Về các đền thờ thầy giáo, học trò thời Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt và thời Hai Bà Trưng

Thảo luận trong 'Văn Hóa & Lịch Sử Việt Nam' bắt đầu bởi Talent Manager, 28/2/15.

  1. Talent Manager

    Talent Manager Ông bầu

    Sau nhiều năm nghiên cứu các Ngọc phả tại các đền thờ khác nhau rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng sông Hồng và sông Mã, nhà giáo về hưu Đỗ Văn Xuyền đã tìm ra 18 nơi thờ tự các "thầy giáo", "học trò" từ thời Văn Lang, Âu Lạc và Nam Việt. Bước đầu chúng ta biết từ thời Hùng Huy Vương (Hùng Vương thứ 6) đến An Dương Vương và thời nhà Triệu có tổng cộng 19 "thầy giáo" dạy 18 "trường" ở kinh đô và các địa phương, với số "học trò" được biết là 23 người. "Học trò" học ở các "trường" mà trong thần tích, thần phả không nêu tên "thầy giáo" là 17 "trường" với số "học trò" là 35 người. Như vậy có tất cả 19 "thầy giáo" được lưu danh, khoảng 17 thầy không được lưu danh, tương ứng với 35 "trường học" rải khắp các địa bàn trong cả nước và 58 "học trò" tiêu biểu.

    [​IMG]
    Đền Thiên Cổ ở thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ - nơi thờ tự hai vợ chồng "thầy giáo" Vũ Thê Lang thời Hùng Vương.

    Cũng trong quá trình nghiên cứu đó, ông Xuyền còn tìm thấy thời Bắc thuộc lần thứ I từ năm 111 TCN đến năm 39 SCN - thời Hai Bà Trưng có tổng cộng 10 "thầy giáo" được lưu danh, 68 "học trò" và 36 "trường" ở các địa phương. Tính ra thời Hai Bà Trưng còn khoảng 26 thầy không được lưu danh.

    Sau đây là danh sách các "thầy giáo" và "học trò" thời Văn Lang, Âu Lạc và Nam Việt do nhà giáo Đỗ Văn Xuyền tìm ra:


    THỜI VĂN LANG:

    1. Thời Hùng Vương thứ 6 (Hùng Huy Vương) có thầy Lý Đường Hiên: Dạy học ở Yên Vĩ, huyện Hoài An, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (địa danh thời Lê sơ), nay là huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây cũ. Thầy có hai học trò là Cao Đường và Lý Đá học giỏi, thấu tỏ mọi lẽ kinh sách, người đương thời ai cũng khen là thần đồng.

    2-3 . Lý Đá và Cao Đường : Mở trường dạy học tại Xuân La, Nguyễn Xá, trang Diên Phú, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (địa danh thời Lê sơ). Giặc Ân xâm lược, hai ông theo Phù Đổng đánh giặc. Giặc tan, về đến núi Sóc Sơn, hai ông cùng Phù Đổng bay về trời. Nhân dân Xuân La, Nguyễn Xá, trang Diên Phú, huyện Diên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam lập đền thờ phụng.

    4. Thời Hùng Vương thứ 9 có thầy Lỗ Công: Dạy ở kinh đô Văn Lang, là cháu ngoại vua Hùng Định Vương. Có học trò là Hoàng Trù ở xã Bồng Lai, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Nội (địa danh thời Nguyễn) theo học.

    5. Thời Hùng Vương thứ 16 có thầy Ngô Tiên: Dạy học ở Xuân Áng, xã Thuỵ Trang, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, lộ Hải Dương (địa danh thời Lê sơ).
    Thầy có người học trò là Phan Hộ mày hổ, mũi rồng, tiếng như chuông, mới sinh ra đã có răng, học được một năm giỏi giang, văn võ tinh thông, tài trí khác đời. Ông vào chữa bệnh cho Thái phi, vua thấy tài giỏi, phong làm Đốc trưởng tiền quyên ngự đô lực sĩ, Đông Đại tướng quân thiên hộ hầu.

