnhđất Lạcviệt, bỡilẽ nó còn tinhkhiết chonên hoáthành dòngsuối thanhtuyền. Chođếngnàynay, khi ngưdân bắtđược contrai cạyra là tìmthấy châungọc gọilà ngọctrai, và họ nhấtđịnh phải mang những viênngọc này đến dòngsuối thanhtuyền rữasạch. Ngườita truyềntụng rằng ngọctrai nếu được rữasạch với dòngsuối nầy thì viênngọc sẽ sánglónglánh không một thứ nước nào cóthể sánhbằng.

    dchph dịch
    Địa phận lưu truyền truyền thuyết này: vùng Kim Long, huyện Long Châu, khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc
    Người kể chuyện: Nông dân bô lão
    Người ghi chép và hiệu đính lại: Lam Hồng Ấn


    Nguồn: http://truongthaidu.wordpress.com/2008/03/17/thần-cung-bảo-kiếm-truyện-an-dương-vương-của-người-choang/
     
    Last edited: 25/2/15
  5. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Về nguồn gốc xuất thân của Thục Chế - cha của Thục Phán

    Sách "Ngược dòng lịch sử" của GS Trần Quốc Vượng cho rằng sau khi nước Thục bị Tần diệt, con nhỏ vua Thục là Thục Chế được lập lên ngôi, lưu vong về phía đông nam. Tuy nhiên qua thế hệ Thục Chế vẫn phải lẩn trốn trước sự truy nã của Tần và không có cơ hội khôi phục nước Thục cũ. Cuối cùng tới con Thục Chế là Thục Phán thì hình thành quốc gia nằm ở phía bắc Lạc Việt của họ Hồng Bàng.

    Quốc gia đó chính là nước Nam Cương.
     
    Tony thích bài này.
  6. Novation

    Novation Someone you used to know

    E nghĩ khi tập hợp tất cả các truyền thuyết, các cổ tích và các dẫn chứng lịch sử có thể hình dung ra rằng khi xưa các bộ lạc người cổ sống rải rác khắp các vùng thung lũng trù phú ven sông cổ.
    Ở Ấn Độ do đất đai rộng lớn, địa lý cắt trở, các bộ lạc trở thành các đô thị sau này là các thành quốc đô thị, đến giai đoạn tiếp sau các thành quốc này bị tiêu diệt vào các thành quốc khác trở thành một vương quốc rộng lớn hơn.
    Ở Châu Âu, châu Á đều dựa trên motip trên.
    Ở châu Âu thì nhà nước La Mã dựa trên các đặc tính cũng như sự lựa chọn của lịch sử vươn lên thành siêu cường.
    Ở Trung Quốc thì các bộ tộc du mục chăn nuôi trên đại mạc vươn lên thành các vương quốc phía Bắc. Mãi đến tận cuối thế kỉ 20 các bộ tộc này vẫn cai trị Trung Quốc.
    Ở Việt Nam, có thể bằng cách vừa liên minh vừa thôn tính các vua Hùng đã dựng lên một nhà nước /liên minh các bộ tộc Văn Lang.
    Sau Văn Lang là Âu Lạc với sự phát triển của nghệ thuật quân sự đã thôn tính hết các bộ lạc còn lại, thành lập nên một nhà nước riêng.
     
  7. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Sự khác nhau giữa Lạc Việt, Tây Âu (Âu Việt) và các nhóm Bách Việt phía Bắc

    Bách Việt (百越 / 百粵) là một thuật ngữ lỏng lẻo bao hàm các dân tộc Việt (Yue) cổ không bị Hán hóa hoặc bị Hán hóa một phần đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam giữa thiên niên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I SCN. Đây cũng là từ cổ chỉ vùng đất mà các dân tộc này đã sinh sống.

    Một số học giả liệt kê các đặc điểm văn hóa của các nhóm tộc Bách Việt như sau:
    - Tục cắt tóc ngắn và xăm mình
    - Xây nhà sàn
    - Trang phục đặc trưng bởi quần ngắn hoặc váy quấn và đầu đội khăn xếp
    - Chế độ ăn nhiều sò hến và ếch
    - Tục nhổ răng, thường là răng nanh hoặc răng cửa trên
    - Tục lệ người cha tham gia quá trình đỡ đẻ, sau đó chăm sóc con nhỏ để người mẹ quay lại với việc làm đồng
    - Đúc và sử dụng trống đồng trong các nghi lễ
    - Bói bằng xương chim, đặc biệt là xương gà
    - Thờ vật tổ, đặc biệt là chim, bò sát, và cóc/ếch
    - Tục táng trên vách đá
    - Sử dụng nhiều đến thuyền bè và điêu luyện về thủy chiến
    - Hình dáng hình học của đồ gốm sứ
    - Kỹ thuật dệt phát triển cao

    Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc điểm trên đều có ở mỗi nhóm tộc Bách Việt.

