HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG TÀU MẶT NƯỚC

Thảo luận trong 'Quân sự - Quốc phòng' bắt đầu bởi BeKhoe_BeNgoan, 5/9/18.

  1. BeKhoe_BeNgoan

    BeKhoe_BeNgoan Active Member

    Trong năm 2018, Hải quân ta đã tiếp nhận và đưa vào biên chế đầy đủ 4 tàu hộ vệ Gepard và 6 tàu ngầm Kilo, góp phần nâng cao vị thế tiềm lực của Hải quân ta so với các nước trong khu vực, làm giảm chênh lệch và tương quan lực lượng giữa ta và đối phương.

    Tuy nhiên, vì chúng ta là nước có đường bờ biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, lại có tranh chấp chủ quyền biển với hầu hết các nước láng giềng, đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang đặt trong tâm vào lực lượng Hải quân của các nước này đang có xu hướng gia tăng, chính vì vậy, tuy chúng ta không chủ trương chạy đua vũ trang, nhưng bắt buộc chúng ta phải không ngừng phát triển về lực lượng, ở đây tôi dùng từ “phát triển lực lượng”. Bản chất và diễn biến của xung đột vũ trang trên biển trong thời hiện đại, không đặt trong tâm vào việc trực tiếp đối đầu với nhau bằng hỏa lực, mà dùng ưu thế chênh lệch về lực lượng và tiềm lực để đe dọa – răn đe, khiến bên yếu thế phải chủ động xuống nước trong xung đột và tranh chấp.

    Được Đảng – Nhà nước – Bộ Quốc Phòng quan tâm, Hải Quân Nhân Dân Việt Nam trong thời gian qua, liên tục tiếp nhận và biên chế nhiều loại tàu hải quân hiện đại, trong đó phải kể đến như: tàu pháo, tàu tên lửa, tàu hộ vệ, tàu ngầm, tàu buồm huấn luyện, tàu bệnh viện, và rất nhiều các chủng loại tàu khác. Tuy nhiên, việc phát triển và hoàn thiện lực lượng cũng gặp phải nhiều khó khăn – bất lợi, về tài chính, công nghệ, thời gian, nhân lực, và các yếu tố địa chính trị cả trong và ngoài nước tác động, nên không thể trong một sớm một chiều đưa lực lượng ta nhanh chóng tiến lên chính quy – hiện đại toàn diện được.

    Trong những năm gần đây, các quốc gia và vùng lãnh thổ có tranh chấp chủ quyền với nước ta, liên tục tiến hành nhiều hoạt động thăm dò, gây hấn, tập trận, xây dựng căn cứ hải quân, triển khai vũ khí trái phép… đe dọa nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trên biển. Liên tiếp trong nhiều năm, đã xảy ra nhiều vụ rơi máy bay quân sự khi tiến hành bay huấn luyện – tuần tra – làm nhiệm vụ trên biển. Bên cạnh đó các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển cũng diễn ra phức tạp, như nạn cướp biển, tội phạm buôn lậu hàng hóa, tội phạm ma túy, buôn lậu vũ khí, buôn người, vượt biên… Nhiều quốc gia lớn trên thế giới, tự ý đưa tàu vũ trang xâm nhập vào vùng biển do ta quản lý, với mục đích chính trị. Đồng thời, do vùng biển Đông thường xuyên xảy ra thiên tai, nên gây nhiều thiệt hại cho phương tiện, người, công trình, cơ sở hạ tầng của ta trên biển. Biển Đông cũng là khu vực nằm trên tuyến đường hàng hải và hàng không cực kỳ phức tạp và khó kiểm soát. Chính vì vậy, trong thời gian tới, nhất định chúng ta phải sớm tiến hành đóng mới và đưa vào biên chế một chủng loại tàu do thám (Spy Ship) hiện đại phù hợp với Hải quân ta. Đây chính là con “mắt thần” có khả năng cơ động cao, giúp chúng ta kiểm soát vùng biển của mình chặt chẽ hơn, khi hiệp động cùng các lực lượng ra-đa duyên hải và trên các đảo. Con “mắt thần” này cũng có thể là tàu mẹ, để triển khai nhiều phương tiện do thám trên không như UAV, hay các thiết bị lặn không người lái UUV, cũng như thực hiện các nhiệm vụ tác chiến điện tử.

    Thời gian gần đây, theo nhiều nguồn thông tin, thì phía Nhật Bản có thể chuyển giao cho Việt Nam lớp tàu đổ bộ hiện đại Osumi mà ta đang cần và đang thiếu. Nếu điều này trở thành sự thật, thì đây quả là một điều đáng mừng. Việc Hải quân của ta tiến thẳng lên hiện đại, nhưng nếu thiếu một con tàu đổ bộ hiện đại như Osumi thì quả là một thiếu sót rất lớn. Hoạt động vận tải – hậu cần các loại phương tiện – vũ khí – con người trong thời bình và thời chiến của lực lượng Hải quân là điều hết sức quan trọng, đặc biệt khi ta phải quản lý một vùng biển hết sức rộng lớn gồm rất nhiều đảo – quần đảo – kể các các nhà giàn, thì lực lượng tàu đổ bộ cỡ vừa và nhỏ đã cũ của ta sẽ khó lòng đảm trách tốt nhiệm vụ được. Nếu không có một con tàu đổ bộ hiện đại, thì sẽ khó lòng tiến hành một cuộc đổ bộ hiệu quả, một khi xảy ra chiến tranh.