    6. Thời Hùng Vương thứ 18 có thầy Cao Đường: Dạy học ở khu Khổng Tước, châu Hoan (địa danh thời Ngô-Đinh-Tiền-Lê), học trò là Hùng Duệ Vương.
    Thầy còn có người học trò là Chu Hoằng theo học được hơn 4 năm mà văn chương thông thái, võ bị tinh thường. Ông theo Tản Viên Sơn Thánh, trở thành vị tướng đánh quân Thục giỏi, được vua phong làm Cai Số đại vương. Ngày 10 tháng 11 ông tự hoá, nhân dân khu Bùi Trang, Hạ Bái, huyện Diên Hà (địa danh thời Lê sơ) lập đền thờ phụng.

    7. Thầy Nguyễn Thiện : Quê ở làng Yên Vĩ, động Hương Tích, huyện Hoài An, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam (địa danh thời Lê sơ) đến học ở Thượng Khu, xã Vĩnh Lai, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương (địa danh thời Lê sơ).
    Ông có hai người con trai cùng sinh giờ Ngọ ngày 12/8 năm Bính Tý, lại là hai học trò văn võ toàn tài, thao lược hơn người. Khi cha chết, hai anh em đến Sơn Tây vào yết kiến Tản Viên Sơn Thánh và kết nghĩa anh em cùng nhau đánh quân Thục thắng lơị, được Hùng Duệ Vương phong làm Đại tướng công.

    8. Thầy Hải Đường : Dạy học ở kinh đô Văn Lang.
    Thầy có người học trò tên là Nguyễn Mục sinh ngày 12/9 năm Giáp Ngọ, con ông Nguyễn Danh Huyên và bà Đào Thị Túc ở trang Đông Đồ, huyện Kim Hoa, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc (địa danh thời Lê sơ), đến ở nhà cậu ruột là ông Đào Công Hải làm huyện Doãn Châu Phong (Bạch Hạc) để đi học. Mới học được vài năm mà Nguyễn Mục văn chương võ nghệ tinh thông. Hùng Duệ Vương yết bảng chiêu hiền. Nguyễn Mục ứng thi được vua ban chức Đại Phu, tham gia triều đình chính sự. Quân Thục xâm lược, Nguyễn Mục cầm quân đánh thắng giặc trở về, được vua phong Y Mục đại vương. Ngày 2 tháng chạp năm Kỷ Dậu ông hoá, vua truy phong là Thượng đẳng thần tối linh. Nhân dân trang Bối Khê, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (địa danh thời Lê sơ) lập đền thờ phụng.

    9. Thầy Lã tiên sinh: Dạy ở Hồng Châu, Hải Dương (địa danh thời Lê sơ).
    Thầy có hai người học trò là Cao Sơn và Quý Minh văn võ đã hơn người. Bấy giờ Hùng Duệ Vương hạ chiếu kén nhân tài. Hai ông ứng thi trúng tuyển, vua phong cho hai người chức Chỉ Huy Xứ: Tả Hữu tướng quân. Vâng mệnh vua, hai ông đưa quân trấn thủ ở sông Lô, sông Thao, sông Đà đề phòng quân Thục xâm lược. Hai ông lập đồn ở xã Tiên Du, huyện Phù Khang, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây (địa danh thời Lê sơ), về sau là xã Tiên Du, tổng Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (địa danh thời Pháp thuộc). Ngày 10 tháng 11, hai ông hoá, nhân dân nơi đây đã tôn thờ làm Thành hoàng làng.