    [​IMG]
    Các nhóm tộc/nhóm văn hoá Bách Việt thời cổ

    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Bách Việt, nhiều học giả đã cố gắng phân loại các nhóm Việt (Yue) khác nhau. Hướng tới một phân loại thật cụ thể, các nhà học giả đã sử dụng cách chia ba để phân tách các nhóm văn hóa Bách Việt. Ba nhóm này bao gồm:
    - Các nhóm Bách Việt phía Bắc: phân bố tại miền Trung và miền Bắc tỉnh Quảng Đông, trong thời kỳ đầu còn bao gồm cả Phúc Kiến, Chiết Giang và miền Nam tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).
    - Nhóm Tây Âu, còn gọi là Âu Việt (甌越): phân bố ở lưu vực các con sông Quế Giang và Tây Giang của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam.
    - Nhóm Lạc Việt (雒越 hoặc 駱越 hoặc 貉越): phân bố ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Đông kéo dài tới Đông Nam tỉnh Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam.

    Các kết quả khảo cổ học có hỗ trợ cho cách phân chia này:
    - Các cổ vật đặc trưng cho các nhóm Bách Việt phía Bắc, bao gồm đồ gốm hình học, xẻng đá lớn và đồ đồng kiểu Sở.
    - Đặc điểm của hai nhóm Tây Âu và Lạc Việt là các đồ đồng kiểu Tây Nam, việc sử dụng các loại dụng cụ đồ đá đa dạng, hầu như không thấy đồ gốm hình học và xẻng đá lớn. Hai nhóm này bắt đầu từ miền Bắc Việt Nam và kéo dài theo vùng ven biển lên tới khu vực phía Tây Nam tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Phát triển từ các nhóm văn hóa thời đại đồ đá cũ bản địa, sự tiếp nối của hai nhóm này đã được ghi nhận. Đó là các xã hội phát triển cao với một nền tảng nông nghiệp và một bộ đầy đủ các loại đồ gốm và đồ đá. Một điểm khác biệt rõ nét khác để phân tách hai nhóm này với các nhóm Bách Việt phía Bắc chính là sự phát triển của một trong những loại cổ vật quan trọng nhất của khu vực: trống đồng, được tìm thấy chủ yếu ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) và miền Bắc Việt Nam.

    Tuy hai nhóm Tây Âu (phía Tây Nam) và Lạc Việt (phía Đông Nam) có thể xếp vào một nhóm khi phân biệt với các nhóm Bách Việt phía Bắc, giữa hai nhóm này cũng có những điểm khác biệt quan trọng về cấp độ phát triển. Địa lý là một nhân tố quan trọng để giải thích sự khác biệt này. Phía Tây là vùng đồi núi, do đó, giao thông liên lạc khó khăn và các đa dạng địa phương có thể được bảo tồn lâu dài hay tiếp tục phát triển. Ở miền Đông Nam và các khu vực ven biển, giao thông liên lạc dễ dàng hơn, do đó, sự thâm nhập của các văn hóa bên ngoài cũng dễ dàng hơn, và theo thời gian, các đa dạng văn hóa địa phương có xu hướng phát triển về phía một dạng văn hóa chung. Theo các kết quả khảo cổ học, tuy chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các nhóm văn hóa vùng Đông Nam Trung Quốc và Việt Nam, các nhóm văn hóa vùng Tây Nam Trung Quốc thể hiện các khác biệt địa phương nổi bật cho thấy một giai đoạn phát triển thấp hơn, đặc biệt về kinh tế nông nghiệp.

    THAM KHẢO THÊM:
    1. "Gu Nan Yue Guo Shi" (Lịch sử các vương quốc Việt cổ) - Yu Tianji, Qin Shengmin, Lan Riyong, Liang Xuda và Qin Cailan - Nam Ninh: NXB Nhân dân Quảng Tây, năm 1988.
    2. ''Bai Yue Minzu Shi'' (Lịch sử các dân tộc Bách Việt) - Chen Guoqiang, Wu Nianji, Jiang Bingzhao và Qin Tucheng - Bắc Kinh: NXB Zhongguo Shehui Kexue, năm 1988.
    3. "Qin Han Qianhou Lingan Bai Yue Zhuyao Zhixide Fenbu ji qi Zu Cheng" (Sự phân bố và tên gọi các nhánh quan trọng của các dân tộc Bách Việt ở vùng Lĩnh Nam trước và sau thời Tần-Hán) - Lu Mingtian - Uỷ ban Nghiên cứu Lịch sử các dân tộc Bách Việt - Tuyển tập các bài luận về lịch sử các dân tộc Bách Việt - Nam Ninh: NXB Nhân dân Quảng Tây, năm 1985.
    4. "Defining the Hundred Yue" (Định nghĩa về Bách Việt) - Meacham và William - Thông cáo của Hiệp hội Tiền sử Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, năm 1996.
    5. "Culture, ethnic identity, and early weapons systems: the Sino-Vietnamese frontier" (Văn hoá, đồng nhất dân tộc và hệ thống đấu tranh sớm: biên giới Hán-Việt) - Trong "Tötösy de Zepetnek, Steven"; Góc nhìn lịch sử và văn hoá Đông Á: lịch sử và xã hội—văn hoá và văn học - Jay và Jennifer W. - Viện nghiên cứu Văn học đa quốc gia và Khảo cứu Văn hoá nghịch giao, Đại học Alberta, năm 1997.
     

Chia sẻ trang này