    Tuy không phải là một chủng loại phương tiện chiến đấu trên biển được đánh giá cao, nhưng xuồng tuần tra cao tốc được vũ trang cũng không thể xem nhẹ. Hiện nay do khả năng hạn chế về ngân sách quốc phòng, nên những phương tiện loại này được được vào biên chế từ nhiều nguồn, từ viện trợ nước ngoài, được đóng mới theo ngân sách quốc phòng, được tài trợ từ các nguồn dân sự, thậm chí là các tàu chiến lợi phẩm và tàu thế hệ cũ. Vì vậy ở một khía cạnh nào đó, có sự không đồng bộ - thống nhất về nhiều mặt. Khác với những tàu chiến cỡ lớn, chỉ chuyên trách một nhiệm vụ nhất định. Xuồng chiến đấu cao tốc phải đảm đương rất nhiều nhiệm vụ, và được nhiều quốc gia trên thế giới phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Nhưng đặc biệt chú trọng vào việc tăng cường hỏa lực trong nhiều môi trường tác chiến đa dạng, hơn là chỉ thuần trang bị một số loại súng máy như của Việt Nam. Các loại xuồng hiện đại, có cấu tạo khí động học, giúp tăng tốc độc di chuyển trên biển, tàng hình trước ra-đa của đối phương. Nhiều nước còn tiến hành lắp đặt tháp pháo xe tăng để nó tấn công yểm trợ trên bộ hay đấu pháo trên biển, thậm chí là các tên lửa phòng không tầm trung để diệt các mục tiêu bay là trực tăng hay các phương tiện bay không người lái hoạt động trái phép, ngoài ra còn có tên lửa chống tăng, tên lửa đối hải, đối đất và ngư lôi mini, để mở rộng cự ly hoạt động của hỏa lực, bên cạnh đó là các hệ thống súng máy hạng nặng, súng phóng lựu, súng cối, súng không giật được điều khiển tự động, cùng nhiều hệ thống ra-đa, khí tài trinh sát quang học hết sức tối tân và hiện đại. Bên cạnh đó, là khả năng chở quân, hay thậm chí là chế độ tấn công tự sát khi ở chế độ vận hành không người lái, một số phương tiện còn có thể hoạt động ở môi trường trên cạn (lưỡng cư). Đủ thấy rằng, nhiều quốc gia trên thế giới, nhận thấy được tầm quan trọng của loại phương tiện chiến đấu này. Với kích thước nhỏ và tốc độ cao, nó có thể ẩn mình và dễ dàng ngụy trang bằng nhiều hình thức ở giữa biển, với số lượng lớn, thậm chí là gần các bãi cạn, ở khoảng cách xa, khó bị phát hiện, trong nhiều điều kiện thời tiết bất lợi, rồi bí mật theo dõi mục tiêu, sau đó bất ngờ tăng tốc áp sát phương tiện của đối phương.

    Cuối cùng, tuy không phải thuộc lực lượng tàu mặt nước, nhưng đóng vai trò quan trọng trong lực lượng Hải quân hiện đại để chống lại tàu mặt nước của đối phương, đó là pháo bờ biển. Việt Nam có một lực lượng tên lửa phòng thủ bờ biển nhiều tầng lớp và hết sức hiện đại. Tuy nhiên tên lửa phòng thủ bờ biển tầm gần và cực gần cũng không thể đảm trách hết phạm vi tiêu diệt mục tiêu ở “vùng chết” của tên lửa. Vì vậy, sẽ cần đến sức mạnh hỏa lực của pháo binh. Việt Nam cũng có lực lượng pháo bờ biển, nhưng toàn bộ đều là pháo xe kéo, hoặc đặt cố định trong các công trình phòng thủ ven biển, khi có chiến tranh, sẽ dùng đến sức kéo của binh lính, để chiếm lĩnh trận địa, rồi tìm kiếm mục tiêu bằng khí tài quang học để tiêu diệt. Việc làm này, tuy đảm bảo được tính bí mật, nhưng khả năng cơ động kém, thời gian triển khai chậm, việc tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu đang di chuyển trên biển kém chính xác, đặc biệt trong chiến tranh hiện đại rất dễ bị phát hiện. Việc tính đến phương án dùng các loại xe tăng, xe tăng bơi, thiết giáp, xe chiến đấu bộ binh, hay pháo tự hành, hay thậm chí là pháo phản lực phóng loạt để tiêu diệt mục tiêu trên biển hay mục tiêu tiếp cận và tiến sâu vào bờ biển, cũng chưa thực sự phù hợp và hiệu quả. Còn tính đến việc nghiên cứu tự hành hóa pháo kéo phòng thủ bờ biển thì quá xa xôi. Trong khi chúng ta có khả năng tăng dày hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển, và đã hoàn thành xong, thì việc mua sắm những hệ thống pháo phòng thủ bờ biển như A-222 Bereg của Nga hay SA2 của Trung Quốc, cũng cần được tính tới.
     
    Last edited: 5/9/18

Chia sẻ trang này