    10. Thầy Lỗ tiên sinh: Dạy học ở xã An Canh, huyện Thiên Thi (địa danh thời Lê sơ), nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
    Thầy có 3 người học trò là Nguyễn Tuấn, Nguyễn Chiêu, Nguyễn Minh là con ông Nguyễn Xuân và bà Đoàn Thị Nghi. Ba người cùng sinh một bọc ngày 10/3 năm Bính Thìn, thật là khôi ngô kỳ vĩ. Năm lên 9 tuổi, ba anh em đều theo học thầy Lỗ tiên sinh, học được ba năm đã tinh thông văn võ. Năm 15 tuổi, tài năng của 3 ông đã nổi bật, nhân dân và hào kiệt trong vùng đều khâm phục. Năm 19 tuổi, Hùng Duệ Vương ra bảng kén chọn nhân tài, ba ông đều trúng tuyển. Vua hài lòng phong cho ông Tuấn chức Tư Tào điển lạc quan, ông Chiêu chức Tả Tư tào phán quan, ông Minh chức Hữu Tư tào phán quan. Quân Thục đến xâm lược, ba ông theo Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc.

    11. Thầy Lỗ Đường: Dạy ở xã Đại Đồng thuộc huyện An Đường, phủ Thượng Hồng, Hải Dương (địa danh thời Lê sơ).
    Thầy có người học trò là Trương Sơn Nhạc sinh giờ Thân ngày 8 tháng giêng năm Giáp Thân, rất kỳ lạ, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, trong bụng có điểm nét chữ “son” trông tựa như chữ thần tiên. Một tuổi đã biết nói, năm lên 7 theo học thầy Lỗ Đường, chẳng bao lâu văn võ kỳ tài, được Hùng Duệ Vương giao cho chức Bố Chính quan. Quân Thục đến xâm lược, ông là vị tướng đã đánh thắng giặc rồi tự hoá. Nhân dân làng Nhiễm Dương, tổng Nghĩa Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (địa danh thời Nguyễn) lập đền thờ phụng.

    12. Thầy Niệm Hưng : Quê ở Mộ Trạch, Hải Dương (địa danh thời Lê sơ), được nhân dân làng Lỗ Khê, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (địa danh thời Nguyễn) đón về dạy học. Năm 23 tuổi, nhà vua hạ chiếu kén anh tài. Niệm Hưng ứng tuyển, được Hùng Duệ Vương phong chức Chỉ Huy xứ. Quân Thục xâm lược, ông lĩnh chức Tiền Đạo đại tướng quân. Đánh thắng quân Thục, ông trở về Lỗ Khê tự hoá, nhân dân tôn thờ làm Thành hoàng làng.

    13. Thầy Nguyễn Minh: Quê ở huyện Lôi Dương, châu Ái (địa danh thời Đinh-Tiền Lê), đến xã Màn Xuyên, tổng Đông Kết, huyện Đông An mở trường dạy học. Bấy giờ Hùng Duệ Vương mở khoá thi, vào thi Đình nhà vua chấm ông đỗ đầu khoá, được vua gả công chúa Ngọc Nương - công chúa thứ ba, ông cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi, được vua phong Trấn Chiêm Thành cửa ải đại tướng quân.

    14. Thầy Lỗ tiên sinh: Dạy học ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hoá (địa danh thời Lê sơ).
    Thầy có ba người học trò là Cao Hiển công, Cao Minh công, Cao Tùng công quê gốc ở châu Ái (địa danh thời Đinh-Tiền Lê), đến ngụ cư ở Lăng Xương. Ba học trò này thật là dị tướng, hai gồ má cao vọi, tay dài chấm gối, bàn chân có 7 cái lông dài. Học mới 3 năm mà đã am hiểu nghĩa lý, kinh sử lầu thông. Vì có công đánh giặc Thục, khi hoá được vua phong làm Thượng đẳng phúc thần.

    15. Thầy Phạm Công Tuyển: Quê ở trang Hội Triều, huyện Hoàng Hoá, phủ Hà Trung, Thanh Hoá (địa danh thời Lê sơ). Làm quan ở châu Xích Đằng, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam (địa danh thời Lê sơ). Ông là người văn chương nổi tiếng. Sau khi vợ chết, ông từ quan về dạy học ở châu Xích Đằng, phủ Khoái Châu, sau lại chuyển về khu Đăng Xuyên, xã Đăng Định, huyện Thiên Thi (địa danh thời Lê sơ). Sau khi chết, nhân dân xã Đăng Xuyên, huyện Ân Thi tôn thờ làm Thành hoàng làng.

    16. Thầy Vũ công : Ở Mộ Trạch, Hải Dương (địa danh thời Lê sơ), dòng dõi thi thư lên cung thành kinh đô Văn Lang, ở thôn Hương Lan, ngày nay thuộc xã Trưng Vương, TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ dạy học.
    Hai ông bà sinh được người con đặt tên là Vũ Thê Lang. Khi trưởng thành, Vũ Thê Lang đã dạy hai công chúa của Hùng Duệ Vương là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Nhân dân đã lập đền thờ vợ chồng Vũ Thê Lang, đền này có tên là “Thiên Cổ Miếu”.

    17. Thầy Lý Đường: Dạy học ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hoá, xứ Sơn Tây (địa danh thời Lê sơ).
    Nguyễn Chiêu học thầy Lý Đường 3 năm liền. Sau này, Nguyễn Chiêu được gọi là Tản Viên Sơn Thánh, phò mã của Hùng Duệ Vương.

    THỜI ÂU LẠC:

    18. Thầy Ngô tiên sinh: Dạy học ở thôn Trì La, huyện Thiên Thi, xứ Sơn Nam (địa danh thời Lê sơ).
    Thầy có hai người học trò tên là Phạm Đá, Phạm Dũng cùng sinh một bọc ngày 9/3 năm Kỷ Mùi, con ông Phạm Đạt và bà Đinh Thị Duyên, quê nội ở sách Biện Sơn, huyện Lôi Dương, phủ Thuận Thiên, châu Ái. Hai học trò này hình dáng kỳ dị, mày ngài hàm én, tay dài chấm gối, bàn tay có 7 chiếc lông mọc dài. Năm lên 8 tuổi, hai anh em đến học thầy Ngô tiên sinh, mới học được vài năm đã thông kinh sử. Thời An Dương Vương có giặc Đại Man đến cướp phá Cao Bằng, Hưng Hoá. Nhà vua truyền hịch tuyển lựa chọn nhân tài. Hai ông ứng tuyển được nhà vua phong cho ông Phạm Đá là Bình Man Đô nguyên soái, ông Phạm Dũng là Thiên Quan đại tướng công. Hai ông dẹp yên giặc lại trở về Trì La, khi hoá nhân dân tôn làm Thành hoàng làng.

    THỜI NAM VIỆT:

    19. Thầy Dương Như Tồn: Dạy học ở Lỗi Giang, Tề Giang xưa, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, là thầy dạy của Thừa tướng Lữ Gia thời nhà Triệu.

    THỜI HAI BÀ TRƯNG:

    Thầy Đỗ Nam Tế, cô Tạ Cẩn Nương, thầy Lê Đạo, sư bà chùa Phúc Khánh… Có điều lạ là, vào thời kỳ đó, có rất nhiều cô giáo và học trò nữ, chứng tỏ, thời Hai Bà Trưng, nam nữ rất bình quyền.

    Nguồn: http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/van_lang_da_co_chu_viet_rieng-a.html
    http://chuvietcolacviet.vn/chuvietco/detail/danh-sach-thay-co-giao-thoi-hung-vuong-68.html
    http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=663
    http://truongsahoangsa.info/chu-viet-thoi-hung-vuong-nhu-the-nao.html

    ----------------------------------------

    Đành rằng các bản ngọc phả, thần phả đã được người đời sau viết trên tinh thần Nho giáo, một số sự kiện và tích truyện thấm đẫm tư tưởng Nho gia. Nhưng hẳn là bên trong nó vẫn chứa đựng phần nào cốt lõi sự thật lịch sử, đó là: đã từng tồn tại hệ thống các "thầy giáo" và "học trò" thời Văn Lang, Âu Lạc và Nam Việt, trước khi nền giáo dục chữ Hán, các tư tưởng và lễ nghĩa Trung Hoa được đem vào nước ta thông qua các Thái thú Tích Quang, Sĩ Nhiếp ở quận Giao Chỉ và Thái thú Nhâm Diên ở quận Cửu Chân.

    [​IMG]

    Nhìn bản đồ bên trên, ta thấy sự phân bố các đền thờ "thầy giáo" và "học trò" của riêng thời Hùng Vương (các ký tự hình tròn) trùng khớp với lãnh thổ nước Văn Lang (theo các nghiên cứu của sử học hiện đại), tương ứng với vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực ven biển các tỉnh Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh hiện nay:

    [​IMG]
    Bản đồ lãnh thổ nước Văn Lang

    Có thể là các Nho sĩ đời Hậu Lê tự sáng tác và biên soạn Ngọc phả, thần phả đặt ở các đền thờ, nhưng làm sao lại vô tình trùng khớp với các dữ kiện lịch sử như vậy được?

    Chưa bàn đến thời cổ, nước ta đã có chữ viết hay chưa, nhưng phải chăng khi ấy, nước ta đã có một hệ thống dạy học riêng của người bản địa?

    Và nội dung dạy học thời đó là gì? Hiện vẫn chưa có nhà khoa học, sử học nào nghiên cứu chi tiết về vấn đề đó. Nhưng theo tôi, đọc qua các tích truyện, truyền thuyết bên trên, ta có thể hình dung: thời gian dạy học thời đó rất ngắn ngủn, chỉ khoảng vài năm. Số năm theo học tuỳ thuộc vào từng thầy, từng trò. Và thời gian dạy học, nội dung học cũng không thống nhất, nhất quán trên phạm vi cả nước Văn Lang, nó không theo một hệ thống giáo dục quy củ từ trung ương đến địa phương như ngày nay. Các "trường học" thuở ấy chắc cũng chỉ là trường làng, trường tư mà thôi. Người thầy nào có uy tín thì được nhiều "học trò" theo học, và chế độ khoa cử, thi cử cũng chưa hình thành.

    Các "thầy giáo" thời cổ ấy chính là các thầy Tào ở các vùng dân tộc thiểu số miền Bắc bây giờ. Các "học trò" quây quần bên trong hoặc bên ngoài nhà sàn, ngồi nghe thầy kể chuyện và giảng giải về các thần thoại, truyền thuyết dân gian, học về các làn điệu dân ca được lưu truyền từ ngàn xưa. Sau này, khi viết Ngọc phả, các Nho sĩ thời Lê sơ đã hình tượng hoá những nội dung dạy học thời Hùng Vương thành Thi, Thư, Lễ, Nhạc do ảnh hưởng bởi tư tưởng Khổng giáo.

    Theo định nghĩa trên Wikipedia thì:
    Thầy Tào là người thầy cúng tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Việt Nam có đông người dân tộc thiểu số sinh sống. Là một chức năng về tín ngưỡng cao hơn cả thầy mo, trong các bản làng. Thầy Tào còn là người hiểu biết nhiều về văn hoá của dân tộc, biết chữ Nho, bởi họ là những người ghi lại được các câu chuyện cổ dân gian, các câu tục ngữ, các làn điệu dân ca của cư dân và truyền lại văn hóa truyền thống của dân tộc.

    Vì vậy, thuở sơ khai đó, các "thầy giáo" chưa chắc đã cần đến chữ viết để giảng dạy văn hoá dân tộc. Các thầy được cả làng kính trọng, khi mất được lập đền thờ ghi nhớ công lao và công đức.
     
    Last edited: 1/3/15

Chia sẻ trang này